Mạng xã hội Văn học trẻ

“Một trong những cái Khổ của người hiện đại,
Chúng ta cầm lấy điều khiển tivi xa và chuyển kênh tivi liên tục.
Có rất nhiều kênh,
Nhưng chẳng có chương trình nào khiến ta muốn dừng lại để xem cả.
A! Quá nhiều sự lựa chọn cũng làm cho con người ta không hạnh phúc […]”
(Trích “Bước chậm lại giữa thế gian vội vã”, Hae Min)

Xã hội hiện đại ngày càng rộng mở với những nhu cầu cá nhân của con người, chúng ta có quyền được lựa chọn những điều tốt đẹp nhất cho bản thân mình. Tuy nhiên, đôi khi quá nhiều sự lựa chọn lại vô tình tạo nên một mê cung khiến ta quay cuồng trong những quyết định. Như vậy, quá nhiều sự lựa chọn đâu thể khiến ta hạnh phúc?

Sự lựa chọn là những phương án khác nhau được tạo ra để con người chọn lựa và tìm ra quyết định hợp lý nhất. Mỗi người đều có quyền được đưa ra lựa chọn. Sự lựa chọn trong cuộc sống mà chúng ta thường phải đối mặt có thể là lựa chọn nơi sống, nơi làm việc, lựa chọn mối quan hệ, chọn hướng đi. Cuộc đời luôn phải chọn lấy một hướng đi cho riêng mình. Đôi khi, chúng ta luôn cần nhiều sự lựa chọn để quyết định đưa ra được khách quan hơn. Tuy nhiên, chính việc bùng nổ lựa chọn đó lại khiến chúng ta thêm rối bời và không đạt được hạnh phúc.

Kì thực, có nhiều lựa chọn chưa bao giờ là niềm hạnh phúc của con người. Chúng ta chỉ hạnh phúc khi mình được lựa chọn và quyết định cuộc đời mình. Giữa rất nhiều lối đi của cuộc sống, ta chọn cho mình một hướng đi để phát triển và thúc đẩy tiềm năng của bản thân. Đó là lý do mà cuộc đời này tồn tại những người thầy cô giáo, bác sĩ, doanh nhân, công nhân, thợ sửa chữa. Không có sự lựa chọn nào là cao quý và đáng giá hơn lựa chọn nào. Tuy nhiên, có nhiều lựa chọn đâu phải là niềm hạnh phúc của chúng ta? Chúng ta chỉ hạnh phúc khi quyết định mình đưa ra đúng đắn, đem lại kết quả tốt.

Quá nhiều lựa chọn sẽ khiến con người luôn trong trạng thái bị phân tâm, không thể tập trung vào quyết định. Nhiều lựa chọn sẽ dẫn đến nhiều hướng đi, mà chẳng có một ai biết trước được hướng đi nào là phù hợp nhất. Khi bị phân tâm và lo lắng, chúng ta không thể giữ được bình tĩnh. Đôi khi, quá nhiều lựa chọn khiến chúng ta ỷ lại vào tương lai theo quan niệm “Cứ đến đâu thì hay đến đó". Chúng ta bị ảnh hưởng quá nhiều bởi văn hoá phương Đông, cho rằng số phận đã được định trước và không ai có thể thay đổi nó. Trong tiểu thuyết “Nhà giả kim", Paulo Coelho có viết “Không cần thiết phải trốn chạy vận mệnh của mình - vì sẽ chẳng thể nào thoát được". Vận mệnh của chúng ta đã được định sẵn, nhưng quyết định hoàn toàn phụ thuộc vào chúng ta.

Vấn đề được đặt ra không phải là sức phân tâm của những lựa chọn, vấn đề là ở con người. Đứng trước mê cung đó, người có đủ can đảm để bước qua là người thực sự đã sống đúng là chính mình. Lựa chọn cũng giống như khó khăn trong đời, càng bước qua mạnh mẽ thì càng trưởng thành. Chúng ta có quyền, tại sao phải khước từ quyền được chọn lựa? Đặng Lê Nguyên Vũ - người sáng lập thương hiệu cà phê Trung Nguyên đã từng đứng trước những lựa chọn khó khăn của cuộc đời mình. Ông đậu Đại học Y và vốn dĩ có thể trở thành bác sĩ để giúp đỡ những người bệnh ốm như cha ông. Tuy nhiên, ông đã chọn một lối đi mới - từ bỏ tấm bằng Đại học Y để tiếp cận thị trường cà phê Việt Nam. Nhờ sự lựa chọn của cậu sinh viên trẻ ngày ấy mà hôm nay chúng ta tự hào có được một trong số những loại cà phê ngon nhất thế giới.

Quá nhiều sự lựa chọn không làm ta hạnh phúc. Nhưng ta cần phải luôn làm chủ cuộc đời mình. Phải luôn biết mình là ai và mình cần gì. Nếu hôm nay ta chập chững giữa rất nhiều lựa chọn và chìm vào hố sâu đó, sẽ có một người quyết định thay ta. Mà ta thì không thể đánh rơi vận mệnh của mình vào tay người khác.
Thêm
339
0
0
Viết trả lời...
Một vĩ nhân, một kỳ tài, người ta không gói vào trong một câu hay một chữ. Vì rằng, muốn gói được con người như thế thì ít nhất phải cắt xén con người đi rất nhiều” - Nguyễn Đức Bính, Người Cổ Nguyệt, chuyện Xuân Hương, tạp chí Văn nghệ số 10 - 1962

"Vĩ nhân hay kỳ tài" được xem là những con người có sức ảnh hưởng mạnh mẽ về nhân cách và trí tuệ, được xem là thần tượng và hình mẫu của rất nhiều người. Họ thường được gắn trong quy chuẩn về sự hoàn hảo, được tôn vinh như một con người vĩ đại. Tuy nhiên, ngay cả những con người như họ cũng không thể "gói vào trong một câu hay một chữ". Bởi lẽ, hoàn hảo chưa phải là đặc tính duy nhất nói lên con người họ, không có khả năng khẳng định rằng họ không có điểm yếu. Nếu muốn làm điều đó thì phải "cắt xén con người đi rất nhiều", phải lược bỏ đi những góc khuất bên trong họ, và do đó không có điểm nhìn để đánh giá toàn diện một con người. Nguyễn Đức Bính, trên hành trình khai vấn người trẻ, đã khẳng định chắc chắn vào giá trị riêng của mỗi người, khẳng định tất cả chúng ta đều có vết xước và khiếm khuyết. Ngay cả bậc vĩ nhân cũng chưa từng được nhìn nhận là hoàn hảo.

Thế giới tồn tại vĩ nhân hay kì tài thực chất là do những đóng góp hoặc phát minh họ đem lại cho cuộc sống. Tuy nhiên, phát minh đó chỉ mang tầm ảnh hưởng trong một hay nhiều lĩnh vực. Vượt ra ngoài lĩnh vực đó, họ không được đánh giá cao bởi tài năng hay khả năng nghiên cứu, truyền cảm hứng. Ngay cả những nhà bác học vĩ đại như Isaac Newton hay Abert Einstein cũng chỉ được xem là vĩ nhân trong lĩnh vực vật lý, khoa học,... Nếu như đặt họ trong góc nhìn ở lĩnh vực văn học nghệ thuật, họ cũng chỉ là một bản thể giống như tất cả chúng ta. Điều đó cho thấy được không phải là họ hoàn hảo, mà là do tâm lý của con người đang quá thần tượng một cách mù quáng và không nhìn nhận lại bản thân mình. Nếu so sánh bản thân trong một lĩnh vực khác như văn học, nghệ thuật hay thể thao, chẳng phải chúng ta sẽ giỏi giang hơn những nhà bác học ấy hay sao?
Đánh giá một con người là vĩ nhân, kì tài hay kẻ đần độn phụ thuộc rất nhiều vào góc nhìn của chúng ta. Đánh giá con người qua cảm xúc yêu ghét và lý tính nhất thời sẽ khiến sự đánh giá trở nên chủ quan. Nếu nhìn nhận bất kỳ ai theo hướng đó, ta đang để chính cảm xúc của ta đánh lừa và dắt mũi. Điều quan trọng nhất đó chính là giữ “cái đầu lạnh", luôn trong trạng thái nguyên sơ của tâm hồn để sự đánh giá được khách quan nhất. Sự đánh giá một chiều không chỉ khiến chúng ta đánh mất đi một mối quan hệ mà còn khiến người khác thêm tự ti về khả năng của mình. Chúng ta đều là phì thủy, có thể ếm bùa hoặc giải bùa cho người khác.

Thế giới tồn tại vĩ nhân nhưng điều quan trọng là chúng ta nhận thức được mình bất toàn, hiểu được mình là một bản thể không hoàn hảo trong một quần thể không hoàn hảo chẳng kém. Hiểu được điều đó nghĩa là ta đang tiến dần đến tri thức nhân loại, hiểu mình, hiểu người. Cái nhìn của chúng ta ở đó sẽ trở nên toàn diện, ngắm nhìn được không gian toàn cảnh của thế giới. Biết mình bất toàn, con người càng có lý do để cố gắng. Nếu thấy mình đủ hoàn hảo, họ sẽ đi chậm lại rồi cuối cùng dừng bước. Nhà bác học Isaac Newton thường có thói quen làm việc đến khuya. Một đêm, con trai ông hỏi ông: “Sao cha đã là nhà bác học mà vẫn còn học làm gì?". Ông nhìn con, đáp lời: “Bác học không có nghĩa là ngừng học".

Sự hoàn hảo là ánh sáng nhiệm màu phù du nhất mà chúng ta theo đuổi trên cuộc đời này. Mọi sự hoàn hảo đều là tương đối. Dù con người có cố gắng đến như thế nào, họ cũng phải khẳng định: mình không hoàn hảo, mình đầy tổn thương và vết xước. Không ai có khả năng đánh giá sự hoàn hảo trong bất kỳ chiều kích nào, mỗi người có một nhân sinh quan và cách nhìn thế giới khác nhau. Bóng tối với người này là cơn ác mộng và nỗi sợ không thể vượt qua, nhưng với người khác lại là không gian an ủi, di dưỡng tâm hồn. Vậy là đâu có bất kỳ quy chuẩn nào cho sự hoàn hảo. Sự hoàn hảo, điều đó khiến chúng ta thấy cứng nhắc và trở thành xiềng xích ngăn cấm con người được là chính mình. Chỉ khi ta bất toàn, ta còn nhiều khiếm khuyết, ta mới thấy mình còn lý do để sống, để thay đổi.
Thêm
101
0
0
Viết trả lời...
"Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?"
300 năm trước, Nguyễn Du đã khóc thay cho phận nàng Tiểu Thanh bạc mệnh, cũng chính là khóc thay cho phận mình. Ông Nguyễn Quốc có được sự giao cảm giữa mình và tha nhân ở 300 năm sau. Như một sự dự báo trước, 300 năm sau, cả thế giới khóc Nguyễn Du với truyện Kiều. Người Việt Nam không ai không từng nghe qua tuyệt tác của Nguyễn Du, nhưng khi Kiều đã trở thành nền văn hóa thì không phải ai cũng biết đến.
1. Ngâm Kiều
Ngâm Kiều thể hiện vẻ đẹp văn học mang bản sắc Việt Nam và nghệ thuật truyền thống của đất nước. Ngâm Kiều và các thể hiện tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du ở nhiều tầng bậc cảm xúc khác nhau, làm nổi bật lên giá trị văn học của kiệt tác văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, ngâm Kiều cùng các kỹ thuật, giai điệu là một nét đặc sắc trong văn hóa diễn xướng Việt Nam. Từ xưa, người Việt Nam ta đã có lối sinh hoạt ngâm Kiều trong cuộc sống, trong sinh hoạt, trong lao động. Rất nhiều người Việt Nam ta đã thuộc lòng những câu Kiều như một niềm tự hào về văn hóa, văn nghệ của dân tộc.

2. Lẩy Kiều
Lẩy Kiều là một hình thức văn hóa đặc sắc trong đời sống tinh thần của người Việt, thiên về khả năng trí tuệ, ứng đối và biểu cảm ngôn ngữ. Dựa trên truyện Kiều với hơn 3.200 câu thơ lục bát, người ta chọn ra một vài câu thơ phù hợp để biểu đạt tâm trạng, nhận xét thế sự hoặc đối đáp trong văn chương. Lẩy Kiều đòi hỏi người sử dụng phải hiểu sâu truyện Kiều và có khả năng vận dụng linh hoạt những câu thơ trong những tình huống giao tiếp cụ thể. Đôi khi, lẩy Kiều được xem như cách tôn vinh bản sắc văn hóa riêng của dân tộc ta. Trong những bài phát biểu tại các hội nghị ở Việt Nam, các tổng thống Mỹ cũng lựa chọn lấy Kiều để thể hiện những cảm nhận cá nhân đồng thời bày tỏ tình yêu với kiệt tác văn học của Việt Nam ta.

3. Vịnh Kiều
Vịnh Kiều trong buổi đầu, chỉ là một lối tiêu khiển bằng văn chương của tầng lớp nho sĩ trí thức. Nhưng theo thời gian, vĩnh cửu dân trở thành một phần trong văn hóa Kiều. Vịnh Kiều là lấy nội dung truyện Kiều, lấy cảnh, lấy người trong truyện kiều làm đề tài sáng tác. Từ sự kế thừa những giá trị tư tưởng trong áng văn của Nguyễn Du, rất nhiều các tác phẩm văn học ra đời. Trong các tác phẩm của hậu thế, các quan điểm về Kiều hoàn toàn khác biệt nhau, tùy theo sự trải nghiệm và văn hóa sống. Mỗi tầng lớp nhân dân lại đưa ra một cách nhìn khác nhau về Kiều, nhưng suy cho cùng tất cả đều là sự kế thừa những tinh hoa của một nền văn học mang bản sắc riêng của dân tộc.

4. Bói Kiều
Bói Kiều là một hình thức xem bói dân gian của người Việt, dựa vào việc mở ngẫu nhiên một cặp câu thơ trong truyện Kiều để giải đáp những băn khoăn và dự đoán vận mệnh trong tương lai. Đây là một thú vui văn hóa truyền thống, thường diễn ra vào dịp đầu năm, với mong muốn tìm kiếm lời khuyên, chiêm nghiệm và hướng đi trong một năm mới khởi sắc. Bói Kiều không phải là mê tín dị đoan mà là một nét đẹp trong văn hóa tâm linh của người Việt Nam, mang giá trị về tín ngưỡng và tư tưởng của dân tộc. Tùy theo tâm thế của riêng mỗi người mà cách bói Kiều trở nên phức tạp hơn. Chỉ cần một quyển truyện Kiều, một câu khấn và một tấm lòng thành tâm, người Việt có thể kết nối với quá khứ, tìm ra hướng đi cho vận mệnh tương lai.

Ngoài ra, người ta còn bình Kiều, ru con bằng thơ Kiều, ví hát về truyện Kiều, đố Kiều, giảng Kiều, phỏng Kiều mà hát dặm, hát ả đào. Tất cả đã tạo nên văn hóa Kiều đặc sắc trong đời sống tinh thần của người Việt.
Thêm
113
0
0
Viết trả lời...
Hòa bình đối với bạn là gì?

Hòa bình liệu có phải thứ được sinh ra ngay khi bạn vừa có mặt trên cuộc đời này, trong vòng tay cha, trong bầu ngực nóng của mẹ, trong tiếng ru thơm hương trầu của bà? Không, hòa bình có được không phải dễ. Phía sau khung cảnh bình yên của đời thường
là cả câu chuyện đau thương phía sau. Hoà bình Hôm nay có được là nhờ sự hi sinh của cả một thế hệ đau thương và điêu tàn.

Buổi sáng trời thu ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Bản tuyên ngôn như một lời khẳng định viết bằng máu của hàng triệu nhân dân Việt Nam về Hòa Bình mà chúng ta có được. Nhân dân ta quyết hy sinh bằng máu thịt, đánh đổi sinh mạng tất cả vì tổ quốc thân yêu. Hàng trăm triệu dân quân Việt Nam đã lấy thân mình dựng nên tượng đài Tổ quốc hôm nay. Hoà bình do vậy mà cũng chỉ là “thứ cây mọc lên từ máu thịt anh em mình” (Nỗi buồn chiến tranh).

Hòa Bình hôm nay có được là do sự hi sinh kiên cường, bất khuất của hàng bao thế hệ từ già trẻ gái trai. Chiến sĩ Việt Nam hầu hết đều là những người trẻ còn đang nắm mình trong đam mê, hi vọng, còn khao khát một nụ hôn đầu với một mối tình lãng mạn. Nhưng phát súng quân thù đã giật họ dậy khỏi hiện thực, biến những chàng trai trẻ trở thành trò chơi cho số phận. giữa trận mạc, những phút yếu lòng, họ chỉ đánh gác lại tất cả để tập trung hướng về một mục tiêu quan trọng nhất: đền nỗi nước trả thù nhà. Nhưng họ cũng là con người, cũng có lúc ủy mị, hèn nhát và đa đoan. Chút ủy mị ấy như dấu chấm hết cuối cùng cho cuộc đời tươi nguyên của họ. Cầu nguyện cho linh hồn người lính được an nghỉ, đất nước đã đứng lên từ ngày các anh chọn ngã xuống.

Hoà Bình hôm nay có được là nhờ sự hy sinh của hậu phương. Đất nước hoà bình nhưng thứ trở về bên mẹ, bên vợ chỉ còn là tấm giấy bao tử. Vẫn cái tên ấy, nhưng giờ đây anh lính chỉ còn là cái xác ngã xuống dưới đạn thù. Viên đạn dù xuyên qua trái tim bên nào cũng đều là xuyên qua trái tim người mẹ. Người mẹ hậu phương có đứa con đi lính luôn chết hai lần, một lần khi tiễn con đi, một lần khi nhận tấm giấy báo tử con trở về. Để con đi, mẹ sợ khi trở về con chỉ là một nắm tàn tro. Nhưng giữ con ở lại thì đất nước hóa tro tàn.

Hoà mình hôm nay có được là nhờ những di tích chiến tranh. Nỗi đau của thời chiến hiện nguyên hình sau khi bom đạn đã ngừng rơi. Đất Nước đã Hòa Bình nhưng đâu đó vẫn còn tiếng xung phong. Những âm thanh điên đảo trong trận mạc, tiếng bom rơi, máu chảy và cái chết đã khiến bao người lính không còn đủ minh mẫn. Ngày đất nước hòa bình cũng là lúc họ sống trong những di chứng của thời loạn, giày vò mình trong những nỗi đau không thể giải thoát. Cơn đau chiến tranh ám ảnh họ, để đến họ cho đến tận khi họ chết. Đau đớn hơn nữa là khi hôm nay thế hệ trẻ đã lãng quên đi một thế hệ đau thương cúi xuống vì hòa bình dân tộc. Một thế hệ kiên cường giờ đây phải lụi cụi ăn mày dĩ vãng, sống trong thiếu thốn chỉ vì xã hội đang lãng quên họ đầy tàn nhẫn. Một thế quay lưng lại với lịch sử sẽ không có quá khứ và cũng không có tương lai.

Chiến tranh không đáng sợ, chỉ sợ người trẻ quên mất đất nước.
Thêm
95
0
0
Viết trả lời...
Bên trong mỗi chúng ta bất cứ khi nào đều tồn tại một phần quê do sự ảnh hưởng từ nền văn minh, văn hóa. Tuy nhiên, trải qua giai đoạn toàn cầu hóa tiến tới hội nhập, các nền văn hóa bị giao thoa, dẫn tới việc bản sắc quê nhà bị lãng quên. Nguyễn Bính, một nhà thơ lạ mà quen, đã từng bước đánh thức hồn Việt trong lòng người đọc. Đúng như nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết “Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta”.

Nguyễn Bính có những chất liệu thì cá riêng tạo nên hình ảnh thơ ca cho riêng mình. Quê hương trong Nguyễn Bính là quê hương của rất nhiều con người Việt Nam, nhưng được ông tái hiện dưới một thế giới quan riêng. Hồn quê trong thơ Nguyễn Bính biểu hiện trong cảnh vật và hồn người. Đọc thơ chỉ cần thấy mưa xuân, cánh bướm, giàn trầu không, hàng cau liên phòng, cô lái đò, cô hàng xóm - rất dễ để nhận ra đó là tín hiệu thơ ông. Nguyễn Bính gọi dậy hồn quê trong tâm thế hoài cổ, chỉ có quá khứ là vàng son rực rỡ, còn hiện tại đã bị nhuộm màu công nghiệp thị thành. Có thể nói, nhà thơ là người luôn cố níu giữ chất quê mộc mạc, bình dị, những cảm xúc đã phai mờ bên trong mỗi con người hiện đại.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay

Quê hương trong mắt Nguyễn Bính luôn mang một hình sắc riêng. Giọng thơ Nguyễn Bính phảng phất theo từng cơn “mưa xuân phơi phới bay”. Hình ảnh mưa xuân là chất liệu thi ca ưa thích của ông. Mưa Xuân ở làng quê là một thứ mưa xao xuyến gieo rắc nhớ thương trong lòng người. Đứa con đi xa chỉ mong ngày tết được quay trở về quê nhà, được ngửa bàn tay hứng những làn mưa chấm li ti ấy. Nhưng liệu có phải cũng chính là mưa ấy lại cuốn trôi đi tất cả hồn quê, hồn người mà Nguyễn Bính đang cố níu giữ? Chèo từ lâu đã là một nét đẹp văn hóa trong nghệ thuật diễn xướng Việt Nam, nhưng theo thời, nét đẹp văn hóa dân gian ấy bị phai mờ, quên lãng. Nguyễn Bính trong tâm thế hoài cổ vẫn dẫn dụ người ta về với chèo, với những nét đẹp văn hóa dân gian thân thuộc nhất. Sự tinh tế trong nghệ thuật dẫn dắt của Nguyễn Bính cho ta hiểu được giá trị trường tồn của chèo. Chèo là bản sắc văn hóa Việt Nam, là cầu nối gắn kết giữa anh và em, thôn anh và thôn em trong một điệu hát vấn vương cảm xúc.

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Hồn quê Nguyễn Bính thể hiện ngay trong cả tình yêu với cô gái làng bên. Tình quê trong ông không chỉ là tình cảm giữa con trai với người con gái, đó là nâng lên và tình cảm giữa hai thôn làng. Tình yêu quá họ là sự kết tinh giữa hai làng với nhau. Nguyễn Bính đem sợi chỉ đỏ nối liền hai con người xa lạ lại gần nhau, vô tình kết nối mối giao hảo giữa làng anh - làng em. Tình yêu của họ là thứ tình cảm của thời ông bà ta, dịu dàng mà e ấp. Mối tình đơn phương của chàng trai không dám bộc lộ trực tiếp với người mình yêu. Nguyễn Bính có lối viết ví von mang đậm hồn quê trong văn học dân gian. Người ta khao khát được quay trở lại mảnh đất quê mình, để được chứng kiến “Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau”.

Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ
Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi

Truyền thống sống nghĩa tình, nhân ái đã trở thành khuôn vàng thước ngọc trong lối sống của người dân Việt xưa. Xã hội hiện đại phát triển cũng kéo theo những rào cản, vách ngăn cho mối quan hệ giữa người với người. Viết về người quê, tình quê là cách Nguyễn Bính níu giữ những phần nhà quê còn đang le lói bên trong mỗi con người. Muối mặn gừng cay, dây trầu là đầu câu chuyện đã trở thành những quan niệm xưa trong tư tưởng người Việt. Kĩ thuật sáng tác của Nguyễn Bính có khả năng khơi dậy những phần hồn quê đã đánh mất bên trong mỗi con người.

Nhà phê bình Văn học Hoài Thanh đã từng viết: “Nhà thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta. Ta bỗng thấy vườn cau, bụi chuối, là hoàn cảnh tự nhiên của ta, và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta”. Hơn 80 năm một giọng thơ Nguyễn Bính, hơn 80 năm hồn quê Việt Nam được lưu giữ bên trong những trang thơ nghĩa tình.
Thêm
143
0
0
Viết trả lời...
1. “Họ nhìn thấy máu đổ, thấy những thây người ngã xuống, rách toác, óc vỡ, ruột đùn ra như ruột lợn, những ống xương thòi thụt nham nhở, trắng hếu… Họ nghe thấy tiếng thét, tiếng hộc, tiếng rên la và cả tiếng rú khoái trá man dại…”

2. “Dường như nghe thấu được những tiếng nói vang ra từ lồng ngực ngột ngạt ấy, đôi mắt mù mịt của bảo khẽ nhắm lại một chút rồi liền đó lại mở ra và.. không bao giờ nhắm lại nữa! Người chiến sĩ ấy đã chết thật sự, mang theo vào lòng đất cả cái cán đạn màu xanh để yên lòng đồng đội”.

3. “Thà đến viên mình ngay đi còn hơn ngày nào cũng chờ đợi một kết cục không tài nào tránh thoát, như một định mệnh đã an bài rồi”.

4. “Vả lại, thiên hạ bây giờ ở tuổi bác, không ai mặc đồ lính như thế. Chỉ có dân cựu trào hay dân ở ngoài kia vào đây làm ăn sinh sống mới mặc vậy thôi. Cháu nói thiệt, dòm tội lắm! Vận đồ quân phục mà tội ư?”

5. “Ở giây phút cuối cùng, cậu ta đã âm thầm tự nhét đất, nhét cỏ vào đầy cổ họng mình đến tắc thở để cho tiếng ho thứ hai khỏi phụt ra kéo theo cái chết của bạn bè!”

6. “Nhân cách đã xuống tới đáy rồi, có gồng lên thì vẫn là đáy mà thôi”.

7. “Trái tim khổ đau, tan rã nhưng chưa được chết để phải chứng kiến cái biến đi của toàn thể. Trái tim chết hai lần”.

8. “Ngày xưa oánh nhau vỡ mặt, bây giờ không oánh nữa thì là bạn, bạn sòng phẳng, đến nhà sẽ được tiếp đón cẩn thận, nhưng dù muốn hay không, mi cũng phải nhớ rằng ngày xưa mi là thằng bại trận”.
Thêm
103
0
0
Viết trả lời...
1. “Họ nhìn thấy máu đổ, thấy những thây người ngã xuống, rách toác, óc vỡ, ruột đùn ra như ruột lợn, những ống xương thòi thụt nham nhở, trắng hếu… Họ nghe thấy tiếng thét, tiếng hộc, tiếng rên la và cả tiếng rú khoái trá man dại…”

2. “Dường như nghe thấu được những tiếng nói vang ra từ lồng ngực ngột ngạt ấy, đôi mắt mù mịt của bảo khẽ nhắm lại một chút rồi liền đó lại mở ra và.. không bao giờ nhắm lại nữa! Người chiến sĩ ấy đã chết thật sự, mang theo vào lòng đất cả cái cán đạn màu xanh để yên lòng đồng đội”.

3. “Thà đến viên mình ngay đi còn hơn ngày nào cũng chờ đợi một kết cục không tài nào tránh thoát, như một định mệnh đã an bài rồi”.

4. “Vả lại, thiên hạ bây giờ ở tuổi bác, không ai mặc đồ lính như thế. Chỉ có dân cựu trào hay dân ở ngoài kia vào đây làm ăn sinh sống mới mặc vậy thôi. Cháu nói thiệt, dòm tội lắm! Vận đồ quân phục mà tội ư?”

5. “Ở giây phút cuối cùng, cậu ta đã âm thầm tự nhét đất, nhét cỏ vào đầy cổ họng mình đến tắc thở để cho tiếng ho thứ hai khỏi phụt ra kéo theo cái chết của bạn bè!”

6. “Nhân cách đã xuống tới đáy rồi, có gồng lên thì vẫn là đáy mà thôi”.

7. “Trái tim khổ đau, tan rã nhưng chưa được chết để phải chứng kiến cái biến đi của toàn thể. Trái tim chết hai lần”.

8. “Ngày xưa oánh nhau vỡ mặt, bây giờ không oánh nữa thì là bạn, bạn sòng phẳng, đến nhà sẽ được tiếp đón cẩn thận, nhưng dù muốn hay không, mi cũng phải nhớ rằng ngày xưa mi là thằng bại trận”.
Thêm
98
0
0
Viết trả lời...
1. “Thì ra một khi đã già, đã đánh tuột hết lượng sinh khí ra phía sau đuôi, người ta đâm dở chứng ưa than thân trách phận, ưa đục khoét ngược vào hang hố trong mình”.

2. “Một lớp người xa lạ ở đâu đến hay vừa mới nhớn nhao lên đã nghiễm nhiên thay thế họ rồi”.

3. “Có lẽ giống như tôi, con bé không uống được nhưng phải cố mà uống. đây là trận đánh giành giật chỗ đứng, đây là yếu tố tiên quyết để tạo nên tư cách của một nhân viên nhà hàng, nôn mửa cũng phải móc họng ra mà uống, chết cũng phải uống”.

4. “Và cái bóng buốt kia biết đâu lại chả hết sức tội tình, dấu hiệu chân tình của một đứa con gái nhà lành phải lao vào bụi bặm để quậy quả kiếm ăn, để nuôi em, nuôi mẹ”

5. “19 bồng gạo đổi lấy một mạng người 19 tuổi! Đau quá! Vô nghĩa quá! Nhưng dẫu sao cũng còn đổi lại được. Trong những cánh rừng và trên những dòng sông này, còn biết bao những cái chết ngớ ngẩn, hoàn toàn vô nghĩa khác mà phải chịu”.

6. “Ít nhất trên hai lần, xã ủy, huyện ủy bảo cô viết đơn vào Đảng nhưng cô đều lắc đầu, Đảng điếc gì, cô nói. Vào rồi cứ phải làm ra vẻ đứng đắn, đạo mạo, cáu cũng cáu giả, buồn cũng buồn giả, ngứa ngáy chân tay lắm, tôi hứa sẽ không thua kém một đứa Đảng nào hết”.
Thêm
127
0
0
Viết trả lời...
Nghệ thuật là sự vận động tự thân của ý thức xã hội trước đời sống hiện thực. Nó ra đời do nhu cầu phản ánh hiện thực, bày tỏ cảm quan cá nhân của người nghệ sĩ. Bởi vậy, văn chương nghệ thuật cũng phục vụ nhu cầu tinh thần của con người. ra đời vào giai đoạn 45 - 75, văn học cách mạng tồn tại như một thứ vũ khí chống chọi trước những xâm hại của cuộc kháng chiến, vực dậy khao khát chiến đấu của người chiến sĩ. đất nước vén màn hòa bình, sau bấy nhiêu năm, văn học cách mạng vẫn hào hùng như trang sử vàng son của dân tộc.

từ năm 1945 đến năm 1975, nhiều sự kiện lịch sử liên tục diễn ra, làm thay đổi cơ cấu xã hội và đời sống sinh hoạt của con người. 35 gắn liền với cuộc kháng chiến Đánh Pháp đuổi Nhật diệt Mỹ cũng kéo theo 30 năm văn học trở thành vũ khí, chỗ dựa của con người. Văn học giai đoạn này chủ yếu phục vụ kháng chiến, phơi bày bản chất thật của chiến tranh đồng thời kích thích tinh thần chiến đấu. do đó, những khía cạnh riêng tư, những cảm xúc cá nhân ít được thể hiện, thay vào đó tính cộng đồng được đề cao, tôn vinh hình ảnh người chiến sĩ được lý tưởng hóa.

Giai đoạn đầu tiên trong phong trào văn học cách mạng bắt đầu từ năm 1945 đến năm 1954. Sau cách mạng tháng tám chấm dứt hơn 80 năm dưới ách thống trị, Đảng và Nhà nước dân chủ ra đời, đề ra nhiều đường lối chính trị và xã hội. Do đó, nhu cầu khẳng định chủ quyền, đề cao tiếng nói tập thể càng được chú trọng. Hình ảnh đất nước buổi đầu thành hình, người anh hùng, cuộc kháng chiến của những tâm tư của người cầm bút được phản ánh như những đề tài chính. Có lẽ bởi vậy mà đây là thời kỳ hoàng kim của văn học Việt Nam. Đây là giai đoạn thơ ca phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, đề ca tiếng nói nội tâm cá nhân trên nền xã hội nhân văn nói chung. Một số nhà thơ tiêu biểu trong giai đoạn này phải kể đến là Nguyễn Khoa Điềm, Nguyên Ngọc, Tố Hữu,...

Giai đoạn thứ hai trong văn học cách mạng bắt đầu từ năm 1955 đến năm 1975. Đây là thời điểm đất nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy đau thương và anh dũng. Bối cảnh hiện thực trở thành phông nền và xuất hiện như một đề tài chính trong thơ văn. Văn học nghệ thuật chịu sự lãnh đạo tư tưởng từ Đảng và Nhà nước. Do đó tiếng nói cá nhân hay những xúc cảm riêng tư ủy mị bị đẩy lùi lại phía sau. Những tác phẩm đề cao cảm xúc yêu đương nam nữ hay phản ánh cái chết trở thành tác phẩm mang tư tưởng không hợp thời, bị lãng quên mãi cho đến khi nhân dân thời hậu chiến chứng tỏ được giá trị của nó. Con người trong thơ văn cách mạng là con người được sử thi hóa, thấm đẫm tư tưởng cộng đồng, đôi khi được phóng đại hoặc lý tưởng hóa. Đó là khuynh hướng sử thi tôn cao tầm vóc người chiến sĩ - người anh hùng hi sinh vì chính nghĩa.

Nền văn học Việt Nam sau cách mạng Tháng tám đến năm 1975 mang những dấu ấn của một thời chiến tranh oanh liệt, trang sử rọi dấu vàng son của đất nước Việt Nam. Trong giai đoạn này, mỗi nhà văn đều là một chiến sĩ, mỗi người dân đều có thể là một nhà văn tạo nên một mô hình mang tính xuyên suốt. Có thể thấy rõ đặc trưng này khác biệt hoàn toàn với văn học trung đại, khi tầng lớp tiếp nhận bị bó hẹp trong một trình độ nhất định, chỉ có bậc tao nhân mặc khách mới đủ trí tuệ để tiếp cận nghệ thuật. Khuynh hướng tư tưởng chủ đạo chính là tư tưởng cách mạng, phục vụ cho mục đích kháng chiến. Cảm hứng lãng mạn và tư tưởng sử thi hòa quyện đầy tính nhân văn - người cầm bút vừa có thể là thi sĩ vừa có thể là chiến sĩ. Người anh hùng có thể mang dáng dấp các vị anh hùng nhưng vẫn mang nặng nỗi đời nỗi người. Đối tượng của văn học cách mạng hướng đến là toàn thể đồng bào công chúng. Giai đoạn 45 - 75 là giai đoạn văn học Việt Nam có nhiều bước phát triển vượt bậc, mang đặc trưng và dấu ấn riêng.

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều từng kể một câu chuyện về những người lính cắm chốt ở đùi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngay khi ý thức được mình đang chạm tới ranh giới giữa sinh và tử, những người lính không còn khát cầu phương thức tự vệ hay sự hỗ trợ về vật chất mà chỉ dõng dạc trả lời: “Chúng tôi cần thơ Phạm Tiến Duật”. Đời cần Thơ như cần hồn chiến trận. Thơ là cuộc cách mạng lớn mà người cầm bút như một người chiến sĩ, vừa thay đổi thơ vừa thay đổi đời. 30 năm xã hội Việt Nam chứng kiến nhiều chuyển biến mới trong công cuộc dựng nước và giữ nước, kéo theo đó là 35 vàng son của văn học cách mạng Việt Nam.
Thêm
101
0
0
Viết trả lời...
Liệu em có đến cùng mùa thu không, khi những cơn gió đầu mùa nhè nhẹ thổi? Khi những cánh hoa dại miên man tan theo gió? Khi hương hoa sữa bắt đầu làm cay mũi em? Trung thu này, chúng ta không còn lớn nữa, nhưng đã đủ để hoài niệm lại mùa trăng tròn năm xưa.

Hồi ấy, phố thị xô bồ quá, mẹ cho tôi về quê sống với bà ngoại. Trung thu ở quê mộc mạc có gì cầu kỳ đâu. Mấy đứa trẻ con trong xóm tíu tít đêm nào cũng trốn bố mẹ ra gốc vườn ngắm trăng với nhau. Các cô trong xóm thương lũ trẻ nghèo năm nào cũng ngóng trăng tròn lên. Trung thu này, thôi thì làm một bữa cỗ bé bé cho lũ trẻ phá cỗ. Ăn cơm xong, thế là chạy tụt ra ngõ, chẳng kịp rửa cái miệng tèm lem cá mắm. Chúng nó tụ lại nơi nhà văn hóa xóm. Cái đèn ông sao giấy bọc đỏ làm tàng tàng đứng ở góc trang trọng nhất, làm lũ trẻ cứ cười khành khạch. Mâm cỗ bằng những trái bưởi bòng vỏ xanh, trái cam tròn lẳn, những gói kẹo rẻ tiền nhưng lại là niềm vui tuổi thơ không dễ đánh đổi của đám trẻ. Con Bí cứ hụ hị ôm chặt quả dưa hấu khắc mà tranh giành với thằng Bi. Mấy anh chị giả làm chú Cuội chị Hằng đến phát quà cho lũ trẻ con.

Tôi không còn bé để thích thú với những giấc mơ ngây dại ấy nữa, chỉ đứng một góc trông đám trẻ mà cười thầm trong lòng. Chị Thao, cô chị nhà bên dịu dàng ngồi bên cạnh tôi. Chúng tôi chơi cùng nhau và thân lúc nào không biết. Chiều nào tôi chẳng tuốt sang nhà chị xem chị cho gà, cho bò ăn rồi leo lên đồi hóng gió, như chị em một nhà. Hai đứa im lặng ngửa mặt lên ánh trăng đêm, không ai nói một lời nào. Khung cảnh lúc ấy kì lạ và có chút lãng mạn. Chị cầm bàn tay tròn tròn của tôi, bàn tay chị xương xương thương quá. Chị bảo Sóc lại đây với chị. Chị quàng tay qua vai tôi, mắt long lanh “Đón Trung thu cuối cùng với mấy đứa thôi, ngày kia chị lên thành phố rồi, chả biết bao giờ mới về”. Tôi tưởng chị đùa, chị bảo chị thương bà ngoại lắm mà, sao chị lại bỏ bà mà đi. Mắt chị càng ươn ướt, chị thương bà lắm nhưng bố mẹ chị làm ăn khá giả, không cho chị ở đây nữa em à. Chị lên thành phố kiếm cái chữ. Lúc ấy, chẳng muốn nghĩ gì nhiều, tôi nhào vào lòng chị, hai tay ôm lấy cổ chị.

Ngày hôm sau, chỉ còn một ngày nữa, bố mẹ chị Thao sẽ đón chị lên Thành phố. Sáng hôm ấy, tôi rủ chị lên đồi, để chẳng làm gì cả. Hai chị em im lặng thế mà ngắm đồi, ngắm gió, lòng vẫn bâng khuâng một nỗi gì khó tả. Xế trưa, chị em tôi lại kéo nhau về nhà, chẳng nói với nhau một câu nào. Nói cũng thế thôi.

Thế là chị Thao lên thành phố thật rồi. Chỉ còn mình tôi và lũ trẻ ở lại hoài mong về cái ánh sáng lòa của thành phố.

Ba năm sau, chị Thao theo bố mẹ về thăm bà nội. Ôi! Còn đâu cái vẻ dịu hiền đằm thắm của cô con gái quê ngày xưa nữa. Chị ăn mặc điệu đà hơn, ánh mắt kiêu kỳ khó gần. Xe chị dừng ở đầu cửa nhà bà nội, tôi chạy ra muốn chào chị một tiếng. Chị hờ hững nhìn tôi như người lạ, dừng mắt vài giây rồi quay bước vào nhà. Thế là chị quên tôi rồi. Lũ trẻ trong xóm ghé lại rủ chị ra đồng chơi, nhưng chị chẳng muốn đáp, vẫy vẫy tay phẩy chúng tôi ra ngoài. Từ sau lần ấy, chị chẳng về quê nữa. Chị Thao của ngày trước và chị Thao bây giờ như hai con người trái ngược nhau, dù vẫn là cái tên ấy, nét mặt ấy, hình hài dáng vóc ấy. Ba năm trên thành phố thế mà thay đổi chị đến không ngờ. Vài năm nữa thôi, bố mẹ tôi cũng sẽ đón tôi lên thành phố. Tôi - chị - chúng ta, phải chăng tất cả chúng ta đều không thoát nổi cái cám dỗ khó cưỡng ấy của phố thị để trở thành người vô cảm?
Thêm
234
0
0
Viết trả lời...
Hóa ra, giữa cõi đời hỗn tạp này, tình thương mới là thứ xa xỉ nhất.

Đã lâu lắm, tôi không còn nhìn thấy nụ cười của những người cô bác trong họ hàng. Ông nội mất giữa một ngày giá rét, sau tết chỉ tầm dăm hôm. Hôm ấy, các cô bác tụ họp đông đủ trong nhà để nhìn ông lần cuối. Sau đám tang, họ bắt đầu bàn chuyện chia gia tài của ông để lại. Bác hai đòi căn nhà chính, cô tư đòi mảnh đất sau vườn. Mọi chuyện nhốn nháo, chỉ vì gia tài mà anh em ruột cũng có thể ngoảnh mặt lại với nhau. Mẹ tôi ôm tôi vào lòng, che mắt tôi trước cuộc cãi cọ ngày càng kịch liệt của các cô bác. Hai năm nay, chỉ đến ngày đám giỗ ông bà nội mới thấy đủ mặt. Mỗi người một phương, lấy danh nghĩa “bận” để che đi cái uất ức còn chưa nguôi của ngày chia gia sản. Một mảnh đất đánh đổi lấy tình người - liệu có đáng?

Năm nay, tôi đã lớn, quay trở về nhà ăn đám giỗ với tấm áo sinh viên. Lại là những gương mặt ấy, chỉ khác là họ già đi nhiều quá. Những gương mặt hom hom, gầy gầy, mái tóc điểm bạc gợi cho tôi nhớ đến ông bà năm xưa. Giờ thì họ không còn đủ sức để đấu đá, tranh giành hay cãi cọ nhau nữa rồi. Đời mà, đến một lúc nào đó không thể tranh giành được nữa thì đành phải buông những tranh giành mà thôi. Ngày hôm ấy, những câu chuyện về tiền bạc được cất lẹm đi, mọi người kể cho nhau nghe những buồn vui mưu sinh, những câu chuyện về thuở bé, cái ngày thời “bao cấp” ấy. Những ngày xưa ấy có lẽ giờ đã xa lắm rồi, chẳng còn quay lại được nữa, nhưng điều duy nhất khiến người ta nuối tiếc lại là tình cảm, sự đùm bọc của những con người ngày xưa. Đã lâu lắm, tôi mới thấy một nụ cười nhẹ nhõm hiện lên gương mặt họ, khi một câu chuyện cũ được khơi mở ra.

Cuộc đời này vô thường, nay sống mai đã trôi thành hạt cát dĩ vãng, chẳng ai nói trước điều gì. Vì một đồng bạc lạnh mà quay lưng với nhau, từ chối cả hai tiếng “tình người” và quên cả những ngày khốn khó bên nhau - liệu có để lại gì? Tay ai giữ được khói trời? Tay ai đem theo được hư vinh thuở còn sống về với mặt đất đâu? Đấu đá tranh giành, đến lúc dừng lại thôi.
Thêm
127
0
0
Viết trả lời...
Tôi là ngọn lửa. Ngọn lửa là hình ảnh biểu tượng của tất cả những gì đẹp đẽ nhất, rực rỡ và chói lòa, là khi con người thực sự đốt cháy chính mình để sống với đam mê, ước mơ. Ngọn lửa có thể rực sáng trong mọi giai đoạn và thời điểm, nhưng thường chói sáng mạnh mẽ nhất là khi con người còn trẻ, dám khát khao, dám hoài bão và dám SỐNG. Cảm giác được đắm mình trong ngọn lửa ấy là một cảm giác xa xỉ của tuổi trẻ, bởi không phải ai cũng rực rỡ hết mình, rút cạn tinh lực cho một lần cháy. Thực chất, mỗi chúng ta đều là một tia lửa được đời thắp sáng, nhưng quyết định “sáng” hay không đều là do chúng ta. Được tỏa sáng là cơ hội để ta được sống hết mình với niềm khao khát cá nhân. Ngọn lửa sẽ trở thành động cơ, động lực thúc đẩy chúng ta hướng về phía trước. Thời gian không còn nhiều, không dám cháy lên thì sẽ có một ngày ôm mộng mà nuối tiếc. Bởi vậy, NGỌN LỬA là minh chứng cho tất cả những gì rực rỡ nhất mà người ta luôn khát khao. Điều quan trọng khiến người ta không dám cháy lên chính là bởi họ sợ mình sẽ trở thành tro tàn. Nhưng có ai hiểu được rằng “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm” (Xuân Diệu). Tôi là ngọn lửa, cháy hết mình với không gian và thời gian để đem lại ánh sáng cho đời. Một ngày mai, khi ánh sáng vụt tắt, tôi sẽ trở lại là tro tàn u tối.

Tôi là tro tàn. Tro tàn là hình ảnh biểu tượng của sự tàn lụi, kết thúc, khi tất cả những gì đẹp đẽ nhất đã đi vào quên lãng, chỉ còn lại quá khứ đầy tiếc nuối. Tro tàn chỉ trồi lên khi ngọn lửa nhiệt huyết đã vụt tắt, đem theo ký ức của cả một thời đẹp đẽ trôi vào dĩ vãng. Người ta ghét tro tàn, nhưng đâu biết ý nghĩa của nó lớn như thế. Tro tàn là cách ta hoài niệm, nhung nhớ quá khứ, để ta không bội nghĩa với quá khứ đã làm nên mình, để ta biết yêu sự rực rỡ. Hình ảnh của nó cho ta biết rằng đã đến lúc mình cần phải nghỉ ngơi rồi. Đôi khi, tro tàn không phải là kết thúc mãi mãi. Chỉ còn một đốm lửa còn le lói, lửa sáng sẽ lại phực lên. Kết thúc - tro tàn khiến ta biết chấp nhận lẽ vô thường ở đời. Cảm giác được là tro tàn hoài niệm về những ngày mình đã rút cạn tinh lực rất huy hoàng, cho phép ta được tự hào về chính mình. Đôi khi, cái kết thúc u tàn lại khiến người ta khao khát được “cháy” một lần nữa, chỉ cần trong phút chốc. Tôi là tro tàn, là sự kết thúc điêu linh của tất cả những gì rực rỡ nhất.

“Tôi là tro tàn của thời đại, là ngọn lửa của tương lai”. Chúng ta đều là hiện thân của những gì còn sót lại trong quá khứ. Con người hôm nay ảnh hưởng bởi con người hôm trước những phong tục tập quán, lề lối sống và quan niệm sống. Những quan điểm của thời đại trước đã ảnh hưởng và chi phối chúng ta. Dẫu rằng, thời kỳ truyền thống bắt đầu phai nhạt, mở đầu cho kỉ nguyên vươn mình rộng mở nhưng chúng ta vẫn là hiện thân của một quá khứ xưa cũ, là dấu ấn cho một thời kỳ đẹp đẽ đã trôi vào dĩ vãng. Nhưng chúng ta, cũng là ngọn lửa của ngày mai. Chúng ta đang sống vì lẽ sống của hiện tại. Tất cả những gì ta đang làm đều thắp sáng hy vọng cho tương lai, khởi nguyên của những ngày sau cho hậu thế. Con người sống trong tổng hòa các không thời gian. Do đó, họ vừa là tro tàn của quá khứ, vừa là đốm lửa của tương lai. Tro tàn, hay đốm lửa, quan trọng là ta đã từng “cháy”.
Thêm
469
0
0
Viết trả lời...
Từ năm 1975 đến nay, văn học Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển theo bước đi của xã hội hiện đại. Thời đại mới, con người mới cũng kéo theo những đặc trưng rất khác trong các tác phẩm ở thời kỳ này. Văn học hiện đại cho phép con người được thể hiện cá tính riêng một cách rõ ràng, có sự phân hóa và phân biệt giọng văn, tạo không gian để những cá tính riêng được bộc lộ.

Văn học hiện đại vận động theo hướng dân chủ hóa. Xã hội bước vào thời kỳ xã hội chủ nghĩa, tập trung vào dân quyền và tính dân chủ của con người. Do đó, tính dân chủ cũng trở thành xu hướng vận động bao trùm trong văn học. Tiếng nói cá nhân được bộc lộ rõ nét hơn, phơi bày được những góc khuất của xã hội và dám đấu tranh vì quyền lợi của mỗi cá nhân. Dân chủ hóa đã thấm sâu vào tư tưởng của con người, đi sâu vào từng cấp độ văn học, từ đó nhìn thẳng vào sự thật. Trước đây, nếu văn học cách mạng chỉ tập trung phục vụ kháng chiến và những mục đích lớn lao của dân tộc thì văn học hiện đại lại quan tâm hơn đến những cảm xúc cá nhân của con người, đôi khi mang phần ủy mị. Trong một nền văn học hướng tới tinh thần dân chủ, đòi hỏi và có thể thừa nhận tư tưởng riêng, tư tưởng của nhà văn phải thấm đẫm tư tưởng nhân văn và hòa chung vào với tư tưởng của loài người. Tính dân chủ trong văn chương thể hiện ở khả năng người cầm bút có thể tự do lựa chọn chủ đề, đề tài, những khía cạnh biểu hiện và thế giới hình tượng. Song song với đó, mối quan hệ đa chiều giữa người viết và người đọc cũng bộc lộ rõ tính dân chủ.

Văn học hiện đại giai đoạn này thể hiện rõ ý thức cá nhân bao trùm trên cơ sở tinh thần nhân bản. Người nghệ sĩ giai đoạn này hiểu rõ trách nhiệm của mình trong việc phản ánh thế giới, nhìn thẳng vào những góc u tối và trần trụi của xã hội đương thời. Nghệ sĩ chân chính là người dám đối diện với hiện thực, dám phơi bày bản chất xã hội, không dừng lại trước cái ác và những thế lực đen tối. Dừng lại hay quy hàng trước mọi thế lực thì cũng chỉ là những nhà văn “máu cá” như Nguyễn Minh Châu đã phê bình. Trên cơ sở của tinh thần nhân bản, mọi tác phẩm văn học đều phải hướng tới ý nghĩa, góp phần xây dựng con người, làm đầy phần con bên trong mỗi người.

Đặc biệt, văn học giai đoạn năm 75 đến nay phát triển rất phong phú, đa dạng, hướng tới tính hiện đại. Ở thời kỳ hậu chiến, những mối quan hệ được mở rộng, con người có nhiều vấn đề suy tư và lo lắng. Khi đó, mỗi bận tâm không phải chỉ là mục đích chung của toàn dân tộc mà còn là những xúc cảm rất riêng tư của mỗi con người. Đôi lúc chỉ là “một ánh mắt”, “một cơn giận”, một tháng ngập ngừng trong cái bắt tay cũng có thể trở thành đề tài được văn học quan tâm phản ánh.

Văn học 75 - nay là nền văn học sau thời kỳ chiến tranh, gắn liền với cuộc sống hiện đại. Do đó mà những tính chất của văn học thời kỳ này cũng phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại, tập trung vào những suy nghĩ cá nhân của con người trong thời kỳ hiện đại. Con người bắt đầu có cái tôi, có suy nghĩ mạnh mẽ và hơn hết là dám đấu tranh cho chính mình.
Thêm
118
0
0
Viết trả lời...
“Nghệ thuật, văn chương trao cho ta hình ảnh về một kẻ lạ, nhưng mời gọi ta cùng nghĩ về kẻ ấy, từ đó mà nhận ra nhiều điều khác bấy lâu đóng kín nhận thức hay cảm xúc của chúng ta về con người” (TS Trần Ngọc Hiếu).

Sống trong thế giới đa dạng của văn học cũng đồng nghĩa với việc sống trong thế giới đa dạng của con người và cuộc đời. Khi con người trở thành đối tượng trung tâm được phản ánh, là điểm tựa cho văn chương, nhà văn phải mang một nỗ lực nhập thân, hòa vào thế giới nội tâm con người để phản ánh những chiều kích nội tâm gai góc nhất. Càng đi sâu vào thế giới đó, ta càng hiểu rằng thế giới nội tâm con người là một thế giới vô cùng phức tạp. Việc đối diện với những khía cạnh phức tạp đó là chiều kích gai góc nhất trong văn chương, đòi hỏi khả năng thấu hiểu của người cầm bút.

Lấy con người làm đối tượng trung tâm, văn chương có một điểm tựa nhìn ra thế giới. Mọi mối quan hệ đều được xây dựng xung quanh con người với mục đích phản ánh nội tâm con người. Trước mọi biến cố của thời thế, chân dung loài người lại được phác họa một cách rõ ràng nhất. Nhà văn viết về con người như một cách tái hiện thế giới, mở rộng góc nhìn toàn cảnh về thế giới xung quanh chúng ta. Vũ Trọng Phụng viết về Xuân Tóc Đỏ, ông Văn Minh, bà Phó Đoan hay tất cả những nhân vật khác của tầng lớp Thượng Lưu rởm đời chỉ với mục đích tái hiện cái xã hội đương thời Văn Minh Tân Tiến theo một cách nhố nhăng, giả tạo, lố bịch và đầy màu mè. Andrea Hirata phản ánh hình ảnh 11 “chiến binh cầu vồng” đầy kiên cường, bản lĩnh nhưng mục đích lớn nhất vẫn là phê phán tầng lớp tư sản Mã Lai đã chà đạp lên nhân quyền cơ bản của con người: quyền được đi học.

Phản ánh thế giới nội tâm con người là một cách để thay đổi thế giới, cải thiện hoàn cảnh. “Văn chương có đủ sức sửa sang việc đời thì mới đáng lưu truyền ở đời” (Ngô Thế Vinh). Khi văn học phản ánh được những chiều sâu trần trụi nhất, con người có cơ hội được nhìn lại mình một cách bình thản, dám đối diện với phần “con” vốn dĩ luôn le lói bên trong mình, dám hướng thiện đến một vùng trời nhân bản hơn. Văn chương là tấm gương tái hiện chân dung con người nhưng không phải là sự tái hiện một cách vật lý, mà luôn thấm đẫm tư tưởng nhân văn.

Nhìn ra “điểm mù” trong thế giới nội tâm cũng là một cách để nhà văn nói thay cho tiếng nói cá nhân của con người. khi những âm thanh bị làm cho câm bặt đi, con người chỉ có một cách cầu cứu duy nhất chính là qua sự phản chiếu các mối quan hệ xã hội. Thường thì những lời cầu cứu đó sẽ bị ém nhẹm đi, chỉ có văn chương là đủ sức để phơi trần tiếng nói đó. Thời đại nào cũng luôn cần một người dẫn đầu dám nhìn thẳng, dám nói thẳng, dám đấu tranh cho quyền sống và quyền được sống. Những nếm trải tinh thần vô hình ấy dường như đã trở thành một mặt trong chân dung tâm hồn con người, đòi hỏi người nghệ sĩ chân chính và có sự tinh tế trong việc nhìn nhận và phản ánh nó.
Thêm
134
0
0
Viết trả lời...
Văn chương không phải trò chơi nhã thú để tiêu khiển, mà là một cuộc vật lộn với ngôn ngữ. Bất kỳ tác phẩm nào dù sinh ra trong hoàn cảnh lịch sử nào, phản ánh đối tượng gì thì đều mang một tầng nghĩa sâu xa hơn là những gì ngôn từ biểu hiện. Đó chính là nguyên lý "tảng băng trôi" trong văn chương. Mọi nhà văn đều muốn viết một điều gì đó lớn lao hơn để nói về một hiện thực sâu xa hơn của xã hội. Khởi nguyên của văn học chỉ là hạt cát, nhưng nó phản ánh cả đại dương. Điều quan trọng khi tiếp nhận một tác phẩm chính là người đọc phải phát hiện những tầng nghĩa sâu xa ẩn giấu dưới những điều bình thường được nhà văn phản ánh.
Khả năng biểu hiện của văn chương trước hết xuất phát từ quá trình sáng tạo của tác giả. Nhà văn cần hiểu rõ điều mình cần phản ánh, điều muốn nói với xã hội để từ đó tìm ra phương thức biểu đạt hợp lý. Vũ Trọng Phụng, khi viết về cái đói có khả năng thú hóa con người, khiến người ta quên đi nhân tính, chỉ còn nghĩ đến cái ăn cái mặc của bản thân, đã viết về gia đình bác đánh giậm phải nuôi bà cô trong cơn hoạn nạn. Trước đây, vì đã nhiều lần ngửa tay nhận đồng tiền cứu giúp, bác đánh giậm đành ghìm lòng nuôi cô lúc về già. Cho đến một ngày, thú tính bên trong vợ bác sai khiến bác quên đi cả cái ơn ngày xưa, để xác bà lão lòa trơ trọi trên triền đê. Sự lí giải rõ về dụng ý trong văn chương làm “nghèo” hóa sự tiếp nhận, bó hẹp người đọc trong một phạm vi cảm nhận. Khi đó, phương thức biểu hiện của văn chương gói gọn trong tầm hiểu biết của người nghệ sĩ.
“Tôi viết để tìm kiếm sự cứu rỗi, nhưng mỗi từ ngữ lại đẩy tôi xa hơn khỏi sự bình yên” (Han Kang). Viết là hành trình du ngoạn cùng những chóng mặt và băn khoăn, đem những tư tưởng chắc chắn đổi lấy những hoài nghi về cuộc đời. Phương thức biểu hiện của văn chương tùy thuộc vào miền hiện thực được phản ánh, cũng đồng thời tùy thuộc vào cách tiếp nhận của người đọc. Nhưng dẫu sao, nhà văn luôn phải trong tư thế sẵn sàng thay đổi, sẵn sàng đánh đổi cảm quan cá nhân để hòa nhịp trong cảm quan chung của độc giả.
Điều đó cũng luôn đòi hỏi ở người tiếp nhận nhiều yêu cầu rất khắt khe. Đọc văn để giải trí sẽ nghiệm được những giá trị về giải trí, đọc để cảm về thế giới lại là một hành trình khác. Đọc “Chí Phèo” của Nam Cao – tác phẩm kinh điển của văn học hiện thực Việt Nam, ta thấy gì khác ngoài một thằng Chí nát rượu chỉ biết rạch mặt ăn vạ, trở thành con quỷ dữ làm đổ máu và nước mắt của dân làng Vũ Đại? Nhưng chính người đọc đã đặt “Chí Phèo” ở một tầm cao mới, để người ta hiểu rằng: Chính cái thằng Chí chỉ biết say ấy lại là kẻ tỉnh nhất, là kẻ dám đấu tranh cho quyền sống, dám nói lên tiếng nói của bọn dân hèn dễ bị làm câm tiếng.
Thêm
79
0
0
Viết trả lời...
Đời người ai cũng phải trải qua những đớn đau nhất định như một lẽ tất yếu. Hiểu và cảm được nỗi đau là chuyện đơn giản, nhưng tự chữa lành trước nỗi đau mới là điều khó khăn. Văn chương đem lại khả năng tự chữa lành, giúp con người có thể tái tạo cảm xúc sau những lần đổ vỡ. Bản chất của văn học thực ra vẫn luôn là nỗi đau giẫy giụa bên trong người nghệ sĩ, nhưng anh ta chọn thoát ra khỏi nó để chữa lành mình, để chữa lành cho một cộng đồng niềm tin đang tin tưởng vào tác phẩm của anh ta. Chính từ nỗi đau lại khiến người ta muốn được bứt thoát khỏi nó, để khẳng định tiếng nói cá nhân của mình.

Giữa dòng chảy văn học ngày càng mở rộng bởi in ấn, xuất bản, hiện nay nhiều bạn trẻ đang tham gia vào thị trường chữ, dùng trái tim để cất lên tiếng yêu đời, đó là một dấu hiệu đáng mừng cho văn học nghệ thuật. Chính những bạn trẻ ấy là những hạt mầm bé nhỏ mang theo nỗi đua, sâu bên trong ai cũng là một vết sẹo, chỉ là họ che giấu nó đi. Ngôn từ vốn có khả năng chữa lành, viết ra như một sự tự thú, tự bạch. Viết văn không phải là sự xủng xoẻng trong câu từ hoa mỹ, mà là khi dáng hình con người được bộc lộ một cách rõ nét nhất. Văn chương tồn tại trong bản sắc con người, không ngừng cho ta thấy thế giới nội tâm con người là một thế giới khó nắm bắt. Bởi vậy, khi tiếp xúc với tác phẩm, mỗi người có một cách tự chữa lành khác nhau. Đọc văn Thạch Lam, cảnh sắc thiên nhiên, con người nơi làng quê, phố huyện nghèo cho ta cảm giác thanh bình như đưa ru, như một cách hòa điệu trong những vẻ đẹp rất đỗi mộc mạc của thiên nhiên. Văn chương Vũ Trọng Phụng trần trụi, toàn những thứ chó đểu, khốn nạn nhưng sâu bên trong đó ta an ủi mình rằng: Đời mà…! Thực chất, cảm giác được tự chữa lành đó là sự hưng phấn khi tiếp nhận một tác phẩm. Điều kỳ diệu của văn học chính là nó có khả năng tác động đến đời sống tâm hồn con người. Từ những con chữ trên trang sách, chính người đọc sẽ biến nó trở thành một sinh thể trong cuộc đời thực. Cảm giác Tự chữa lành được tạo ra khi người đọc tiếp nhận một tác phẩm, tìm thấy mình trong những trang sách đó và tự an ủi những nỗi đau của chính mình. Đôi khi, qua câu chữ, nhà văn lại là người làm bật lên những cảm xúc cá nhân để có thể chìm sâu vào những nỗi đau của tha nhân. Đọc những trang văn trần trụi của Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan,... để tự an ủi mình với những nỗi đau trong đời - đó không phải tự chữa lành thì là gì?
Thêm
142
0
0
Viết trả lời...
Khởi sinh từ chính cuộc sống hiện thực vốn rất nhiều biến động, văn chương phải luôn giữ được những giá trị căn cốt trong sự vận động sáng tạo theo thời gian. Văn chương thời nào cũng như vậy thôi, đặc trưng thì khác biệt nhau nhưng đều hướng đến một đích đến cuối cùng: cất lên tiếng nói con người. Âm thanh con người trong cuộc đời thực đôi khi bị vặn nhỏ tiếng, hoặc vì đồng bạc lạnh mà câm lặng hẳn đi. Khi đó, văn chương là sự cất lời cuối cùng cho tất cả những nỗi đau, cứu chuộc những phần "người" ít nhất còn đang thoi thóp. Văn chương phải đủ sức làm việc người thì mới đáng được tồn tại trên đời. Thứ văn chỉ than mây khóc gió hay là sự trá hình của thứ lý thuyết siêu hình cuối cùng cũng chỉ trôi dạt theo dòng xoáy văn chương ngày càng cuồn cuộn.

Văn chương đánh đổi những nỗi đau của tha nhân bằng vết nứt trong tâm hồn văn nhân. Han Kang - nữ nhà văn Hàn Quốc đầu tiên đạt giải Nobel viết rằng: "Tôi viết để tìm kiếm sự cứu rỗi, nhưng mỗi từ ngữ lại đẩy tôi xa hơn khỏi sự bình yên". Vốn dĩ văn chương không phải là thú vui tao nhã để tiêu khiển hay giải trí. Nếu đọc văn trên tinh thần giải trí thì cuối cùng cũng chỉ nhận về những giá trị "giải trí". Chỉ khi đọc văn trong tâm thế cảm niệm với từng câu chữ, ta mới thực sự nhận ra văn chương là một hố sâu không đáy của tư tưởng nội dung. Nhà văn là người chủ trương lý thuyết, chứng kiến nỗi đau của tha nhân bằng nỗi đau của chính mình nhưng không thể trực diện cứu vớt nỗi đau đó. Chính tác phẩm của họ mới có khả năng làm điều đó. Những dòng văn lạnh lùng của Nam Cao khởi sinh từ nỗi đau của anh canh điền Chí Phèo "một thời lương thiện". Anh đã từng mơ "có một gia đình nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải", nhưng chính cái xã hội Thực dân nửa phong kiến khốn nạn đã đập tan tành cái giấc mơ nhỏ nhoi ấy, biến hắn thành thằng Chí chỉ quen rạch mặt ăn vạ. "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam nhẹ nhàng tựa một áng thơ phiêu du giữa đời trần, giữa quang cảnh của phố huyện nghèo ngày đêm mong mỏi một sự khá khẩm hơn. Nỗi đau trong Liên và An không cay đắng, cào xé mà chỉ âm ỉ, âm ỉ trong nỗi nhớ, âm ỉ trong nỗi đau. Nỗi đau với Liên vốn đã quen thuộc, đến mức cô xem đó là một cảm giác rất đỗi bình thường.

Những nỗi đau của con người méo mó muôn hình trạng. Đó là nỗi đau của nhân tính, nỗi đau của tình người, nỗi đau trước thời thế, nỗi đau giữa cái cảnh nghèo không thể thoát ra. Phản ánh nỗi đau là một cách mô tả chân dung những biến động trong lòng người, nhưng không vì thế mà văn học ngoảnh mặt lại với cái đẹp mang tính nhân văn. Phản ánh nỗi đau và tố cáo những thế lực chà đạp lên nỗi đau đó chính là một cách thay đổi thế giới. Nó không hề quay lưng với những chân giá trị mà ngược lại còn là cách tôn vinh những vẻ đẹp trên đời, khiến con người ta biết ghê tởm cái ác mà hướng tới cái thiện. Nguyễn Minh Châu viết về cảnh cái gia đình "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng" với tên chồng vũ phu, mụ đàn bà ngu dốt không biết cách tự cứu mình, một đứa con bất hiếu đánh cha chỉ để người ta biết trân trọng hơn sự hy sinh của người phụ nữ, nhắc nhở rằng bên trong ai cũng đều có một mầm thiện. Cứu chuộc nỗi đau là giải pháp hai chiều của nhà văn để "làm việc đời": vừa nâng đỡ "những con người cùng đường tuyệt lộ" vừa khiến con người hướng tới cái thiện.
Thêm
90
0
0
Viết trả lời...
Nam Cao là một cây bút tiêu biểu của văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 30 - 45. Dưới ngòi bút của Nam Cao, nỗi đau được mổ xẻ, tập trung vào những chiều kích nội tâm gai góc nhất bên trong các nạn nhân để thấy được sự tàn khốc của hiện thực đương thời. Trong ngòi bút lạnh lùng, vô cảm là trái tim ấm nóng nỗi đời, nỗi người.

Cảm hứng nhân đạo là thứ chủ nghĩa chỉ được xây dựng trong tác phẩm của những nhà nhân đạo lớn. Cùng tập trung vào nỗi thương người nhưng mỗi nhà văn lại có cách biểu hiện khác nhau. Nếu Nguyên Hồng thường gán cho nhân vật tất cả nỗi khổ đau ở đời để làm nổi bật lên nỗi đau của họ thì Kim Lân lại cho họ một niềm hy vọng, một chút “thơ” để vượt lên nỗi đau. Với Nam Cao, ông thương nhân vật qua lối văn lạnh lùng, vô cảm đến trần trụi. Thứ văn của Nam Cao là thứ văn rất khó để tiếp nhận nếu không nắm bắt hiện thực đương thời.

Cảm hứng nhân đạo nghiêng về nỗi thương những đau khổ của những kiếp người yếu thế. Nó nghiêng về phản ánh, lột trần bộ mặt thời đại; cất tiếng khóc thuê cho những cơn đau; tố cáo những thế lực chà đạp lên nhân quyền con người và cho nhân vật một lối thoát.
Nam Cao luôn dám nhìn thẳng vào hiện thực. Văn học không chỉ là nơi ông bộc bạch những cảm xúc cá nhân, cũng là nơi ông gửi gắm niềm tin vào giá trị nhân văn ở đời. Trong “Chí Phèo”, Nam Cao có cách tố cáo hiện thực rất riêng so với các nhà văn cùng thời. Nếu như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan nhìn xã hội giai đoạn 30 - 45 dưới cái nhìn sưu cao thuế nặng thì Nam Cao lại nhìn về thói tha hóa mang tính cộng đồng ở xã hội hiện tại.

Khi nỗi đau được đẩy lên đỉnh điểm của bi kịch, Nam Cao dần mở nút nó trong một cách xử lý mang tính truyền thống cá nhân: để nhân vật chết. Đôi khi cái chết là sự giải thoát cuối cùng cho mọi nỗi ẩn ức, nói lên tiếng nói của một tập thể những con người bị làm cho câm tiếng. Chết không đơn thuần là chấm dứt nỗi đau mà còn là sự đấu tranh giành quyền sống. Một đại diện nhân vật chết đi để một tập thể nhân dân được tiếp tục sống với nhân quyền cơ bản của mình. Tuy nhiên, đôi khi cái chết lại là sự kiện thắt nút, mở ra chuỗi bi kịch phía sau. Đó là cái chết của bu Ninh trong truyện ngắn “Từ ngày mẹ chết”. Cái chết của người bu là sự khởi đầu phơi trần sự thay lòng của con người, đề cao trách nhiệm của bậc cha mẹ đối với con cái.

Thời đại nào cũng luôn cần một người kể chuyện đủ can đảm để nói lên tất cả thế sự ở đời, để đấu tranh cho những vùng tiếng nói bị làm cho câm tiếng. Nam Cao thực sự là nhà nhân đạo luôn đấu tranh cho quyền sống của con người. 80 năm vẫn vẹn nguyên giá trị, chưa bao giờ một giọng văn Nam Cao mất đi âm thanh giữa dòng xoáy văn chương nhiều thay đổi.
Thêm
102
0
0
Viết trả lời...
"Chúng ta đều là những con người không hoàn hảo sống trong một thế giới không hoàn hảo" (Haruki Murakami)

Con người sinh ra vốn dĩ luôn là một bản thể bất toàn và đầy khiếm khuyết. Không có thước đo nào sinh ra để đong đếm lượng khuyết điểm của mỗi người. Điều quan trọng không phải là mặc định về sự bất toàn của bản thân mà hãy tự nhận thức để tự thay đổi chính mình, hướng đến cải tạo thế giới.

Chúng ta đều là những bản thể không hoàn hảo. Những khiếm khuyết luôn là một điểm trang trí cho mỗi chúng ta. Không ai có thể phủ định những điểm yếu cá nhân để khẳng định mình là bản thể hoàn hảo. Là con người không bao giờ có sự trọn vẹn, chỉ có
sự hoàn thiện bản thân từng ngày để lấp đầy những khoảng trống khiếm khuyết. Bất toàn là một niềm tự hào của con người để chúng ta biết mình có lý do để cố gắng. Bản thân những người không hoàn hảo sẽ tạo nên thế giới không hoàn hảo, đôi khi chính thế giới đó tác động ngược trở lại chúng ta. Như vậy, chúng ta quả thực là những con người không hoàn hảo sống trong một thế giới không hoàn hảo. Tuy nhiên, bất toàn lại khiến cho người ta trở nên đáng yêu. “Chữ hoàn toàn lạnh lẽo lắm” - Thạch Lam.

Nhận thức mình là một bản thể không hoàn hảo không phải là lý do khiến chúng ta đánh mất niềm tin vào chính mình. Càng tiến tới sự nhận thức, con người càng đi tới sự tiến bộ của nhân loại. Sự bất toàn phải khiến chúng ta biết đấu tranh cho phần “người”, khiến chúng ta biết tự nhiệm để hoàn thiện mình hơn. Chúng ta hoàn thiện bản thân không phải để thay đổi thế giới mà mỗi chúng ta xứng đáng có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Đứng trước kỷ nguyên vươn mình của đất nước, mỗi chúng ta cần có ý thức xây dựng bản thân từ những điều nhỏ bé nhất. Thế hệ trẻ ngày hôm nay cần có kỷ luật cá nhân, không nuông chiều những cảm xúc riêng tư của bản thân làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển chung của xã hội. Hãy đối xử với bản thân mình như cách bản thân mình đối xử với người khác, nghiêm khắc với những khiếm khuyết cá nhân, để một ngày ta trở thành những con người “đang học cách hoàn hảo”.
Thêm
135
0
0
Viết trả lời...
"Với tư cách là văn nghệ sĩ, ta hãy vui lên vì ta đã bị dứt khỏi giấc ngủ mê và khỏi sự đui điếc, bị bắt buộc phải đứng trước sự thống khổ, những trại giam và máu" (Abert Camus). Nghệ sĩ là một chức danh phù phiếm, chuyên lấy nỗi đau đời để làm nỗi đau riêng mình. Những nỗi đau vốn dĩ chẳng phải do anh ta tạo nên, nhưng sâu bên trong mỗi người nghệ sĩ chân chính đều luôn ẩn hiện một nỗi bất lực trước thế sự mà bản thân không thể thay đổi. Viết, viết đến tận cùng là cách duy nhất họ có thể làm để tố cáo thế giới, phản bác những thế lực chà đạp lên quyền được sống, được làm người.

Hiện thực cuộc sống do vậy mà trở thành đề tài chính được các văn nghệ sĩ khai thác. Mỗi nhà văn đều có một khuynh hướng sáng tạo khác nhau, nhưng đối tượng mà họ lựa chọn khai thác luôn là con người và cuộc đời. Khi văn chương không còn lên tiếng cho những nỗi thống khổ tức là lúc mọi cảm xúc của con người đều ngưng mạch, im bặt đi. Mọi trang văn vĩ đại đều ra đời từ một mảnh đất hiện thực riêng, tạo cảm hứng cho người nghệ sĩ sáng tác. Văn học có thể phản ánh cái đẹp nghiêng về những giá trị nhân văn để tôn vinh cái đẹp ở đời, nhưng cũng có thể viết về cái ác để khuấy lên khao khát được hòa mình trong cái đẹp.

Văn chương phản ánh hiện thực nhưng chính hiện thực lại là khởi nguyên cho văn chương khởi nguồn. Nếu không vì cái xã hội Thực dân nửa phong kiến trong gọng kìm của những tên địa chủ như Bá Kiến, làm sao có được một Chí Phèo đớn đau và ám ảnh như thế? Chính cái xã hội "quần ngư tranh thực" đã giẫm đạp lên nhân tính, lên cả tình người, khiến "Bà lão lòa" của Vũ Trọng Phụng để lại dư âm đến ngày hôm nay. Viết về thế giới là cách để thay đổi thế giới, tái thiết lập một thế giới giàu tình người hơn. Nhà văn không tác động đến con người bằng hành động mà qua sự nhận thức tinh thần. Văn chương phải đủ sức "sửa sang việc đời", dám nói lên việc đời mà không lo sợ trước đồng tiền hay thần quyền thì mới đủ sức có mặt ở đời.
Thêm
140
0
0
Viết trả lời...