Mạng xã hội Văn học trẻ

CHƯƠNG 2: TRỐNG ĐỒNG VANG VỌNG VĂN LANG – THIÊN TÌNH SỬ LÀNG BÀN VÀ BÓNG MÂY ĐEN BIÊN ẢI

Vòng luân hồi của lũ cướp nước và dặm trường huyết sử phương Bắc


Để thấu tỏ vì sao ngọn lửa phục thù trên vùng đất phương Nam của người Việt lại cháy rực và bền bỉ đến nhường ấy qua vạn dặm thời gian, không thể chỉ nhìn vào những trang sử cận đại, mà phải phóng tầm mắt ngược về dải đất phía Bắc núi Ngũ Lĩnh sau ngày đại tộc Bách Việt đẫm máu thiên di.
Nơi cố hương phương Bắc thuở trước, các bộ tộc Việt dưới sự trị vì của hậu duệ vua Đế Nghi vốn đã dựng xây nên một nền văn minh nông nghiệp rực rỡ từ lưu vực Hoàng Hà đến Trường Giang, lấy tiếng khèn bầu làm niềm vui, lấy nhịp chày giã gạo làm nhịp đập trái tim. Thế nhưng, kể từ ngày liên minh bộ lạc du mục của Hiên Viên từ vùng thảo nguyên sương tuyết tràn xuống đánh chiếm đất đai, biến đồng ruộng thành bãi chiến trường, vùng Trung Nguyên và Giang Nam đã vĩnh viễn rơi vào vòng xoáy bạo tàn của những kẻ tôn thờ gươm đao.
Trên mảnh đất thấm đẫm máu và nước mắt của người Bách Việt thuở ấy, hậu duệ của Hiên Viên bắt đầu dựng lên những đế chế nối tiếp nhau bằng sắt và máu. Bản tính tham lam và hiếu sát đã đẩy chúng vào những vòng luân hồi cướp bóc, thôn tính lẫn nhau không hồi kết. Từ triều đại nhà Hạ khởi đầu bởi Hạ Vũ đến thời bạo chúa Hạ Kiệt suy tàn, giang sơn phương Bắc lại đổi chủ khi Thành Thang dấy binh lập nên nhà Ân Thương. Rồi khi Trụ Vương đắm chìm trong tửu sắc và hình phạt tàn khốc, nhà Chu lại nổi lên lật đổ. Kinh đô của chúng liên tục dời đổi qua các vùng đất, không ngừng mở rộng bờ cõi bằng vó ngựa và mũi giáo.
Các vương triều phương Bắc cứ thế thay nhau phế lập, chém giết để xưng bá. Thế nhưng, dẫu kẻ nào khoác lên mình tấm hoàng bào, dẫu triều đại nào ngự trên ngai vàng, thì cái dã tâm bành trướng và khát vọng truy sát, nuốt chửng cho bằng hết huyết mạch của tộc Việt ở bờ cõi phương Nam vẫn ngùn ngụt cháy trong huyết quản của chúng!

Kỷ nguyên hoàng kim: Trống đồng vang vọng Văn Lang

Trong khi phương Bắc chìm đắm trong khói lửa của sự thay triều đổi đại, thì trên lãnh thổ Lạc Việt phương Nam, cuộc dung hợp vĩ đại giữa các nhánh tinh hoa Bách Việt vượt Ngũ Lĩnh và cư dân Lạc Việt bản địa nơi châu thổ sông Hồng đã đơm hoa kết trái, mở ra một thời kỳ hoàng kim rực rỡ chưa từng có: Kỷ nguyên Văn Lang thịnh trị!
Dưới sự trị vì nhân từ và anh minh của mười tám đời Hùng Vương, cùng sự phụ tá đắc lực của hệ thống Lạc Hầu, Lạc Tướng và các vị Bồ Chính, Già Làng khắp mười lăm bộ, giang sơn Văn Lang hiện lên như một bức tranh thái bình, no ấm. Những vùng đầm lầy hoang sơ thuở nào nay đã hóa thành những cánh đồng Lạc điền thẳng cánh cò bay, lúa chiêm lúa mùa trĩu hạt nương theo con nước thủy triều lên xuống. Trên đỉnh Nghĩa Lĩnh linh thiêng nơi kinh đô của Văn Lang ở đất Phong Châu, đàn tế Trời Đất ở điện Kính Thiên quanh năm hương khói nghi ngút, kết nối tâm linh của cả dân tộc với thần linh tiên tổ. Các Vua Hùng dạy dân cày cấy, trị thủy, thuần dưỡng muông thú. Khắp cõi Văn Lang từ miền núi đến miền xuôi, dân tình thuần hậu, đường không nhặt của rơi, đêm nằm không cần đóng cửa, cuộc sống sung túc đủ đầy.
Đặc biệt, sự kết hợp giữa trí tuệ luyện kim phương Bắc và khoáng sản trù phú trên đất Lạc Việt đã đưa nghệ thuật đúc đồng Văn Lang đạt tới cảnh giới xuất thần nhập hóa. Hàng ngàn chiếc trống đồng thau uy nghiêm ra đời; mặt trống khắc họa rực rỡ ngôi sao Mặt Trời, đàn chim Lạc sải cánh bay vòng bất tận, hình ảnh những chiến binh đội mũ lông chim cầm giáo múa khiên, cùng những đoàn chiến thuyền rẽ sóng ra khơi. Trống đồng không còn đơn thuần là nhạc khí hay lễ khí, mà đã trở thành bộ quốc sử đúc bằng đồng thau không lời, khắc ghi trọn vẹn quyền uy, bản lĩnh và linh hồn bất diệt của nòi giống Tiên Rồng!
Người Việt thời ấy giữ trọn tục xăm mình truyền thống. Những nam nhân cường tráng đều dùng chàm xăm lên ngực, lên lưng và đùi những hoa văn giao long, thủy quái uy dũng. Bề ngoài, đó là thuật ngụy trang để khi lặn xuống sông sâu biển cả không bị thuồng luồng, cá dữ sát hại; nhưng sâu thẳm bên trong, từng mũi kim châm vào da thịt chính là một lời thề khắc cốt ghi tâm: Dẫu trải qua vạn kiếp ngàn đời, tuyệt đối không bao giờ quên mình là hậu duệ của Rồng tiên thừa kế chính thống của đại tộc Bách Việt!

Khói lửa Đồ Thư và khúc bi ca thành Cổ Loa nước Âu Lạc

Khi nhà Chu ở phương Bắc suy vi, cõi Trung Nguyên vỡ vụn thành cục diện Xuân Thu – Chiến Quốc, nơi bảy nước hùng mạnh điên cuồng chém giết suốt mấy trăm năm. Và rồi, từ lò lửa chiến tranh tàn khốc ấy, một bạo chúa hung hãn bậc nhất lịch sử xuất hiện: Tần Thủy Hoàng Doanh Chính! Với đội quân hổ lang khát máu, nhà Tần lần lượt thôn tính sáu nước, thâu tóm toàn bộ phương Bắc về một mối.
Tham vọng của Doanh Chính không dừng lại ở dãy Ngũ Lĩnh. Hắn lập tức chĩa mũi gươm đẫm máu về phương Nam, sai viên hung tướng Đồ Thư thống lĩnh năm mươi vạn đại quân, cờ xí che rợp mặt trời, chia làm năm đạo ồ ạt vượt núi tiến đánh lãnh thổ của người Việt và nhà nước Văn Lang!
Một lần nữa, vận mệnh nòi giống lại đứng trước thử thách sinh tử. Nhưng đây là mảnh đất cuối trời, con cháu Rồng Tiên không còn đường lùi nữa! Dưới sự thống lĩnh kiệt xuất của vị thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt là Thục Phán, quân dân hai tộc Âu Việt và Lạc Việt đã kết thành một khối sắt đá. Dựa vào địa thế rừng thiêng nước độc, núi cao sông sâu, tổ tiên ta thực hiện kế sách vườn không nhà trống, ngày ẩn vào rừng rậm, đêm bất ngờ tập kích. Suốt mười năm ròng rã, những trận mưa tên đồng tẩm nhựa cây độc bắn ra từ nỏ cứng đã khiến quân Tần tiến thoái lưỡng nan, lương thảo tuyệt kiệt. Để rồi trong một đêm sương mù dày đặc, mũi tên đồng của người Việt đã xuyên thủng yết hầu Đồ Thư! Năm mươi vạn quân Tần đại bại, thây phơi đầy núi rừng, máu trôi đỏ cả sông suối, làm chấn động cả triều đình Hàm Dương.
Sau đại thắng lừng lẫy ấy, nhận thấy mệnh trời của triều đại Hùng Vương đã trọn và uy đức của Thục Phán vang dội khắp cõi, Hùng Vương thứ mười tám là Hùng Duệ Vương đã quyết định nhường ngôi. Trên đỉnh Nghĩa Lĩnh linh thiêng, trước điện Kính Thiên mây trắng vờn quanh, Thục Phán dựng hai cột đá thề, quỳ xuống dõng dạc tuyên thệ: "Nguyện có Hoàng thiên Hậu thổ chứng giám, giang sơn cõi Việt trường tồn, miếu thờ Hùng Vương vạn đại khói hương! Nếu sai lời thề, nguyện bị búa rìu sấm sét đánh tan!"
Kế đó, ngài hợp nhất hai bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt, lập nên nhà nước Âu Lạc, lên ngôi xưng là An Dương Vương, dời đô từ vùng núi Phong Châu xuống đồng bằng Phong Khê, tiếp nối trọn vẹn chính thống và tinh hoa ngàn năm của Văn Lang.
Nhưng sóng gió lịch sử vẫn chưa buông tha bờ cõi phương Nam của người Việt! Nhà Tần sụp đổ, nhà Hán nổi lên chiếm giữ Trường An, còn ở vùng Phiên Ngung phía Bắc biên ải, viên quan cũ nhà Tần là Triệu Đà nhân lúc loạn lạc đã cát cứ lập ra nước Nam Việt, ngày đêm nhăm nhe thôn tính Âu Lạc.
Dẫu An Dương Vương có thành Cổ Loa chín vòng xoáy trôn ốc kiên cố tựa thần xây, dẫu có lẫy Nỏ Thần Liên Châu (Linh Quang Kim Trảo Thần Nỗ) một phát bắn ra vạn mũi tên đồng khiến quân Triệu Đà nhiều phen đại bại, nhưng cơ đồ rốt cuộc lại sụp đổ từ bên trong bởi mưu sâu kế hiểm của giặc Bắc! Lợi dụng tấm lòng nhân hậu và sự mất cảnh giác của nhà vua lúc tuổi già, Triệu Đà dùng kế giảng hòa, cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn công chúa Mỵ Châu. Bi kịch tình yêu Mỵ Châu – Trọng Thủy đã khiến lẫy nỏ thần bị đánh tráo. Khi quân Triệu Đà bất ngờ tràn sang lần nữa, thành Cổ Loa thất thủ chìm trong biển máu. Hình ảnh vị vua già cõng con gái phi ngựa về phương Nam, rồi rút kiếm chém người con vô tình tiếp tay cho giặc trước khi theo thần Kim Quy rẽ nước bước xuống biển Đông đã khép lại trang sử độc lập tự chủ của Âu Lạc, đẩy dân tộc bước vào đêm trường Bắc thuộc đầy uất hận!

Làng Bàn – Ốc đảo kiên trung bảo lưu hồn cốt Tiên Rồng

Xuyên suốt dòng chảy cuồn cuộn của mấy ngàn năm huyết sử ấy – từ thuở Hùng Vương dựng nước Văn Lang, băng qua mười năm khói lửa diệt quân Tần Đồ Thư, cho đến ngày thành Cổ Loa sụp đổ và nhà Hán vươn vòi bạch tuộc thôn tính cả cõi Lạc Việt – vẫn có một vùng đất âm thầm tồn tại hiên ngang như một pháo đài bất khả xâm phạm: Làng Bàn!
Nằm ẩn mình nơi giao thoa giữa miền sơn cước hùng vĩ và vùng đồng bằng châu thổ, Làng Bàn hiện lên trù phú và linh thiêng bậc nhất. Nơi đây núi non trùng điệp bao bọc bốn bề tạo thành thế "rồng cuộn hổ ngồi", phía trước có dòng Thao Giang đỏ nặng phù sa uốn lượn mềm mại như một dải lụa đào ôm lấy thôn xóm. Mỗi khi triều đại trung ương biến động hay khi giặc phương Bắc tràn sang đốt phá đền đài, những bậc đại trí giả, những thợ đúc đồng kiệt xuất và những huyết mạch vương giả thuần khiết nhất của hai dòng Âu – Lạc đều bí mật lui về đây ẩn náu.
Làng Bàn trở thành nơi hội tụ đông đảo nhất những gia tộc truyền thừa trực tiếp từ giới tinh hoa Bách Việt vượt Ngũ Lĩnh năm xưa và dòng dõi các Lạc Hầu, Lạc Tướng thời Hùng Vương. Đứng đầu cai quản làng là một vị Bồ Chính uy vọng cùng hội đồng Già Làng. Vị Bồ Chính đương nhiệm tuổi trạc ngũ tuần, tướng mạo uy nghiêm với râu hùm hàm én, văn võ song toàn. Ông chính là người canh giữ mật thất của làng – nơi cất giấu những bộ thẻ tre khắc chữ cổ mang từ hồ Động Đình thuở trước, những bản vẽ lẫy nỏ Liên Châu của thành Cổ Loa, cùng những khuôn đúc trống đồng tinh xảo nhất.
Bất chấp bên ngoài kia lãnh thổ Lạc Việt đang rên xiết dưới ách cai trị của quan lại đô hộ phương Bắc, bên trong lũy tre xanh như thành đồng của Làng Bàn, trai tráng vẫn ngày đêm bí mật rèn giáo đồng, luyện bắn nỏ; gái làng vẫn ươm tơ dệt lụa, tiếng thoi đưa lách cách hòa cùng câu hát Xoan, hát Ghẹo vang vọng cả khúc sông Thao. Làng Bàn sừng sững tồn tại giữa giông bão như ngọn hải đăng cuối cùng, giữ gìn trọn vẹn ngọn lửa văn hiến và ý chí phục quốc chưa bao giờ tắt của con cháu Rồng Tiên!

Mối tình chớm nở dưới bóng trăng Thao Giang

Vị Bồ Chính Làng Bàn có một người con gái độc nhất tên là Thị Chanh. Nàng không chỉ sở hữu dung nhan tuyệt sắc tựa trăng rằm, làn da trắng ngần như ngọc sáng, mái tóc dài đen nhánh lúc nào cũng thoang thoảng hương hoa bưởi, mà còn toát lên cốt cách đoan trang, khí chất cao quý của bậc tiểu thư dòng dõi trâm anh. Từ thuở lên năm, Thị Chanh đã được cha truyền dạy chữ viết cổ trên thẻ tre, thông tỏ kinh sử của tổ tiên từ thời Động Đình – Xích Quỷ và thấu hiểu nỗi đau mất nước của giống nòi. Đôi mắt nàng trong veo như nước hồ thu, nhưng ẩn sâu dưới hàng mi cong vút ấy là một trí tuệ sắc sảo và niềm kiêu hãnh không chịu khuất phục trước bất kỳ cường quyền nào.
Và nếu Thị Chanh là đóa hoa ngọc lan cao quý nhất của Làng Bàn, thì Bôn Lang chính là con tuấn mã kiêu hùng nhất nơi bờ sông Thao! Bôn Lang mồ côi cha mẹ từ nhỏ trong một trận càn của giặc Bắc, nhưng trong huyết quản chàng chảy cuộn dòng máu của một gia tộc Lạc Tướng lừng lẫy từng sát cánh cùng An Dương Vương giữ thành Cổ Loa. Ở tuổi đôi mươi, chàng vươn mình cao lớn vạm vỡ như cây lim giữa đại ngàn, tấm ngực trần săn chắc chạm trổ hình xăm Rồng thiêng uốn lượn sống động. Bôn Lang là hiện thân hoàn mỹ nhất của thế hệ người Việt mới: mang sức mạnh cơ bắp cuồn cuộn và bản năng sinh tồn mãnh liệt của dũng sĩ Lạc Việt, kết hợp cùng bộ óc mưu lược nhạy bén của bậc trí giả Bách Việt. Chàng có thể lặn một hơi qua sông Thao Giang đang mùa nước lũ, tay không vật ngã hổ dữ trên rừng, nhưng khi đêm về lại biết gõ nhịp ống tre, cất giọng hát trầm ấm làm say đắm lòng người.
Mối lương duyên trời định của đôi trai tài gái sắc bắt đầu vào một đêm hội giã cốm mừng lúa mới giữa mùa thu. Dưới ánh trăng rằm tháng Tám vằng vặc dát bạc lên mặt sóng sông Thao, giữa vòng người nhảy múa quanh đống lửa lớn và tiếng trống đồng rộn rã, Bôn Lang đầu chít khăn điều, tay nâng chiếc khèn bầu bước ra giữa sân hội. Chàng dồn hơi thổi lên một khúc nhạc giao duyên cổ xưa của đất Phong Châu. Tiếng khèn lúc réo rắt vút cao như cánh chim Lạc gọi bầy trên đỉnh Tản Viên, lúc lại trầm hùng, da diết như tiếng sóng vỗ bờ Động Đình thuở trước.
Trên đài gỗ cao dành cho gia quyến Bồ Chính, Thị Chanh khẽ vén bức rèm trúc nhìn xuống. Giữa biển người chập trùng dưới ánh lửa hồng, bốn mắt họ bất chợt chạm nhau! Khoảnh khắc ấy, vạn vật đất trời như ngừng chuyển động. Trong mắt Bôn Lang, Thị Chanh hiện lên thanh khiết và rực rỡ như thần nữ giáng trần; còn trong tim Thị Chanh, bóng dáng chàng trai ngực xăm giao long đứng giữa ánh trăng chẳng khác nào hóa thân của Đức Lạc Long Quân thuở hồng hoang.
Kể từ đêm hội ấy, mỗi độ trăng lên trên sóng nước Thao Giang, Bôn Lang lại một mình chèo chiếc thuyền độc mộc lướt nhẹ đến dưới bến nước sau tư dinh Bồ Chính, dùng mái chèo gõ lên mạn thuyền ba tiếng làm hiệu. Thị Chanh tựa bên song cửa lầu sàn, mỉm cười e ấp thả xuống mặt nước một nhành hoa sim tím miền trung du thay lời ước hẹn. Tình yêu của họ trong trẻo như sương sớm đọng trên lá lúa, nhưng cũng mãnh liệt và cuộn trào như thác ghềnh sông Đà. Đôi trẻ nắm tay nhau dưới bóng trăng, nguyện thề có thần sông thần núi chứng giám, đợi đến mùa gặt sang năm sẽ chính thức thưa chuyện cùng cha để nên duyên chồng vợ.

Áng mây đen từ Trường An và vó ngựa Hán triều

Thế nhưng, tạo hóa trớ trêu thường không dung thứ cho những vẻ đẹp quá đỗi toàn bích giữa thời loạn thế. Ốc đảo bình yên Làng Bàn dẫu ẩn kín giữa non xanh nước biếc cũng không thể che giấu mãi ánh hào quang trước cặp mắt cú vọ của đế quốc Đại Hán phương Bắc.
Sau khi thôn tính nhà Triệu và đặt ách đô hộ lên vùng đất Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, triều đình nhà Hán không ngừng tung mạng lưới mật thám giả dạng thương nhân đi sục sạo khắp các bản làng người Việt để tìm kiếm tàn dư quý tộc cũ. Một toán mật thám Hán triều đã lần theo dòng Thao Giang và phát hiện ra sự trù phú cùng khí thế ngầm của Làng Bàn. Chúng lập tức thay ngựa ngày đêm, vượt vạn dặm đường về tận kinh thành Trường An dâng mật tấu lên Hoàng đế nhà Hán:
"Muôn tâu Bệ hạ! Vùng đất Lạc Việt phương Nam ngỡ là chốn rừng thiêng nước độc, ngờ đâu dọc bờ sông Thao lại có một vùng gọi là Làng Bàn lúa thóc đầy bồ, đồng thau chất đống. Nguy hiểm hơn cả, nơi đây chính là sào huyệt quy tụ những huyết mạch tinh hoa nhất của dòng dõi Bách Việt và quý tộc Văn Lang – Âu Lạc năm xưa! Chúng không hề bị đồng hóa mà vẫn giữ chữ viết riêng, tôn thờ trống đồng, tự xưng là nòi giống Rồng Tiên, trai tráng ngày đêm bí mật rèn giáo đúc nỏ. Nếu triều đình không sớm xuất đại quân san phẳng Làng Bàn, nhổ cỏ tận gốc, e rằng chỉ mươi năm nữa, ngọn lửa từ ngôi làng ấy sẽ thiêu rụi toàn bộ các quận huyện phương Nam của Đại Hán!"
Trên điện Vị Ương nguy nga ở Trường An, Hán đế nghe xong mật tấu thì mặt biến sắc, cơn thịnh nộ bùng lên dữ dội.Hắn đập mạnh tay làm vỡ nát chén ngọc trên án thư, tuốt thanh bảo kiếm chém phăng một góc bình phong, gầm lên:"Quả nhiên lũ hậu duệ Bách Việt vẫn chưa tuyệt giống! Truyền thánh chỉ của Trẫm: Lập tức điều động năm mươi vạn đại quân tinh nhuệ, trang bị giáp sắt và nỏ cứng, giao cho các mãnh tướng tàn bạo nhất thống lĩnh, cấp tốc tiến vây Làng Bàn! Phàm là nam đinh và quý tộc nơi đó, chém sạch không chừa một mống! Trống đồng phải nấu chảy, kinh sách thẻ tre phải đốt thành tro bụi! Trẫm muốn hai chữ 'Rồng Tiên' phải vĩnh viễn biến mất khỏi thế gian, bắt lũ người phương Nam đời đời kiếp kiếp phải cúi đầu làm trâu ngựa cho Đại Hán!"
Đêm hôm ấy tại Làng Bàn, trời đang quang tạnh không một gợn gió, bỗng nhiên mặt sông Thao Giang cuộn sóng dữ dội, vỗ ầm ầm vào bờ đất. Bôn Lang đứng trên bến nước quen thuộc, ngẩng đầu nhìn về bầu trời phương Bắc thì thấy một vệt sao chổi đỏ quạch như máu rạch ngang màn đêm, kèm theo đám mây đen kịt ùn ùn kéo tới nuốt chửng ánh trăng rằm.
Chàng siết chặt chuôi thanh kiếm đồng bên hông, vòng tay ôm lấy bờ vai mảnh mai của Thị Chanh đang khẽ run lên trong gió lạnh. Đôi mắt người thiếu nữ nhìn về phía rừng xa, giọng nàng nghẹn lại đầy bất an: “anh Bôn ơi... Đêm nay sao bầu trời sầu thảm, sóng sông Thao gầm gào dữ tợn thế! Lòng em nóng như lửa đốt, cảm giác như có một bàn tay đen tối to lắm đang từ phương Bắc vươn xuống, chực chờ bóp nghẹt sinh khí của Làng mình..."
Bôn Lang kéo người thương sát vào lồng ngực ấm nóng có xăm hình Rồng thiêng của mình, giọng chàng trầm đục nhưng rắn rỏi như vách đá núi Tản: “Em Chanh đừng sợ! Dù bầu trời này có sập xuống, đôi vai của anh cũng nguyện chống đỡ để che chở cho em. Huyết mạch Bách Việt tìm về tới vùng đất Phong Châu – sông Thao này là đã đứng ở tận cùng bờ cõi rồi, sau lưng là mồ mả ông cha, không còn nơi nào để lùi nữa! Nếu lũ giặc phương Bắc dám đem gót sắt giẫm vào Làng mình, anh sẽ cho chúng nếm mùi mũi tên đồng tẩm máu nóng của con cháu Rồng thiêng!"
Thế nhưng, cả đôi uyên ương trẻ tuổi lẫn người dân Làng Bàn đều không thể lường hết được quy mô tàn khốc của cơn cuồng phong sắp ập xuống. Chỉ vài ngày sau, khi ánh chiều tà vừa nhuộm đỏ đỉnh đồi trung du, từ phía biên ải và dọc theo thượng nguồn sông Thao, một đám mây bụi vàng khổng lồ bỗng bốc lên cuồn cuộn, che khuất cả ánh mặt trời!Tiếng hàng vạn vó ngựa chiến nện rầm rập làm rung chuyển mặt đất, hòa lẫn tiếng giáp sắt và gươm giáo va chạm loảng xoảng lạnh thấu xương tủy. Trên các chòi canh cao vút quanh làng, lửa hiệu báo nguy đồng loạt bùng cháy đỏ rực cả một góc trời!
Từ trên đỉnh đồi trung tâm Làng Bàn, tiếng trống đồng đại cổ do đích thân vị Bồ Chính gióng lên bỗng nổ vang như sấm rền! Không còn là nhịp trống khoan thai mừng mùa lúa chín hay gọi bạn đêm trăng, mà là hồi trống trận dồn dập, bi tráng, thúc giục hàng ngàn chàng trai Lạc Việt lập tức buông cày cuốc, nắm chặt giáo đồng và nỏ cứng lao ra chiến lũy.
Cánh cửa bình yên của ốc đảo Làng Bàn đã chính thức khép lại trong khói lửa ngập trời, mở ra những trang huyết lệ bi thương thống thiết bậc nhất, chia cắt hàng vạn đôi uyên ương, và đặt mối tình vừa chớm nở của Bôn Lang – Thị Chanh trước ngưỡng cửa sinh ly tử biệt!
Thêm
9
0
0
Viết trả lời...
CHƯƠNG 1: HUYẾT LỆ ĐỘNG ĐÌNH – BẢN TRƯỜNG CA CỦA NHỮNG CÁNH CHIM LẠC VỀ MIỀN CUỐI TRỜI

Ký ức vàng son bên bờ sương khói


Thuở trời đất còn hồng hoang, mây nước còn giao hòa làm một, dải đất bao la trải dài từ bờ Nam sông Trường Giang, ôm trọn lấy hồ Động Đình mênh mông bát ngát, vốn là chiếc nôi thiêng dưỡng dục của đại tộc Bách Việt. Bách Việt – hàng trăm bộ tộc anh em cùng chung một bầu máu nóng, cùng ngưỡng vọng thần Mặt Trời rực rỡ và mang trong tim tình yêu bất diệt với nền văn minh lúa nước ngàn năm.
Ấy là kỷ nguyên rực rỡ và thanh bình bậc nhất mà sử xanh còn vọng lại! Quanh hồ Động Đình thuở ấy, sóng nước biếc xanh như ngọc bích, vỗ nhịp hiền hòa qua bao mùa trăng khuyết lại tròn. Những cánh đồng lúa nước phương Nam trải dài tít tắp đến tận chân mây; mỗi độ thu về, hương lúa chín quyện vào gió Nam, thổi mát rượi cả tâm can người mở đất. Dân tộc Việt thuở sơ khai mang bản tính hiền lương mà nghĩa khí, trọng tình trọng nghĩa hơn cả vàng mười. Bình minh vừa hé, hàng ngàn chiếc thuyền độc mộc hình thoi đã xé mặt sương mù, vút đi trên sóng nước giăng câu; khi hoàng hôn buông xuống, khói lam chiều từ những nếp nhà sàn mái cong hình mui thuyền lại bốc lên nghi ngút, dệt nên một bức tranh thái bình thịnh trị giữa nhân gian.
Nhưng cốt cách và trí tuệ của người Bách Việt đâu chỉ dừng lại ở sự hiền hòa của ruộng đồng sông nước! Dưới bàn tay tài hoa của tầng lớp quý tộc, các bậc trí giả và những nghệ nhân luyện kim tuyệt thế, kỹ thuật rèn đúc khí cụ và nghệ thuật đúc đồng của tộc Việt đã vươn tới đỉnh cao chói lọi, đi trước thời đại cả trăm năm. Những chiếc trống đồng khổng lồ ra đời từ lửa đỏ và mồ hôi, mang trên mặt trống ngôi sao Mặt Trời rực sáng, khắc họa dáng hình chim thần sải cánh bay vút lên tầng không, hình trai gái giã gạo, hình chiến thuyền rẽ sóng. Mỗi độ vào mùa hội cầu mùa hay đại lễ tế Trời Đất, tiếng trống đồng lại nổi lên trầm hùng, uy chấn cả sơn hà, thức tỉnh long mạch, khẳng định niềm kiêu hãnh tự tôn và sức sống mãnh liệt của một nền văn minh rực rỡ phương Nam.
Tổ tiên ta thuở ấy đã biết khắc chữ viết riêng lên mai rùa, thẻ tre để lưu truyền sử sách; biết dùng trăm thứ thảo mộc phương Nam làm thuốc cứu người; biết nhìn sao trời, ngắm trăng non mà đoán định mưa nắng, thủy triều. Nền văn minh Bách Việt sừng sững như một viên dạ minh châu khổng lồ, tỏa hào quang chói lọi giữa cõi Giang Nam sương khói.

Cuồng phong cuộn từ phương Bắc

Nhưng hỡi ôi! Châu ngọc sáng ngời thường lọt vào mắt kẻ cường đạo, đất đai trù phú dễ bị gót giày bạo ngược dẫm đạp. Từ phương Bắc xa xôi, nơi những thảo nguyên khô cằn gió cát và vùng Hoàng Hà lạnh lẽo, các thế lực ngoại bang hung hãn truyền thừa từ nhánh Hiên Viên ngày đêm rèn binh luyện mã. Bọn chúng lớn lên trên lưng ngựa, uống máu ăn thề, lấy sự chinh phạt và cướp bóc làm lẽ sống. Khi phóng tầm mắt về phương Nam, thấy giang sơn Bách Việt gấm vóc lụa là chất cao như núi, thóc lúa đầy bồ, đồng thau sáng loáng, lòng tham không đáy của chúng liền bùng lên như ngọn lửa địa ngục.
Vào một năm mùa đông đến sớm, đất trời bỗng nổi cơn dị biến. Nước hồ Động Đình đang trong xanh bỗng chuyển màu xám xịt, cuộn sóng dữ dội. Hàng vạn cánh chim trời hoảng hốt kêu lên những tiếng bi thương, rợp trời vỗ cánh bay dạt về phương Nam. Đêm ấy, sao chổi dài hàng trượng quét ngang bầu trời, đỏ quạch như một vệt máu báo hiệu đại kiếp nạn của giống nòi.
Và rồi, giặc Bắc tràn xuống!
Đó không phải là một cuộc giao tranh phân định biên cương thông thường, mà là một cơn đại hồng thủy của gươm đao, máu và nước mắt. Hàng chục vạn kỵ binh giáp sắt đen kịt từ phương Bắc tràn xuống như bầy châu chấu khát máu. Tiếng tù và sừng thú rúc lên từng hồi man rợ, xé toạc bầu không khí thanh bình ngàn năm của đất Tổ. Mặt đất rung chuyển bần bật dưới hàng vạn vó ngựa ngoại bang. Gót sắt của chúng giẫm đến đâu, cỏ cây tuyệt diệt, xóm làng trù phú phút chốc hóa thành biển lửa ngút trời.

Chính sách tuyệt diệt: Nỗi đau thấu tận trời xanh

Dã tâm của vương triều phương Bắc bấy giờ thâm độc đến tột cùng. Tướng giặc cưỡi trên lưng ngựa ô, vung trường đao chỉ về phương Nam, ban ra đạo quân lệnh tàn bạo nhất lịch sử nhân loại: "Phàm là nam đinh tộc Việt cao hơn bánh xe ngựa, giết không tha! Phàm là quý tộc, Tộc trưởng, Thủ lĩnh, trí giả thông tuệ, chém đầu bêu chợ! Đàn bà con gái bắt làm nô tì, kinh sách thẻ tre đốt sạch, trống đồng đập nát nấu chảy!"
Lũ giặc phương Bắc hiểu quá rõ sức mạnh tiềm tàng của người Việt. Chúng khiếp sợ trí tuệ uyên thâm của các bậc hiền triết Bách Việt, và run rẩy trước khí phách quật cường của những tráng sĩ mình xăm vằn giao long. Bởi thế, chúng rắp tâm thực hiện một cuộc diệt chủng và đồng hóa tận gốc rễ! Tàn sát nam giới là để cắt đứt huyết thống giống nòi; tru di tầng lớp tinh hoa là để xóa sổ trí tuệ, lịch sử và quyền tự chủ; đập phá trống đồng là để dập tắt linh hồn dân tộc. Chúng muốn biến những người Việt sống sót thành một bầy cừu mất trí nhớ, đời đời kiếp kiếp cúi đầu làm nô lệ dưới gót giày phương Bắc.
Bi kịch giáng xuống tàn khốc đến mức quỷ khóc thần sầu, trời xanh cũng phải nhỏ lệ! Dọc hai bờ sông Tương và quanh hồ Động Đình, máu người Việt chảy đỏ ngòm cả sóng nước. Thi thể những tráng sĩ Bách Việt mình trần đóng khố, tay nắm chặt giáo đồng quyết tử bảo vệ xóm làng, chất cao như núi. Những lưỡi kiếm đồng, những mũi giáo đồng thau dẫu sắc bén đến đâu cũng đành bất lực trước chiến thuật biển người và những trận mưa tên tẩm độc của kỵ binh phương Bắc.
Tại kinh ấp của các bộ tộc Dương Việt, Điền Việt, U Việt, hàng vạn thẻ tre ghi chép lịch sử ngàn năm, y thuật và thiên văn của tổ tiên bị ném vào biển lửa, cháy rực suốt ba ngày ba đêm, khói đen che khuất cả mặt trời. Những vị Già Làng, Đại tư tế râu tóc bạc phơ, khoác áo gấm tế thần, bị giặc trói chặt vào cột đồng nung đỏ. Dù thịt da bị lóc từng mảng, các ngài vẫn không hề rên la một tiếng, đôi mắt sáng quắc nhìn thẳng vào mặt quân thù, dõng dạc cất tiếng nguyền rủa lũ cướp nước bằng tiếng mẹ đẻ cho đến hơi thở cuối cùng! Tiếng gào thét bi phẫn của bậc trượng phu, tiếng khóc xé lòng của người vợ mất chồng, người mẹ mất con hòa vào nhau, tấu lên một khúc bi ca ai oán, ám ảnh bầu trời phương Nam suốt hàng chục thế kỷ.

Huyết lệ Hội nghị: Lựa chọn của bậc đại trí đại dũng

Giữa vòng vây trùng điệp của quân thù, tại một hang đá bí mật nằm sâu trong dãy Thập Vạn Đại Sơn hùng vĩ, những đại diện tinh hoa cuối cùng của các bộ tộc Bách Việt đã bí mật hội tụ. Họ là những Tộc trưởng, Thủ lĩnh, những bậc đại trí giả mang trong mình dòng máu vương giả và trí tuệ kiệt xuất nhất của giống nòi. Những tấm áo lụa gấm ngày nào nay đã rách tươm, thấm đẫm máu khô và bùn đất. Cả thạch động đặc quánh một bầu không khí bi tráng và uất nghẹn.
Một vị dũng tướng trẻ tuổi của tộc Mân Việt, thân hình vạm vỡ chằng chịt vết thương, bước ra giữa thạch bàn, tuốt kiếm đồng chém phăng một góc đá, gầm lên như hổ dữ:"Quốc phá gia vong! Thù này không trả, thề không đội trời chung với giặc! Hỡi các bậc phụ lão, hỡi các huynh đệ! Tộc Việt ta thà làm ngọc nát còn hơn làm ngói lành! Hãy tập hợp toàn bộ nam đinh còn lại, mở đường máu xông ra quyết tử với lũ rợ Bắc một trận cuối cùng, lấy máu nóng của chúng ta tưới đẫm đất Tổ Động Đình!"
Hàng trăm cánh tay nắm chặt chuôi gươm giơ lên, tiếng hô "Quyết tử! Quyết tử!" vang rền như sấm dậy trong lòng núi. Nhưng đúng lúc bi phẫn lên tới tột đỉnh, vị Đại Già Làng của tộc Dương Việt – bậc trưởng lão trăm tuổi được tôn kính như kho tàng sống của đại tộc Bách Việt – chậm rãi chống cây trượng bước ra. Đôi mắt ngài sâu thẳm như biển hồ Động Đình, chất chứa nỗi đau của vạn sinh linh, nhưng lại tỏa ra ánh hào quang sắc lạnh của bậc đại trí.
"Khoan đã, những đứa con dũng cảm của thần Mặt Trời!" Giọng vị Đại Già Làng trầm hùng vang vọng khắp vách núi. "Các ngươi muốn đem những giọt máu tinh hoa cuối cùng của giống nòi vứt dưới móng ngựa quân thù sao? Chết cho vẹn toàn khí tiết thì dễ lắm, chỉ cần một nhát gươm vung lên là trả xong nợ nước! Nhưng nếu tất cả chúng ta – những người nắm giữ hồn cốt văn hóa, những huyết mạch lãnh đạo truyền thừa của Bách Việt – đều ngã xuống hôm nay, thì ngày mai ai sẽ dạy con cháu ta nói tiếng mẹ đẻ? Ai sẽ giữ lửa lò đúc trống đồng? Ai sẽ kể cho hậu thế nghe về cội nguồn Động Đình? Giặc Bắc muốn ta tuyệt chủng, ta lao vào chỗ chết chẳng phải là tự tay giúp chúng hoàn thành bá nghiệp hay sao? Chết vinh dễ, nén nhục tột cùng để mưu đồ đại cuộc ngàn năm mới là cái dũng tột bậc của bậc đại anh hùng!"
Cả hang đá bỗng chốc lặng ngắt như tờ. Chỉ còn tiếng lửa đuốc nổ lép bép. Những giọt huyết lệ nóng hổi lăn dài trên gò má rám nắng của những dũng sĩ từng vào sinh ra tử không chớp mắt. Họ đã bừng tỉnh. Chết lúc này là cái chết mù quáng!
"Thưa Đại Già Làng, vậy chúng ta phải đi về đâu giữa đất trời mênh mông này?" Một vị Thủ lĩnh nghẹn ngào cất tiếng.
Vị trưởng lão từ từ nâng gậy, chỉ thẳng về hướng Nam xa xăm, giọng nói sang sảng như tiếng sấm mùa xuân:"Nam tiến! Lui về cực Nam của bờ cõi Bách Việt! Vượt qua rặng Ngũ Lĩnh trùng điệp, tìm về vùng châu thổ sông Hồng mênh mông sóng nước! Nơi đó có người anh em ruột thịt Lạc Việt của chúng ta đang trấn giữ. Đất đai nơi ấy núi cao vực sâu, sông ngòi chằng chịt, rừng rậm bạt ngàn, kỵ binh rợ Bắc vốn khiếp sợ thủy chiến sẽ không thể nào càn quét! Chúng ta phải mang theo hạt giống văn minh, mang theo lửa thiêng của tổ tiên về miền cuối trời, nương nhờ đất Mẹ để bảo tồn nòi giống, hun đúc ý chí phục hưng dân tộc dù có phải chờ đợi cả ngàn năm!"
Đêm ấy, dưới ánh đuốc bập bùng, các bậc tinh hoa Bách Việt cùng cắt máu ăn thề. Họ nén chặt nỗi đau mất đất, gạt nước mắt từ biệt cố hương Động Đình. Trên vai họ không phải là vàng bạc châu báu, mà là những khuôn đúc trống đồng, những bộ thẻ tre ghi chép lịch sử, và một trái tim rỉ máu nhưng rực cháy ngọn lửa bất khuất vĩnh cửu.

Vạn dặm Trường Chinh – Máu nhuộm đỏ đèo Ngũ Lĩnh

Cuộc đại thiên di về phương Nam của giới tinh hoa Bách Việt chính là bản trường ca bi tráng và hào hùng bậc nhất buổi bình minh lịch sử. Để chạm tới đất của người Lạc Việt, đoàn người phải vượt qua dãy Ngũ Lĩnh – bức trường thành đá khổng lồ chắn ngang trời Nam, nơi đỉnh núi cao chạm mây, vực sâu vạn trượng, lam sơn chướng khí và mãng xà độc trùng rình rập từng bước chân.
Phía trước là rừng thiêng nước độc, phía sau là hàng vạn thiết kỵ phương Bắc ngày đêm đuổi gấp hòng diệt tận gốc rễ.
Trên vạn dặm trường chinh đẫm máu và nước mắt ấy, cái đói, cái rét và dịch bệnh đã cướp đi sinh mạng của biết bao người con ưu tú. Có những vị túc nho cả đời chỉ quen cầm bút khắc chữ, nay lưng cõng những bó thẻ tre nặng trĩu lội qua đầm lầy, đến khi kiệt sức gục xuống bùn đen vẫn hai tay ôm chặt kinh sử của tổ tiên trước ngực, chết không chịu buông. Có những bậc mệnh phụ phu nhân vốn quen lụa là gấm vóc, nay tước từng mảnh xiêm y băng bó cho thương binh, dùng đôi môi tứa máu hút nọc rắn độc cứu những đứa nhỏ– mầm sống tương lai của tộc Việt – rồi thanh thản hóa thân vào cát bụi đại ngàn.
Nhưng hào sảng và lẫm liệt nhất chính là những trận huyết chiến đoạn hậu! Để cầm chân kỵ binh giặc, mở đường sống cho đoàn người mang hạt giống văn minh đi trước, hàng ngàn tráng sĩ Bách Việt đã tình nguyện ở lại trấn giữ các hẻm núi hiểm yếu. Tại đèo Quỷ Môn sừng sững, năm trăm dũng sĩ tộc Việt mình trần xăm giao long đã quay lại tử chiến với ba ngàn quân kỵ binh tinh nhuệ giáp sắt phương Bắc!
Tiếng gươm giáo khua vang dậy cả núi rừng. Quân Việt đánh đến gãy gươm thì dùng tay không, đánh đến mù mắt thì lao vào dùng răng cắn xé cổ họng quân thù! Không một ai lùi bước, không một ai đầu hàng. Máu của năm trăm anh hùng chảy thành suối, nhuộm đỏ thẫm cả vách đá Quỷ Môn. Tiếng gầm thét trước lúc hy sinh của họ tạo thành một luồng sát khí ngất trời khiến lũ giặc phương Bắc kinh hồn táng đởm, ngựa giặc hí vang chùn bước không dám tiến lên, nhờ đó mà đại quân di tản thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

Cánh chim Lạc tìm về đất Tổ – Dung hòa tinh anh

Trải qua hàng tháng trời ròng rã vượt núi băng rừng, khi đôi bàn chân đã rớm máu đến tận xương, đoàn người thiên di cuối cùng cũng bước ra khỏi bóng tối của đại ngàn. Trước mắt họ, một vùng đồng bằng châu thổ bao la bỗng mở ra bát ngát, nơi dòng sông Hồng, sông Thao đỏ nặng phù sa đang cuồn cuộn chảy về biển Đông. Đây rồi! Mảnh đất cuối trời Nam linh thiêng của đại tộc Bách Việt, nơi cư ngụ của bộ tộc anh em Lạc Việt!
Người Lạc Việt bản địa, vốn mang sẵn dòng máu hào hiệp và nghĩa đồng bào sâu nặng, dù ở tận cùng phương Nam nhưng luôn coi các bộ tộc phía Bắc là anh em ruột thịt. Khi thấy từng đoàn người lam lũ, mang đầy thương tích chạy thoát khỏi cuộc truy sát, các thủ lĩnh Lạc Việt (những Lạc Tướng, Bồ Chính bản địa) không chút nề hà nguy hiểm, lập tức giương cung bắn hạ những toán quân truy đuổi, mở rộng vòng tay đón rước đồng bào vào vùng đất Mẹ.
Cuộc hội ngộ lịch sử trên mảnh đất châu thổ sông Hồng đã tạo nên một tiếng sét chấn động thời đại! Một bên là tầng lớp tinh hoa kiệt xuất từ các bộ tộc phương Bắc (Dương Việt, Điền Việt, Mân Việt, Sơn Việt...) mang theo học thuật uyên thâm, thuật trị nước, kinh nghiệm chiến trường dạn dày, thiên văn, y lý và kỹ thuật đúc đồng đỉnh cao. Một bên là cộng đồng Lạc Việt bản địa tràn đầy sinh lực nguyên sơ của vùng châu thổ, dẻo dai bám trụ trước thiên nhiên khắc nghiệt, mang tấm lòng bao dung rộng lớn và tinh thần đoàn kết vô song.
Dẫu ban đầu có những khác biệt giữa lối sống đóng khố cởi trần phóng khoáng cùng tự nhiên của người Lạc Việt và lễ nghi khuôn phép của quý tộc phương Bắc, nhưng trước nỗi đau mất nước và mối họa ngoại xâm luôn rình rập, họ hiểu rằng chỉ có dung hòa mới có thể trường tồn. Những bậc thủ lĩnh tinh hoa phương Bắc tự nguyện rũ bỏ áo gấm, cùng người Lạc Việt lội bùn mở mang những cánh đồng Lạc điền trù phú. Họ đem bí quyết luyện kim truyền dạy cho thợ thủ công Lạc Việt, đúc nên hàng vạn mũi tên đồng sắc lẹm, chế tạo ra những chiếc nỏ Liên Châu thần cơ có thể bắn một phát hàng chục mũi tên xuyên thủng giáp sắt. Ngược lại, người Lạc Việt truyền dạy cho những người anh em mới đến tuyệt kỹ bơi lặn dưới nước như rái cá, cách dùng lá rừng giải độc, thuật tàng hình trong rừng rậm và phương thức canh tác mùa vụ thuận theo thủy triều phương Nam.

Huyết mạch Rồng Tiên – Lửa thiêng bất diệt ngàn năm

Trải qua nhiều đời quần cư trên châu thổ sông Hồng, sự hòa huyết kỳ diệu giữa các nhánh Bách Việt đã đơm hoa kết trái. Những cuộc lương duyên giữa nam nhân quý tộc phương Bắc và những cô gái Lạc Việt đảm đang, giữa những dũng tướng Lạc Việt và các tiểu thư đài các tị nạn, đã sản sinh ra một thế hệ người Việt hoàn toàn mới!
Đó là thế hệ tinh hoa của những tinh hoa! Những đứa trẻ sinh ra mang vóc dáng nhỏ nhắn nhưng gân cốt rắn chắc như đồng đen; đôi mắt sáng rực ẩn chứa trí tuệ của ngàn năm kinh sử tộc Việt; trái tim mang sự nhẫn nại của phù sa sông Hồng nhưng cũng cuộn trào sự cuồng nộ của sấm sét dãy Ngũ Lĩnh. Chúng thông minh tuyệt đỉnh, học một biết mười, biết ẩn mình mềm dẻo lúc bình thời nhưng luôn cảnh giác trước sự đê hèn của giặc ngoài.
Để kết nối vĩnh viễn khối đại đoàn kết này, và để tạo dựng một hệ tư tưởng đủ sức đập tan sức mạnh đồng hóa khốc liệt của phương Bắc, các bậc đại trí giả của tộc Việt đã cùng nhau đúc kết nên một bản Huyền sử vĩ đại – Huyền sử Hồng Bàng: Con Rồng Cháu Tiên để kết nối cội nguồn của toàn bộ đại tộc Bách Việt!
Bên ánh lửa bập bùng dưới mái nhà sàn, họ truyền dạy cho con cháu muôn đời rằng: Tổ tiên người Việt không phải kẻ phàm phu, mà mang dòng máu thần thánh cao quý nhất thiên địa! Từ thời đại Hồng Bàng, vua Đế Minh – cháu ba đời của thần Nông – đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh đã gặp và kết duyên cùng một nàng Tiên nữ, sinh ra người con tuấn kiệt tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về Bắc) cho trưởng nam Đế Nghi, và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về Nam). Lộc Tục lên ngôi xưng là Kinh Dương Vương, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ.
Kinh Dương Vương làm vua Xích Quỷ, kết duyên cùng Thần Long Nữ – con gái Động Đình Quân nơi cố hương – sinh ra thái tử Sùng Lãm, nối ngôi xưng là Lạc Long Quân. Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân – vị thần mang hình hài Rồng thiêng cai quản biển sâu sóng lớn, mang huyết mạch của Long Nữ hồ Động Đình, biểu trưng cho sức mạnh dũng mãnh và bản lĩnh chế ngự thủy tai – đã sánh duyên cùng Quốc Mẫu Âu Cơ – vị Tiên nữ phương Bắc mang vẻ đẹp thánh thiện, trí tuệ uyên bác và lòng nhân từ che chở muôn loài.
Mẹ Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng, nở thành trăm người con anh kiệt. Năm mươi người theo Cha xuống biển, năm mươi người theo Mẹ lên non. Lời hẹn ước chia tay ấy tuyệt nhiên không phải là sự đứt đoạn, mà là thế trận phân bố sức mạnh để trấn giữ từng tấc đất, từng ngọn rau, từng sải biển của giang sơn!
Kỷ Hồng Bàng trở thành cội nguồn chung của đại tộc Bách Việt; hai tiếng "Đồng bào" cùng danh xưng "Con Lạc Cháu Hồng - Con Rồng Cháu Tiên" ra đời từ trong uất nghẹn của lịch sử đã hóa thành một bức tường thành bằng thép bảo vệ tâm thức người Việt. Nó khắc sâu vào dòng máu mỗi đứa trẻ một niềm kiêu hãnh tột cùng: Ta là nòi giống Tiên Rồng cao quý, là hậu duệ của Rồng thiêng! Kẻ thù có thể chém đầu ta, có thể cướp bóc đất đai của ta, nhưng vạn kiếp ngàn đời không bao giờ bắt được linh hồn cao quý của ta phải chịu đồng hoá mất đi bản sắc rồi làm nô lệ!
Từ mảnh đất cuối trời ấy, tiếp nối truyền thống từ nước Xích Quỷ đến nhà nước Văn Lang với hệ thống Lạc Hầu, Lạc Tướng dưới sự trị vì của 18 đời Hùng Vương kéo dài suốt gần hai thiên niên kỷ, quốc thống của người Việt đã được củng cố và định hình rực rỡ. Tiếng trống đồng Lạc Việt lại rền vang khắp núi sông, không chỉ mang âm hưởng thanh bình của mùa màng, mà còn cuộn trào tiếng gầm thét uất hận của những anh linh chưa tan trên hồ Động Đình năm xưa. Nền văn hóa ấy được giữ gìn bền bỉ, nhẫn nại như mạch nước ngầm luồn sâu dưới lớp đá ong khô cằn.
Thế hệ "Rồng Tiên" tinh hoa ấy đang âm thầm lớn lên, giấu đi vuốt sắc và nanh nhọn, ngày đêm hun đúc ý chí, mài gươm dưới trăng, chờ đợi ngày giặc phương Bắc lại kéo gót sắt tràn qua biên ải để bắt chúng phải trả một cái giá đẫm máu cho những tội ác ngất trời.
Màn đêm dần buông xuống trên dòng sông Hồng cuồn cuộn sóng, nhưng ngọn lửa thiêng trong lồng ngực người Lạc Việt chưa bao giờ rực rỡ đến thế. Khúc dạo đầu của cuộc kháng chiến trường kỳ chống đồng hóa vĩ đại nhất lịch sử nhân loại chính thức bắt đầu...
Thêm
9
0
0
Viết trả lời...