Thiên tình sử của chàng Bôn Lang và nàng Thị Chanh - Phần 2

Thiên tình sử của chàng Bôn Lang và nàng Thị Chanh - Phần 2

C
chuducthuan
CHƯƠNG 2: TRỐNG ĐỒNG VANG VỌNG VĂN LANG – THIÊN TÌNH SỬ LÀNG BÀN VÀ BÓNG MÂY ĐEN BIÊN ẢI

Vòng luân hồi của lũ cướp nước và dặm trường huyết sử phương Bắc


Để thấu tỏ vì sao ngọn lửa phục thù trên vùng đất phương Nam của người Việt lại cháy rực và bền bỉ đến nhường ấy qua vạn dặm thời gian, không thể chỉ nhìn vào những trang sử cận đại, mà phải phóng tầm mắt ngược về dải đất phía Bắc núi Ngũ Lĩnh sau ngày đại tộc Bách Việt đẫm máu thiên di.
Nơi cố hương phương Bắc thuở trước, các bộ tộc Việt dưới sự trị vì của hậu duệ vua Đế Nghi vốn đã dựng xây nên một nền văn minh nông nghiệp rực rỡ từ lưu vực Hoàng Hà đến Trường Giang, lấy tiếng khèn bầu làm niềm vui, lấy nhịp chày giã gạo làm nhịp đập trái tim. Thế nhưng, kể từ ngày liên minh bộ lạc du mục của Hiên Viên từ vùng thảo nguyên sương tuyết tràn xuống đánh chiếm đất đai, biến đồng ruộng thành bãi chiến trường, vùng Trung Nguyên và Giang Nam đã vĩnh viễn rơi vào vòng xoáy bạo tàn của những kẻ tôn thờ gươm đao.
Trên mảnh đất thấm đẫm máu và nước mắt của người Bách Việt thuở ấy, hậu duệ của Hiên Viên bắt đầu dựng lên những đế chế nối tiếp nhau bằng sắt và máu. Bản tính tham lam và hiếu sát đã đẩy chúng vào những vòng luân hồi cướp bóc, thôn tính lẫn nhau không hồi kết. Từ triều đại nhà Hạ khởi đầu bởi Hạ Vũ đến thời bạo chúa Hạ Kiệt suy tàn, giang sơn phương Bắc lại đổi chủ khi Thành Thang dấy binh lập nên nhà Ân Thương. Rồi khi Trụ Vương đắm chìm trong tửu sắc và hình phạt tàn khốc, nhà Chu lại nổi lên lật đổ. Kinh đô của chúng liên tục dời đổi qua các vùng đất, không ngừng mở rộng bờ cõi bằng vó ngựa và mũi giáo.
Các vương triều phương Bắc cứ thế thay nhau phế lập, chém giết để xưng bá. Thế nhưng, dẫu kẻ nào khoác lên mình tấm hoàng bào, dẫu triều đại nào ngự trên ngai vàng, thì cái dã tâm bành trướng và khát vọng truy sát, nuốt chửng cho bằng hết huyết mạch của tộc Việt ở bờ cõi phương Nam vẫn ngùn ngụt cháy trong huyết quản của chúng!

Kỷ nguyên hoàng kim: Trống đồng vang vọng Văn Lang

Trong khi phương Bắc chìm đắm trong khói lửa của sự thay triều đổi đại, thì trên lãnh thổ Lạc Việt phương Nam, cuộc dung hợp vĩ đại giữa các nhánh tinh hoa Bách Việt vượt Ngũ Lĩnh và cư dân Lạc Việt bản địa nơi châu thổ sông Hồng đã đơm hoa kết trái, mở ra một thời kỳ hoàng kim rực rỡ chưa từng có: Kỷ nguyên Văn Lang thịnh trị!
Dưới sự trị vì nhân từ và anh minh của mười tám đời Hùng Vương, cùng sự phụ tá đắc lực của hệ thống Lạc Hầu, Lạc Tướng và các vị Bồ Chính, Già Làng khắp mười lăm bộ, giang sơn Văn Lang hiện lên như một bức tranh thái bình, no ấm. Những vùng đầm lầy hoang sơ thuở nào nay đã hóa thành những cánh đồng Lạc điền thẳng cánh cò bay, lúa chiêm lúa mùa trĩu hạt nương theo con nước thủy triều lên xuống. Trên đỉnh Nghĩa Lĩnh linh thiêng nơi kinh đô của Văn Lang ở đất Phong Châu, đàn tế Trời Đất ở điện Kính Thiên quanh năm hương khói nghi ngút, kết nối tâm linh của cả dân tộc với thần linh tiên tổ. Các Vua Hùng dạy dân cày cấy, trị thủy, thuần dưỡng muông thú. Khắp cõi Văn Lang từ miền núi đến miền xuôi, dân tình thuần hậu, đường không nhặt của rơi, đêm nằm không cần đóng cửa, cuộc sống sung túc đủ đầy.
Đặc biệt, sự kết hợp giữa trí tuệ luyện kim phương Bắc và khoáng sản trù phú trên đất Lạc Việt đã đưa nghệ thuật đúc đồng Văn Lang đạt tới cảnh giới xuất thần nhập hóa. Hàng ngàn chiếc trống đồng thau uy nghiêm ra đời; mặt trống khắc họa rực rỡ ngôi sao Mặt Trời, đàn chim Lạc sải cánh bay vòng bất tận, hình ảnh những chiến binh đội mũ lông chim cầm giáo múa khiên, cùng những đoàn chiến thuyền rẽ sóng ra khơi. Trống đồng không còn đơn thuần là nhạc khí hay lễ khí, mà đã trở thành bộ quốc sử đúc bằng đồng thau không lời, khắc ghi trọn vẹn quyền uy, bản lĩnh và linh hồn bất diệt của nòi giống Tiên Rồng!
Người Việt thời ấy giữ trọn tục xăm mình truyền thống. Những nam nhân cường tráng đều dùng chàm xăm lên ngực, lên lưng và đùi những hoa văn giao long, thủy quái uy dũng. Bề ngoài, đó là thuật ngụy trang để khi lặn xuống sông sâu biển cả không bị thuồng luồng, cá dữ sát hại; nhưng sâu thẳm bên trong, từng mũi kim châm vào da thịt chính là một lời thề khắc cốt ghi tâm: Dẫu trải qua vạn kiếp ngàn đời, tuyệt đối không bao giờ quên mình là hậu duệ của Rồng tiên thừa kế chính thống của đại tộc Bách Việt!

Khói lửa Đồ Thư và khúc bi ca thành Cổ Loa nước Âu Lạc

Khi nhà Chu ở phương Bắc suy vi, cõi Trung Nguyên vỡ vụn thành cục diện Xuân Thu – Chiến Quốc, nơi bảy nước hùng mạnh điên cuồng chém giết suốt mấy trăm năm. Và rồi, từ lò lửa chiến tranh tàn khốc ấy, một bạo chúa hung hãn bậc nhất lịch sử xuất hiện: Tần Thủy Hoàng Doanh Chính! Với đội quân hổ lang khát máu, nhà Tần lần lượt thôn tính sáu nước, thâu tóm toàn bộ phương Bắc về một mối.
Tham vọng của Doanh Chính không dừng lại ở dãy Ngũ Lĩnh. Hắn lập tức chĩa mũi gươm đẫm máu về phương Nam, sai viên hung tướng Đồ Thư thống lĩnh năm mươi vạn đại quân, cờ xí che rợp mặt trời, chia làm năm đạo ồ ạt vượt núi tiến đánh lãnh thổ của người Việt và nhà nước Văn Lang!
Một lần nữa, vận mệnh nòi giống lại đứng trước thử thách sinh tử. Nhưng đây là mảnh đất cuối trời, con cháu Rồng Tiên không còn đường lùi nữa! Dưới sự thống lĩnh kiệt xuất của vị thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt là Thục Phán, quân dân hai tộc Âu Việt và Lạc Việt đã kết thành một khối sắt đá. Dựa vào địa thế rừng thiêng nước độc, núi cao sông sâu, tổ tiên ta thực hiện kế sách vườn không nhà trống, ngày ẩn vào rừng rậm, đêm bất ngờ tập kích. Suốt mười năm ròng rã, những trận mưa tên đồng tẩm nhựa cây độc bắn ra từ nỏ cứng đã khiến quân Tần tiến thoái lưỡng nan, lương thảo tuyệt kiệt. Để rồi trong một đêm sương mù dày đặc, mũi tên đồng của người Việt đã xuyên thủng yết hầu Đồ Thư! Năm mươi vạn quân Tần đại bại, thây phơi đầy núi rừng, máu trôi đỏ cả sông suối, làm chấn động cả triều đình Hàm Dương.
Sau đại thắng lừng lẫy ấy, nhận thấy mệnh trời của triều đại Hùng Vương đã trọn và uy đức của Thục Phán vang dội khắp cõi, Hùng Vương thứ mười tám là Hùng Duệ Vương đã quyết định nhường ngôi. Trên đỉnh Nghĩa Lĩnh linh thiêng, trước điện Kính Thiên mây trắng vờn quanh, Thục Phán dựng hai cột đá thề, quỳ xuống dõng dạc tuyên thệ: "Nguyện có Hoàng thiên Hậu thổ chứng giám, giang sơn cõi Việt trường tồn, miếu thờ Hùng Vương vạn đại khói hương! Nếu sai lời thề, nguyện bị búa rìu sấm sét đánh tan!"
Kế đó, ngài hợp nhất hai bộ tộc Âu Việt và Lạc Việt, lập nên nhà nước Âu Lạc, lên ngôi xưng là An Dương Vương, dời đô từ vùng núi Phong Châu xuống đồng bằng Phong Khê, tiếp nối trọn vẹn chính thống và tinh hoa ngàn năm của Văn Lang.
Nhưng sóng gió lịch sử vẫn chưa buông tha bờ cõi phương Nam của người Việt! Nhà Tần sụp đổ, nhà Hán nổi lên chiếm giữ Trường An, còn ở vùng Phiên Ngung phía Bắc biên ải, viên quan cũ nhà Tần là Triệu Đà nhân lúc loạn lạc đã cát cứ lập ra nước Nam Việt, ngày đêm nhăm nhe thôn tính Âu Lạc.
Dẫu An Dương Vương có thành Cổ Loa chín vòng xoáy trôn ốc kiên cố tựa thần xây, dẫu có lẫy Nỏ Thần Liên Châu (Linh Quang Kim Trảo Thần Nỗ) một phát bắn ra vạn mũi tên đồng khiến quân Triệu Đà nhiều phen đại bại, nhưng cơ đồ rốt cuộc lại sụp đổ từ bên trong bởi mưu sâu kế hiểm của giặc Bắc! Lợi dụng tấm lòng nhân hậu và sự mất cảnh giác của nhà vua lúc tuổi già, Triệu Đà dùng kế giảng hòa, cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn công chúa Mỵ Châu. Bi kịch tình yêu Mỵ Châu – Trọng Thủy đã khiến lẫy nỏ thần bị đánh tráo. Khi quân Triệu Đà bất ngờ tràn sang lần nữa, thành Cổ Loa thất thủ chìm trong biển máu. Hình ảnh vị vua già cõng con gái phi ngựa về phương Nam, rồi rút kiếm chém người con vô tình tiếp tay cho giặc trước khi theo thần Kim Quy rẽ nước bước xuống biển Đông đã khép lại trang sử độc lập tự chủ của Âu Lạc, đẩy dân tộc bước vào đêm trường Bắc thuộc đầy uất hận!

Làng Bàn – Ốc đảo kiên trung bảo lưu hồn cốt Tiên Rồng

Xuyên suốt dòng chảy cuồn cuộn của mấy ngàn năm huyết sử ấy – từ thuở Hùng Vương dựng nước Văn Lang, băng qua mười năm khói lửa diệt quân Tần Đồ Thư, cho đến ngày thành Cổ Loa sụp đổ và nhà Hán vươn vòi bạch tuộc thôn tính cả cõi Lạc Việt – vẫn có một vùng đất âm thầm tồn tại hiên ngang như một pháo đài bất khả xâm phạm: Làng Bàn!
Nằm ẩn mình nơi giao thoa giữa miền sơn cước hùng vĩ và vùng đồng bằng châu thổ, Làng Bàn hiện lên trù phú và linh thiêng bậc nhất. Nơi đây núi non trùng điệp bao bọc bốn bề tạo thành thế "rồng cuộn hổ ngồi", phía trước có dòng Thao Giang đỏ nặng phù sa uốn lượn mềm mại như một dải lụa đào ôm lấy thôn xóm. Mỗi khi triều đại trung ương biến động hay khi giặc phương Bắc tràn sang đốt phá đền đài, những bậc đại trí giả, những thợ đúc đồng kiệt xuất và những huyết mạch vương giả thuần khiết nhất của hai dòng Âu – Lạc đều bí mật lui về đây ẩn náu.
Làng Bàn trở thành nơi hội tụ đông đảo nhất những gia tộc truyền thừa trực tiếp từ giới tinh hoa Bách Việt vượt Ngũ Lĩnh năm xưa và dòng dõi các Lạc Hầu, Lạc Tướng thời Hùng Vương. Đứng đầu cai quản làng là một vị Bồ Chính uy vọng cùng hội đồng Già Làng. Vị Bồ Chính đương nhiệm tuổi trạc ngũ tuần, tướng mạo uy nghiêm với râu hùm hàm én, văn võ song toàn. Ông chính là người canh giữ mật thất của làng – nơi cất giấu những bộ thẻ tre khắc chữ cổ mang từ hồ Động Đình thuở trước, những bản vẽ lẫy nỏ Liên Châu của thành Cổ Loa, cùng những khuôn đúc trống đồng tinh xảo nhất.
Bất chấp bên ngoài kia lãnh thổ Lạc Việt đang rên xiết dưới ách cai trị của quan lại đô hộ phương Bắc, bên trong lũy tre xanh như thành đồng của Làng Bàn, trai tráng vẫn ngày đêm bí mật rèn giáo đồng, luyện bắn nỏ; gái làng vẫn ươm tơ dệt lụa, tiếng thoi đưa lách cách hòa cùng câu hát Xoan, hát Ghẹo vang vọng cả khúc sông Thao. Làng Bàn sừng sững tồn tại giữa giông bão như ngọn hải đăng cuối cùng, giữ gìn trọn vẹn ngọn lửa văn hiến và ý chí phục quốc chưa bao giờ tắt của con cháu Rồng Tiên!

Mối tình chớm nở dưới bóng trăng Thao Giang

Vị Bồ Chính Làng Bàn có một người con gái độc nhất tên là Thị Chanh. Nàng không chỉ sở hữu dung nhan tuyệt sắc tựa trăng rằm, làn da trắng ngần như ngọc sáng, mái tóc dài đen nhánh lúc nào cũng thoang thoảng hương hoa bưởi, mà còn toát lên cốt cách đoan trang, khí chất cao quý của bậc tiểu thư dòng dõi trâm anh. Từ thuở lên năm, Thị Chanh đã được cha truyền dạy chữ viết cổ trên thẻ tre, thông tỏ kinh sử của tổ tiên từ thời Động Đình – Xích Quỷ và thấu hiểu nỗi đau mất nước của giống nòi. Đôi mắt nàng trong veo như nước hồ thu, nhưng ẩn sâu dưới hàng mi cong vút ấy là một trí tuệ sắc sảo và niềm kiêu hãnh không chịu khuất phục trước bất kỳ cường quyền nào.
Và nếu Thị Chanh là đóa hoa ngọc lan cao quý nhất của Làng Bàn, thì Bôn Lang chính là con tuấn mã kiêu hùng nhất nơi bờ sông Thao! Bôn Lang mồ côi cha mẹ từ nhỏ trong một trận càn của giặc Bắc, nhưng trong huyết quản chàng chảy cuộn dòng máu của một gia tộc Lạc Tướng lừng lẫy từng sát cánh cùng An Dương Vương giữ thành Cổ Loa. Ở tuổi đôi mươi, chàng vươn mình cao lớn vạm vỡ như cây lim giữa đại ngàn, tấm ngực trần săn chắc chạm trổ hình xăm Rồng thiêng uốn lượn sống động. Bôn Lang là hiện thân hoàn mỹ nhất của thế hệ người Việt mới: mang sức mạnh cơ bắp cuồn cuộn và bản năng sinh tồn mãnh liệt của dũng sĩ Lạc Việt, kết hợp cùng bộ óc mưu lược nhạy bén của bậc trí giả Bách Việt. Chàng có thể lặn một hơi qua sông Thao Giang đang mùa nước lũ, tay không vật ngã hổ dữ trên rừng, nhưng khi đêm về lại biết gõ nhịp ống tre, cất giọng hát trầm ấm làm say đắm lòng người.
Mối lương duyên trời định của đôi trai tài gái sắc bắt đầu vào một đêm hội giã cốm mừng lúa mới giữa mùa thu. Dưới ánh trăng rằm tháng Tám vằng vặc dát bạc lên mặt sóng sông Thao, giữa vòng người nhảy múa quanh đống lửa lớn và tiếng trống đồng rộn rã, Bôn Lang đầu chít khăn điều, tay nâng chiếc khèn bầu bước ra giữa sân hội. Chàng dồn hơi thổi lên một khúc nhạc giao duyên cổ xưa của đất Phong Châu. Tiếng khèn lúc réo rắt vút cao như cánh chim Lạc gọi bầy trên đỉnh Tản Viên, lúc lại trầm hùng, da diết như tiếng sóng vỗ bờ Động Đình thuở trước.
Trên đài gỗ cao dành cho gia quyến Bồ Chính, Thị Chanh khẽ vén bức rèm trúc nhìn xuống. Giữa biển người chập trùng dưới ánh lửa hồng, bốn mắt họ bất chợt chạm nhau! Khoảnh khắc ấy, vạn vật đất trời như ngừng chuyển động. Trong mắt Bôn Lang, Thị Chanh hiện lên thanh khiết và rực rỡ như thần nữ giáng trần; còn trong tim Thị Chanh, bóng dáng chàng trai ngực xăm giao long đứng giữa ánh trăng chẳng khác nào hóa thân của Đức Lạc Long Quân thuở hồng hoang.
Kể từ đêm hội ấy, mỗi độ trăng lên trên sóng nước Thao Giang, Bôn Lang lại một mình chèo chiếc thuyền độc mộc lướt nhẹ đến dưới bến nước sau tư dinh Bồ Chính, dùng mái chèo gõ lên mạn thuyền ba tiếng làm hiệu. Thị Chanh tựa bên song cửa lầu sàn, mỉm cười e ấp thả xuống mặt nước một nhành hoa sim tím miền trung du thay lời ước hẹn. Tình yêu của họ trong trẻo như sương sớm đọng trên lá lúa, nhưng cũng mãnh liệt và cuộn trào như thác ghềnh sông Đà. Đôi trẻ nắm tay nhau dưới bóng trăng, nguyện thề có thần sông thần núi chứng giám, đợi đến mùa gặt sang năm sẽ chính thức thưa chuyện cùng cha để nên duyên chồng vợ.

Áng mây đen từ Trường An và vó ngựa Hán triều

Thế nhưng, tạo hóa trớ trêu thường không dung thứ cho những vẻ đẹp quá đỗi toàn bích giữa thời loạn thế. Ốc đảo bình yên Làng Bàn dẫu ẩn kín giữa non xanh nước biếc cũng không thể che giấu mãi ánh hào quang trước cặp mắt cú vọ của đế quốc Đại Hán phương Bắc.
Sau khi thôn tính nhà Triệu và đặt ách đô hộ lên vùng đất Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, triều đình nhà Hán không ngừng tung mạng lưới mật thám giả dạng thương nhân đi sục sạo khắp các bản làng người Việt để tìm kiếm tàn dư quý tộc cũ. Một toán mật thám Hán triều đã lần theo dòng Thao Giang và phát hiện ra sự trù phú cùng khí thế ngầm của Làng Bàn. Chúng lập tức thay ngựa ngày đêm, vượt vạn dặm đường về tận kinh thành Trường An dâng mật tấu lên Hoàng đế nhà Hán:
"Muôn tâu Bệ hạ! Vùng đất Lạc Việt phương Nam ngỡ là chốn rừng thiêng nước độc, ngờ đâu dọc bờ sông Thao lại có một vùng gọi là Làng Bàn lúa thóc đầy bồ, đồng thau chất đống. Nguy hiểm hơn cả, nơi đây chính là sào huyệt quy tụ những huyết mạch tinh hoa nhất của dòng dõi Bách Việt và quý tộc Văn Lang – Âu Lạc năm xưa! Chúng không hề bị đồng hóa mà vẫn giữ chữ viết riêng, tôn thờ trống đồng, tự xưng là nòi giống Rồng Tiên, trai tráng ngày đêm bí mật rèn giáo đúc nỏ. Nếu triều đình không sớm xuất đại quân san phẳng Làng Bàn, nhổ cỏ tận gốc, e rằng chỉ mươi năm nữa, ngọn lửa từ ngôi làng ấy sẽ thiêu rụi toàn bộ các quận huyện phương Nam của Đại Hán!"
Trên điện Vị Ương nguy nga ở Trường An, Hán đế nghe xong mật tấu thì mặt biến sắc, cơn thịnh nộ bùng lên dữ dội.Hắn đập mạnh tay làm vỡ nát chén ngọc trên án thư, tuốt thanh bảo kiếm chém phăng một góc bình phong, gầm lên:"Quả nhiên lũ hậu duệ Bách Việt vẫn chưa tuyệt giống! Truyền thánh chỉ của Trẫm: Lập tức điều động năm mươi vạn đại quân tinh nhuệ, trang bị giáp sắt và nỏ cứng, giao cho các mãnh tướng tàn bạo nhất thống lĩnh, cấp tốc tiến vây Làng Bàn! Phàm là nam đinh và quý tộc nơi đó, chém sạch không chừa một mống! Trống đồng phải nấu chảy, kinh sách thẻ tre phải đốt thành tro bụi! Trẫm muốn hai chữ 'Rồng Tiên' phải vĩnh viễn biến mất khỏi thế gian, bắt lũ người phương Nam đời đời kiếp kiếp phải cúi đầu làm trâu ngựa cho Đại Hán!"
Đêm hôm ấy tại Làng Bàn, trời đang quang tạnh không một gợn gió, bỗng nhiên mặt sông Thao Giang cuộn sóng dữ dội, vỗ ầm ầm vào bờ đất. Bôn Lang đứng trên bến nước quen thuộc, ngẩng đầu nhìn về bầu trời phương Bắc thì thấy một vệt sao chổi đỏ quạch như máu rạch ngang màn đêm, kèm theo đám mây đen kịt ùn ùn kéo tới nuốt chửng ánh trăng rằm.
Chàng siết chặt chuôi thanh kiếm đồng bên hông, vòng tay ôm lấy bờ vai mảnh mai của Thị Chanh đang khẽ run lên trong gió lạnh. Đôi mắt người thiếu nữ nhìn về phía rừng xa, giọng nàng nghẹn lại đầy bất an: “anh Bôn ơi... Đêm nay sao bầu trời sầu thảm, sóng sông Thao gầm gào dữ tợn thế! Lòng em nóng như lửa đốt, cảm giác như có một bàn tay đen tối to lắm đang từ phương Bắc vươn xuống, chực chờ bóp nghẹt sinh khí của Làng mình..."
Bôn Lang kéo người thương sát vào lồng ngực ấm nóng có xăm hình Rồng thiêng của mình, giọng chàng trầm đục nhưng rắn rỏi như vách đá núi Tản: “Em Chanh đừng sợ! Dù bầu trời này có sập xuống, đôi vai của anh cũng nguyện chống đỡ để che chở cho em. Huyết mạch Bách Việt tìm về tới vùng đất Phong Châu – sông Thao này là đã đứng ở tận cùng bờ cõi rồi, sau lưng là mồ mả ông cha, không còn nơi nào để lùi nữa! Nếu lũ giặc phương Bắc dám đem gót sắt giẫm vào Làng mình, anh sẽ cho chúng nếm mùi mũi tên đồng tẩm máu nóng của con cháu Rồng thiêng!"
Thế nhưng, cả đôi uyên ương trẻ tuổi lẫn người dân Làng Bàn đều không thể lường hết được quy mô tàn khốc của cơn cuồng phong sắp ập xuống. Chỉ vài ngày sau, khi ánh chiều tà vừa nhuộm đỏ đỉnh đồi trung du, từ phía biên ải và dọc theo thượng nguồn sông Thao, một đám mây bụi vàng khổng lồ bỗng bốc lên cuồn cuộn, che khuất cả ánh mặt trời!Tiếng hàng vạn vó ngựa chiến nện rầm rập làm rung chuyển mặt đất, hòa lẫn tiếng giáp sắt và gươm giáo va chạm loảng xoảng lạnh thấu xương tủy. Trên các chòi canh cao vút quanh làng, lửa hiệu báo nguy đồng loạt bùng cháy đỏ rực cả một góc trời!
Từ trên đỉnh đồi trung tâm Làng Bàn, tiếng trống đồng đại cổ do đích thân vị Bồ Chính gióng lên bỗng nổ vang như sấm rền! Không còn là nhịp trống khoan thai mừng mùa lúa chín hay gọi bạn đêm trăng, mà là hồi trống trận dồn dập, bi tráng, thúc giục hàng ngàn chàng trai Lạc Việt lập tức buông cày cuốc, nắm chặt giáo đồng và nỏ cứng lao ra chiến lũy.
Cánh cửa bình yên của ốc đảo Làng Bàn đã chính thức khép lại trong khói lửa ngập trời, mở ra những trang huyết lệ bi thương thống thiết bậc nhất, chia cắt hàng vạn đôi uyên ương, và đặt mối tình vừa chớm nở của Bôn Lang – Thị Chanh trước ngưỡng cửa sinh ly tử biệt!
 
11
0
0
Trả lời

Đang có mặt