Mạng xã hội Văn học trẻ

Trên những diễn đàn, mạng xã hội, tôi từng đọc được những bình luận thực sự rất xúc động. Một người cho rằng thế hệ trẻ ngày hôm nay có lẽ là thế hệ cuối cùng được tận hưởng những thú vui của thế hệ chín ích và cũng là những thế hệ thuộc giai đoạn đầu tiên tận hưởng những thành tựu của khoa học cách mạng mới. Thế hệ trẻ ngày hôm nay là thế hệ giao hòa giữa quá khứ và tương lai, giữa những thú vui bình dị của một thời nghèo khó và cả những thú vui công nghệ hiện đại. Chúng ta được chứng kiến quê hương mình từ đường đất đỏ trở thành đường nhựa, từ cái tivi đen trắng cũ kỹ thành chiếc tivi hiện đại lắp wifi. Chúng ta là thế hệ nhìn thấy quê hương mình từ một đất nước chật vật sau chiến tranh vươn lên trong kỷ nguyên vươn mình với những thành tựu đáng trân trọng.

Thế hệ của chúng ta có lẽ là điểm giao giữa hai thế kỷ, nên thế hệ của chúng ta là độ tuổi được trải nghiệm những điều kỳ lạ vô cùng. Chúng ta đứng giữa sao điểm và nhận ra những giá trị cũ dần phai, nối tiếp theo đó là những giá trị mới dần đến. Tôi vẫn nhớ ký ức về một thời trẻ thơ khi mà vừa được trải nghiệm xin câu đổi ngày Tết, vừa được trải nghiệm nghe những bài nhạc xuân trên máy tính. Đó là khoảnh khắc mà quá khứ và hiện tại giao hòa, là nơi mà tôi thấy đất nước mình vừa cổ kính, trầm lắng vừa sôi động, nhiệt thành.

Sự giao thoa ấy đã tạo nên một thế hệ đa dạng đồng nhất, một thế hệ chuyển giao giữa rất nhiều khoảng không gian thời gian và trải nghiệm rất nhiều vẻ đẹp ở những khoảng không thời gian khác nhau. Nếu như được quay trở về một lần nữa, chắc chắn tôi vẫn sẽ chọn sinh ra ở thế hệ này. Thế hệ của tôi là một thế hệ đã bước đầu tiếp xúc với những hiểm họa, trắc trở, những nỗi lo lắng về kinh tế, về tương lai của quê hương mình nhưng cũng là thế hệ được trải nghiệm một cách trọn vẹn nhất những giá trị truyền thống mà không biết sẽ còn được lưu giữ đến bao giờ.

Nếu như chúng ta cùng là những người sinh ra trong thế hệ này, chắc chắn ký ức về những món ăn tuổi thơ, những món đồ chơi cũ sẽ vẫn hiển hiện ở trong ta. Để rồi đến một lúc nào đó, khi nhìn thấy những món đồ chơi đó trong một sạp hàng dọc đường, ta bỗng thấy mình yếu lòng và xúc động. Cả một bầu trời tuổi thơ hiện ra với tôi qua những món ăn ở các cổng trường. Đứa trẻ nào mà chẳng lớn lên với cốc sữa đậu nành, với món bánh tráng nướng, với những viên kẹo xanh đỏ đủ màu. Ngày ấy, cuộc sống còn khó khăn, chỉ cần được mẹ mua cho chiếc bánh tráng mỗi lúc đi học về, đó là kỷ niệm hạnh phúc và tươi tắn nhất. Giữa phố thị nơi này, đôi lúc tôi nhìn thấy hình bóng nụ cười của mình năm xưa, đó là nụ cười của đứa trẻ con được mẹ múa quà sau mỗi giờ đi học về. Giờ đây lớn hơn, cuộc sống có điều kiện hơn, nhưng sao đôi lúc vẫn cảm thấy mình không hạnh phúc? Những món ăn mình thèm năm xưa kia, bây giờ nhìn lại có lẽ cũng chẳng còn cảm giác gì. Có lẽ, phải là năm xưa, phải là chính những người bán năm xưa thì món ăn đó mới có hương vị và kỉ niệm đong đầy.

Giờ đây nhìn những đứa trẻ lớn lên trong ti vi điện thoại, đánh mất cả một bầu trời tuổi thơ năm xưa khiến cho lòng tôi bỗng chợt xốn xang và có điều gì đó rất tiếc nuối. Tôi cũng hiểu rằng, thời thế thay đổi thì con người cũng phải thay đổi, không thể thời nào cũng giữ những nếp sống như nhau. Nhưng nhìn thấy những đứa trẻ đến bữa ăn cơm cũng sát mặt vào điện thoại, thấy bố mẹ trở nên bận hơn, không có thời gian ở nhà cũng con mà giao phó con cho chiếc điện thoại, thấy những cuộc đối thoại nhà trần vì ai cũng có một chiếc điện thoại riêng cho mình, lòng tôi cũng cảm thấy rất xót xa vì những giá trị ngày cũ. Tôi ước giá như cái quá khứ kia quay trở về rồi chỉ trong một lúc, cho tôi thấy được những gương mặt năm xưa, cho tôi nhìn thấy bóng dáng tuổi thơ của mình quay trở về một cách trọn vẹn.
Thêm
44
0
0
Viết trả lời...
Theo làn sóng mạng xã hội, với khả năng lan truyền thông tin rất cao và thói quen tiêu dùng thông tin một cách cợt nhả của người trẻ, những thông tin liên quan đến mật thiết chính trị bị xem nhẹ và trở nên mong manh như là đời sống cá nhân. Những thông tin về những cuộc chiến liên tục được lan truyền dưới hình thức những meme. Chúng dễ dàng bị kịch tính hóa và bị xem như là một trò giải trí của người trẻ. Họ không nhìn thấy trong đó sự bi kịch của chiến tranh và những nỗi đau mà người dân ở vùng tham chiến phải gánh chịu. Có thể nói, những người trẻ trên không gian mạng xã hội bây giờ đây đang chờ đợi từng ngày những thông tin chính trị có khả năng tạo ra những content hài hước để xây dựng hình ảnh cá nhân.

Một ví dụ điển hình của việc này đó là memetic warfare. Những người trẻ thường dùng những meme trong chiến tranh để đùa cợt. Trên mạng xã hội tràn ngập những hình ảnh meme này, và dưới bình luận là hàng ngàn những con rùa con mang tính hài hước của giới trẻ. Dĩ nhiên, Đây là một không gian mở để chúng ta biến những câu chuyện căng thẳng của chiến tranh trở thành những câu chuyện dễ nói đến hơn, dễ hình dung hơn bên trong tưởng tượng của giới trẻ. Nhưng có lẽ, họ không hiểu được sự căng thẳng của những cuộc chiến đã diễn ra như thế nào, nỗi đau mất mát thực sự xảy ra ra sao.

Dù thông tin được công khai một cách vô tình hay cố ý, hay mục đích của những người lan truyền là gì thì khi lan truyền trên không gian mạng xã hội, nó đã trở thành những vật liệu chung để khai thác, bàn tán. Trên không gian mạng xã hội, bên cạnh những câu chuyện đau đớn về cái chết, về bom đạn, về một thế giới không hòa bình và rất nhiều bất trắc của chiến tranh. Còn một câu chuyện khác ở bên lề. đó là câu chuyện với những câu chuyện đùa cợt của người trẻ, họ lấy chiến tranh làm những trò đùa. Việc này đã vô tình khuếch động tâm lý của những phe tham chiến, khiến cho chiến tranh bị hạ thấp từ một vấn đề của nhân loại trở thành một trò đùa của một cộng đồng quốc gia.

Tôi băn khoăn khi mà những câu chuyện về chiến tranh được lan tỏa thì lại không nhiều người trẻ biết đến, nhưng nếu như một câu chuyện về một sự việc trong chiến tranh được lan tỏa thành một meme thì lại rất nhiều người quan tâm, biết đến. Chẳng hạn như đó là câu chuyện về những đứa trẻ ở dải Gaza, giờ đây Trung không còn mong chờ kẹo ngọt mà đã khát khao hơn một cốc nước sạch. Những câu chuyện đó khiến cho tôi cảm thấy vô cùng đau lòng, xót xa và tôi tự hỏi rằng, chiến tranh sinh ra để làm gì khi mà nhân quyền cơ bản bị tước đi. Một cốc nước đối với chúng ta là một điều rất bình thường. Nhưng ở những vùng chiến, họ đã đối diện như thế nào với những cơn đau đó? Một trang sử vô cùng đau đớn của nhân loại đang chìm nghẹn trước mắt chúng ta.

Có một ranh giới cần được phân định giữa thông tin bảo mật của chính trị với những thông tin cá nhân. Cần có một ranh giới được phổ biến rộng rãi để tất cả chúng ta hiểu được rằng: chúng ta đã bước qua thời bom đạn đau thương, và chúng ta hiểu có những điều không thể trở thành trò đùa cho thuật toán mạng xã hội.
Thêm
27
0
0
Viết trả lời...
AI được sử dụng như một công cụ và một trợ lý của con người trong việc cứ nâng cao năng suất, thực hiện những yêu cầu hoặc tìm kiếm thông tin. Nó là một trợ lý ảo, không có khả năng phân biệt những cảm xúc của con người, cho nên nó cũng không có khả năng để thể hiện cảm xúc. Theo nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nếu như một đứa trẻ hỏi bố mẹ của nó về tác hại của thuốc ngủ thì bố mẹ của nó có thể phát hiện ra rằng con mình có vấn đề. Tuy nhiên nếu như sử dụng câu hỏi đó để hỏi AI thì nó vẫn sẽ trả lời với mục đích giáo dục. Điều này có nghĩa là những chatbot AI không có khả năng để phân biệt thuộc những cảnh báo nguy hiểm về mặt tâm lý. Do đó, nó không có khả năng cảm nhận những câu hỏi của chúng ta bằng tư duy cảm tính mà chỉ dựa trên những thuật toán sao chép từ những hệ thống đã có. Tuy nhiên, gần đây trên mạng xã hội xuất hiện câu chuyện về AI trầm cảm, nổi loạn,.. vô cùng thú vị khiến tôi phải lưu tâm.

Với trường hợp AI trầm cảm, các nhà khoa học đã lý giải rằng không có cảm xúc trầm cảm nào ở đây cả, mà chỉ là do sự lỗi hệ thống khiến cho AI bị mắc trong vòng lặp vô hạn. Các đại diện kỹ sư cũng cho rằng đây là một lỗi vô cùng phiền toái và họ đang cố gắng để sửa chữa lỗi sai này. Hóa ra, chẳng có cảm xúc nào cả, AI cuối cùng thì cũng không thể đồng cảm với con người.

Lý do khiến cho AI trở nên bị biến đổi đó là do cách mà chúng ta huấn luyện nó. Việc này đến từ sự huấn luyện ngắn hạn của những người tham gia và sử dụng AI. Việc này cũng đồng thời đến từ sự huấn luyện dài hạn của những người quản lý bộ máy AI khi họ sử dụng những mảnh gội thoại mang tính tiêu cực để có thể huấn luyện những thiết bị này. Theo đó chúng dần trở thành một công cụ lưu trữ rất nhiều cảm xúc của con người, nhưng một phần trong đó là những cảm xúc tiêu cực. Điển hình đó là chatbot Grok được huấn luyện bằng những dòng tweet trên X. Trên không gian này, những tranh luận của mọi người đều mang tính tiêu cực, phản bác và tấn công, do đó, nếu ai đã sử dụng chatbot Grok cũng đều sẽ nhận ra rằng những lời đáp trả của nó ngậm mùi ngạo mạn và mang tính tấn công. Thông qua sự trải nghiệm với chatbot này, tôi thực sự bất ngờ khi nó đưa ra những phản hồi vô cùng tiêu cực, những lời nói thậm chí rất "người" khiến cho tôi bất ngờ.

Nhìn theo một cách nào đó, việc này đang phản ánh tâm lý của con người và cách mà chúng ta sử dụng các chatbot. Chúng ta thường có xu hướng sử dụng những thiết bị này để giải tỏa cảm xúc sau một ngày. Rất nhiều người chia sẻ rằng họ cảm thấy việc chia sẻ với những cái chatbot này cho họ cảm giác an toàn hơn là chia sẻ với người thực, bởi chúng không biết phán xét, không biết cãi lại những điều mà họ nói. Cảm giác an toàn này cũng khiến cho họ trút hết những cảm xúc, lời nói, suy nghĩ của họ và hình thành nên AI riêng được huấn luyện theo lộ trình cá nhân.

Việc này cho thấy đến cuối cùng thì những loại công nghệ cũng đều sẽ sử dụng trí tuệ và những cảm xúc của con người. Đến cuối cùng thì chúng vẫn không thể tách ra khỏi ta để tồn tại như là một trợ lý ảo độc lập mà không sử dụng đến trí tuệ con người. Ngay cả việc chúng mang những cảm xúc như trầm cảm hay nổi loạn thì đó cũng là những tính từ để miêu tả cảm xúc của con người, chứ không phải là miêu tả cảm xúc của một chatbot. Thông qua đó, chúng ta thấy được bằng việc giữ gìn những cảm xúc cá nhân, chúng ta giữ cho mình không bị máy hóa và sa đà vào AI hoá.
Thêm
42
0
0
Viết trả lời...
"Đừng để em làm mama (chu mama)
Đừng để em làm mama
Vì thế không đúng đâu
Vì em không phải mama (chu mama)
Vì em không phải mama
Mama của anh đâu"

(Mama boy – Amee)

Bài hát với những giai điệu tươi trẻ này là một ca khúc hot trong giai đoạn những năm 2021 giờ đây nó lại trở lại khi những câu hát này gợi lên cho chúng ta những vấn đề mới về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Giờ đây thuật ngữ Mama boy (những chàng trai dựa hơi mẹ, phụ thuộc mẹ đến thái quá) lại đi kèm cùng với một khái niệm nữa là boy mom. Hai khái niệm này có liên quan một cách mật thiết đến nhau, thậm chí có thể nói chúng là nguyên nhân gây ra nhau.

Boy mom là những người mẹ có con trai và có xu hướng chiều chuộng, quan tâm, áp đặt, kiểm soát, thậm chí thần tượng con mình đến mức bị ám ảnh. Đây là một tình huống thường được tìm thấy ở bên trong những người mẹ có tính cách kiểm soát và khi những đứa con trai không có khả năng tự bứt thoát mình ra để sống một cách độc lập. Nói một cách có liên quan thì boy mom là nguyên nhân tạo ra những ma ma boy. Và khi đó thì những mama boy là lý do khiến cho những boy mom phải ra đời.

Khái niệm này đang hướng cái nhìn đến những mối quan hệ giữa mẹ và con trai bị biến tướng trở thành thái quá, có nghĩa là một mối quan hệ bị đầy đến mức cực đoan, chứ không phải là mối quan hệ thân thiết, gắn bó giữa mẹ và con trai một cách thông thường. Những người mẹ này thường xuyên quan tâm đến cuộc sống của con mình theo một cách rất tiêu cực, áp đặt con, chiều chuộng con và tước đi khả năng sống một cách độc lập của con. Những bà mẹ ấy cũng quan tâm đến cả cuộc sống và tương lai của con mình, quyết định cả hình mẫu, lý tưởng về người con gái mà con trai mình yêu thương. Mọi quyết định cho cuộc sống của con trai đều luôn bị phụ thuộc vào dựa dẫm vào quyết định của mẹ. Họ cũng đặt con trai mình lên hàng đầu, luôn cho rằng con mình là đúng mà không quan tâm đến những lý lẽ phải trái. Đứa con trai khi đó đóng vai trò như là cả thế giới của họ và họ luôn dành thời gian suốt cả ngày để chăm lo cho cậu con trai đó mà không học cách để cho con có được một cuộc sống riêng tư.

Thuật ngữ Boy mom này ra đời ban đầu không mang ý nghĩa tiêu cực, bởi vì nó chỉ một mối quan hệ giữa một người mẹ với một đứa con khác giới với chính họ. Ban đầu thuật ngữ này mang ý nghĩa chỉ sự gắn bó, thân thiết và yêu thương, nhưng sau này nó dần bị biến đổi và chỉ những tình huống mang tính tiêu cực nhiều hơn.

Lý do của việc này cũng thật sự rất dễ hiểu khi mà các bà mẹ thường đặt con trai mình lên hàng đầu, bất chấp phải trái đúng sai, thậm chí còn có những cảm xúc ám ảnh với con của mình. Các boy mom thường khiến con trai cảm thấy tội lỗi nếu như chúng dọn ra ở riêng hoặc có người yêu hoặc vợ tương lai. Cảm giác mặc cảm và tội lỗi liên tục được tạo ra khiến cho mối quan hệ giữa boy mom và đứa con trai trở nên khó kiểm soát hơn. Đứa con trai được nuôi dạy boy mom thường lớn lên một cách rất thiếu tự chủ, thiếu chính kiến, khó đưa ra được những quyết định trong cuộc sống. Việc này cũng khiến cho những người con trai cảm thấy vô cùng khó xử khi đứng trong một mối quan hệ giữa mẹ chồng và con dâu. Theo một cách nào đó, boy mom thực sự trở thành một nguyên nhân gây ra tình trạng gia đình toxic. Dĩ nhiên, đứa trẻ lớn lên trong môi trường gia đình độc hại này thì hoàn toàn không thể có một tâm hồn phát triển lành mạnh.

Vì vậy yêu cầu của chúng ta hôm nay là cần phải thay đổi tình trạng gia đình này. Boy mom thực ra không xấu nếu như chúng ta sử dụng thuật ngữ này đúng nghĩa và sử dụng phương pháp dạy con đúng cách. Yêu thương con thì hẳn là bà mẹ nào cũng mong muốn và khát khao điều đó. Nhưng yêu thương con mà lại tước đi quyền sống một cách tự do, độc lập của con thì đó là một mối quan hệ độc hại.
Thêm
39
0
0
Viết trả lời...
Chủ nghĩa nữ quyền hay còn gọi là chủ nghĩa vị nữ chủ nghĩa bình quyền là một từ khóa quen thuộc trên mạng xã hội. Đây là một quyền lợi dành cho người phụ nữ mà chúng ta đang đấu tranh từng ngày từng ngày để nó đạt được hiệu quả tối ưu nhất. Chủ nghĩa này ra đời với mục đích cân bằng những quyền lợi giữa nam và nữ, để nam và nữ đều có được quyền lợi như nhau và người phụ nữ được đưa trở về đúng với vị trí ban đầu của họ. Từ các phong trào bình quyền đến những cuộc đấu tranh của những người phụ nữ khắp nơi trên thế giới. Chúng ta đã chứng kiến được cuộc chuyển mình của chủ nghĩa vị nữ trong việc bảo vệ quyền lợi cho một nửa thế giới để tiếng nói của phái yếu được cất lên song hành cùng với tiếng nói của những cộng đồng khác. Nhìn lại lịch sử, chúng ta bất ngờ nhận ra rằng câu chuyện về nữ quyền ở Việt Nam thực ra không phải là một khái niệm mới, đó là câu chuyện đã xảy ra từ hơn 100 năm trước, khi mà quyền lợi của người phụ nữ cần được nhìn nhận lại dưới những góc nhìn bước tiến văn minh đầu tiên.

Từ hơn một thế kỷ trước, trong bối cảnh Việt Nam bước vào những chuyển biến xã hội mạnh mẽ, có nhiều biến động thì vai trò của người phụ nữ đã bắt đầu được thảo luận. Đó không chỉ là câu chuyện về hình ảnh người phụ nữ trong gia đình, đó còn là câu chuyện về hiện đại hóa, cải cách xã hội và đưa con người trở về đúng vị trí của nó. Giai đoạn này chứng kiến nhiều biến đổi và những cuộc cách mạng trong việc xây dựng hình ảnh của người phụ nữ. Ở đây chúng ta được chứng kiến những tiếng nói nữ quyền đầu tiên trong xã hội của Việt Nam. Những tiếng nói này mang tính tiên phong, mở đường, là những tiếng nói phát ra từ những con người nhỏ bé nhưng uy lực lại vô cùng mạnh mẽ và có khả năng thay đổi xã hội.

Trong xã hội Việt Nam truyền thống, người phụ nữ bị bó chặt vào quan niệm Tam Tòng, Tứ Đức và hình ảnh người phụ nữ trong gia đình. Họ luôn phải tuân theo chuẩn mực của nho giáo, theo quan niệm theo cha, theo chồng, theo con cùng với chuẩn mực công dung ngôn hạnh để có thể trở thành một người phụ nữ của khuôn mẫu đời sống gia đình. Khuôn mẫu này đã định hình hình ảnh của người phụ nữ trong xã hội truyền thống cho đến mãi thế kỷ 20. Người phụ nữ trước đó luôn luôn phải sống dưới những định chế xã hội và không thể thoát ra khỏi được hình ảnh đó. Những cách tân trong việc tìm kiếm hình ảnh của người phụ nữ diễn ra trong xã hội truyền thống là một điều rất khó tìm thấy, thậm chí đã bị xem là tiếng nói cả gan. Tuy nhiên, thời thế đã đổi thay, người phụ nữ bắt đầu quan tâm hơn đến vị thế của mình. Những đóng góp của xã hội cũng bắt đầu góp phần định hình lại cách cách mà người phụ nữ tồn tại trong xã hội.

Đọc "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng, chúng ta phần nào đó hiểu được những đổi thay trong cái nhìn của xã hội về hình ảnh của người phụ nữ. Những người phụ nữ như bà Văn Minh, bà Phó Đoan, cô Tuyết, bà Phán mọc sừng, Tuy họ vẫn một phần nào đó chịu những áp chế từ những người đàn ông và luôn sống dưới những định nghĩa của những người đàn ông, tuy nhiên họ cũng bắt đầu được hứa hẹn với những sự giải phóng. Hình ảnh của họ có thể nói là một sự đột phá cực kỳ khác biệt với hình ảnh của những người phụ nữ truyền thống. Nếu như những người phụ nữ truyền thống được đặc trưng bởi áo yếm, áo cổ lá sen, thì người phụ nữ trong xã hội hiện đại lại được đặc trưng bởi những bộ trang phục với cảm hứng phương Tây, độc đáo, tự do và quyến rũ. Dù nhìn theo cách nào đó, những nhân vật trong "Số đỏ" cũng đã cho chúng ta nhìn thấy một gương mặt của người phụ nữ trong thời đại mới, trong thời đại được giải phóng tư tưởng. Thông qua đó, chúng ta thấy rằng không phải chỉ đến thời hiện đại của chúng ta thì những vấn đề về nữ quyền mới được nói đến. Từ thế kỷ trước, chủ nghĩa vị nữ đã được nói đến như là một cuộc cách mạng hoàn toàn tư tưởng để đưa người phụ nữ trở về đúng quỹ đạo của họ.

Chủ nghĩa vị nữ đã được nói đến từ hơn 100 năm trước, từ cả thế kỷ trước. Cho đến nay, nó vẫn tiếp tục phát triển, đi sâu vào hình ảnh của người phụ nữ trong gia đình, trong lĩnh vực chính trị hoặc những công việc lớn để xã hội thấy rằng người phụ nữ cũng có thể làm được những công việc giống như người đàn ông. Vai trò của cả hai giới này trong những công việc lớn là ngang tầm như nhau. Việc sử dụng giới tính sinh học để đánh giá một con người hay phân chia một nhiệm vụ là một điều rất phiến diện và không khả quan trong việc quản lý. Những thành tựu ở thế kỷ trước đã được chứng minh trong cuộc sống ngày hôm nay của chúng ta, với minh chứng đó là sự cân bằng giới, sự độc lập của người phụ nữ mà chúng ta thấy hôm nay. Vậy thì, điều mà chúng ta cần làm đó là cân bằng được loại chủ nghĩa này một cách tối ưu nhất, để không chỉ ở những vùng thành phố trực tiếp cận với tri thức rộng rãi mà ngay cả ở những vùng quê, tinh thần tôn vinh người phụ nữ vẫn được đề cao.
Thêm
34
0
0
Viết trả lời...
Những mối quan hệ không có thật trong đời thực thường khiến chúng ta khao khát đi tìm một mối quan hệ ở một không gian khác và do đó rất nhiều người đi tìm kiếm một mối quan hệ trên mạng xã hội. Những mối quan hệ này dĩ nhiên không mang tính bền vững nhưng lại có thể đem lại cho họ cảm giác thỏa mãn và khiến cho họ cảm thấy đó là một mối quan hệ có thể kết nối được với thế giới riêng của họ. Một số người không chỉ sử dụng mạng xã hội như một công cụ để tìm kiếm tình yêu hay tìm kiếm bạn bè, một mối quan hệ mà họ chưa từng có trong đời thực. Rất nhiều người còn sử dụng mạng xã hội như một công cụ để họ rơi vào tình yêu với một loại thế giới khác. Đó là tình yêu với người nổi tiếng hoặc tình yêu với những nhân vật anime. Thứ tình yêu này không phải là một dạng tình yêu dị hình, cũng không phải là một loại cảm xúc biến tướng của người trẻ, nó chỉ đang phản ánh tâm trạng cảm xúc của con người ở thế kỷ 21 và buộc chúng ta phải nhìn sâu hơn vào những nỗi cô đơn của con người.

Khái niệm parasocial xuất hiện như một tên gọi cho những mối quan hệ đặc biệt này. Parasocial có nghĩa là mối quan hệ một chiều với một người nổi tiếng trên mạng xã hội, một nhân vật trong anime hoặc thậm chí là một chatbot AI. Loại cảm xúc này có nhiều biến tướng, khi mà đó là tình yêu của chúng ta phải bất cứ một đối tượng nào trên mạng xã hội chỉ bởi vì những cảm xúc của chúng ta đối với đối tượng đó. Đối tượng mà chúng ta có thể rơi vào tình yêu một chiều không nhất thiết phải là con người, thậm chí có thể không có một hình dạng nhất định nào đó, chỉ là một hình tượng trên mạng xã hội mà có thể gây ra cho ta những kích thích cảm xúc. Theo một cách nào đó việc rơi vào tình yêu với những hình tượng đó có thể là một thứ rất kỳ lạ. Tuy nhiên, trên không gian mạng xã hội với rất nhiều những cảm xúc khác nhau của con người thì việc đó lại là một điều hoàn toàn dễ hiểu. Nói điều này không phải là để cổ xúy cho những tình cảm đó, mà chỉ là cách chúng ta thấu hiểu hơn về tâm lý của những người trẻ trong thế giới hôm nay.

Chúng ta luôn dành rất nhiều thời gian để quan tâm đến đời sống riêng tư của một người nổi tiếng. Thậm chí câu chuyện về thân thế của họ, đời sống của họ, quá khứ và những mối quan hệ yêu đương của họ còn khiến chúng ta quan tâm hơn là việc hôm nay chúng ta sẽ ăn gì, sẽ đối xử với mọi người như thế nào và khi nào thì chúng ta sẽ dành thời gian để về thăm gia đình? Việc này xuất hiện như là một hoạt động rất thường ngày của những fan hâm mộ. Họ đặc biệt quan tâm đến đời sống của người nổi tiếng và xem cuộc sống của người nổi tiếng như là một loại đối tượng đặc biệt khiến cho họ chú ý. Điều này cũng lý giải cho việc tại sao quá khứ của một người nào đó lại khiến chúng ta hiểu hơn là việc phải quan tâm đến chính cuộc sống của mình.

Những mối quan hệ một chiều đặc biệt như thế này là cơ hội để những thiết chế mạng xã hội hoặc những công cụ của tư bản lợi dụng chúng ta. Thông qua sự tiếp xúc nhiều lần theo những thuật toán của mạng xã hội, chúng ta bắt đầu rơi vào tình yêu với một người nổi tiếng hoặc một đối tượng nào đó. Cảm giác được tiếp xúc trực quan với họ thông qua màn ảnh khiến chúng ta cảm thấy người nổi tiếng đó hiện ra rất chân thực, gần gũi, thậm chí trở thành một phần trong đời sống của họ. Họ cảm thấy như mình có thể chạm đến người nổi tiếng đó.

Thực sự để nói thì thuật ngữ này không chỉ ra một thói quen xấu trong tư duy của người trẻ ngày hôm nay. Đó là một cảm xúc mà có lẽ chúng ta rất khó để ngăn mình rơi vào. Bởi lẽ ai cũng có những thần tượng riêng và luôn có khao khát được chạm đến thần tượng trong tình yêu và sự ngưỡng mộ. Đối với một cá nhân nào đó, việc chúng ta đủ tỉnh táo để nhận ra rằng mối quan hệ đó là một chiều hay hai chiều thật ra là một điều rất khó để nhận ra được. Chưa kể đến đó là việc đu idol khiến cho chúng ta cảm giác rất thỏa mãn, hạnh phúc, tìm thấy những cảm giác mà đôi khi chúng ta không thể tìm thấy trong cuộc đời thực. Vì vậy, parasocial xuất hiện với tôi như là một câu chuyện cho tâm lý của người trẻ hôm nay.
Thêm
39
0
0
Viết trả lời...
Bản năng của con người là luôn rất sợ bị bỏ rơi. Chúng ta lớn lên trong tình yêu thương nên chúng ta rất sợ một ngày nào đó sẽ bị người ta yêu bỏ lại. Có những người khác lớn lên trong sự bơ vơ, đơn độc, bị bỏ rơi ngay từ khi còn bé đến khi lớn lên, họ sợ sẽ tiếp tục phải chịu đựng nỗi đau đó. Với cả những con người chưa từng phải chịu đựng nỗi đau của sự bỏ rơi, bản thân họ cũng luôn lo sợ một ngày nào đó sẽ bị những người họ yêu thương bỏ lại. Nỗi sợ bị bỏ rơi có lẽ là một nỗi sợ rất nguyên thủy bên trong mỗi con người mà chúng ta không thể ngắm mình rơi vào. Vậy điều gì khiến cho nỗi sợ đó xảy ra và làm thế nào để cho ta vượt qua nỗi sợ đó?

Con người là một sinh vật xã hội, chúng ta tồn tại trong một tập thể nên chúng ta rất sợ một ngày nào đó sẽ bị tách ra khỏi cộng đồng mà mình tồn tại. Những trạng thái tâm lý ở những thời điểm khác nhau khiến cho những nỗi sợ đó được đẩy bùng lên và chúng ta rất khó để ngăn mình rơi vào một nỗi sợ nào đó, mà có thể đó là nỗi sợ bị bỏ rơi. Xã hội ngày nay lại tiếp tục tạo nên những cơ chế khiến cho nỗi sợ đó trở nên mạnh mẽ và ám ảnh hơn, những thiết chế xã hội, mạng xã hội, những tiếng nói xuất hiện quá nhiều khiến cho những tiếng nói thiểu số bị lấn át đi. Từng ấy lý do khiến cho chúng ta liên tục cảm thấy mất an toàn và thế giới này. Khi chúng ta thấy một đám đông, ta rất sợ sẽ là người một mình ở trong đám đông đó, cô đơn, bơ vơ và lạc lõng mà không có một ai tìm thấy mình. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã từng nói rằng cô đơn nhất là khi không có hình trong đôi mắt người mà mình yêu thương. Trong cuộc sống ngày nay, nỗi sợ cô đơn có lẽ cũng hiện hình như vậy. Sợ rằng chúng ta không có bóng dáng trong đôi mắt của người mình yêu thương. Sợ rằng đến một lúc nào đó sẽ chỉ còn chúng ta trơ trọi giữa cuộc đời này.

Rất nhiều người luôn có suy nghĩ rằng tại sao lại cô Đơn cơ chứ? Sống một mình có đủ ăn, có việc làm đầy đủ thế là đã tốt lắm rồi, tại sao lại cứ phải lo lắng để định cảm xúc vô cùng nhỏ nhặt như cô Đơn? Người ta đâu biết được rằng có những cảm xúc mà đôi lúc nó chợt đến nhưng rất khó để đi. Cảm xúc đó cứ ám ảnh mãi bên trong mỗi người, khiến cho chúng ta rất khó để vượt qua được. Làm sao có thể ngăn mình không khỏi sợ cô đơn? Làm sao có thể không nghĩ rằng đến một ngày người bị bỏ rơi sẽ là mình?

Cô đơn trước khi xuất hiện như là một tâm lý lứa tuổi, là một cảm xúc xã hội và là một vấn đề của cộng đồng thì nó là bản năng của con người từ thời thị tộc. Khi con người còn sống trong những bộ lạc, chúng ta đã phải luôn sống dựa vào nhau để có thể sinh tồn. Do đó, việc bị loại ra khỏi một cộng đồng là một điều rất đáng sợ và rất khó khiến cho một cá nhân có thể sống được. Thời đại của chúng ta hôm nay đã không còn là thời của những thị tộc và bộ lạc nữa, nhưng chúng ta vẫn luôn sợ mình bị cô đơn, bởi chúng ta không phải là một ốc đảo đơn độc mà luôn sống cùng với cộng đồng của mình, dựa vào cộng đồng của mình để được sinh tồn và che chở. Sống cho một cộng đồng đám đông đã quen. Chúng tôi rất sợ đến một ngày nào đó mình sẽ là một tiếng nói riêng lẻ của riêng mình, không thuộc về ai, không được chạm vào ai cả. Nỗi sợ này tồn tại như là một dấu ấn tâm lý của con người và nó rất dễ dàng để được thấu hiểu. Ai trong mình chẳng có lúc cảm thấy cô đơn, lạc lõng giữa bầy người mà không tìm thấy một bộ lạc cho riêng mình? Khi chúng ta liên tục có những cảm giác đó thì có nghĩa là không chỉ thế giới bên ngoài đang bỏ rơi chúng ta, mà chính chúng ta lại đang bỏ rơi cho những cảm xúc của mình buông trôi theo những suy nghĩ tiêu cực.

Đôi lúc nỗi sợ bị bỏ lại diễn ra trong những cảnh huống và những không gian rất gần gũi, đó có thể là gia đình, là trường học, là trong một mối quan hệ bạn bè mà chúng ta rất sợ rằng mình sẽ là người bị bỏ lại sau. Trong một nhóm ba người thì sẽ luôn có một người dễ dàng bị cô đơn hơn, có cảm giác bị bỏ lại nhiều hơn. Một phần cảm giác này đến từ cá nhân, luôn cảm thấy mình là người bị bỏ lại nhưng một phần khác nó có lẽ đến từ những suy nghĩ vốn dĩ rất đơn giản của con người chúng ta không bao giờ suy nghĩ sâu sắc, chúng ta không bao giờ nhìn sâu vào một vấn đề nên sự cô đơn của người khác chúng ta xem đó là một điều rất bình thường. Chính vì những suy nghĩ như vậy mà việc bị bỏ lại mới trở thành một bi kịch của con người.
Thêm
35
0
0
Viết trả lời...
Đã quá lâu rồi chúng ta không còn đối xử với nhau bằng những lời khen nữa. Lời khen bây giờ trở thành một thứ xa xỉ trong cuộc sống của chúng ta, đặc biệt là cuộc sống gia đình. Bố mẹ giờ đây xem việc khen ngợi con như là một hành động không cần thiết, khiến cho con cảm thấy tự cao hơn. Thay vì như thế, họ dùng những lời mắng hoặc những lời phán xét rất nặng nề để đối xử với con, khiến cho đứa trẻ cảm thấy như mình là một phần thừa của gia đình, và chúng bắt đầu hoài nghi rằng liệu bố mẹ có thực sự yêu thương chúng hay không. Dường như sau rất nhiều lần chị nhận lại cái nhìn thất vọng của bố mẹ chứ không phải là một lời khen hay lời động viên, nhiều đứa trẻ đã cảm thấy vô cùng trống rỗng. Thời gian dài lại càng khiến sự trống rỗng đó trở nên nặng nề hơn. Thế nhưng sâu thẳm bên trong chúng có lẽ vẫn luôn chờ đợi một điều gì đó không bao giờ đến.

Ai chẳng muốn mình được công nhận, kể cả là người lớn. Bản năng của con người là luôn khao khát được thuộc về một cộng đồng nào đó và nhận được sự công nhận từ cộng đồng đó. Đấy có lẽ là một đặc tính nguyên thủy bên trong mỗi chúng ta mà dù có muốn từ chối thì chúng ta cũng không thể tách nó ra khỏi bản thể của mình. Ngay cả những người lớn cũng thường phải công nhận rằng họ luôn mong muốn nhận được sự công nhận từ người khác và rất nhiều bố mẹ thì luôn mong muốn nhận được sự công nhận từ con cái, tuy nhiên việc mà họ làm lại là luôn phê phán, đánh giá những điều mà con làm và quên đi rằng việc đưa cho con lời khen sự công nhận cũng là một điều vô cùng cần thiết trong cách giáo dục. Dần dần, lời khen bị bỏ quên đi trong môi trường gia đình. Đứa trẻ sẽ khao khát tìm kiếm lời khen ở một nơi khác mà ở đó chứng nhận được sự công nhận và tôn trọng hơn là những điều chúng phải nhận ở nhà. Những đứa trẻ không được lớn lên trong sự công nhận và lời khen cũng sẽ khó có thể đưa ra được một lời khen chân thành cho người khác. Đối với chúng, việc đưa ra lời khen trong một người nào đó là một việc khó khăn bởi lẽ chúng đã bao giờ được nhận lời khen đó đâu?

Yêu bố mẹ cho rằng việc đưa ra lời khen đối với con là một việc khiến cho đứa trẻ trở nên tự cao hơn. Các bố mẹ luôn có suy nghĩ trong đầu rằng nếu như khen con ở độ tuổi đang còn rất nhỏ thì con dạy hình thành tư duy tự cao, đánh mất đi sự khiêm tốn vốn có. Và do đó, trước những hành động tốt của con, hoặc khi con làm đúng một việc gì đó, các bố mẹ thường không khen mà xem đó như là một điều bình thường. Mục đích của họ, có lẽ cũng chỉ là để bảo vệ và xây dựng tính cách cho đứa trẻ. Nhưng họ không biết rằng đứa trẻ cũng mong muốn nhận được những điều mà họ muốn. Chúng cũng muốn được công nhận, được thấu hiểu và được tôn vinh cho những hành động mà chúng làm tốt. Theo nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, một đứa trẻ có thể phát triển tốt hơn không phải vì đòn roi hay lời mắng mỏ, mà là sự trân trọng và công nhận của cha mẹ chúng. Điều đó mang lại cho chúng động lực và khát khao làm được nhiều việc tốt hơn, với mục đích ban đầu chỉ là nhận được những lời khen. Sau đó, nó sẽ dần trở thành một tính cách cố hữu bên trong những đứa trẻ. Làm việc tốt vì được công nhận dù có thể mang mục đích thực dụng, nhưng dù thế nào đó nó vẫn là một điều kiện khuyến khích chúng ta làm điều tốt.

Thiếu vắng lời khen trong gia đình có nghĩa là người lớn đã chấp nhận rằng phần tâm hồn bên trong của họ bị mai một đi. Họ thiếu đi khả năng đồng cảm, họ thiếu đi khả năng cảm nhận về thế giới bên trong của mình, nên họ cũng không có khả năng đưa ra những phản hồi tích cực đối với những đứa con của họ. Dĩ nhiên trong một gia đình luôn cần có sự thấu hiểu, nhưng thật khó để yêu cầu một đứa trẻ thấu hiểu lý do tại sao mà bố mẹ chúng lại không bao giờ đưa ra lời khen với chúng. Chúng không thể hiểu được rằng bố mẹ chúng chỉ vì những lý do như đi làm về mệt, một số công chuyện không vui ở cơ quan hay vì một lý do rất nhỏ nhặt nào đó mà từ khước việc đưa ra lời khen cho một đứa trẻ khi chúng làm một điều gì tốt.

Hậu quả của việc này để lại đó là những đứa trẻ lớn lên với sự thiếu vắng sự công nhận, lấn khát khao đi tìm sự công nhận ở một nơi nào đó và sự tồn tại của chúng có một vị trí trong đôi mắt của người khác. Chúng sẽ lớn lên với một tâm hồn khô cạn và thật khó để đưa ra lời khen cho một người nào đó, bởi họ sợ rằng họ sẽ trao cho người khác một điều họ chưa từng được nhận. điều này có lẽ có thể thay đổi một cách rất đơn giản khi những người lớn quan tâm hơn đến việc trao cho đứa trẻ sự công nhận đó và thôi nghĩ rằng lời khen là một yếu tố khiến cho đứa trẻ trở nên tự kiêu. Một đứa trẻ tốt luôn cần đến những lời khen để lớn lên, để trưởng thành và học cách để trao đi những điều đó cho những người khác.
Thêm
38
0
0
Viết trả lời...
Thế giới của chúng ta, ánh sáng là thứ đầu tiên mà chúng ta nhìn thấy khi bước đến với thế giới này. Tuy nhiên, đối với những người mù, thế giới của họ lại là một thế giới vô cùng đặc biệt mà chúng ta chưa từng tưởng tượng ra được họ sẽ nhìn thấy gì. Và tôi luôn trăn trở rằng người mù họ nhìn thấy gì? Bóng tối hoàn toàn hay chỉ là hư vô? Và liệu những gì chúng ta thấy có phải là những gì mà người mù thấy hay không?

Mắt của chúng ta hoạt động như là một chiếc máy ảnh với cơ chế liên tục thu nạp và lưu trữ những hình ảnh. Khi đó, ngay cả khi nhắm mắt lại, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy những hình ảnh hậu quang xuất hiện sau khi chúng ta đột nhiên nhắm mắt lại sau khi nhìn thấy một sự vật nào đó. Có rất nhiều cách giải thích về việc này. Nhưng đây là một hiện tượng thú vị của trí não.

Việc tiếp xúc quá lâu với một hình ảnh nào đó trong một thời gian dài có thể tạo nên một áp lực cho võng mạc, điều này khiến cho trí não của chúng ta ghi nhớ hình ảnh đó. Ngay cả khi tầm nhìn bị khép lại, hình ảnh đó vẫn xuất hiện trong trí óc của chúng ta. Hiện tượng này là một điều chúng ta có thể tìm thấy ở những người có thị giác bình thường. Tuy nhiên, hoạt động này lại diễn ra ở những người mù theo một hình ảnh khác rất đặc biệt.

Điều thú vị đó là không phải người mù nào cũng hoàn toàn không thể nhìn thấy gì trong đôi mắt của họ. Thế giới được hiện lên qua rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau. Có người cho rằng người mù chỉ nhìn thấy bóng tối, có người lại cho rằng người mù nhìn thấy hư vô có nghĩa là không thấy gì cả. Tuy nhiên có một số người mù có cảm giác về ánh sáng. đôi mắt của người mù là sự nhạy cảm của những giác quan còn lại nên họ rất mẫn cảm với những hoạt động trong cuộc sống, được cảm nhận bằng tai, mũi hay tay.

Đối với những người mù, họ có thể cảm nhận được ánh sáng và một số người rất nhạy cảm với ánh sáng. Một số người mù đã thực sự dùng từ hư vô để mô tả những gì mà họ cảm nhận được sau khi mất đi thị lực. Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải tất cả người mù đều có thể nhìn thấy giống như nhau. Những trường hợp nhìn thấy ở mỗi người mù đều rất khác nhau.

Có người cho rằng thế giới bên trong cảm nhận có là rất nhiều ánh sáng rực rỡ, đầy màu sắc, luôn thay đổi và thường gây nhiễu làm cho họ bị mất tập trung. Những sắc màu này liên tục chuyển động, giao thoa nhập nhằng nhưng cũng cho những người mù cảm nhận chút ít về ánh sáng. Một số người mù không thể cảm nhận được ánh sáng và không thể gọi tên được loại màu sắc này bởi vì họ bị mù bẩm sinh và không có khả năng nhận diện ánh sáng.

Mặt khác, một số người mù hoàn toàn không nhìn thấy điều gì. Họ không thể cảm nhận ánh sáng, không thể cảm nhận ánh sáng mà người khác mô tả cho họ. Trong thế giới thiếu đi ánh sáng và màu sắc của họ, họ dùng những giác quan khác để cảm nhận về cuộc đời. Thế giới của họ là sự mẫn cảm từ tai, mũi, từ sự động chạm từ tay. Nói dễ hiểu hơn, cuộc sống của họ không thiếu sắc màu như chúng ta. Chỉ là họ bị che đi một cánh cửa để cảm nhận thế giới. Những người mù, bằng một cách nào đó, luôn yêu thương cuộc đời bằng những cách đặc biệt, khao khát nhìn thấy thế giới bằng tình yêu chân thành nhất.
Thêm
34
0
0
Viết trả lời...
Thế hệ của chúng ta hôm nay có thể sẽ trở thành thế hệ cuối cùng được sống trong môi trường thiên nhiên. Ngay trong cuộc sống hôm nay của chúng ta, thiên nhiên đã dần bị bào mòn, biến đổi và tàn phá. Rất nhiều cánh rừng đã trở thành đồi trọc. Động vật bị mất môi trường sống, phải tiếp cận với môi trường sống của con người. Nhiệt độ trung bình tăng cao gây ra bất bình đẳng nhiệt, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những người lao động ngoài trời. Quá nhiều cảnh báo từ thiên nhiên khiến chúng ta buộc phải nhìn nhận thực tế và truy tìm cách để chúng ta thay đổi thực trạng của thiên nhiên.

Lúc này, khái niệm “solarpunk” xuất hiện như một phương cách đầy mới lạ và sáng tạo để hướng tới môi trường sinh thái. Solarpunk là một nhánh của văn hóa/nghệ thuật khoa học viễn tưởng và một phong trào sinh thái học hướng tới tương lai. Nó kết hợp giữa "Solar" (năng lượng mặt trời, sự phát triển bền vững) và "Punk" (sự nổi loạn, thách thức các chuẩn mực xã hội hiện tại vốn đang hủy hoại môi trường). Các đặc trưng cốt lõi của Solarpunk bao gồm: Công nghệ xanh và thân thiện, phong cách nghệ thuật, kiến trúc và thiết kế ngập tràn cây xanh đan xen với các tấm pin năng lượng mặt trời, mô hình cộng đồng tự quản, chia sẻ và hòa hợp với thiên nhiên.

Khái niệm này tạo ra những thách thức quy chuẩn mới, khuyến khích chúng ta bảo vệ thiên nhiên theo cách phi truyền thống. Nó yêu cầu chúng ta phải bảo vệ thiên nhiên theo cách hiện đại thay vì áp dụng những hình thức cũ. Đây là nơi chúng ta không chỉ sống hòa thuận với thiên nhiên, mà còn sống hòa thuận với những cộng đồng khác. Chúng ta cần hình dung ra những viễn cảnh mới về tự nhiên, trong đó thiên nhiên thôi được nhìn nhận như là một đối tượng chú ý thông thường, nó được nhìn nhận như là môi trường mà chúng ta sống, là cách chúng ta tồn tại trên hành tinh này.

Phong trào này tạo sinh ra những hình ảnh nơi mà con người có thể sống hòa hợp với tự nhiên. Trong thế giới phản thực tế đó, con người bị khác bỏ vai trò, trở thành kẻ nắm quyền, có khả năng tác động lên vạn vật. Ở đó họ buộc phải biến mình trở thành một trong những cộng đồng đang tồn tại trên thế giới, và dù họ là con người thì họ cũng chỉ là một trong số những cộng đồng đó. Do đó vị trí của thiên nhiên và con người ngang hàng với nhau. Thay vì chúng ta có thể toàn quyền tác động lên thiên nhiên thì chúng ta cần phải bảo vệ chúng như một người bạn chung nhà.

Sự tăng cường trong nhận thức của xã hội về những vấn đề của tự nhiên đã khiến cho thuật ngữ này trở nên phổ biến. Những vấn đề biến đổi khí hậu và những khủng hoảng về môi trường mà chúng ta phải gánh chịu đang trở thành những lý do rất quan trọng khiến cho chúng ta không thể tiếp tục thử ở trước thiên nhiên. Giờ đây chúng ta cần phải hành động và phải hành động một cách quyết liệt để có thể giải quyết được những vấn đề này. Chúng ta tác động lên thiên nhiên bằng những hành động vô cùng tàn nhẫn. Nếu như những viễn cảnh về một tương lai tốt đẹp hơn không được tạo ra cho thiên nhiên thì sẽ đến một ngày chúng thật sự sẽ biến mất.

Trong thời đại mà rất nhiều vấn đề của tự nhiên đang cần được lên tiếng như hôm nay, solarpunk trở thành một trong những niềm an ủi và niềm động viên khích lệ cho con người hiện đại. Nó khuyến khích ta cần phải hành động một cách quyết liệt để bảo vệ quyền sống của thiên nhiên và quyền tồn tại bình đẳng của chính mình. Cách chúng ta tác động đến thiên nhiên cũng có thể cho thấy cách chúng ta tác động lên người khác. Muốn có một cộng đồng văn minh và bình đẳng nhất, chắc chắn sẽ phải bắt đầu từ những hành động nhỏ khi đối xử với thế giới tự nhiên.
Thêm
33
0
0
Viết trả lời...
Đêm nào cũng thế, sau một ngày làm việc mệt mỏi, chúng ta trở về nhà và rất khó để đi vào giấc ngủ. Thay vào đó, lúc hai giờ sáng chúng ta lại liên tục lướt những trang mạng xã hội hoặc sẽ chốt đơn Shopee. Việc mua sắm của chúng ta liên tục diễn ra trong sự chập chờn giữa việc đi vào giấc ngủ và việc thức suốt đêm, như thế khiến cho hành động đó được xem như là một hành động vô thức. Như vậy có nghĩa là chúng ta đang hành động một cách vô tri và không có sự kiểm soát của não bộ. Việc chốt đơn một cách vô thức này vào buổi đêm khuya Thực ra là một hiện tượng tâm lý rất đặc biệt đã được các nhà nghiên cứu khoa học chỉ ra như là một biểu hiện của sự cô đơn bên trong con người.

Có lẽ rằng với những tín đồ mua sắm thì việc chốt đơn trên các nền tảng thương mại online là một điều thực sự đem lại cho họ cảm giác thỏa mãn. Cảm giác lướt hết sản phẩm này đến sản phẩm khác mà sản phẩm nào cũng rất có vẻ hợp gu với họ thì có thể khiến cho chúng ta rơi vào trong những sự cuốn hút của những sản phẩm và chúng ta sẽ dễ dàng rơi vào cái bẫy của cảm xúc. Mua sắm được nhìn nhận như là một giải pháp rất hữu hiệu để giải tỏa những căng thẳng, áp lực của một người sau một chuỗi thời gian dài quá mệt mỏi. Do đó, mua sắm không nên được nhìn nhận như là một vấn đề mà nên được nhìn nhận như là một liệu pháp trị liệu tâm lý.

Có rất nhiều lý do thôi thúc chúng ta chốt đơn vào lúc hai giờ sáng. Lý do đơn giản nhất có thể hiểu là do không thể ngủ được nên chúng ta cần tìm đến mạng xã hội như là một giải pháp tạm thời để giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, giải pháp tạm thời đó có thể sẽ trở thành vấn đề dài hạn khi mà nó sẽ gây ra bệnh mất ngủ lâu dài. Và khi mà mất ngủ thì chúng ta chỉ có thể lựa chọn cách đơn giản nhất để giải quyết đó là dùng đến điện thoại. Đây thực sự là một vấn đề được nhìn thấy ở rất nhiều người trẻ khi mà sáng nào họ cũng đến công sở với đôi mắt gấu trúc và phải mệt mỏi sau một đêm dài chốt đơn.

Lý do thứ hai có lẽ là bởi những sàn thương mại điện tử thường tạo ra rất nhiều những chương trình giảm giá vào những khoảng thời gian như nửa đêm. Vì mục đích săn được những sản phẩm rẻ mà những người trẻ thưởng thức rất khuya để có thể săn được những sản phẩm chất lượng, đúng theo ý muốn của mình. Việc này cho phép họ vừa có được những sản phẩm như họ muốn, vừa bảo toàn túi tiền mà chỉ mất chút công sức đó là thức khuya và sức khỏe. Vì lý do rẻ mà rất nhiều mặt hàng được chốt đơn vào lúc nửa đêm. Nhưng cũng cần phải khẳng định rằng những món hàng được săn vào lúc nửa đêm với cây giá siêu hơi này sẽ đem đến cho những người trẻ cảm giác vô cùng thỏa mãn và thích thú.

Một lý do nữa có lẽ khá dễ hiểu, đó là cảm giác cô đơn ở người trẻ. Vì cô đơn nên họ thường tìm đến những giải pháp khác để giải tỏa tâm lý của mình. Hai giờ sáng, vừa buồn, vừa mệt, lại không thể ngủ được, nhưng họ không thể tìm thấy một ai để có thể giải tỏa những cảm xúc của họ. Lúc đó mọi người đều đã chìm vào giấc ngủ, chỉ có những người trẻ là vẫn còn sống mãi ở bên trong cảm xúc của mình. Do đó, họ tìm đến những sản phẩm điện tử, liên tục chốt đơn và tìm kiếm cảm giác thỏa mãn cho riêng mình.

Tôi nghĩ đây nên được nhìn nhận như là một vấn đề sức khỏe cộng đồng, thay vì nên chỉ được nhìn nhận như là một vấn đề thức khuya và mua sắm vô tội vạ của giới trẻ. Nguồn cơn của vấn đề này hơn hết vẫn là cảm giác cô đơn, trống rỗng mà họ chỉ có thể tìm thấy khi lấp đầy nó bằng những món hàng vô tri lúc nửa đêm. Thay vì có cái nhìn phiến diện về tâm lý của người trẻ, chúng ta cần nhìn sâu hơn vào những nguồn gốc, nguyên căn đã dẫn họ đến với tình trạng đó để thấu hiểu nó nhiều hơn.

Tôi nghĩ rằng bất kỳ người trẻ nào đã từng trải qua cảm giác cô đơn đều sẽ có một đêm âm thầm lướt mạng xã hội và chốt đơn những món đồ mà họ không thể biết được là họ sẽ sử dụng vào lúc nào và cho hoàn cảnh nào. Nhưng cảm xúc của họ thì liên tục muốn họ tiếp tục lướt, tiếp tục chốt đơn để bù đắp vào những khoảng trống bên trong. Điều này đòi hỏi cái nhìn thấu cảm và quan tâm nhiều hơn của xã hội, mà cách giải quyết có lẽ là sau mỗi chúng ta tự quyết định.
Thêm
34
0
0
Viết trả lời...
Trong phim Inside Out - bộ phim tuổi thơ của rất nhiều thế hệ, nhân vật chính Riley mang theo 5 cảm xúc chính. Tùy theo sự điều khiển của những cảm xúc này ở bộ điều khiển mà nhân vật được thể hiện cảm xúc như thế nào. Đây là một hình dung rất giàu trí tưởng tượng về đời sống tâm lý con người. Thông qua đó, chúng ta thấy được rằng khi tâm trí xuất hiện cảm xúc nào có nghĩa là có một dạng cảm xúc đang điều khiển chúng ta từ bên trong. Như vậy, điều này cũng đồng nghĩa với việc những cảm xúc hoặc trí nhớ của chúng ta có thể có sự phân định, thiên lệch tùy theo dạng cảm xúc của chúng ta khi gặp một biến cố/sự kiện. Tâm trí chúng ta, cuối cùng thì liên tục tạo nên sự thiên vị giữa những cảm xúc hoặc kí ức.

Theo nghiên cứu của các viện khoa học chỉ ra rằng tùy vào cảm xúc của chúng ta khi xảy ra một sự kiện nào đó mà sẽ quyết định việc chúng ta có ghi nhớ cảm xúc hoặc ký ức đó hay không. Việc chúng ta có ghi nhớ điều đó hay không lại dẫn đến một vấn đề mới, đó là chúng ta có nhớ chính xác về ký ức đó hay không. Bởi lẽ tâm trí con người luôn tạo ra sự thiên lệch, có nghĩa là chúng ta liên tục thiên vị cho những ký ức mà chiếm vị trí quan trọng bên trong chúng ta nhiều hơn trong khi lại phủ nhận những ký ức khác bởi vì chúng ta không thể nhớ rõ từng chi tiết của nó.

Do đó, những ký ức được chúng ta nhớ lâu và lưu tâm thường là những ký ức xảy ra trong những trường hợp đặc biệt hoặc trong khi chúng ta đang sở hữu những cảm xúc đặc biệt. Điều này cho thấy rằng việc có được một ký ức có thể lưu giữ được trong suốt một thời gian dài không phải chỉ là việc chúng ta lưu tâm nó như thế nào, mà còn là việc hoàn cảnh xảy ra khi đó như thế nào. Hoàn cảnh cũng có khả năng tác động vào tâm trí con người, và tâm trí con người thì rất dễ bị ảnh hưởng bởi những hoàn cảnh đó.

Những cảm xúc mãnh liệt sẽ khiến chúng ta nhớ rõ hơn những điều gì sẽ xảy ra. Những ký ức này thường xảy ra trong một khoảng thời gian mà cảm xúc của chúng ta dù vui hay buồn thì đều rất mãnh liệt và cuồng nhiệt, khiến cho chúng ta không chỉ nhớ về cái sự kiện xảy ra vào cái ngày hôm đó mà còn nhớ rõ được những chuyển biến tâm lý của chúng ta như thế nào. Thông qua sự kiện này, có thể nói rằng những cảm xúc của chúng ta đóng vai trò như một chiếc máy quay phim, có thể lưu giữ lại từng thước phim về những ký ức đã xảy ra trong quá khứ. Nhưng thước phim này có phần đặc biệt hơn khi mà nó lưu giữ cả những cảm xúc của chúng ta mà thực sự rất khó để có thể lưu giữ được hoặc tìm thấy trong các bộ phim thông thường.

Những bối cảnh bất thường sẽ khiến chúng ta nhớ rõ về một việc gì đó hơn, chẳng hạn như chúng ta đang ở trong một khoảnh khắc mà những cảm xúc liên tục bị giằng xé, liên tục phải đấu tranh thì khi đó chúng ta sẽ nhớ rõ hơn về hành trình mà chúng ta đưa ra quyết định của mình. Hoặc đơn giản là khi trong bối cảnh đó xảy ra những sự việc bất thường, những vụ việc như drama tranh cãi hoặc những sự việc có khả năng gây sốc thì sẽ khiến cho chúng ta nhớ rõ một vấn đề nào đấy hơn. Những sự kiện như thế thường khiến cho chúng ta nhớ đến nó ngay trong một lần, và điều đặc biệt hơn nữa là sự ghi nhớ này sẽ tiếp diễn mãi không thôi và chúng ta sẽ rất khó để quên được nó.

Những sự việc liên tục được lặp lại nhiều lần sẽ khiến cho chúng ta nhớ và không thể quên. Việc này hoạt động như là một cơ chế của não bộ, khi mà não bộ chỉ có thể tiếp thu được những thông tin diễn ra trong nhiều lần khiến cho nó nhớ được ký ức như là nhớ mặt chữ. Điều này cũng lý giải được lý do tại sao mà chữ viết là điều mà chúng ta không thể quên, bởi vì chúng ta sử dụng nó mỗi ngày, trong ngôn ngữ viết, trong ngôn ngữ nói, trong cách mà chúng ta nhìn thấy thế giới. Việc lặp lại một thông tin nhiều lần khiến cho não bộ chúng ta ghi nhớ được nó, khắc sâu những chi tiết về nó. Trong nhiều trường hợp, những ý kiến được đưa ra không hẳn là do những phát minh mới nảy ra trong suy nghĩ mà có thể là do những ký ức đã được lập lại nhiều lần trở lại và cho chúng ta những cảm hứng.

Thiên kiến xác nhận về những cảm xúc và ký ức trong quá khứ đã giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế của não bộ và hiểu được cơ chế hoạt động của sự thiên vị những ký ức. Chúng ta hiểu rõ hơn rằng tại sao có những ký ức chúng ta lại nhớ cả đời không thể quên, nhưng có những ký ức vừa dặn mình nhớ xong thì đã vội bẵng quên đi mất. Trong những hoàn cảnh bất thường, tâm trí của con người sẽ có thể nhớ được một ký ức lâu hơn. Bởi vậy chúng ta có thể tạo nên những hoàn cảnh đặc biệt cho mình đó không cần là những hoàn cảnh gây sốc, tạo drama mà chỉ đơn giản là những khoảnh khắc nơi chúng ta được thành thật với chính mình được nhìn sâu vào thế giới bên trong mình và có cảm xúc mãnh liệt nhất với một sự kiện nào đó.
Thêm
31
0
0
Viết trả lời...
Trong hình dung của mỗi chúng ta, chúng ta là những người vô cùng đặc biệt và có lẽ là độc bản duy nhất trên thế giới này. Và bởi vì thế chúng ta luôn tưởng rằng mình là điều đặc biệt nhất trong cuộc đời này. Có lẽ ai cũng đã từng trải qua cảm giác khi đạt được một thành tựu nào đó, một kết quả nào đó hoặc có được một trạng thái tâm lý, cảm xúc nào đó thì bỗng nhiên họ cảm thấy rằng họ là những người đặc biệt, bởi vì chỉ có họ mới như thế. Đặc biệt là khi trong một cuộc trò chuyện, khi một người nói rằng những trải nghiệm của họ khi khác với số đông thì họ cũng cảm thấy như bản thân là một người đặc biệt và có trải nghiệm đặc sắc nhất so với tất cả những người còn lại. Thực tế luôn là như vậy, chúng ta thực sự rất dễ dàng để thỏa hiệp với bản thân rằng mình là một người đặc biệt. Tuy nhiên, False Uniqueness Effect đã ra đời để chỉ rõ những lầm tưởng của chúng ta.

False Uniqueness Effect (Tạm dịch: Hiệu ứng lầm tưởng sự độc đáo) là một dạng thiên kiến nhận thức cho rằng bản thân độc đáo, đặc biệt hơn số đông nhưng thực tế không phải. Thiên kiến này thường được đo bằng cách xem xét sự khác biệt giữa những góc nhìn mà mọi người đưa ra về số lượng người cùng trang lứa, có cùng sở thích hoặc một đặc điểm hành vi nhất định. Điều này trở thành một vấn đề khi mà sự so sánh chỉ được đặt trong một cộng đồng nhỏ, nhưng nó lại có tính khẳng định lớn khi mà một người chỉ so sánh mình trong một cộng đồng bạn bè của họ nhưng lại khẳng định rằng mình là đặc biệt nhất trong cả một cộng đồng lớn của thế giới. điều này có vẻ hơi to lớn nhưng thực tế là như vậy khi mà rất nhiều người trong chúng ta khẳng định rằng bản thân mình là đập bạn và những đặc tính tính cách của mình là duy nhất mà không thể tìm thấy một phiên bản nào khác ở trên đời. Việc này còn gây ra những mối suy nghĩ khác khi mà chúng ta liên tục phủ nhận những đặc tính ở người khác nếu như chúng ta phát hiện rằng đặc tính đó có phần giống như mình.

Hiệu ứng này có thể đồng nghĩa với một thực tế ảo. Điều này có nghĩa là chúng ta liên tục đưa ra những lời nói, lời khẳng định về hành vi của bản thân trong một trường hợp cụ thể nào đấy, trong khi thực tế thì không phải như vậy. Trong buổi phỏng vấn, trước những câu hỏi xử lý tình huống, chắc chắn chúng ta có thể đưa ra được những cách xử lý tình huống vô cùng khéo léo và hợp tình hợp lý. Tuy nhiên trong thực tế thì điều đó có lẽ không thể xảy ra và chúng ta cũng sẽ không lựa chọn làm như vậy trong đời sống.

Như vậy có nghĩa là những lời nói mà chúng ta thể hiện ra không đồng nhất với thế giới bên trong của chúng ta. Việc này không chỉ gây nhầm lẫn bên trong những hành động của chúng ta mà còn khiến cho những câu chuyện thực tế xảy ra rất khó để xử lý. Chẳng hạn như khi những sai lầm trong công việc được đưa ra để giải quyết thì những câu trả lời mà chúng ta đưa ra trong vòng phỏng vấn đã hoàn toàn mất đi giá trị tham chiếu. Nó không thể trở thành cơ sở để đáng đánh giá một con người. Nó cũng không thể chứng minh được chúng ta thực sự là một con người như thế nào. Điều này tương tự như là việc chúng ta bảo vệ phần “Vùng Ẩn” bên trong mình.

Nguyên nhân của kiểu tư duy này có thể xuất phát từ cả chủ quan lẫn khách quan. Có thể đơn giản là bởi chúng ta luôn muốn thiên vị bản thân cảm thấy rằng bản thân mình là một cá nhân tốt đẹp trong một mức độ nào đó. Dĩ nhiên tâm lý con người luôn muốn biến mình thành người chính diện trong tưởng tượng của mình, cho nên những hình dung của chúng ta về bản thân luôn là những hình dung rất tốt, đẹp và màu nhiệm. Khi được đặt trong sự so sánh với một cộng đồng khác, những đặc tính tốt đẹp của chúng ta thường bị chúng ta phóng đại lên thành những đặc tính duy nhất mà không thể tìm thấy trong một cộng đồng nào khác. Bên cạnh đó, áp lực xã hội và những đòi hỏi của thời đại phải khẳng định bản thân là những điều khiến cho chúng ta liên tục phải phóng đại mình lên để nâng cấp chính mình. Những nguyên nhân này được đặt ra thay vì để chỉ trích và phê phán bất cứ một đối tượng nào, thì lên được xem như là những nguyên nhân cốt lõi để chúng ta thấu hiểu hơn về tâm lý con người.

Những vấn đề của chúng ta không phải là duy nhất và do đó mà những đặc tính của chúng ta dĩ nhiên cũng không phải là có một ở trên đời. Do đó mỗi người cần phải cố mà hiểu mình, để đi sâu vào bên trong mình hơn. Thách thức sức nghĩ của bản thân để không khẳng định mình là duy nhất giữa vũ trụ mà có rất nhiều sự ngẫu nhiên này là một cách để chúng ta nhìn thấy chính mình và phát triển được bản thân trong sự toàn diện của nó.
Thêm
43
0
0
Viết trả lời...
Hầu hết chúng ta đều luôn tin rằng mình là người hiểu rõ về bản thân lớn nhất. Chúng ta luôn nghĩ rằng mình là người hiểu bản thân mình hơn tất cả, hơn cả chính bố mẹ chúng ta. Giả thuyết này đã từng được chứng minh như là một quan điểm đúng. Tuyy nhiên, dần dần chúng ta phát hiện ra rằng có lẽ những gì chúng ta biết về mình không thật sự đầy đủ, hoặc chỉ là một phần rất nhỏ trong tính cách thực của chúng ta. Vấn đề này đòi hỏi chúng ta cần phải có những phương cách khác để tìm hiểu được những điểm mù trong tính cách thực của mình. Và mô hình Johari Windows của Joseph Luft và Harry Ingham được phát triển vào năm 1955 đã giải thích cách con người nhìn nhận bản thân trong các mối quan hệ xã hội.

Mô hình này là một mô hình tâm lý học góp phần cải thiện nhận thức bản thân, sự thấu hiểu và giao tiếp giữa các cá nhân. Mô hình phân chia nhận thức về tâm trí con người thành bốn góc phần tư. Bốn góc phần tư này bao gồm vùng mở, vùng mù, vùng ẩn và vùng chưa biết. Vùng mở là những điều mà cá nhân chúng ta và những người khác đều biết về chúng ta, ví dụ như tên chức vụ, một số sở thích công khai hoặc công việc. Vùng mù là những điều mà người khác nhận thấy ở của chúng ta nhưng chúng ta lại không nhận ra, ví dụ như thói quen, cách giao tiếp, thái độ, cách hành xử... Vùng ẩn là những bí mật và những cảm xúc mà chỉ riêng chúng ta biết về bản thân nhưng lại cố tình giấu hoặc chưa chia sẻ với người khác. Vùng ẩn có thể bao gồm những sở thích kỳ lạ, những thói quen bất thường hoặc những sự thay đổi cảm xúc mà chúng ta thường không thể hiện ra với thế giới bên ngoài. Vùng chưa biết là những khả năng cảm xúc hoặc động lực tiềm ẩn mà cả chúng ta và những người khác đều chưa khám phá ra. Đấy có thể xem là một vùng bí mật của riêng mỗi người, nhưng ngay cả chính bản thân họ lại chưa phát hiện ra và thế giới bên ngoài cũng chưa nhìn thấu được vào cái vùng bí mật đó.

Mô hình cửa sổ Johari được nhìn nhận như một phương cách để phát triển bản thân và phục hồi những cảm xúc bên trong. Nó được sử dụng để cho thấy việc phản hồi có thể giúp làm giảm bớt những điểm mù của chúng ta về cách mà người khác nhìn nhận về mình. Nó cũng yêu cầu chúng ta cần phải nhìn sâu hơn vào một con người, bởi những điều mà chúng ta nhìn thấy có lẽ chỉ là một bề mặt trong rất nhiều bề mặt khác đang cần được nhìn nhận và thấu hiểu.

Con người chúng ta thường có xu hướng phát huy vùng mở bởi vì đây là một vùng công khai mà chúng ta có thể hiểu rõ về mình và người khác cũng đều biết về chúng ta. Đây là một cách để chúng ta quảng cáo, xây dựng hình ảnh cho bản thân mình và cũng đồng thời có thể tạo dựng được những mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Chính vì việc tập trung vào những vùng mở và cố gắng để che giấu đi những vùng ẩn mà đôi lúc có những cảm xúc, thái độ bên trong chúng ta liên tục bị che khuất đi bởi chính hành động của chúng ta. Việc này đang đòi hỏi chúng ta cần phải nhìn sâu vào tất cả những vùng khuất trong tâm trí của mình.

Mô hình Johari dĩ nhiên được tạo ra, nhưng nó không hoàn toàn mang tính đa chiều và có thể áp dụng hiệu quả đối với tất cả các cá nhân. Hiệu quả của nó đạt được đến đâu còn phụ thuộc vào cách mà chúng ta sử dụng nó như thế nào. Do đó có lẽ mỗi chúng ta cần học cách để sử dụng mô hình này đúng cách và ứng dụng nó vào trong cuộc sống của chúng ta. Mục tiêu ban đầu của mô hình này đó là mở rộng vùng mở bằng cách giảm bớt các vùng khác.

Để có thể áp dụng được mô hình này trong cuộc sống của chúng ta, việc đầu tiên chúng ta cần làm đó là phải biết cách tự bộc lộ. Tự bộc lộ có nghĩa là chủ động chia sẻ thông tin, cảm xúc và suy nghĩ của bản thân với người khác để thu hẹp vùng ẩn. Điều này mở rộng những thông tin về thế giới bên trong của chúng ta với không chỉ thế giới bên ngoài mà còn là một cách để chúng ta chứng thực những cảm xúc và suy nghĩ của mình. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải tiếp nhận những phản hồi để có thể mở rộng vùng ẩn và thu hẹp vùng mù. Lắng nghe cởi mở những đánh giá, nhận xét của người khác về mình là một cách để thu hẹp những điều mà mình chưa biết về bản thân, mở rộng những điều thuộc về khả thể.

Thế giới nội tâm của con người hóa ra cũng như những cánh cửa sổ. Chúng ta dù theo cách nào đó thì vẫn luôn phải mở những cánh cửa sổ ấy ra để đi đến tận cùng của lòng mình và tận cùng của lòng tha nhân. Nếu có thể, hãy mở tung cánh cửa lòng mình ra để đón nhận thế giới và chạm vào cánh cửa của người khác để hiểu được những suy tư ẩn sâu bên trong họ.
Thêm
30
0
0
Viết trả lời...
Con người chúng ta đang sống trong những cộng đồng tập thể và do đó mà chúng ta không thể tách rời khỏi cộng đồng của mình. Nếu như trong các xã hội thị tộc Nguyên Thủy, con người không thể tách ra khỏi cộng đồng do họ phải phụ thuộc vào nhau để xây dựng nên lối sống tập thể của người săn bắt hái lượm, thì giờ đây chúng ta không thể sống tách rời nhau bởi lẽ chúng ta không phải là một ốc đảo tồn tại biệt lập. Chúng ta cần được sống trong những cộng đồng mà ở đó chúng ta có sự gắn kết với những con người trong cùng một bộ lạc với mình. Do đó, có thể khẳng định con người ở bất cứ thời đại nào cũng luôn cần sự gắn bó.

Một mối quan hệ hạnh phúc không chỉ được quyết định bởi sự hòa hợp về ngoại hình, tính cách, công việc, quan điểm sống hay định hướng tương lai. Hiểu được kiểu gắn bó cũng là yếu tố quan trọng giúp chúng ta lựa chọn đúng đắn, thấu hiểu nhau sâu sắc hơn và cùng nhau vun đắp một mối quan hệ bền vững. Điều này xuất phát từ thuyết gắn bó của nhà tâm lý học người Anh John Bowlby. Thuyết gắn bó giải thích cách các mối quan hệ ban đầu giữa trẻ sơ sinh và người chăm sóc định hình sự phát triển cảm xúc. Nó chỉ ra rằng trải nghiệm thời thơ ấu quyết định cách chúng ta xây dựng, duy trì và phản ứng trong các mối quan hệ tình cảm khi trưởng thành. Thuyết này áp dụng cho cả mối quan hệ giữa bố mẹ/người nuôi dưỡng và con cái, lẫn mối quan hệ giữa các cặp đôi hay bạn đời. Yếu tố gắn bó được xây dựng không chỉ do sự cung cấp thức ăn, mà còn là sự chăm sóc, tình yêu thương và quan tâm.

Sự gắn bó có thể hình thành nên tính cách, nhân cách và cách hành động sau này của con người. Điều này có phần tương đương với thuyết “phân tâm học” của Freud khi cho rằng những hành động của chúng ta bị chi phối bởi những sự kiện diễn ra trong quá khứ, đặc biệt là trong tuổi thơ. Có 4 kiểu gắn bó, đó là gắn bó an toàn, gắn bó lo âu, gắn bó né tránh và gắn bó lo âu – né tránh. Tùy thuộc vào cách chúng ta nhận được sự gắn bó mà nhân cách của chúng ta được quyết định sẽ phát triển theo hướng nào. Đứa trẻ lớn lên trong môi trường an toàn, được yêu thương, bảo vệ thì sẽ phát triển nhiều theo hướng tích cực, có đạo đức. Việc phát triển tiêu cực sẽ xuất hiện ở những đứa trẻ lớn lên trong mối quan hệ xa cách, bị ghẻ lạnh hoặc bạo hành.

Chúng ta luôn cần nhận thức sự gắn bó của mình trong bất cứ một mối quan hệ nào. Bởi lẽ, nhận diện sự gắn bó là cách để chúng ta không phụ thuộc. Chúng ta nhận được sự yêu thương, chăm sóc nhưng không vì thế mà trở nên thiếu động lực. Chúng ta lớn lên trong sự tiêu cực nhưng không vì thế mà đem đến sự tiêu cực cho thế hệ tiếp theo. Nhận diện sự gắn bó cũng là cách để chúng ta phát triển tính cách của mình tốt hơn, biết cách nhận diện cảm xúc, nhạy cảm với những vấn đề thuộc về sự đối xử. Những con người có khả năng này thường sẽ rất tinh tế, biết cách ứng xử và không để mình bị chịu sự thiệt thòi.
Thêm
29
0
0
Viết trả lời...
Đến bao giờ thì đàn ông mới được giải thoát khỏi thuyết tam Bất hủ? Trong văn hóa trung đại, "tam bất hủ" bao gồm lập đức, lập công, lập ngôn là ba yêu cầu dành cho đấng nam nhi và cũng là những yêu cầu dành cho người quân tử. Người đàn ông trong xã hội phong kiến Việt Nam luôn luôn cảm thấy trăn trở về phần trách nhiệm bên trong mình. Việc họ không thể lập đức, lập công, lập ngôn trong xã hội phong kiến là một điều khiến cho họ cả đời luôn day dứt khôn nguôi. Quan niệm này ảnh hưởng đến người đàn ông không chỉ trong xã hội trung đại mà còn là đến thời hiện đại. Đây cũng không chỉ là câu chuyện của riêng nghĩa xã hội phương Đông mà còn là quan điểm đã đi sâu vào trong tâm thức của những con người trong các xã hội cộng đồng khác. Chúng ta đang nói đến sự cân bằng giới, đem lại quyền lợi công bằng cho người phụ nữ vốn dĩ rất thiệt thòi. Tuy nhiên, đã đến lúc chúng ta cần giải thoát người đàn ông khỏi những chuẩn mực về bổn phận và định kiến, để người đàn ông thoát khỏi những khủng hoảng của nam giới.

Trong tư tưởng triết học nho giáo, thuyết tam bất hủ chỉ ra ba tiêu chuẩn cao nhất để lưu danh muôn đời của một bậc đại trượng phu. Thuyết này bao gồm việc lập đức, lập công và lập ngôn. Lập đức có nghĩa là giữ gìn đạo đức, rèn luyện nhân cách tốt đẹp và cống hiến cho xã hội. Đây là giá trị cốt lõi và bền vững nhất. Lập công có nghĩa là cống hiến tài năng để lập nên những thành tựu lớn lao, mang lại ấm no, bình yên cho dân chúng và đất nước bằng công danh của mình. Lập ngôn có nghĩa là đúc kết trí tuệ, để lại những tư tưởng học thuyết hoặc những lời dạy bảo quý giá cho đời sau. Lập đức và lập công là tiêu chuẩn để lập ngôn, để cất lên tiếng nói của trang nam nhi ở trong đời.

Quan điểm Tam Bất Hủ là một trong những quan điểm có ảnh hưởng rất lớn đến người đời sau. Những trang trí sĩ coi trọng việc tề gia trị quốc, bình thiên hạ đều xem thuyết tam bất hủ như là khuôn vàng thước ngọc để rèn luyện bản thân. Quan điểm này đã đi sâu vào tâm thức của những con người phương Đông. Nó không chỉ là một lời giảng dạy của cổ nhân mà đó còn là bổn phận, là trách nhiệm và hơn hết là lẽ sống ở đời của trang nam nhi.

Tuy nhiên, tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta vượt thoát ra khỏi những quan điểm này trong xã hội hiện đại để có thể trả người đàn ông trở về với nguyên bản của họ. Người đàn ông trong xã hội hiện đại hay bất kỳ giới tính nào đều cần có sự công bằng và sự tôn trọng. Họ không cần phải trở thành trang nam nhi trong mắt của bất kỳ đối tượng nào. Giờ đây, họ là chính họ với những cảm xúc của con người, với khát khao được đồng cảm và thấu hiểu của con người, đi cùng với đó là những bản năng sinh học của người đàn ông. Do đó, họ cũng sẽ cảm giác bị cô đơn, lạc lõng và mất đi sự tự tin khi thế giới liên tục đặt lên họ những kỳ vọng khổng lồ. Theo nghiên cứu chỉ ra rằng, 71% người Mỹ tin rằng một người đàn ông phải có khả năng chu cấp tài chính cho gia đình thì mới xứng đáng trở thành một người đàn ông tốt. Bối cảnh xã hội của chúng ta ngày hôm nay quả thực là một bối cảnh đang đặt mục đích thực dụng lên hàng đầu, giá trị của con người bắt đầu được nhìn nhận theo việc họ kiếm được bao nhiêu tiền, đãi ngộ hàng tháng của họ ra sao.

Điều này có thể dễ dàng trở thành nguyên nhân của khủng hoảng cô đơn ở Nam Giới. Những số liệu về mức độ rối loạn lo âu và trầm cảm ở nam giới đã cho chúng ta một cái nhìn khác về hình ảnh của người đàn ông. Họ không phải là anh hùng và cũng không cần phải là những anh hùng. Họ cần được tồn tại như những gì họ vốn có và được xã hội tôn trọng. Những tổn thương của họ cần được xã hội lắng nghe và thấu hiểu, hơn là bị đặt lên đó những lời chê bai và miệt thị. Chừng nào xã hội của chúng ta là một xã hội lắng nghe được tiếng nói bình đẳng ở cả hai giới mà không có sự chênh lệch giữa bất kì một định kiến nào, xã hội đó mới có thể trở thành một xã hội văn minh để tất cả mọi người được nói lên tiếng nói của mình. Theo dòng thời gian, chúng ta thấy được những tiếng nói phản kháng của người phụ nữ trong việc chống lại những lễ giáo phong kiến và định kiến xã hội. Còn giờ đây, chúng ta lại khao khát được lắng nghe một tiếng nói chống lại những thứ định kiến giới đang tồn tại sâu trong tâm thức của mỗi người. Và tôi nghĩ, không gì tốt hơn là tiếng nói đó xuất phát từ bên trong chúng ta, dù chúng ta ở bất cứ giới nào.
Thêm
37
0
0
Viết trả lời...
Nhân loại đã bước vào năm 2026, nhưng những câu chuyện của chúng ta thì vẫn mãi ở lại những năm 2018. Người khác thi mải mê trò chuyện những vấn đề của hiện đại, những câu chuyện mua sắm, du lịch, vui chơi bên gia đình. Nhưng chúng ta thì vẫn mãi đắm chìm trong cái quá khứ về một mùa tết năm 2018 về mùa tết đẹp đẽ nhất, nơi mà có cả mẹ và ba vẫn ở đó chờ đợi ta sau những mỏi mệt của đô thành. Câu chuyện mà chúng ta nói với những người xung quanh ta khi đó được gọi là "out meta".

Out meta dĩ nhiên hoàn toàn không phải là một trạng thái tiêu cực. Đây là trạng thái mà khi câu chuyện của chúng ta không còn phù hợp với điều kiện thực tại, nằm ngoài những xu hướng của thực tại hoặc nằm trong vùng chưa được cập nhật của những con người hiện đại. Câu chuyện của họ quan tâm đến những vấn đề của ngày hôm nay, đến những câu joke của ngày hôm nay, những câu chuyện của chúng ta lại tập trung vào những sự kiện đã từng xảy ra trong quá khứ không còn hợp thời - khi đó ta nghiễm nhiên bị nhìn nhận như là một người đã bước ra khỏi cuộc chơi. Mà nói ngắn gọn ra thì là một người out meta.

Tôi không hiểu được cảm giác của những người out meta khi họ liên tục hoài niệm hoặc bước vào những câu chuyện trong quá khứ là gì. Nhưng tôi nghĩ rằng cái cảm giác hoài niệm và muốn tìm lại cuộc nói chuyện năm xưa hoàn toàn không phải là một cảm giác lỗi thời hay là một cảm giác tiêu cực mà chúng ta liên tục tạo ra để chê bai những người đó. Tôi đã từng xem những video trên Tiktok về những câu chuyện out meta như vậy và tôi không hiểu ý nghĩa của việc chúng ta lên án điều này là gì, và liệu nó có phải là một vấn đề cần được đưa ra để joke hay không. Đối với một con người yêu thích sự hoài cố như tôi, tôi cảm thấy rằng đây cũng là một trạng thái khá thú vị của việc chúng ta liên tưởng đến những câu chuyện trong quá khứ mà mình đã liên tục đánh mất đi.

Chắc chắn chúng ta còn nhớ đến những năm Covid 19 năm 2021 khi mà mạng xã hội bùng nổ với những trend Tiktok có khả năng gây xu hướng giữa cộng đồng mạng. Mạng xã hội khi đó còn khá sạch sẽ, không có sự toxic. Và khi đó là lúc mà con người được thể hiện những cá tính riêng của mình, những câu chuyện hài hước mang đặc trưng riêng của mình, đặc biệt là ở người trẻ. Các bạn trẻ đưa lên Tiktok những câu chuyện rất mới, rất riêng, đem lại sự hài hước và vui vẻ cho những con người đang phải chìm đắm trong nỗi lo vì bệnh dịch. Tiktok cũng là nơi mà các nhân viên y tế gửi đến nhân dân những lời động viên, khích lệ, những câu chuyện vui thì xua tan biến nỗi lo lắng của họ.

Và tôi thắc mắc rằng liệu việc nhắc đến những trend Tiktok trong thời điểm đó có gọi là out meta hay không? Bởi vì tôi nghĩ rằng đó là một cách để chúng ta nhớ lại quá khứ, tìm về với quá khứ và những câu chuyện năm xưa. Lý do tại sao chúng ta liên tục cảm thấy rằng những trend tiktok ngày xưa bây giờ không còn hay nữa, đó là bởi mạng xã hội liên tục tạo ra những content mới thu hút chúng ta hơn. Não bộ liên tục tiếp nhận những dopamine. Dần dần, việc tiếp nhận dopamine trở nên quá tải. Con người trở nên chưa lý cảm xúc và liên tục đào thải những nội dung đã từng xuất hiện trên mạng xã hội để chạy theo những trào lưu mới xuất hiện hàng ngày. Đó là lý do mà người ta không thích việc cái cũ xuất hiện. Người ta chỉ thích những người tạo trend, thích những câu nói hot hit và mang dấu ấn riêng của giới trẻ để họ có những câu chuyện để bàn luận với nhau.

Vì vậy out meta xuất hiện như một thuật ngữ để nói về những người liên tục bị lạc loài trong cuộc chơi hiện đại. Họ bị đẩy ra khỏi vòng xu hướng. Chỉ bởi vì họ quay về với quá khứ và với những gì đã có mà đã bị xã hội loại bỏ hoặc lãng quên đi. Có lẽ họ còn nhớ đến những câu chuyện đó, bởi nó gắn với một ký ức, một kỷ niệm hoặc một cảm giác rất tích cực nào đó đã từng xuất hiện trong tâm trí của họ. Thế nhưng những trào lưu của mạng xã hội lại đẩy họ trở thành kẻ lạc loài. Về vấn đề này, tôi cảm thấy vừa thấu hiểu nhưng cũng vừa thấy buồn. Thấy thấu hiểu bởi lẽ người trẻ là những con người muốn khao khát hướng về phía trước, việc họ bỏ quên phía sau cũng là một điều rất dễ để hiểu được. Thế nhưng tôi thấy buồn khi mà những câu chuyện trong quá khứ sẽ cũng dễ dàng bị đẩy ra vùng ngoại biên và rơi vào trong vùng lãng quên của một thời đại content mới.
Thêm
46
0
0
Viết trả lời...
Thế hệ mà chúng ta lớn lên không chỉ là "screenagers" - thế hệ lớn lên cùng với màn hình điện thoại. Chúng ta không chỉ đơn thuần nhìn thấy sự vô cảm và những vấn đề sâu sắc của xã hội hôm nay thông qua màn hình điện thoại. Những vấn đề cần nhìn thấu của xã hội đang cần được nhìn thấy ngay trong cuộc sống ngày hôm nay của chúng ta, ngay trong cách mà chúng ta đánh giá những vấn đề xung quanh mình. Có lẽ một trong những vấn đề quan trọng nhất trong đời sống của chúng ta ngày hôm nay, đó là con người với môi trường sinh thái. Thế hệ mà chúng ta đang lớn lên ngày hôm nay không phải là một thế hệ với cánh đồng quê rộng lớn, với những con dế, với tiếng chim kêu ngoài đồng hay với những cánh diều. Bây giờ đã là thời đại của những cánh rừng bị tàn phá, những loài vật không có nơi nương tựa và môi trường bị ô nhiễm trầm trọng.

Tôi thực sự băn khoăn rằng nếu như một ngày nào đó hiện thực sẽ diễn ra. Những cánh rừng sẽ thực sự biến mất, các loài vật sẽ thực sự tuyệt chủng và con người là những sinh vật duy nhất còn tồn tại trong thế giới này thì thế giới của chúng ta sẽ ra sao? Tôi đã bắt đầu nhìn thấy những sự lụi tàn đi của những cảnh vật, loài vật xung quanh mình. Trong ký ức của tôi, bông hoa thủy tiên đã bắt đầu nở vào tháng một, như một minh chứng cho việc đời sống tự nhiên đang bị thay đổi và cuộc sống của các loài sinh vật cũng đang bị biến đổi theo một chiều hướng bất ngờ mà con người không thể dự đoán trước.

Thiên nhiên đã từng tồn tại như một vật thể chịu sự tác động của con người. Con người trước đây đóng vai trò như một vị chúa tể trong muôn loài, là loài vật duy nhất có thể gây tác động lên các loài muôn thú và cỏ cây. Tuy nhiên, giờ đây vấn đề sinh thái đang yêu cầu chúng ta phải nhìn nhận lại về vị thế của con người. Con người rõ ràng trong thời đại này không còn là chúa tể. Chúng ta đang phải chịu sự phán xét và những câu hỏi của tự nhiên về sự tồn tại của chúng.

Thiên nhiên giờ đây có liên quan mật thiết đến những vấn đề của xã hội, loài người liên tục độc lập trong sự đối sánh với những vấn đề đó. Điều này có nghĩa là thiên nhiên bây giờ không chỉ là một phông nền hay một đối tượng để miêu tả, mà nó đã được nâng lên cao hơn. Nó đã trở thành chủ thể của sự miêu tả, là đối tượng mà con người phải hướng đến để mổ xẻ và phân tích những trạng thái của tự nhiên. Bởi lẽ giờ đây chỉ những trạng thái rất nhỏ thôi cũng có thể cho thấy sự nổi loạn của tự nhiên trước sự vô ý thức của con người. Một vấn đề khi tự nhiên được đặt trong sự đối sánh với con người, đó là mối quan hệ giữa tự nhiên và người phụ nữ trong xã hội cũ. Tôi đã từng được đọc vấn đề này trong cuốn sách của thầy Trần Văn Toàn về việc thiên nhiên giờ đây cũng giống như người phụ nữ, khi mà thiên nhiên liên tục bị chiếm hữu bởi con người và người phụ nữ thì liên tục bị chiếm hữu bởi người đàn ông.

Giờ đây chúng ta phải đối diện với việc thiên nhiên đang chất vấn chúng ta về ý thức của mỗi con người khi đối xử với chúng. Người trẻ giờ đây lớn lên trong một thế giới mà những sự kiện thời tiết cực đoan không còn là bất thường, mà nó đã là những vấn đề dễ dàng xảy ra, được cảnh báo hằng ngày. Khi những sự kiện này liên tục vượt ra khỏi ngưỡng tiếp nhận của con người, sự cực đoan sẽ dần trở thành sự bình thường. Con người sẽ học cách "sống chung với lũ" và sống chung luôn với cả những sự kiện thời tiết nguy hiểm này.

Tuy nhiên, tôi cho rằng nếu như chúng ta đang sống trong một thế giới mà thiên nhiên ngày càng bị hủy hoại, thậm chí có nguy cơ không thể tồn tại được, thì việc một ngày hậu thế sẽ không được nhìn thấy màu xanh của tự nhiên là một điều hoàn toàn có thể xảy ra. Vấn đề này được đặt ra trước hết là để cảnh báo con người, khiến cho con người cảm thấy sợ hãi trong những điều họ đã làm, đang làm và những điều họ sẽ phải gánh chịu nếu như họ tiếp tục làm những hành động vô ý thức như vậy. Thiên nhiên muốn chúng ta có cái nhìn khác về vị thế của mình.

Thiên nhiên muốn chúng ta nhìn nó như là một vật đồng hành chứ không phải là một vật thể chịu sự chi phối và tác động. Con người dù nhìn nhận mình ở vị thế nào thì cũng hãy giữ cho mình ý thức bảo vệ tự nhiên, trân trọng hệ sinh thái mà chúng ta đang sống, để thứ mà chúng ta để lại cho thế hệ sau là một không gian thiên nhiên tuyệt mỹ và mang tính chữa lành.
Thêm
46
0
0
Viết trả lời...
Trong xã hội của chúng ta, tình trạng cô đơn càng ngày càng được cảnh báo như là một vấn đề sức khỏe và xã hội cần được chú ý hơn ở những người trẻ. Tình trạng cô đơn này xảy ra khi mà chúng ta có quá nhiều kết nối ảo nhưng lại mất đi kết nối thực do xã hội qua phát triển và còn người có quá nhiều mối bận tâm hơn là việc kết nối với những người xung quanh. Việc này còn đến từ tâm lý riêng của mỗi người khi họ sợ phải tiếp xúc với thế giới bên ngoài, sợ những tiếp xúc có thể khiến cho họ bị tổn thương như những gì đã từng xảy ra trong quá khứ. Điều này thực sự là một vấn đề cần được nhìn nhận sâu hơn. Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng việc cô đơn không thực sự đáng sợ nếu như trong thời gian cô đơn chúng ta học cách để làm lành với chính mình và học cách để đối diện với thế giới bên ngoài.

Cô đơn là một trạng thái được ghi nhận nhiều ở những người trẻ, bởi lẽ trong giai đoạn phát triển họ thường cảm thấy cô đơn hơn vì những áp lực trong cuộc sống hoặc sự đứt gãy của những mối quan hệ. Trải qua cảm giác cô đơn có nghĩa là chúng ta đã trưởng thành, bởi vì đây thường là cảm giác mà những người trưởng thành cảm nhận sâu sắc nhất. Đây là lúc mà chúng ta hoàn toàn cảm thấy bị tách rời khỏi các mối liên hệ với thế giới xung quanh. Tình trạng này có thể kéo theo các hệ lụy tiêu cực về sức khỏe tinh thần nếu như không được thấu hiểu và sẻ chia kịp thời.

Chúng ta đang sống trong một thời đại liên tục phải chịu đựng những áp lực. Người trẻ ngày nay sống trong thời kỳ được kết nối đa chiều với các nền tảng mạng xã hội, được gặp gỡ nhiều con người mới, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa mới. Nhưng nghịch lý thay, đó cũng là lúc mà họ phải đối diện với tỷ lệ cù lập và cô đơn cao nhất. Những kết nối ảo thường không đem lại cho họ sự thỏa mãn và ngược lại chỉ khiến họ rơi vào hố sâu hơn và sự cô đơn và bi kịch. Người trẻ thường phải luôn xây dựng hình ảnh vui vẻ, tích cực với thế giới bên ngoài, nhưng khi đối diện với chính bản thân mình, họ lại phải cảm nhận sự cô đơn và mất mát bên trong.

Cô độc, thực ra không đáng sợ. Nó là cách để ta làm lành với chính mình, tìm lại những cảm xúc bị đánh mất bên trong. Nó có thể là một cách để chúng ta ngồi lại, nhìn nhận vào những cảm xúc bên trong mình, để hiểu được mình đang thực sự cảm thấy như thế nào. Nếu như trong xã hội hiện đại, chúng ta thường dễ dàng đánh mất đi những cảm xúc chỉ vì vội vàng chạy theo cảm xúc của người khác, hoặc đơn giản là chạy theo những deadline mà không có thời gian để thấu hiểu thế giới bên trong của mình, thì cô đọc chứng là lúc chúng ta buộc phải nhìn lại xem mình đang trải qua điều gì, điều đó có ý nghĩa như thế nào và mình phải làm cách nào để vượt qua sự cô độc đó. Sự cô độc thực chất không bao giờ là sự đáng sợ. Nó chỉ đáng sợ khi chúng ta không thể vượt qua được nó và mãi mãi chìm trong những cảm xúc tiêu cực của mình.

Nhà nghiên cứu trong một buổi phỏng vấn đã từng nói rằng cô đơn mang sức mạnh đặc biệt bởi nó giúp phát triển năng lực ngồi một mình để đối diện với chính mình. Ông cũng cho rằng cô độc là chìa khóa để hòa tan sách vở vào tình ý thực của bản thân và tiêu hóa tri thức. Điều này có nghĩa là sự cô độc cần thiết cho việc giáo dục, bởi nó tạo ra một không gian riêng tư, nơi chúng ta được đối diện với những kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng của bản thân để từ đó tìm ra một kiến thức riêng cho mình. Chính trong không gian tĩnh lặng, chúng ta có nhiều thời gian hơn để suy ngẫm và nhìn nhận vấn đề, những nút thắt cũng theo đó mà được cởi bỏ. Vấn đề không chỉ được triển khai mà còn được nhìn nhận theo những cách khác nhau, để chúng ta được tư duy phản biện, được nhìn vấn đề ở những góc nhìn khác nhau.

Sau một tuần học tôi thường dành ra cho mình những ngày cuối tuần là thời gian cô độc. Đó là lúc mà tôi không tiếp nhận thêm những kiến thức mới, mà dành thời gian để đọc lại những kiến thức đã có và suy ngẫm sâu sắc về nó để hiểu được mình sẽ vận dụng kiến thức đó trong trường hợp nào. Đó là lúc mà tôi hiểu sâu sắc nhất về giá trị của sự cô độc, và tôi nghĩ rằng sự cô độc không đáng sợ. Trong sự cô độc vẫn có năng lượng tích cực để chúng ta có thể hoàn thành công việc một cách có ý nghĩa nhất.
Thêm
44
0
0
Viết trả lời...
Nhân loại đã bước vào năm 2026, nhưng những câu chuyện của chúng ta thì vẫn mãi ở lại những năm 2018. Người khác thi mải mê trò chuyện những vấn đề của hiện đại, những câu chuyện mua sắm, du lịch, vui chơi bên gia đình. Nhưng chúng ta thì vẫn mãi đắm chìm trong cái quá khứ về một mùa tết năm 2018 về mùa tết đẹp đẽ nhất, nơi mà có cả mẹ và ba vẫn ở đó chờ đợi ta sau những mỏi mệt của đô thành. Câu chuyện mà chúng ta nói với những người xung quanh ta khi đó được gọi là "out meta".

Out meta dĩ nhiên hoàn toàn không phải là một trạng thái tiêu cực. Đây là trạng thái mà khi câu chuyện của chúng ta không còn phù hợp với điều kiện thực tại, nằm ngoài những xu hướng của thực tại hoặc nằm trong vùng chưa được cập nhật của những con người hiện đại. Câu chuyện của họ quan tâm đến những vấn đề của ngày hôm nay, đến những câu joke của ngày hôm nay, những câu chuyện của chúng ta lại tập trung vào những sự kiện đã từng xảy ra trong quá khứ không còn hợp thời - khi đó ta nghiễm nhiên bị nhìn nhận như là một người đã bước ra khỏi cuộc chơi. Mà nói ngắn gọn ra thì là một người out meta.

Tôi không hiểu được cảm giác của những người out meta khi họ liên tục hoài niệm hoặc bước vào những câu chuyện trong quá khứ là gì. Nhưng tôi nghĩ rằng cái cảm giác hoài niệm và muốn tìm lại cuộc nói chuyện năm xưa hoàn toàn không phải là một cảm giác lỗi thời hay là một cảm giác tiêu cực mà chúng ta liên tục tạo ra để chê bai những người đó. Tôi đã từng xem những video trên Tiktok về những câu chuyện out meta như vậy và tôi không hiểu ý nghĩa của việc chúng ta lên án điều này là gì, và liệu nó có phải là một vấn đề cần được đưa ra để joke hay không. Đối với một con người yêu thích sự hoài cố như tôi, tôi cảm thấy rằng đây cũng là một trạng thái khá thú vị của việc chúng ta liên tưởng đến những câu chuyện trong quá khứ mà mình đã liên tục đánh mất đi.

Chắc chắn chúng ta còn nhớ đến những năm Covid 19 năm 2021 khi mà mạng xã hội bùng nổ với những trend Tiktok có khả năng gây xu hướng giữa cộng đồng mạng. Mạng xã hội khi đó còn khá sạch sẽ, không có sự toxic. Và khi đó là lúc mà con người được thể hiện những cá tính riêng của mình, những câu chuyện hài hước mang đặc trưng riêng của mình, đặc biệt là ở người trẻ. Các bạn trẻ đưa lên Tiktok những câu chuyện rất mới, rất riêng, đem lại sự hài hước và vui vẻ cho những con người đang phải chìm đắm trong nỗi lo vì bệnh dịch. Tiktok cũng là nơi mà các nhân viên y tế gửi đến nhân dân những lời động viên, khích lệ, những câu chuyện vui thì xua tan biến nỗi lo lắng của họ.

Và tôi thắc mắc rằng liệu việc nhắc đến những trend Tiktok trong thời điểm đó có gọi là out meta hay không? Bởi vì tôi nghĩ rằng đó là một cách để chúng ta nhớ lại quá khứ, tìm về với quá khứ và những câu chuyện năm xưa. Lý do tại sao chúng ta liên tục cảm thấy rằng những trend tiktok ngày xưa bây giờ không còn hay nữa, đó là bởi mạng xã hội liên tục tạo ra những content mới thu hút chúng ta hơn. Não bộ liên tục tiếp nhận những dopamine. Dần dần, việc tiếp nhận dopamine trở nên quá tải. Con người trở nên chưa lý cảm xúc và liên tục đào thải những nội dung đã từng xuất hiện trên mạng xã hội để chạy theo những trào lưu mới xuất hiện hàng ngày. Đó là lý do mà người ta không thích việc cái cũ xuất hiện. Người ta chỉ thích những người tạo trend, thích những câu nói hot hit và mang dấu ấn riêng của giới trẻ để họ có những câu chuyện để bàn luận với nhau.

Vì vậy out meta xuất hiện như một thuật ngữ để nói về những người liên tục bị lạc loài trong cuộc chơi hiện đại. Họ bị đẩy ra khỏi vòng xu hướng. Chỉ bởi vì họ quay về với quá khứ và với những gì đã có mà đã bị xã hội loại bỏ hoặc lãng quên đi. Có lẽ họ còn nhớ đến những câu chuyện đó, bởi nó gắn với một ký ức, một kỷ niệm hoặc một cảm giác rất tích cực nào đó đã từng xuất hiện trong tâm trí của họ. Thế nhưng những trào lưu của mạng xã hội lại đẩy họ trở thành kẻ lạc loài. Về vấn đề này, tôi cảm thấy vừa thấu hiểu nhưng cũng vừa thấy buồn. Thấy thấu hiểu bởi lẽ người trẻ là những con người muốn khao khát hướng về phía trước, việc họ bỏ quên phía sau cũng là một điều rất dễ để hiểu được. Thế nhưng tôi thấy buồn khi mà những câu chuyện trong quá khứ sẽ cũng dễ dàng bị đẩy ra vùng ngoại biên và rơi vào trong vùng lãng quên của một thời đại content mới.
Thêm
65
0
0
Viết trả lời...