Mạng xã hội Văn học trẻ

Thế giới hiện đại là nơi cơ hội rất rộng mở và bao dung cho những người mới. Tuy nhiên nó không được phân phát một cách miễn phí và không phải ai cũng dễ dàng để nhận được đặc quyền của nó. Bởi vậy trong cuộc sinh tồn này, chúng ta liên tục phải đấu tranh và chiến đấu không ngừng để biến giấc mơ thành sự thật. Hành trình đó đòi hỏi phải đổ mồ hôi, công sức và rất nhiều hy sinh. Sau rất nhiều đấu tranh và sự trưởng thành, chúng ta sẽ dần nhận ra rằng những ước mơ của mình là một hành trình cần phải liên tục đấu tranh để chạm vào được nó. Giấc mơ nơi phố thị rất bao dung và rộng lớn, nhưng nó cũng đồng nghĩa với việc chúng ta có thể sẽ thất bại trong sự rộng lớn của nó. Không phải ai cũng đủ khả năng để có thể mạnh mẽ vượt qua được cảm giác này, nhưng nếu như chúng ta vượt qua được cảm giác đó thì hành trình chạm tới giấc mơ lại thực sự là một hành trình vô cùng đáng nhớ trong tuổi trẻ của mỗi người.

Và liệu có phải chính vì quá rộng lớn nên con người dễ cảm thấy cô đơn? Tôi từng đọc những câu chuyện về giấc mơ của những người trẻ ở những thành phố lớn. Họ cũng là những người như chúng ta, cũng từng mơ về những giấc mơ xa và hy vọng về một kết quả nơi mình gieo mầm. Tuy nhiên, sau những hành trình vươn xa, họ dần nhận ra rằng giấc mơ rất khó để chạm đến giữa phố thị phồn hoa dường như chúng ta khó để chạm đến những người xung quanh mình, và đó là lý do chúng ta cô đơn.

Nhiều bạn trẻ gieo giấc mơ của mình ở một thành phố lớn, rộng đến mức tưởng như cả thế giới thu nhỏ lại trong đất nước ấy. Trong đất nước đó, họ gặp rất nhiều những người khác nhau, những cộng đồng khác nhau, được tiếp xúc với những nền văn hóa ở bên ngoài mình. Song song với việc đó, họ được tiếp xúc với những thứ rất mới lạ mà họ có thể chưa từng gặp ở đất nước mình. Đây là một hành trình rất rộng lớn để khám phá một thế giới nằm ở phía khác mình.

Thế giới hiện đại giờ đây đặt ra rất nhiều thách thức cho người trẻ. Thế giới rộng lớn bao dung đủ để tạo nên một bệ phóng, nhưng nó cũng rất lạnh lùng và tàn nhẫn khi đào thải những người không có khả năng trong không gian của phố thị. Con người là những sinh vật liên tục ngụp lặn, trong đó người này ngoi lên thì người khác lại lặn xuống. Một hành trình có liên tục như vậy diễn ra tạo nên những sự bất bình đẳng. Người này giàu hơn và người kia lại có hoàn cảnh khó khăn hơn. Hai trạng thái này tồn tại song song với nhau, đôi lúc nó bổ trợ cho nhau hoặc nó cản trở nhau.

Tôi nhận ra rằng những hành trình đi xa đó cuối cùng lại là sự chờ đợi cho một cách để trở về sau những chuyến đi xa, tôi nhận ra mình không chỉ mong chờ những lần được ngồi lên máy bay đi xa mà còn là những lần được mong ngóng chuyến về nhà, mang theo những món quà ở nơi xa về cho bố mẹ. Với tôi, cảm giác đó cũng thiêng liêng vô cùng. Đó là cảm giác khi mình đã trưởng thành đủ để đến một nơi xa một mình mà không cần có bố mẹ, và đó là khi mà mình trở về được nhìn thấy bố mẹ vẫn luôn ở nơi đó chờ đợi mình. Tôi nghĩ có lẽ bất cứ đứa trẻ đi xa nào cũng đã từng được trải nghiệm cảm giác đó.

Tôi nghĩ rằng, sự khắc nghiệt của phố thị bất cứ người trưởng thành nào cũng đã từng phải trải qua. Chúng ta không thể chối bỏ cảm giác đó ở bên trong mình và chối bỏ cái sự ồn ào của phố thị này đôi lúc chính tôi cũng cảm thấy ghét bỏ sự ồn ào của nơi đô thành, nơi mà rất nhiều những tình cảm nhỏ bé bị tước bỏ đi, chỉ còn lại đó cái khao khát kiếm tiền kiếm thật nhiều tiền và xung quanh cuộc sống của mình lúc nào cũng cần đến tiền. Tuy nhiên, đôi lúc tôi lại cảm thấy yêu chính cái không gian phố thị nơi mà rất khắc nghiệt và xô bồ này, bởi lẽ đó là nơi mà tôi lớn lên, đó là nơi mà tôi tiếp xúc với những con người khác lạ xung quanh mình được nghe tiếng còi say mỗi ngày, được thấy thành phố của tôi chuyển động, từng bước mạnh mẽ vươn lên trong nhịp sống mưu sinh vừa ngột ngạt, bức bối vừa tự do, phóng khoáng.
Thêm
59
0
0
Viết trả lời...
Mới đây, Pop Mart cùng Cry me an Ocean đã mang đến Singapore triển lãm gồm 11 không gian trải nghiệm, trong đó bảy loài sinh vật biển được lựa chọn để nói thay những sự cô đơn, áp lực, thương tổn và những nỗi đau mà con người hiện đại luôn khát khao được thấu hiểu. Mỗi tạo hình nhân vật không chỉ phản chiếu một đặc tính trong không gian sống của loài vật đó ở dưới đại dương mà còn đồng thời bước vào những tầng sâu trong nội tâm của con người. Thông qua buổi triển lãm với những sinh vật dễ thương này, chúng ta sẽ có thêm nhiều hơn một góc nhìn về những nỗi đau mà bản thân mình đang phải gánh chịu nhưng lại không muốn cho thế giới nhìn thấy, mặc dù nghịch lý là chúng ta lại luôn muốn được thấu hiểu.

Trước hết, đó là nỗi sợ trở thành kẻ lập dị của nhân vật cá cần câu hay còn gọi là cá lồng đèn đây là loài cá sống ở độ sâu hơn 1500 mét dưới Đại Dương, nơi ánh sáng mặt trời gần như không thể chạm đến. Đi cùng với những đặc tính này đó là nỗi sợ bị nhìn thấy, sự lập dị và sự cô đơn của nó ở dưới Đại Dương. Để sinh tồn trong không gian đó, loài cá này đã tiến hóa một chiếc lồng đèn phát quang để tạo nên ánh sáng soi đường cho riêng mình. Hình ảnh của loài cá này đã phản ánh nỗi sợ bị trở thành một kẻ lập dị hoặc trở thành một kẻ không thuộc về bất cứ môi trường nào của con người. Chúng ta trong bất cứ thời đại nào luôn muốn được thuộc về một cộng đồng nào đó, được gọi tên, được lắng nghe và được xem như một phần tử của cộng đồng. Do đó, nỗi sợ bị tách biệt, bị bỏ lại phía sau chính là một nỗi sợ nguyên thủy mà chúng ta luôn cảm thấy lo lắng dù ở trong bất cứ thời đại nào. Mẫu hình của loài cá này đã nhắc nhở chúng ta rằng dù cuộc sống có áp lực đến đâu, chúng ta cũng cần phải luôn trở thành ánh sáng cho riêng mình. Nếu như ánh sáng không tồn tại, chúng ta sẽ phải trở thành ánh sáng.

Nỗi sợ bị tổn thương được thể hiện qua hình tượng nhân vật con cá nóc. Con cá nóc luôn được nhìn nhận với hình ảnh tròn xoe với đầy những chiếc gai nhọn. Tuy nhiên, chúng ta không thể chỉ nhìn nó như là một loài động vật nguy hiểm, mà chúng ta phải hiểu những cái gai đó là một phương cách để chúng phản ứng lại trước những tác nhân từ thế giới bên ngoài, để tự bảo vệ mình khỏi những tổn thương ở bên ngoài kia. Khi cảm nhận được những sự tấn công từ bên ngoài, loài cá này có thể phồng lên, dựng lên những chiếc gai để khiến kẻ săn mồi dừng bước. trong cuộc sống hiện đại chúng ta đã đôi lần đã trở thành con cá nóc ấy. Chúng ta đã từng phải gồng lên để tự bảo vệ mình, để chống lại những thương tổn mà thế giới ngoài kia đã đem đến đối với chúng ta. Tuy nhiên bên trong chúng ta đều là sự khát khao được yêu thương và nỗi sợ hãi trước những thương tổn.

Nỗi sợ trở thành gánh nặng của một ai đó được thể hiện qua tập tính của cá mập voi đây là loài cá lớn nhất thế giới nhưng lại nổi tiếng hiền lành và thường xuyên có sự hỗ trợ, tương tác với những loài cá khác trong hệ sinh thái đại dương. Việc này đôi lúc tạo nên những lực cản lớn, khiến cho chúng có thể cảm thấy bị áp lực, nhưng chúng vẫn không dừng lại việc giúp đỡ những người bạn cùng nhà của mình. Trong cuộc sống của chúng ta cũng như vậy. Chúng ta rất dễ để cho đi. Chúng ta rất dễ để chào đi yêu thương cho người khác thậm chí không đòi hỏi sự trả ơn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chúng ta lại sợ phải cầu xin sự giúp đỡ từ người khác, lo lắng khi biến mình trở thành một nỗi gánh nặng của những người xung quanh. Điều này khiến cho chúng ta luôn không thể tồn tại trong một trạng thái cân bằng, cho đi trong sự hồn hậu nhưng lại không dám nhận về những thứ mà mình xứng đáng được nhận. Hình tượng cá voi trong buổi triển lãm đã nhắc nhở chúng ta hãy biến những trọng trách lớn mà chúng ta phải gánh chịu trở thành một cuộc đồng hành và hãy học cách để chấp nhận sự giúp đỡ từ người khác.

Những nỗi sợ cứ liên tục tồn tại như vậy ở bên trong mỗi chúng ta mà có lẽ chẳng có cách nào để có thể xoa dịu đi được. Vì vậy, cuộc triển lãm này dường như là một cách để chúng ta quay về bên trong mình, tạo nên vùng an toàn cho mình để xoa dịu những tổn thương đã ở đó rất lâu bên trong mình. Đừng biến những tổn thương trở thành đại dương đen qua những cảm xúc tiêu cực khiến cho chúng ta mãi mãi không thể bước qua được. Hãy trở thành ánh sáng của mình để vượt qua nó một cách kiêu hãnh và rực rỡ nhất. Bởi vì ai cũng có những tổn thương cần phải bước qua, quan trọng là chúng ta đã bước qua nó như thế nào.
Thêm
65
0
0
Viết trả lời...
Xã hội hiện đại đúng là cho chúng ta sống trong quá nhiều sự ám ảnh, đặc biệt là sự ám ảnh đến từ công việc. Có bao giờ chúng ta cảm thấy rằng điện thoại đang rung lên tiếng chuông của điện thoại và tin nhắn của công việc, trong khi thực ra là không hề có một âm báo nào hay không? Nếu như chúng ta thường xuyên trải qua cảm giác này thì có lẽ đây là dấu hiệu của hội chứng tiếng rung ảo do tác giả Robert Rosenberger phát hiện. Chúng liên tục cho chúng ta nhầm tưởng rằng chúng ta sắp phải nhận được thông tin từ một nhiệm vụ nào đó mà mình sẽ phải giải quyết. Trong khi thực sự thì chúng ta hoàn toàn không phải giải quyết công việc gì cả, đơn giản vì không có một điện thoại hay chuông báo nào. Con người trong xã hội hiện đại liên tục bị ám ảnh bởi tiếng chuông điện thoại. Đó có thể là tiếng tin nhắn đến của người mà chúng ta yêu thương nhưng đó cũng đồng thời là tin nhắn của chuỗi những áp lực công việc mà chúng ta sắp phải giải quyết.

Hội chứng tiếng rung ảo là cảm giác nhầm tưởng rằng điện thoại đang rung hoặc đổ chuông, trong khi kỳ thực là không hề có một âm thanh nào cả. Vấn đề này đang thực sự xảy ra ở những người lao động trong xã hội hiện đại. Cảm giác âm thanh, tiếng chuông báo đến khiến cho họ cảm thấy bất an, lo sợ và mệt mỏi vì họ nghĩ rằng đó là thông báo những công việc tiếp theo mà họ phải xử lý. Và khi phát hiện rằng không hề có tiếng chuông thông báo nào phát lên thì họ lại cảm thấy nhẹ nhõm bởi vì đơn giản là không có công việc nào mà họ phải xử lý.

Nói đơn giản hơn thì đây cũng có thể là cảm giác khi chúng ta sắp phải dậy đi học thì phát hiện có tin nhắn đến thông báo được nghỉ. Đây có lẽ là cảm giác thỏa mãn có thể nói là một dạng thức thỏa mãn thẩm mỹ của con người hiện đại, khi chúng ta được nghỉ ngơi sau những khoảng thời gian áp lực. Tương tự như vậy, hội chứng tiếng rung ảo cũng đem lại những cảm giác khoái cảm nhưng không phải là cảm giác hạnh phúc mà là cảm giác lo lắng, bất an và mệt mỏi.

Hội chứng này đã phản ánh được tâm lý của con người trong thời đại số, đó là tâm lý luôn lo sợ trước những deadline và những công việc mà chúng ta phải giải quyết. Điều này không cho thấy chúng ta là những người lười biếng, mà bởi lẽ chúng ta đã quá áp lực, đã quá mệt mỏi và liên tục phải chịu những công việc dồn xuống từ cấp trên. Bởi vậy, khi nhìn vào chiếc điện thoại, chúng ta luôn có cảm giác nó sẽ phát ra những âm báo mà trong cái âm báo nó phát ra thì không có gì là một điều tích cực.

Những thông báo trên điện thoại liên tục được tạo ra để thu hút sự chú ý của chúng ta. Điều này khiến cho chúng ta cảm thấy thực sự bất an trước những thông báo tiếp theo của điện thoại. Có lẽ ai cũng đã từng trải qua cảm giác trống trải khi điện thoại không có một thông báo hoặc tin nhắn nào đến, tuy nhiên khi có quá nhiều tin nhắn ồn ào liên tiếp xảy đến thì họ lại cảm thấy mệt mỏi và lo lắng.

Những thông báo liên tục xuất hiện dưới dạng âm báo, một chấm đỏ hay một dòng tin pop up có thể khiến chúng ta bị xao lãng. Nó khiến cho chúng ta liên tục kiểm tra điện thoại và không thể tập trung vào những công việc mà chúng ta đang cần hoàn thành. Việc này diễn ra trong thời gian dài không chỉ ảnh hưởng đến năng suất công việc mà còn tạo ra một cơ hội cho những nền tảng mạng xã hội len lỏi vào trong cuộc sống của chúng ta. Bởi lẽ trong cái thời gian mà chúng ta bị cuốn hút vào chúng thì chúng ta sẽ vô thức lướt để giải trí bằng những trang mạng xã hội.

Tôi luôn nghĩ rằng những vấn đề xảy ra với người hiện đại trong xã hội ngày nay không phải một vấn đề đáng bị lên án để chúng ta nhìn vào sự thiếu hụt của con người. Những vấn đề này được sinh ra luôn cho tôi cảm giác rằng chúng ta cần phải thấu hiểu nhau nhiều hơn, nhìn vào được bản chất tâm lý của nhau nhiều hơn, từ đó đưa ra những giải pháp để chúng ta thôi không lợi dụng những điểm yếu trong tâm lý của nhau để quảng cáo cho lợi ích của mình. Những câu chuyện về con người trong thời đại số thật sự cần được có những giải pháp để chúng ta không có những ám ảnh đối với những thông báo đến trong điện thoại.
Thêm
52
0
0
Viết trả lời...
Cuộc sống bộn bề của thế giới hiện đại đôi khi khiến cho chúng ta cảm thấy dễ dàng bực tức chỉ với những lý do rất nhỏ. Từ đường phố đến nơi làm việc cho đến khi quay trở về nhà, chúng ta liên tục cảm thấy bực tức với cuộc sống xung quanh, dù chỉ vì những lý do rất nhỏ hoặc thậm chí là chẳng vì lý do gì cả. Một trong những không gian khiến cho chúng ta dễ dàng cảm thấy bực tức có lẽ là trên đường phố. Với những người sống ở thành phố lớn thì việc cảm thấy bực tức trên những không gian đường phố, đặc biệt là đường cao tốc, là việc hoàn toàn dễ hiểu. Họ sẽ cảm thấy bực bội trước việc tắc đường, những tiếng còi xe và ánh sáng đèn pha liên tục chiếu vào mắt họ. Việc này có thể gây ra sự bực tức dưới hình thức "road rage" (cơn thịnh nộ trên đường phố).

Road rage thường được dùng để chỉ những hành vi nghiêm trọng và kịch tính trong giao thông, không chỉ là việc con người cảm thấy khó chịu với những sự việc trên đường phố, mà còn chỉ cuộc đối đầu giữa những người lái xe khi mà họ bước ra khỏi xe. Trước đó, nó có thể bắt đầu từ những hành vi rất nhỏ như bấm còi, la hét, cố tình thắng gấp trước mặt người khác hoặc có những hành động tiêu cực trong lúc lái xe. Chẳng hạn, khi tắc đường, việc các xe ô tô lớn liên tục bấm còi có thể gây ra sự tức giận và bực bội bên trong những người lái xe. Việc này có thể trở thành khởi điểm của road rage. Vì vậy thuật ngữ này không chỉ muốn nói đến cảm giác bực bội thông thường mà người ta có thể trút giận lên một vật thể khác. Thuật ngữ này đang đề cập đến việc những người lái xe rơi vào những cuộc đối đầu với nhau chỉ vì những lý do rất nhỏ và bởi những hành động tiêu cực mà họ đã thể hiện trên đường phố.

Thông thường thì hành động này không diễn ra do sự bộc phát mà thường là do một chuỗi hành động kéo dài và bị đẩy lên đỉnh điểm. Chẳng hạn chúng ta có cảm giác tiêu cực từ nhà ra đến đường phố. Sau đó, chúng ta dễ dàng cảm thấy bực tức trước những hành động của những người lái xe xung quanh và không thể kiểm soát được cảm xúc đó khi chúng ta bắt đầu bước vào cuộc chiến với họ. Và lúc này tình huống đó đã bắt đầu giới hạn sự nhẫn nhịn của chúng ta. Việc này có thể liên tục xảy ra trong cuộc sống hiện đại khi mà rất nhiều lý do được tạo ra để chúng ta bực tức.

Do đó, việc bực tức trên không gian giao thông trở nên nguy hiểm bởi nó khiến chúng ta không thể giữ được bình tĩnh trước cơn giận của mình và chúng ta sẽ thay đổi mục tiêu ban đầu. Chẳng hạn, mục tiêu ban đầu của chúng ta là tham gia giao thông an toàn, nhưng vì một sự bực tức nào đó mà mục tiêu này bị thay đổi, trở thành một cuộc cãi cọ, thậm chí là xô xát giữa bản thân và những người lái xe khác. Việc này cũng đồng thời xảy ra khi chúng ta nảy sinh suy nghĩ muốn xô xát với những người lạ ở trên đường.

Vấn đề này thực ra rất dễ để thấu hiểu và thực sự cần sự thấu hiểu, bởi lẽ có quá nhiều lý do khiến cho con người hiện đại dễ dàng trở nên bực tức. Những lý do đó được tạo ra không phải để biện minh cho chúng ta rằng chúng ta là những người không thể kiểm soát cơn giận của mình. Chúng tồn tại ở đó để chúng ta thấy được rằng chúng ta nên thấu hiểu cho nhau nhiều hơn, thay vì tiếp tục cãi cọ và đưa ra những góc nhìn tiêu cực về những con người cũng đang hằng ngày vật lộn trong cuộc mưu sinh như mình trên đường phố. Đó là một không gian hoàn hảo để chúng ta trút giận, khi mà những người trên đường phố hầu hết đều là những người lạ và không có sự quen biết với ta.

Bên cạnh đó, đường phố liên tục tạo ra những tác nhân thách thức sức chịu đựng của chúng ta, đặc biệt là tiếng còi xe, tiếng la hét hoặc tiếng nói chuyện của những người đi đường. Việc này trở thành chất xúc tác khiến cho chúng ta cảm thấy mất kiểm soát trước hành động của mình, và từ đó một cuộc xung đột sẽ được tạo ra. Không chỉ như vậy, những yếu tố khác, chẳng hạn như việc chúng ta bị muộn giờ làm việc cũng có thể tạo nên một lý do nữa khiến cho chúng ta liên tục có những hành động vượt ngoài suy nghĩ của bản thân mình. Tôi nghĩ rằng đây là một việc nên được thấu hiểu nhiều hơn, bởi đó là tâm trạng thường nhật của những người lao động trong cuộc mưu sinh này.
Thêm
51
0
0
Viết trả lời...
Trong bộ sưu tập thu đông 2026 của nhóm nhạc Hàn Quốc Aespa, hình ảnh những đôi mắt thâm quầng và gương mặt có phần uể oải đã xuất hiện như một biểu tượng mới tái định nghĩa về cái đẹp. Vẻ đẹp thiếu ngủ đang xuất hiện ngày càng nhiều trong văn hóa đại chúng. Những hình ảnh từng bị che giấu bởi các sản phẩm che khuyết điểm rồi đây lại được tự do phô trương như một phần của dấu ấn cá nhân. Mạng xã hội cũng tăng cao việc lăng xê mẫu xu hướng mới này trên các nền tảng. Mẫu thời trang và cách make-up này đã tái định nghĩa về cái đẹp trong xã hội hôm nay, rằng không phải cái đẹp nào cũng nhất thiết là cái đẹp hoàn mỹ và không có góc chết. Những hình ảnh từng bị che giấu đi có thể trở thành một dấu ấn riêng trên gương mặt người phụ nữ. Điều này giúp cho họ không cần phải tốn công sức và thời gian chạy theo những sản phẩm mỹ phẩm để che đi những vết nhăn của thời gian, hoặc vết quầng thâm do mệt mỏi.

Trong nhiều thập kỷ qua, ngành công nghiệp làm đẹp liên tục có những bước tiến thay đổi về những định nghĩa của cái đẹp. Cái đẹp giờ đây không phải là cái đẹp tuyệt mỹ, hoàn hảo, đòi hỏi người phụ nữ không có góc chết. Cái đẹp giờ đây được định nghĩa lại, người phụ nữ hoàn toàn có thể tự tin với gương mặt thâm quầng của mình và biến nó trở thành một đặc tính riêng. Có thể nói đây là bước đầu trong việc khẳng định tính nữ quyền trong những vẻ đẹp đại chúng. Việc khẳng định tính nữ quyền giờ đây được thể hiện ngay trong những hành động rất nhỏ như việc trang điểm, thay quần áo hoặc các phong cách thời trang mới. Giờ đây, phụ nữ không còn đứng trong bất kỳ định nghĩa hay quy chuẩn nào mà được tự do thể hiện nét riêng của mình. Họ cũng không cần phải lo lắng trước việc mang một gương mặt thâm quầng đi ra bên ngoài. Ngành công nghiệp làm đẹp giờ đây đang trả phụ nữ về đúng với sự nguyên bản của gương mặt, họ, cho phép sự mệt mỏi được trình diện như một vẻ đẹp nghệ thuật.

Việc sử dụng phong cách makeup Tired Girl dường như đã tạo nên một xu hướng mới của giới trẻ. Người trẻ cho chúng ta thấy rằng họ không muốn sống với bất kỳ một quy chuẩn nào hay phải chạy theo những tiêu chuẩn vẻ đẹp của Phương Đông hay Phương Tây. Giờ đây họ muốn được làm chính mình, họ muốn sự mệt mỏi của bản thân được trở thành một dấu ấn riêng trên gương mặt của họ. Họ cho thấy rằng những vết quầng thâm trên gương mặt không phải là một điều cần được che đi mà là một điều cần được thể hiện, để cho thấy được lối sống mà chúng ta đang sống trong ngày hôm nay, đó là lối sống mệt mỏi và chạy theo deadline.

Theo nhiều cách nào đó, ngành công nghiệp trong xã hội tư bản đang lợi dụng sự tự ti của chúng ta để thương mại hóa cuộc sống của con người. Chẳng hạn nỗi cô đơn của chúng ta bị biến thành nguyên nhân để gia tăng những nền công nghiệp như công nghiệp mèo hoặc công nghiệp shopping để thỏa mãn sự cô đơn bên trong. Tuy nhiên, tôi cho rằng việc phát triển công nghiệp làm đẹp từ những sự khuyết điểm của phụ nữ trưng bày những khuyết điểm đó ra như một đặc tính riêng, là cách để chúng ta khẳng định sự đấu tranh với sự lợi dụng của chủ nghĩa tư bản.

Người phụ nữ đang tự tin khẳng định mình, tự tin chứng minh với thế giới rằng tôi là một người phụ nữ như những gì tôi vốn có. Tôi không cần phải chứng minh bản thân hay chạy theo những quy chuẩn của bất kỳ hệ quy chiếu nào. Giờ đây, người phụ nữ thực sự đóng vai trò nguyên sơ như chính những gì mà họ có và không bị áp lực trước những cái nhìn của xã hội. Thay vì chạy theo những định kiến ở bên ngoài, người phụ nữ được quay trở về với chính mình, nhìn nhận những khuyết điểm trên gương mặt mình nhưng không phải để che giấu nó mà để tự tin phô ra với thế giới.

Tôi thực sự mong rằng đến một lúc nào đó những quy chuẩn về cái đẹp sẽ dần được tiêu biến đi, thay vào đó những cái đẹp nguyên sơ, tự nhiên, thể hiện được những nét nguyên bản nhất của con người sẽ được tôn vinh, để ở đó không chỉ người phụ nữ được tự tin về ngoại hình của mình mà người ở bất cứ giới nào cũng có thể tự tin phô diện ngoại hình của mình với thế giới. Đó là dấu ấn của một xã hội văn minh, công bằng và cho phép tất cả chúng ta đều được thể hiện đặc tính của mình. Chỉ khi đó chúng ta mới được sống với những gì mà chúng ta vốn có và được thể hiện mình một cách tự nhiên nhất.
Thêm
39
0
0
Viết trả lời...
Những vấn đề khẩn cấp trong cuộc sống của chúng ta thì liên tục xảy ra. Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải có hành động cấp thiết để xử lý những vấn đề khẩn cấp xảy ra trong cuộc sống. Điều này hiển nhiên là một việc không hề dễ dàng, nó không chỉ đòi hỏi sự đồng lòng của một cá nhân hay một nhóm người, mà nó đòi hỏi sự đóng góp của cả cộng đồng và xã hội. Những tổ chức lớn mang tầm quốc tế cũng cần phải có sự đóng góp và hỗ trợ đối với những nước có hoàn cảnh khó khăn hơn trong việc xử lý những vấn đề khẩn cấp xảy ra trong cuộc sống của chúng ta. Những vấn đề khẩn cấp này, diễn ra theo rất nhiều chiều hướng khác nhau, có thể kể đến như là chiến tranh, bệnh dịch, bất an nguồn nước hoặc nghèo đói. Đây có thể không phải là những vấn đề mới nhưng là những vấn đề khẩn cấp mà chúng ta đang phải đối diện ngày hôm nay, để có thể nâng cao chất lượng đời sống cho người dân ở khắp mọi nơi trên thế giới. Điều quan trọng ngay lúc này là làm thế nào để chúng ta có thể hành động khẩn cấp theo kịp với sự xuất hiện của những vấn đề đó, để đảm bảo rằng không ai bị bỏ lại phía sau và tất cả chúng ta đều có được cuộc sống đầy đủ, ấm no.

Tôi từng đọc một bài báo của tổ chức Unesco nói về phản ứng của họ khi đối diện trước những vấn đề nguy cấp của toàn cầu, đó là hỗ trợ phục hồi và thích ứng. Tôi hoàn toàn nghĩ rằng đây là một cách xử lý hợp lý trong bối cảnh toàn cầu như ngày nay, những vấn đề liên tục xảy ra và đòi hỏi chúng ta cần phải có khả năng thích ứng với nó, bởi nó là điều không phải dễ dàng để chối bỏ. Những vấn đề đó đang xảy ra với chúng ta hôm nay, và xảy ra với những người trong cộng đồng của chúng ta hôm nay. Đó là lý do chúng ta cần học cách đối diện. Cần phải giữ được tinh thần không từ bỏ để có thể phục hồi và tái thiết lại mạng lưới cộng đồng trong những hoàn cảnh giai cấp đó.

Unesco tin rằng, giáo dục văn hóa, giao tiếp và khoa học có sức mạnh chuyển đổi để xây dựng hòa bình và hòa giải lâu dài. Đây là một niềm tin mà chúng ta cần phải xây dựng trong cuộc sống hôm nay. Bởi lẽ đúng là như thế. Giáo dục, văn hóa, giao tiếp và khoa học chính là những vũ khí mà con người có được để có thể đối diện những vấn đề của cuộc sống và nâng cao chất lượng sống của những con người ở những vùng ngoại biên hoá. Nếu chúng ta không có được những vũ khí này thì cuộc sống sẽ trở nên nghèo đói hơn, bất hạnh hơn, chất lượng cuộc sống bị giảm đi và đương nhiên là con người sẽ phải sống trong những điều kiện tồi tàn hơn.

Tuy nhiên, khủng hoảng ra đời để bị xử lý. Chúng ta sinh ra để xử lý những khủng hoảng đó. Trước hết chúng ta cần phải giữ thái độ bình tĩnh trước những vấn đề xảy ra trong xã hội này. Tiếp theo đó, chúng ta cần tìm ra những hướng đi đổi mới không chỉ để giải quyết vấn đề theo một hướng đã có, mà phải tìm ra một phương thức sáng tạo để đi một con đường vòng hướng đến một kết quả tốt đẹp hơn so những người dân dù ở bất cứ phạm vi lãnh thổ nào.
Những vấn đề khẩn cấp trong cuộc sống của chúng ta thì liên tục xảy ra. Điều này đòi hỏi chúng ta cần phải có hành động cấp thiết để xử lý những vấn đề khẩn cấp xảy ra trong cuộc sống. Điều này hiển nhiên là một việc không hề dễ dàng, nó không chỉ đòi hỏi sự đồng lòng của một cá nhân hay một nhóm người, mà nó đòi hỏi sự đóng góp của cả cộng đồng và xã hội. Những tổ chức lớn mang tầm quốc tế cũng cần phải có sự đóng góp và hỗ trợ đối với những nước có hoàn cảnh khó khăn hơn trong việc xử lý những vấn đề khẩn cấp xảy ra trong cuộc sống của chúng ta. Những vấn đề khẩn cấp này, diễn ra theo rất nhiều chiều hướng khác nhau, có thể kể đến như là chiến tranh, bệnh dịch, bất an nguồn nước hoặc nghèo đói. Đây có thể không phải là những vấn đề mới nhưng là những vấn đề khẩn cấp mà chúng ta đang phải đối diện ngày hôm nay, để có thể nâng cao chất lượng đời sống cho người dân ở khắp mọi nơi trên thế giới. Điều quan trọng ngay lúc này là làm thế nào để chúng ta có thể hành động khẩn cấp theo kịp với sự xuất hiện của những vấn đề đó, để đảm bảo rằng không ai bị bỏ lại phía sau và tất cả chúng ta đều có được cuộc sống đầy đủ, ấm no.

Tôi từng đọc một bài báo của tổ chức Unesco nói về phản ứng của họ khi đối diện trước những vấn đề nguy cấp của toàn cầu, đó là hỗ trợ phục hồi và thích ứng. Tôi hoàn toàn nghĩ rằng đây là một cách xử lý hợp lý trong bối cảnh toàn cầu như ngày nay, những vấn đề liên tục xảy ra và đòi hỏi chúng ta cần phải có khả năng thích ứng với nó, bởi nó là điều không phải dễ dàng để chối bỏ. Những vấn đề đó đang xảy ra với chúng ta hôm nay, và xảy ra với những người trong cộng đồng của chúng ta hôm nay. Đó là lý do chúng ta cần học cách đối diện. Cần phải giữ được tinh thần không từ bỏ để có thể phục hồi và tái thiết lại mạng lưới cộng đồng trong những hoàn cảnh giai cấp đó.

Unesco tin rằng, giáo dục văn hóa, giao tiếp và khoa học có sức mạnh chuyển đổi để xây dựng hòa bình và hòa giải lâu dài. Đây là một niềm tin mà chúng ta cần phải xây dựng trong cuộc sống hôm nay. Bởi lẽ đúng là như thế. Giáo dục, văn hóa, giao tiếp và khoa học chính là những vũ khí mà con người có được để có thể đối diện những vấn đề của cuộc sống và nâng cao chất lượng sống của những con người ở những vùng ngoại biên hoá. Nếu chúng ta không có được những vũ khí này thì cuộc sống sẽ trở nên nghèo đói hơn, bất hạnh hơn, chất lượng cuộc sống bị giảm đi và đương nhiên là con người sẽ phải sống trong những điều kiện tồi tàn hơn.

Tuy nhiên, khủng hoảng ra đời để bị xử lý. Chúng ta sinh ra để xử lý những khủng hoảng đó. Trước hết chúng ta cần phải giữ thái độ bình tĩnh trước những vấn đề xảy ra trong xã hội này. Tiếp theo đó, chúng ta cần tìm ra những hướng đi đổi mới không chỉ để giải quyết vấn đề theo một hướng đã có, mà phải tìm ra một phương thức sáng tạo để đi một con đường vòng hướng đến một kết quả tốt đẹp hơn so những người dân dù ở bất cứ phạm vi lãnh thổ nào. Trong cuộc chiến chống lại những khủng hoảng chúng ta không được phân định là người của riêng một quốc gia nào, mà chúng ta được phân định là những đứa con của thế giới.
Thêm
42
0
0
Viết trả lời...
Nhân loại của chúng ta đã tiến hóa từ thời đồ đá đến thời hiện đại như ngày nay. Rất nhiều những phát minh và công trình của con người đã xuất hiện như một minh chứng cho việc tư duy của loài người đang được phát triển từng ngày. Giữa những bước phát triển của tiến hóa loài người đó, chúng ta thấy được rằng xã hội đang có nhiều sự tiến bộ trong việc tạo ra những cỗ máy, những sản phẩm trí tuệ nhân tạo để phục vụ cho đời sống của con người. Đối với tôi, những thiết bị công nghệ thực sự là những phát minh tuyệt đỉnh mà loài người có thể sáng tạo ra để làm mới cuộc sống của mình. Tuy nhiên, tôi cũng trăn trở về trạm tiếp theo của tiến hóa loài người. Biết đâu trong tương lai đó, con người không còn là con người mà sẽ trở thành những cỗ máy, và những cỗ máy lại thay chúng ta nắm giữ quyền kiểm soát thế giới?

Trong cuốn sách "Bức xúc không làm ta vô can", tác giả Đặng Hoàng Giang có nói rằng: "Trên mạng xã hội, con khỉ tâm trí có nhiều cành cây để nhảy nhót". Tôi nghĩ rằng việc này quả thực là rất đúng đối với tâm trí của những người hiện đại trong xã hội ngày nay. Chúng ta có quá nhiều mối bận tâm. Chúng ta có quá nhiều những niềm vui và sự thú vị trên những không gian mạng ngoài kia. Để rồi, đằng sau những không gian đó, chúng ta nhận ra tâm trí của mình không còn giữ được những nét nguyên sơ và tính công bình ban đầu. Tâm trí của chúng ta, theo một cách nào đó, đã bị biến thành "con khỉ". Chúng ta liên tục bị cuốn hút bởi những thông tin mới, những trào lưu mới, mà con người thì lại rất sợ bỏ lỡ (fomo). Và chúng ta cứ liên tục Theo đuổi những trào lưu đó mà chẳng thể suy nghĩ được rằng việc đó có ý nghĩa gì với mình hay chỉ là mình không muốn bị tụt lại so với cái xã hội đang ngày ngày điên đảo ở ngoài kia. Đến khi đó, liệu có ai chịu dừng lại và hỏi mình rằng tâm trí của mình có đang bị biến thành con khỉ không?

Thời đại mà chúng ta đang sống ngày hôm nay, tôi không nghĩ đó là một thời đại thuần người. Ngược lại, tôi nghĩ rằng đó là một thời đại lai ghép giữa người và máy. Đây thực sự là một thực tại không ngoa khi mà các công nghệ đang dần thay thế chúng ta trong rất nhiều những công việc khó khăn. Chúng thay thế quyền hành của chúng ta, thậm chí không cho chúng ta quyền được quyết định cuộc sống của mình.

Hầu hết chúng ta đều không thể sống thiếu các thiết bị di động và các máy móc công nghệ. Cũng có thể nói rằng, các nhà tư bản theo một cách nào đó đang khuyến khích những sản phẩm công nghệ trong cuộc sống của chúng ta. Nhìn theo góc độ kinh tế, họ nhận được lợi nhuận và chúng ta nhận được những sự hỗ trợ từ máy móc công nghệ. Việc này hoàn toàn là một sự trao đổi giữa hai chủ thể nắm giữ hai đầu khác nhau của công cuộc kinh tế hôm nay. Càng theo những nhịp độ phát triển của xã hội, tôi càng suy nghĩ hơn về giá trị cốt lõi của con người mà chúng ta đã đánh mất đi trong công cuộc hiện đại hóa hôm nay. Bởi lẽ, tôi cảm thấy rằng con người đang mất đi tính người, mất đi nhiều hơn so với trước kia họ có công nghệ. Dĩ nhiên, không phải do công nghệ làm cho họ bị băng hoại tính người. Vấn đề là do chính họ đã không thể ngăn mình rơi vào sự quyến rũ của máy móc công nghệ và cũng không thể ngăn mình phân biệt rõ ranh giới giữa người và máy. Bản thân tôi cảm thấy tiếc nuối trước những giá trị truyền thống của gia đình, làng xóm, cộng đồng mà đã ít nhiều bị xói mòn đi. Tôi đã nghĩ rằng công nghệ là một cách để đưa chúng ta đến gần nhau hơn, trao cho chúng ta cơ hội để được ở gần bên những người mình yêu thương nhiều hơn. Nhưng song song với điều đó, chúng ta vẫn thấy rằng vì công nghệ mà con người xa cách nhau nhiều hơn. Công nghệ làm cho cuộc sống của chúng ta được cá nhân hóa. Ngay cả một đứa trẻ cũng có thể tìm thấy thế giới của riêng mình trong những thiết bị công nghệ. Bởi vậy, ngay từ sớm nó đã không còn có sự khao khát muốn được giao tiếp với bố mẹ và sự công nhận từ gia đình. Điều này chứng tỏ được sự bất lực của thế giới con người khi tiếp xúc với công nghệ. Những máy móc này có thể đăng chia rẽ cuộc sống của chúng ta, phân mảnh cuộc sống của chúng ta ra làm nhiều chiều hướng khiến cho cộng đồng người bị gãy vụn, rời rạc và thiếu đi tính gắn kết.

Bởi vậy, tôi thật sự mong rằng con người có thể trở về đúng với vị trí của mình. Tôi mong rằng chúng ta có thể đặt máy móc trở về đúng với công việc của chúng đó là một trợ lý để hỗ trợ chứ không phải là một không gian sống hoàn toàn của chúng ta.
Thêm
60
0
0
Viết trả lời...
Ai trong chúng ta cũng đều muốn được tự do, hoặc ít nhất là được tự lựa chọn trong cuộc sống của mình. Tự do là một khao khát và cũng là ước mơ mà cả đời chúng ta tìm kiếm để theo đuổi. Ngay trong xiềng xích, tự do càng trở nên cao quý và đáng giá hơn. Bản chất những góc nhìn về tự do là cách chúng ta nhìn nhận về cách tổ chức, xây dựng cuộc sống, về việc chúng ta sẽ làm thế nào để được quyền đưa ra những quyết định trong cuộc đời. Việc này có lẽ không hề đơn giản và dễ dàng. Tuy nhiên, chúng ta cần có những góc nhìn khác về tự do trong lý trí.

Tự do lý trí được xây dựng trước cả khi chúng ta kịp đưa ra những quyết định. Não bộ của chúng ta dường như đã quyết định trước cả khi tâm trí nhận thức được vấn đề. Có thể nói là trước khi đưa ra một quyết định, trí óc của chúng ta dường như đã có được câu trả lời. Chắc hẳn chúng ta đã từng nghe câu chuyện về việc tung đồng xu để tìm kiếm câu trả lời, tuy nhiên có một sự thực đó là trước khi chúng ta tung đồng xu lên, chúng ta đã mong muốn nó sẽ rơi về phía nào. Điều đó có nghĩa là không phải chúng ta không có câu trả lời. Chúng ta hoàn toàn đã có câu trả lời từ trước, chỉ là trí óc của chúng ta cần một sự xác nhận để có thể đảm bảo an toàn với những quyết định trong tương lai của mình.

Tự do lý trí có lẽ không phải là thước đo để phân biệt rõ giữa những vùng trắng, vùng đen và vùng xám. Đó là góc nhìn bao quát toàn bộ sự phức tạp của tâm trí con người. Tự do lý trí cho thấy con người luôn dễ trăn trở và phân vân giữa rất nhiều lựa chọn. Cuối cùng, khi họ tìm ra được lựa chọn cho mình thì họ lại cảm thấy không chắc chắn vào nó. Chính việc này đã khiến cho những phương thức giúp đưa ra lựa chọn ra đời. Cũng chính việc này khiến cho chúng ta hiểu rằng việc có quá nhiều lựa chọn không hoàn toàn là chuyện tốt. Một con người khi đứng giữa rất nhiều lựa chọn nhưng vẫn có thể đưa ra được kết quả và phán đoán đúng thực sự là một con người thấu hiểu bản thân, có định hướng và biết tìm con đường cho riêng mình. Thời buổi xã hội mới đang mở ra chúng ta rất nhiều lựa chọn. Rất nhiều người cho rằng việc có nhiều lựa chọn sẽ kích thích việc chúng ta đưa ra những quyết định phù hợp cho mình. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, có quá nhiều lựa chọn chị càng làm chúng ta cảm thấy thêm bối rối, lo lắng, thậm chí là mất phương hướng, không viết được mình sẽ phải lựa chọn điều gì.

Khi đó, tự do lý trí có thể bị hiểu như là sự cầm tù. Chúng ta rơi vào một vòng vây giữa quá nhiều lựa chọn. Chính những lựa chọn đó lại bủa vây chúng ta, vây khốn chúng ta và bắt chúng ta phải đưa ra những lựa chọn lớn trong cuộc đời của mình. Mà thậm chí chẳng cần những lựa chọn lớn. Ngay từ việc chọn uống món gì trong một quán nước, chọn ăn bánh gì trong một quán ăn, chọn xem tối nay sẽ ăn gì đã thực sự là một việc rất khó khăn đối với những con người hiện đại. Những lựa chọn đó liên tục khiến họ phải xung đột, phải trăn trở, phải liên tục phân vân về những quyết định của mình mà không thể đưa ra được một quyết định phù hợp nhất.

Tự do lý trí có lẽ là một quyền nhân bản của con người. Chúng ta luôn cần được cho phép tự do. Hoặc chúng ta luôn cần phải đấu tranh để giành lấy tự do cho mình. Tự do trong xã hội ngày nay có rất nhiều nghĩa. Mà mỗi người thì lại luôn đi tìm một định nghĩa riêng. Đối với tôi, tự do, đó là cách chúng ta tự quyết định cuộc đời mình bằng sự chín chắn và những suy nghĩ sâu sắc, đó là khi chúng ta dám đấu tranh để phản kháng trước những thế lực chà đạp lên quyền tự do của chúng ta. Quyền tự do của mỗi người khi được trao đều rất bình đẳng và ngang hàng nhau. Bởi vậy, khó có thể nói ai đó dùng một quyền lực nhân danh nào đó để bắt ép chúng ta phải khước từ với sự tự do của mình. Và tôi tin rằng, học tập cùng với sự phát triển bản thân của mỗi cá nhân sẽ là bước đầu để có thể xây dựng nên tự do lý trí bên trong mỗi người.
Thêm
55
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta đang sống trong một thời đại dư thừa sự kết nối. Bạn bè thì nhiều, bạn bè mới lại càng nhiều hơn, không gian các mối quan hệ được mở rộng đến mức triệt để để chúng ta có thể kết nối với những con người không chỉ cùng sở thích, cùng mối quan tâm mà là còn kết nối với những con người ở những thế giới khác mình. Đây là một cơ hội thực sự rất rộng mở cho những người trẻ đam mê kết nối. Tôi cũng thật sự đặt niềm tin ở sự kết nối trên không gian số này. Tuy nhiên sau rất nhiều lần học cách kết nối trên những không gian mà có lẽ không phải là kết nối thực, tôi đã nhận ra rằng chúng ta đang sống trong một không gian không mấy gì là thực tại. Những ý kiến về việc thay đổi hoàn cảnh hiện tại được đưa ra quá nhiều nhưng thực sự thì vẫn không có một ý kiến nào mang tính triệt để. Và chúng ta phải chấp nhận một thực tại rằng mạng xã hội là điều đang tồn tại trong xã hội của chúng ta và sẽ tiếp tục tồn tại trong tương lai của chúng ta. Việc chối bỏ hay phủ nhận nó là điều không thể làm được. Vì vậy, trước thực tại dư thừa sự kết nối mà thiếu đi những kết nối chân thực đó, tôi nghĩ chúng ta cần phải hành động.

Người trẻ hôm nay đang liên tục đối diện với những nỗi lo về sự kết nối trên một không gian ảo. Nó từng đóng vai trò như một cơ hội, nhưng giờ đây nó lại quay trở về với vị trí như một thách thức. Nó đang thách thức khả năng của chúng ta trong việc tìm kiếm những kết nối chân thực. Mà việc này, đặt trong hoàn cảnh những không gian nhiễu loạn vào ồ ạt hiện nay thì thật sự là một việc rất khó khăn.

Tuy khó khăn nhưng nó không đồng nghĩa với việc chúng ta không thể thực hiện được. Công việc này cần đến một chút sự nghiêm túc, dám dấn thân, dám lên tiếng và dám phản biện trước những kết nối mà mình đón nhận. Hãy chấp nhận một điều rằng những mối quan hệ mà chúng ta có được hôm nay có thể không phải những kết nối chân thực. Họ có thể đến với chúng ta trong hôm nay, có thể trở thành người chia sẻ với chúng ta trong không gian hôm nay. Nhưng họ sẽ trở thành người xa lạ của chúng ta trong một thời gian nào đó rất gần. Bởi lẽ, lý do của những cuộc kết nối trong không gian số này không phải là muốn tìm hiểu nhau hay vì quan tâm thực sự đến nhau. Mối nhân duyên của những cuộc kết nối này chỉ là gì không tìm kiếm được những sự kết nối trong đời thực. Vì quá thiếu hụt trong mối quan hệ trong thực tế nên chúng ta chọn cách lánh mình vào trong không gian mạng. Điều này dĩ nhiên không hề đem đến cho những người mà chúng ta tiếp xúc trên không gian mạng thiện chí. Và dĩ nhiên, những kết nối không có thực thì sẽ luôn gây ra cho chúng ta cảm giác bất an, lo sợ và hoài nghi về tính bền vững của nó.

Trong những hoàn cảnh nhạy cảm như thời gian gần đây, tôi nghĩ cách trước hết để chống lại một không gian dư thừa sự kết nối đó là học cách để trân trọng những quan hệ trong đời thực. Có một sự thật đó là không phải chúng ta cô đơn. Những mối quan hệ vẫn liên tục ở bên cạnh chúng ta, dù là quan hệ gia đình, bè bạn hay người thân. Tuy nhiên, Chúng ta không có sức kháng thương trước những hành động gây tranh cãi, gây hiểu lầm của họ. Từ đó, Chúng ta sống trong những không gian riêng của mình và luôn than thở rằng mình không có ai bên cạnh. Đó là biểu hiện của những người luôn tự đẩy mình vào đường cùng bắn tự nhận mình là người cô đơn. Trong khi đó, những mối quan hệ xung quanh thì có thể sẽ liên tục mong mỏi họ chia sẻ, nói ra điều họ muốn để cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Bởi vậy, vấn đề ở đây đó là chúng ta có đủ khả năng mở lòng ra để chấp nhận thương tổn và học cách để yêu thương hay không. Yêu thương thì vẫn sẽ luôn ở đó và không bao giờ mất đi. Chỉ là chúng ta chưa từng dừng lại để nhận ra và phát triển chúng. Bởi vậy, bước đầu tiên để tìm được sự kết nối đó là hãy trân trọng những mối quan hệ mà mình đang có trong thực tại.

Một cách nữa để có thể tìm kiếm những mối quan hệ thực sự trong thực tại, đó là hãy viết. Viết theo một cách nào đó thường là cách để chúng ta sống chậm lại, để sống chân thực hơn với chính mình. Điều mà con người hiện đại thường không nhận ra đó là khi họ viết ra một chữ, những nỗi lòng cũng theo đó mà được tuôn ra. Chữ viết là cách để họ sống sự chân thành và chính mình mà không chịu bất cứ sự tác động nào từ bên ngoài. Viết là một cách để nói thực. Đôi khi chúng ta không nhận ra được mình cần gì trong xã hội quá nhiều nhiễu loạn này. Vậy thì việc đặt bút viết sẽ cho chúng ta cơ hội được soi chiếu rõ hơn vào bản thân mình. Ta thấy được những cảm xúc của mình trong đó để thấy rằng mình đã yêu ghét như nào và hướng đi tiếp theo của mình ra sao. Đây là một cách để không chỉ tìm kiếm những mối quan hệ chân thực với thế giới, mà còn là khách đẹp để tìm lại sự kết nối bền vững với chính mình.

Trong không gian số với quá nhiều thông tin mà không có sự kiểm chứng, việc con người cảm thấy mất kết nối là điều dễ dàng xảy ra. Không ai có thể ngăn mình bước vào những cảm xúc tiêu cực đó. Chúng ta chỉ có thể bảo vệ mình có những cảm xúc tiêu cực đó bằng cách trân trọng hơn những cảm xúc có ở thực tại và sống chân thực với tâm hồn mình. Đừng vì níu kéo những quan hệ không có thực trên không gian số mà quên đi rằng, vẫn có những người vì yêu thương ta mà chấp nhận lặng thầm hi sinh.
Thêm
68
0
0
Viết trả lời...
Những thuật toán của mạng xã hội liên tục được tạo ra để lợi dụng tâm lý thích những sự kích động, thích drama và những sự kiện gây sốc của con người. Trên không gian mạng xã hội, với những thông tin chưa được kiểm chứng, với những lời dẫn dắt của những quan điểm cá nhân, Tinh thần độc lập của chúng ta trước kiến thức thường xuyên bị phân vân. Và chúng ta lựa chọn cách nghe theo những tiếng phán xét ồn ào từ phía bên ngoài kia. Khi đó, chúng ta đang đồng nhất mình với những con người luôn sống theo quan điểm cá nhân và dùng quan điểm cá nhân của mình để chèn ép người khác. Những cá nhân như vậy liên tục được tạo ra, và đám đông đó sẽ cùng tấn công một vấn đề chưa rõ ai đúng ai sai, nhưng chúng ta lại giống như một người kết tội. Vậy trước những sự kiện drama gây sốc trên mạng xã hội, chúng ta làm gì? Tôi chọn cách không quan tâm và không bày tỏ ý kiến.

Trước hết, tôi hiểu rằng việc được thể hiện quan điểm trước những vấn đề xã hội là một quyền của con người. Đặc biệt là trong bối cảnh mạng xã hội phát triển như ngày nay, con người càng có nhiều hơn xu hướng được thể hiện những cá tính riêng và con người riêng của mình. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc họ thể hiện những quan điểm và những vấn đề mà họ nhìn thấy hoặc nghe thấy trên không gian mạng. Nhưng việc bày tỏ quan điểm cũng đồng nghĩa với việc họ sẽ có thể đồng tình với một vấn đề hoặc sẽ phủ nhận đối với một vấn đề khác. Điều đáng lo ngại là nếu như họ công nhận một vấn đề nào đó, tinh thần của họ sẽ mang tính tích cực và họ sẽ sử dụng lý lẽ để bảo vệ quan điểm của mình. Tuy nhiên, nếu như một người trên không gian mạng phủ nhận một vấn đề nào đấy, họ sẽ tấn công đến cùng vấn đề đó. Khi đó, họ đóng vai trò như một người luận tội. Những người chịu sự chỉ trích của họ một phần có thể thực sự đã gây ra hành động đáng tranh cãi, một phần khác thì không hiểu tại sao mình lại bị tấn công bằng ngôn từ. Quyền năng lực tự do ngôn luận trên không gian mạng xã hội đã phát triển rất mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Tuy nhiên nó cần được tay vẫn lại khi nó có thật sự tìm đến những hiệu quả xã hội hay không hãy chỉ là một công cụ để con người có thể giành lấy phần thắng về mình.

Đứng trước những vấn đề như thế của mạng xã hội, tôi nghĩ rằng chúng ta nên chọn cách không quan tâm và không bày tỏ điều gì. Thứ nhất là việc chúng ta bày tỏ ý kiến liệu có đảm bảo chắc chắn rằng sẽ thay đổi được chiều hướng của sự việc hay không, đặc biệt là để chiều hướng đó không phát triển theo hướng xấu đi? Tôi nghĩ rằng việc chúng ta liên tục thể hiện cảm xúc là một tâm lý để cho những thuật toán của mạng xã hội thao túng và lợi dụng chúng ta. Nó sẽ liên tục đem đến những thông tin về những vấn đề gây sốc, tạo drama bởi vì nó biết chủ nhân của nó sẽ tiếp tục bước vào những cuộc chiến, những cuộc tranh cãi không phải để tìm ra ai thắng ai thua, không phải để tìm ra chân lý cho một cuộc đối thoại mà là để chứng minh mình có góc nhìn và biết cách trình bày quan điểm. Thông qua những thông tin tiêu cực liên tục được gài cắm đó, người sử dụng thông tin sẽ rơi vào "buồng vang" của chính mình. Họ sẽ mất đi khả năng phản biện và nhận diện thông tin sai trên mạng xã hội. Khi đó, họ sẽ hoàn toàn sống với lý do của mình. Họ sẽ liên tục đánh giá những thông tin khác bằng thiên kiến xác nhận. Khả năng nhìn nhận thông tin, khả năng đối thoại và chất vấn với những vấn đề cần đến tư duy hơn sẽ lâu dần bị giảm đi. Điều này thực sự là một trở ngại đối với con người đặc biệt là trong không gian số với những thông tin nhiễu loạn như ngày nay.

Tiếp theo đó, tôi cho rằng chúng ta không nên thể hiện cảm xúc của mình trước những drama bởi vì những sự việc sai trái đã có pháp luật xử lý. Việc chúng ta lên tiếng trước những hành động sai trái không thể giúp họ quay đầu, không thể đảo ngược chiều hướng của sự việc và cũng không thể hiện được nhân cách của chúng ta. Việc quá nhiều ý kiến liên tục đan xen, tranh cãi, đối lập nhau chỉ tạo nên một cuộc chiến giữa những con người trong cùng một không gian mà sau khi tranh cãi, kết cục họ nhận được chỉ là những năng lượng tiêu cực. Pháp luật thì vẫn ở đó, vẫn xử lý những hành động sai phạm và vượt ra khỏi chuẩn mực đạo đức của nhân loại. Những sự việc tạo nên drama và là hành động sai trái, tôi nghĩ quyền được lên tiếng và luận tội nên được dành cho pháp luật. Tiếng nói của chúng ta trước những vấn đề hệ trọng và xã hội, nó thực sự quan trọng. Nhưng sự quan trọng của nó không nên được đặt trong không gian số, khi mà những thông tin chưa được kiểm chứng, khi mà hàng loạt người ồ à đổ xô nhảy vào để phê phán một hành động nào đấy chỉ càng làm cho sự việc trở nên rối thêm. Vậy thì, tại sao chúng ta không đặt niềm tin vào pháp luật và tạm thời ngưng việc ném đá trước một sự kiện tạo drama nào đó?

Những thông tin tiêu cực trên mạng xã hội thực sự là ngày nào cũng có. Những thông tin này tựa như cơm bữa và liên tục đi vào cuộc sống của chúng ta thông qua những mẩu tin ngắn. Dĩ nhiên, một thông tin trên mạng xã hội thì chúng ta không thể nào kiểm định nó hoàn toàn. Và kể cả khi sự thật được đưa ra ánh sáng, chúng ta nhìn thấy rõ bộ mặt của kẻ bị luận tội, thì sự lên tiếng của chúng ta cũng không đồng nghĩa với việc kẻ đó sẽ bị xử lý. Sự lên tiếng của chúng ta cũng không đồng nghĩa với việc những vụ án tương tự như vậy sẽ chấm dứt hay được giảm nhẹ đi. Sự lên tiếng của chúng ta gây nên quá nhiều sự xáo trộn, nhiễu loạn mà hoàn toàn không thể đóng góp một cách tích cực cho kết quả của sự việc. Bởi vậy, tôi nghĩ rằng trước những thông tin có phần tiêu cực, hãy giữ lấy phần tích cực bên trong mình và chọn cách im lặng.
Thêm
53
0
0
Viết trả lời...
Học tập là nhân quyền cơ bản của mỗi người. Hẳn rằng, chúng ta cũng hiểu được giá trị của học tập trong một thời đại phát triển, đòi hỏi cao về trình độ văn hóa, kĩ năng như hôm nay. Ở những đất nước đang phát triển, học tập là cách để dựng xây cộng đồng xã hội, thay đổi những hoàn cảnh kém may mắn xảy ra. Tuy nhiên, nếu nhìn học tập trong một cộng đồng nhỏ hơn, ta sẽ thấy rằng, học tập giờ đây không còn là cơ hội, mà là nỗi sợ cho những đứa trẻ, khi mà chúng liên tục bị ép phải học để đậu trường chuyên lớp chọn. Mỗi ngày đi học về là một ngày vùi đầu trong sách vở. Cuối tuần không phải là lúc để nghỉ ngơi mà lại là lúc các em bị yêu cầu học thêm quá nhiều môn học. Việc lo lắng thái quá của cha mẹ cũng đồng thời dẫn đến sự căng thẳng, xung đột giữa nhiều thế hệ, làm cho mối quan hệ bị rạn nứt chỉ vì việc học tập của trẻ. Những câu chuyện của người lớn cũng chỉ xoay quanh việc lo cho con học trường nào, lớp nào. Và tôi nghĩ, học tập thay vì trở thành gánh nặng, nỗi sợ, hãy để nó trở thành cơ hội và là niềm đam mê cho trẻ em.

Có thể thấy rõ sự học tập khác biệt ở những vùng nông thôn và thành phố. Ở nông thôn, các em học ít hơn. Sau giờ học, các em được tự do vui chơi, tham gia vào những hoạt động mình yêu thích, dành thời gian cho gia đình. Bố mẹ ở những vùng này cũng không đặt nặng những áp lực lên con cái của mình. Việc học khi đó được đảm bảo ở mức vừa đủ. Ở thành thị, trái lại, các em liên tục đối diện với những nỗi lo lắng. Học trên trường chưa đủ, lại học thêm, học thêm chưa đủ, lại học kĩ năng. Việc này dĩ nhiên gây ra sự tốn kém rất lớn, và gây ảnh hưởng đến tâm lý của học sinh. Các em cũng liên tục bị đối diện với áp lực đồng trang lứa, khi các bạn đều học rất nhiều nơi, với nhiều thầy cô giáo giỏi. Tôi nhận ra vấn đề không phải là giáo dục ở nông thôn hay thành thị sẽ tốt hơn. Tôi chỉ nhìn thấy môi trường nào cho các em đồng thời kiến thức và thời gian nghỉ ngơi. Và giáo dục của chúng ta cần một môi trường như thế. Học sinh hiện nay thường có lịch biểu dày đặc. Sáng đến trường, trưa về nhà, chiều đi học đến 7 giờ, ăn cơm vội vàng rồi chạy theo ca học tiếp theo, tối về tiếp tục học online. Tôi tự hỏi với những học sinh như thế, các em dành khoảng nghỉ cho mình ở đâu? Đặc biệt là trong những kì thi lớn như thi Tuyển sinh 10 hay thi THPTQG. Chúng ta thấy ở đó sự quyết liệt của học sinh trong việc tìm kiếm con đường cho riêng mình. Nhưng sau những cuộc chiến đó, bao giờ cũng là nỗi lo về tâm lý, sức khỏe và khả năng giao tiếp xã hội.

Các bậc phụ huynh liên tục đặt lên vai con em mình những kì vọng khổng lồ. Một phần, họ có cuộc sống không mấy dễ dàng nên muốn gửi ước mơ lên con mình. Một phần khác, họ muốn con mình có thành tựu, có dấu ấn để họ thấy tự hào về con mình. Suy nghĩ đó, hiển nhiên là điều đáng cảm thông ở các bậc phụ huynh. Tuy nhiên, trong đoạn phóng sự của VTV cách đây vài năm, tôi nhớ đến một cậu bé xin mẹ nghỉ học thêm vì quá mệt. Nhưng đáp lời cậu, người mẹ chỉ trả lời: “Mệt thì sao mà giỏi được? Nghỉ một tí rồi dậy đi học nha”. Đó thực sự là cảm giác bất lực của những đứa trẻ khi chúng cần có không gian riêng, cần có khoảng trống, nhưng cha mẹ chúng không cho chúng một khoảng nghỉ nào.

Xã hội cần đến những con người khao khát học tập, tìm kiếm tri thức. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần những con người có sức khỏe tinh thần tốt, có tinh thần lạc quan và khả năng làm chủ kiến thức. Và việc này không đòi hỏi ở phụ huynh, mà ở chính học sinh. Các em học sinh không nên phó mặc quyền lựa chọn tri thức cho cha mẹ, mà phải biết nhận diện mình cần gì, học đến mức nào là đủ. Đó là chìa khóa để tri thức Việt Nam một ngày mai tỏa sáng rực rỡ mà không kéo theo những con người mắc chứng trầm cảm, lo âu và thiếu khả năng giao tiếp xã hội.
Thêm
66
0
0
Viết trả lời...
Một viễn cảnh của thế giới mới đang hiện ra trước mắt chúng ta. Những trật tự cũ liên tục đổi thay, bị lật nhào, bị thay thế giá trị. Đây cũng là thời đại mà cường quyền không bị đàn áp bởi bất kỳ ràng buộc nào. Cán cân lợi ích vẫn nghiêng về các nước lớn, trong khi đó lại đẩy các nước nhỏ ra ngoài lề, tạo nên những bất bình đẳng trong xã hội. Cần phải nhìn sâu vào những bất cân xứng do trật tự cũ tạo nên. Đây là một cơ hội không phải để nhìn thấy ai đúng ai sai, bên nào có quyền hơn. Đây là cơ hội để chúng ta nhìn vào sự nghèo đói, bất bình đẳng của những nước nghèo, đi sâu vào nỗi đau của từng cá nhân để thay đổi chúng, tạo nên bước tiến cho một xã hội đẹp đẽ hơn.

Tôi từng đọc bài báo về những người nghèo ở một vùng miền núi thường phải thức dậy từ lúc sáng sớm để đi lấy nước sinh hoạt. Mỗi giờ đi lấy nước tiêu tốn của họ khoảng thời gian dành cho nghỉ ngơi, lao động và lợi nhuận. Đây là những vấn đề thường xuyên xảy ra ở những vùng bất an nguồn nước như các tỉnh miền núi. Nỗi lo này đã đè nặng lên họ nhiều năm, gây nên nhiều trăn trở lớn nhưng vẫn chưa thể giải quyết triệt để.

Nỗi lo tiếp theo của người nghèo đến từ mức sống rẻ mạt và những nhu cầu thiết yếu không được đáp ứng. Đây đã không còn là thời kỳ của nỗi lo đơn thuần về vật chất, về nghèo đói, về tương lai khó khăn. Giờ đây, chúng ta cần nhìn nhận những nhu cầu thiết yếu đó còn là quyền được chăm sóc tinh thần toàn diện, bảo toàn lòng tự tin, nhân ái và kiên cường trước những thách thức. Nếu như xã hội còn chứng kiến những em bé muốn mua bộ màu mới nhưng sợ cha không có tiền, đó là lúc chúng ta cần nhìn lại về sự đủ đầy.

Tôi nghĩ, đó đồng thời còn là nỗi lo khí hậu, về sự “bất bình đẳng nhiệt”. Trong khi rất nhiều người, vì điều kiện sống, vì môi trường làm việc, được làm việc trong môi trường điều hòa đảm bảo an toàn và sức khỏe, một số người khác lại liên tục đối diện với những vấn đề phân bố nhiệt không đồng đều. Họ là những người lao động ngoài trời, như shipper, thợ xây,... Việc phải làm việc liên tục nhiều tiếng trong thời tiết nắng nóng khiến năng suất công việc giảm đi, đặc biệt còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động. Nhìn thấy hình ảnh cha mẹ và những người lao động phải oằn mình trước cái nắng để mưu sinh, tôi chợt cảm thấy sâu sắc hơn sự bất bình đẳng này. Tuy nhiên, đứng trước thực tế đó, người lao động lại chỉ có thể than thở và chấp nhận chứ không thể làm gì khác.

Sự bất bình đẳng còn tăng thêm khi đó là xung đột giữa quyền lợi giáo dục. Học sinh ở các nước lớn nhận được các cơ hội học tập ổn định hơn. Trong khi đó, ở các nước chưa phát triển, học tập đôi khi còn là vấn đề bị cấm. Việc này xuất phát từ sự chênh lệch giữa các nền giáo dục, nhưng chính nó lại là nguyên nhân gây ra chênh lệch. Bởi học tập là vũ khí để nhận diện và phản kháng với cường quyền. Những đứa trẻ không được tiếp xúc với tri thức sẽ sớm đánh mất ý thức phản kháng, khả năng nhận diện bóc lột, từ đó tiếp diễn những thế hệ trong sự đau thương.

Bất bình đẳng vẫn liên tục diễn ra. Trong cuộc chiến đó, chúng ta không nhìn nhận ai đúng ai sai, chúng ta chỉ nhìn thấy ở đó những bi kịch, buồn đau của những nước nghèo, thiếu điều kiện phát triển. Mong rằng, đến một ngày rất gần nào đó, những khoảng cách bất bình đẳng sẽ được xóa nhòa.
Thêm
66
0
0
Viết trả lời...
Lại câu chuyện về những từ ngữ thuộc về công nghệ trở thành từ của năm. Từ “slop”, đến “rage bait” , đến “67” và “parasocial”. Tôi nghĩ rằng việc tạo nên cho công nghệ số quá nhiều cái tên như vậy là cách để chúng ta khu biệt những vấn đề chúng ta cần phải giải quyết trong thời đại này, từ đó giải quyết nó triệt để. Tuy nhiên, tôi cho rằng, không nhất thiết phải tạo nên quá nhiều danh xưng cho chúng, bởi đây là cách mà chúng tiến vào cuộc sống của chúng ta đậm nét hơn. Rất nhiều câu chuyện liên tục chia sẻ, tạo nên hiệu ứng. Mạng xã hội xây dựng những thuật toán để các giải pháp càng ra đời, những vấn đề về công nghệ liên tục xảy ra. Nếu nó không xảy ra ở dạng đã có thì sẽ liên tục hiện ra theo những hình thức mới.

Slop, là một khái niệm nói đến những nội dung “không sạch sẽ”, không đáng tin cậy, có chất lượng kém được sử dụng tràn lan bởi con người mà chưa có sự kiểm duyệt. Các hình ảnh, thông tin này liên tục xuất hiện, không chỉ là một vấn đề cộng đồng mà còn là câu hỏi cho con người về giá trị thật sự của họ trong việc kiểm duyệt nội dung. Slop có thể rất khó để bị loại trừ, bởi lẽ trong thời đại này, trong tay ai cũng đều là những công cụ AI. Việc họ tạo ra những nội dung thiếu tin cậy là điều khó có thể kiểm soát. Đặc biệt là khi chế độ hoạt động ẩn danh cho phép con người “núp bóng” để đăng tải những thông tin lệch chuẩn.

Rage bait, hay chính là mồi nhử giận dữ. Đó là những thông tin gây nên sự bất bình, công kích, có thể kích thích sự phẫn nộ của con người. Mục tiêu của rage bait là lợi dụng tâm lý của con người thời hiện đại, luôn dễ bị kích động, luôn muốn mình được chú ý và muốn mình được là người bày tỏ sự phẫn nộ. Sự phẫn nộ đó cho thấy họ đứng ngoài lề với những nội dung đáng lên án kia - họ đứng cao hơn chúng. Rage bait coi tâm lý con người như một thứ mồi nhử, để thử thách, để kiếm tiền, có thể gây nên một làn sóng phẫn nộ trong cộng đồng.

Parasocial là tình trạng con người có cảm giác gắn kết một chiều với một người nổi tiếng, người có tầm ảnh hưởng, một nhân vật truyện tranh hoặc một nhân vật vô thực trong game. Đây là cảm giác khi con người thấy mình có mối liên kết với người mà mình yêu thích. Họ luôn tưởng tượng mình là người thân của người nổi tiếng, có quan hệ gắn bó với người đó. Điều này sở dĩ nguy hiểm bởi nó tạo ra những ảo tưởng không thật. Nó ép người nổi tiếng phải sống trong một khuôn mẫu nào đó của người theo dõi, ngay cả khi họ không biết đến sự tồn tại của người đó. Nếu người nổi tiếng không sống theo khuôn mẫu, hoặc có hành động đi ngược với tưởng tượng của họ, người nổi tiếng đó dễ trở thành đối tượng bị bàn tán, khiêu khích, mỉa mai.

Và còn rất nhiều, rất nhiều những câu chuyện như thế liên quan đến thời đại công nghệ số. Việc chúng ta gọi tên nó, cũng là một cách để nhận diện, chỉ ra mối hiểm nguy trong thời đại này và thay đổi. Tuy nhiên, những danh xưng được gọi tên sẽ trở thành cơ hội cho những người hoạt động công nghệ. Họ sẽ liên tục xem tâm lý con người như một đối tượng để khiêu khích, để gây phẫn nộ, để tạo thành trào lưu và kiếm tiền. Mục đích của họ cuối cùng cũng là để gây ra những cơn sốt, gây ra sự khủng hoảng cho cộng đồng người sử dụng mạng xã hội.
Thêm
63
0
0
Viết trả lời...
Có lẽ khi lớn lên, niềm vui cũng vơi đi dần.

Đó là lời thoại của nhân vật Joy mà tôi rất ấn tượng trong bộ phim Inside Out 2. Đây là thời điểm cô bé Riley bước vào tuổi 13 với những xung đột nội tâm, sự chuyển biến về tâm sinh lý. Trong khoảng thời gian đó, cảm xúc chủ đạo của cô là lo lắng. Anxiety (Lo âu) đã chiếm vị trí trong bảng điều khiển cảm xúc. Chính việc này gây ra những sự thay đổi trong hành vi của một đứa trẻ chuẩn bị ở giai đoạn trưởng thành. Và có lẽ, đúng như Joy (Vui vẻ) nói: Càng lớn, niềm vui cũng vơi dần đi.

Để lý giải điều này, tôi nghĩ đó là vấn đề ai cũng từng gặp phải. Ngày còn bé, chúng ta từng cảm thấy cuộc đời này là màu hồng, mọi thứ đề quay quanh chúng ta, tất cả tình yêu thương đều dồn vào chúng ta, không phải đối diện với những nỗi lo lắng. Lớn dần lên, con người dần phải chấp nhận những nỗi lo lắng bắt đầu tràn vào bên trong mình. Ngay từ tuổi lên 6, lên 7, nhiều bạn nhỏ đã đánh mất sự hồn nhiên của mình bởi áp lực từ bài tập, sách vở, những yêu cầu phải trở thành đứa con ngoan ngay từ lúc còn nhỏ tuổi. Những nỗi lo lắng ấy cứ tăng dần theo thời gian, cho đến năm 15 tuổi thì chúng ta không còn là trẻ con nữa. Đó là độ tuổi ta liên tục phải đối diện với những vấp ngã, trở ngại, những thách thức. Và vì vậy, vấn đề này không ở riêng ai.

Khi lớn lên, chúng ta được tiếp xúc với nhiều năng lượng mới, dopamine kích thích cảm giác vui vẻ bị quá tải. Do đó, ta rơi vào trạng thái trơ lì cảm xúc, không còn thích thú với bất kỳ vấn đề gì. Chúng ta liên tục được trao cho nhiều cơ hội để trải nghiệm, để tận hưởng. Vì thế, cảm giác thích thú cũng khó đọng lại. Nếu như ngày trước, chỉ một que kẹo có thể làm con người hạnh phúc, thì giờ đây thứ họ cần là quà sinh nhật đắt đỏ, tiền bạc, những cuộc vui và những lời tán thưởng. Nhu cầu tăng cao theo thời gian cũng dẫn đến sự hứng thú giảm dần.

Con người trong xã hội hiện đại mất đi khả năng cảm nhận niềm vui. Trong một thời gian nào đó, họ không còn thấy hứng thú với điều gì. Những niềm vui đến rồi trôi đi rất nhanh. Đôi khi, một ngày trôi qua mà họ thậm chí còn không nhận ra. Đến khi một tuần trôi qua, họ chợt thấy thời gian trôi quá nhanh để rồi cũng chỉ bất lực chứ chẳng biết làm gì.

Chúng ta càng lớn, những nỗi lo càng tăng lên. Ngày còn bé, nỗi lo là điều không tồn tại, hoặc chỉ gắn với những câu chuyện bị mẹ mắng, bị phạt. Giờ đây, nỗi lo gắn liền với hiệu suất công việc, với tiền lương, với sự quở trách của sếp, với cái nhìn khinh miệt từ đồng nghiệp và nỗi lo của chính mình rằng “Nếu cả đời không rực rỡ thì sao?”. Câu nói đó xuất hiện tưởng như chỉ là một xu hướng, nhưng nó thực sự là câu hỏi mà rất nhiều người đã hỏi mình. Đó cũng là lý do mà trưởng thành không vui nữa.

Trưởng thành có lẽ cũng là lúc niềm vui phải dừng lại đâu đó. Chúng ta, không thể hóa thành cậu bé Peter Pan để sống mãi trong thế giới tuổi thơ. Chúng ta, buộc phải mạnh mẽ và gan dạ để nhìn thấy những vấn đề của tuổi trưởng thành. Tôi còn nhớ đến Inside Out 1, trong cuộc hành trình rượt đuổi trong tâm trí của Riley, Bing Bong – nhân vật đại diện cho tuổi thơ của cô bé đã bị bỏ lại. Khi Riley lớn lên, những ký ức về cậu dần bị lãng quên và phải đưa vào vùng ký ức bị lãng quên. Sự hy sinh của Bing Bong để Joy (Vui Vẻ) cứu lấy Riley ở cuối phim là một trong những phân cảnh cảm động nhất, tượng trưng cho việc tuổi thơ phải lùi lại phía sau để chúng ta có thể lớn lên. Bởi vậy, sau tuổi thơ, có lẽ hạnh phúc khó mà tồn tại. Chỉ có chúng ta, là người đưa cảm xúc của tuổi thơ trở về.
Thêm
52
0
0
Viết trả lời...
Gặp gỡ nhiều con người mới trong xã hội hiện đại, tôi thấy ở họ những con người năng động, tiến bộ, văn minh, công việc đãi ngộ tốt, bạn bè hòa đồng, gia đình ủng hộ, nhưng khi gặp nỗi lo buồn, đau khổ trong cuộc sống, họ không biết phải tìm ai. Đôi khi là bởi, họ sợ làm phiền người khác bởi những cảm xúc của mình. Sau đó, cũng là bởi rất nhiều người văn minh, phát triển nhưng không quan tâm dến cảm xúc của người khác, cho rằng cảm xúc là chuyện riêng tư không nên chia sẻ. Những người có xu hướng chia sẻ cảm xúc quá nhiều thường xuất hiện trong những mác nhãn về sự “mít ướt”, “không biết quản lý cảm xúc cá nhân”. Và họ xem cảm xúc là chuyện của riêng mỗi người. Những người buồn, lo lắng hay gặp vấn đề tâm lý phần nhiều cũng trở nên ít chia sẻ hơn là bởi vậy.

Sự thiếu hụt cảm xúc, tôi nghĩ cũng đến từ vấn đề này. Từ việc nhận thức rất rõ mình cảm thấy như thế nào, gọi được tên cảm xúc của mình, cho đến khi nhận phải sự thờ ơ từ xã hội, ta bắt đầu gọi chung cảm xúc của mình là “cảm xúc tiêu cực”. Khi đó, họ không thể nhận ra vấn đề rằng mình đang gặp vấn đề gì, phân biệt rõ đó là trạng thái buồn hay lo hay tủi thân. Dần dần, sự phân biệt cảm xúc có sự thiếu hụt đi. Tôi bắt đầu nhận ra vấn đề này từ trong gia đình và các lớp học. Khi tôi chia sẻ cảm xúc với cha mẹ, điều tôi cần không phải những bài học triết lý, mà cần một sự che chở, thấu hiểu và cảm thông. Người lớn thì luôn bận rộn với những vấn đề riêng tư của họ. Câu chuyện của họ có lẽ luôn quan trọng hơn tất cả. Và vì thế, rất ít cha mẹ quan tâm đến cảm xúc thực sự của con mình, trong khi luôn yêu cầu con phải thấu hiểu sự vất vả của cha mẹ. Vấn đề này còn đến từ trường học. Các giáo viên ngoài việc dạy dỗ thì rất ít lắng nghe tâm tư của học sinh, hoặc dùng kiến thức của mình để che mờ nó đi. Bạn bè cũng không nhiều sự thấu hiểu, vì học sinh vốn đã lớn lên trong sự thiếu quan tâm cảm xúc của cha mẹ. Tóm lại là, ai cũng muốn được quan tâm đến cảm xúc, nhưng lại ít ai quan tâm đến cảm xúc của người khác.

Khi con người dần thiếu hụt cảm xúc với thế giới xung quanh, họ sẽ cắt đứt kết nối với cộng đồng của mình. Một mặt, đây là vấn đề tiêu cực. Dù có sự ngăn cách từ rất nhiều yếu tố, nhưng chúng ta đều là con người trong một cộng đồng. Con người trong cùng cộng đồng thì đều là những “người quen xa lạ”, có thể chia sẻ, kết nối với nhau bất cứ khi nào chúng ta cần. Xã hội và những con người xung quanh nên được giáo dục về việc quan tâm hơn đến cảm xúc của người khác. Bởi vậy, thiếu đi kết nối là vấn đề tiêu cực. Tuy nhiên, mặt khác, nó cũng là vấn đề tích cực. Nó cho con người không gian riêng để tự chữa lành, vỗ về cảm xúc của bản thân. Rất nhiều hoạt động thiền, yoga, bơi,.. đã cho con người được tự chữa lành mà không cần sự kết nối. Việc đó không phải sự cách ly với thế giới bên ngoài, đó thực chất là việc chúng ta tạm cho mình những khoảng trống, những vùng lặng để bảo vệ chính mình.

Chúng ta đang sống trong một thời đại hứa hẹn sự kết nối, nhưng kì thực đều là kết nối ảo. Tôi muốn nói về những sự gắn kết gia đình, cộng đồng trong những năm trước đây. Tết đến, đối với tôi đó là khoảng thời gian vui nhất của tuổi thơ mà đứa trẻ nào cũng trông ngóng. Đó là dịp đoàn viên, sum vầy, nơi những con người đi xa cũng trở về. Sau một năm, câu chuyện ấm nồng hơn bởi nó chứa đựng những cảm xúc sau một năm trời vẫy vùng với cơm áo gạo tiền. Chỉ cần thấy những người mình yêu thương ở bên nhau, chia sẻ những câu chuyện cùng nhau, tôi nghĩ đó là điều hạnh phúc nhất. Nhưng tôi nhận ra tết bắt đầu thay đổi, hay là chính con người thay đổi. Xã hội chạy theo đồng tiền, con người chạy theo xã hội. Những câu chuyện tết cũng nhạt dần, hầu hết chỉ nói về tiền bạc và những nỗi lo. Tôi thường ước tết ngày xưa được trở về trong ký ức, cho tôi được sống lại bên nó dù chỉ một ngày. Nhưng tôi nghĩ, điều đó có thể không cần xảy ra nếu con người có thể gắn kết bên nhau bất chấp hoàn cảnh xã hội.
Thêm
73
0
0
Viết trả lời...
“Cái chết của tác giả” là một học thuyết được đưa ra bởi triết gia/nhà phê bình văn học người Pháp Roland Barthes (1915-1980). Khái niệm này được sáng tạo nên không phải để nói về sự từ giã thân xác, mà là khi chúng ta nói lời từ khước đối với vai trò của người nghệ sĩ trong quá trình cảm nhận tác phẩm. Nhà văn và tiểu sử cuộc đời họ không hoàn toàn trở thành lý do để tạo nên một tác phẩm có giá trị. Ngay cả những tên tuổi tài năng, có dấu ấn và trở thành nhà văn kinh điển cũng có những sáng tác chưa nổi trội, bị đánh giá thấp trong giới phê bình và tiếp nhận. Do đó, việc giải thiêng quyền năng nghệ sĩ cũng là cách để chúng ta định nghĩa, cảm thụ tác phẩm một cách hồn nhiên nhất, vượt thoát khỏi các quy ước vốn có.

"Cái chết của tác giả" là một tiểu luận nổi tiếng năm 1967 của nhà phê bình người Pháp Roland Barthes. Khái niệm này cho rằng khi một tác phẩm ra đời, vai trò định hướng ý nghĩa của tác giả đã chấm dứt; quyền giải thích tác phẩm hoàn toàn thuộc về người đọc. Tác giả không còn là "người quyết định" nắm giữ ý nghĩa duy nhất. Việc cố gắng tìm hiểu xem tác giả thực sự nghĩ gì chỉ giới hạn sự đa dạng của văn bản. Thay vì đọc và liên tục gán nó vào cuộc đời của người nghệ sĩ, để đánh giá suy nghĩ của họ trong một giai đoạn nào đó có ảnh hưởng đến tác phẩm như thế nào, người đọc cần tách mình ra để suy nghĩ thấu suốt và trong sáng nhất. Ý đồ tiếp nhận khi đó không bị chi phối bởi những định nghĩa của người cầm bút.

Người đọc trở thành người sáng tạo thứ hai, tự do kết nối và diễn giải tác phẩm dựa trên trải nghiệm, văn hóa của riêng họ. Khi đó, những trải nghiệm văn hóa, lối sống, kinh nghiệm sống sẽ trở thành bước nền để cảm nhận tác phẩm. Người đọc, với những cảnh đời khác nhau, sẽ tạo nên những cách hiểu khác nhau. Hàng ngàn cách hiểu khác nhau có thể tạo nên sự thành công và sức sống cho tác phẩm. Những tác phẩm lớn, như “Những người khốn khổ”, như “Miếng da lừa”, như “Bà Bovary” đã được tạo ra cách đây hàng trăm năm, nhưng chúng ta khó có thể khẳng định đã giải hết được những mật mã ẩn giấu trong đó. Việc đưa ra những cách hiểu khác nhau không phải để tranh luận xem ai đúng, ai sai. Đó chỉ là cách làm giàu thêm tác phẩm và cho con người cơ hội được trải nghiệm đúng nghĩa.

Việc đưa ra quan điểm này cũng đồng thời tạo ra một vấn đề mới, đó là bất cứ ai đều có thể tiếp nhận nghệ thuật. Nghệ thuật, giờ đây không còn bị đóng khung trong những định kiến, văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ,... Trước đây, văn học trung đại chỉ mở cửa cho tầng lớp quý tộc, có địa vị được tiếp cận nghệ thuật. Bởi cái nhìn của người dân khi đó bị đánh giá là tiếng nói của “dân đen”, không có học thức, không có khả năng cảm thụ văn chương, và hơn hết là thậm chí họ còn không biết chữ. Bởi thế, trong xã hội ngày nay, văn học mở ra rất nhiều cơ hội cho việc đó. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng, những định kiến và rào cản xã hội thì vẫn tồn tại, chưa thể giải quyết. Việc sống dưới những thể chế áp đặt, những quy phạm và nỗi sợ chính quyền phần nhiều đã khiến các nhà văn không dám thể hiện tiếng nói của mình, đồng thời khiến người đọc không dám tiếp nhận bằng những góc nhìn riêng. Đối với nhà văn Nguyễn Quang Thiều, đây là rào cản cho chính nhà văn, gây nên tình trạng văn học Việt Nam sau 1975 chưa có nhiều đột phá.

“Cái chết của tác giả” đang đòi hỏi chúng ta nhìn sâu hơn vào quá trình tiếp nhận, để mọi cá nhân đều có khả năng đưa ra ý kiến, bất chấp họ là giới phê bình hay độc giả bình dân.
Thêm
63
0
0
Viết trả lời...
Xã hội ngày càng đặt nhiều mối quan tâm hơn cho giáo dục hiện hành. Đã không còn là thời đại “dạy – chép” kiến thức như trước. Giờ đây, xã hội đòi hỏi người dạy phải có khả năng dẫn dắt, định hướng thay vì thu hẹp sức nghĩ của học sinh trong những suy nghĩ cá nhân, người học cần có tư duy tự tìm hiểu, khả năng phản biện để tái định nghĩa, phản tỉnh đối với những gì được học. Phương pháp này có khả năng kích thích tư duy của học sinh, tạo nên một cộng đồng thế hệ có khả năng tư duy phản biện. Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là việc giáo dục phản biện như vậy đã thực sự tối ưu hay chưa? Bởi lẽ, trong giáo dục phản biện, những tư duy, suy nghĩ của học sinh vẫn liên tục bị dẫn dắt bởi định nghĩa của giáo viên, và một phần định kiến trong “cựu học” vẫn chưa được thay thế.

Giáo dục hôm nay đòi hỏi những cá nhân biết tư duy, có khả năng phản biện, đối chiếu để không thỏa hiệp với những kiến thức đã có. Ngay trong giáo dục, việc truyền đạt kiến thức đã đi liền với khá nhiều vấn đề bất cân xứng, đánh giá học sinh dựa trên màu da, giới tính hoặc quan hệ cá nhân. Vấn đề này đã được đề cập đến từ rất lâu nhưng chưa thể giải quyết. Việc mà giáo dục giờ đây cần là trao cho học sinh tiếng nói để nhận diện những bất cân xứng đó, từ đó các em có thể phản kháng lại chúng không chỉ trong môi trường học đường. Ngay cả khi giáo dục chưa thể hoàn toàn đem lại khả năng đó, nó cũng cần phải truyền lửa, thôi thúc những cá nhân khác đam mê học tập, khao khát lên đường kiếm tìm con đường cho riêng mình.

Tuy nhiên, vấn đề được nhìn nhận là giáo dục phản biện chưa đem lại hiệu quả sâu sắc. Giáo viên vẫn liên tục đóng vai trò như kho lưu trữ kiến thức, luôn dùng kiến thức để che mờ đi tiếng nói của học sinh, khiến cac em không có được không gian mở để cất tiếng. Vấn đề còn đến từ chính học sinh, chưa có khát khao muốn phản biện, quen với suy nghĩ nhìn vấn đề một chiều, ngại thay đổi, ngại tích lũy. Vấn đề sâu xa hơn còn bắt nguồn từ chính sự giáo dục của gia đình và xã hội. Chúng ta đang sống giữa xã hội phương Đông với lối giáo dục theo khuôn mẫu, chưa có nhiều cải tiến. Trẻ em khi lớn lên luôn bị yêu cầu phải ngoan, phải nghe lời, không được đặt câu hỏi hoặc lên tiếng. Ngay cả khi có thắc mắc, các em cũng liên tục bị trả lời “Lớn lên con sẽ biết” thay vì được giải thích để thấu hiểu sâu vấn đề. Khi đứng trước một thử thách như việc tập đi xe đạp, cha mẹ cũng thường quen với suy nghĩ bảo bọc con, khiến cho đứa trẻ không dám bước đi mà không có bố mẹ bên cạnh, không dám vấp ngã để đứng lên làm lại. Cách giáo dục ảnh hưởng đến con cái từ rất sớm. Tôi bắt đầu nhận ra sự thiếu hụt cảm xúc, thiếu kĩ năng phản biện của mình một phần là do bố mẹ luôn bảo bọc, không cho tôi cơ hội được giao lưu, nhìn ngắm thế giới, tiếp xúc với nhiều không gian mới hơn. Đến khi lớn lên, phát hiện mình thiếu hụt quá nhiều, phải đi học lại từ đầu, lúc đó thật sự rất khó khăn.

Nhà giáo dục và triết gia người Brazil Paulo Freire cho rằng kiểu giáo dục phản biện này là “giáo dục nhà băng”. Kiến thức thay vì được tiếp nối, nhân giống và phát triển thêm từ nhiều góc nhìn bằng quan điểm sống của học sinh thì lại liên tục bị “ban bố” bởi người dạy. Việc học lúc này cũng tương tự như việc giao hàng hóa, chuyển giao tiền, liên tục bị trao đổi từ người này sang người khác. Kiến thức khi đó bị nhồi nhét, ấn định quan điểm vào tư duy phản tư của học sinh.

Tôi thực sự mong rằng những quan điểm của xã hội phương Đông sẽ được nới lỏng, trở nên rộng mở hơn. Trẻ em sẽ không còn phải học vì bổn phận, thay vào đó, các em được trao quyền để suy tư, để nhìn vấn đề theo một cách khác. Học tập là cách duy nhất để các em nhận diện bất bình đẳng và phản kháng lại bất bình đẳng trong đời.
Thêm
77
0
0
Viết trả lời...
Nghệ thuật trong thời đại số phải làm gì để tạo nên những điểm chạm cảm xúc cho con người? Đây là câu hỏi khiến tôi thực sự băn khoăn. Bởi lẽ, nghệ thuật giờ đây đang bị nghi ngờ về giá trị cốt lõi của nó. Người ta trăn trở rằng liệu nó có thể bị thay thế bởi AI hay không. Các thiết bị công nghệ AI, bằng cách thuật toán của nó, đang tạo nên những sản phẩm đẹp hơn, công phu hơn, sáng tạo hơn và “gần người” hơn. Điều duy nhất thiếu trong đó là hồn người, nhưng nó lại được sử dụng rộng rãi, phổ biến hơn là nghệ thuật tự nhân. Tôi còn nhớ câu chuyện về “Hồn hoa”, khi người nông dân ngày ngày gắn bó với đồng quê thấy trong bức tranh của một họa sĩ vẽ hoa “thiếu đi cái vòng mờ ảo tỏa xung quanh” mỗi bông hoa. Cái mà bức vẽ của người nghệ sĩ ấy thiếu, còn gì khác ngoài “hồn hoa”. Nghệ thuật AI trong thời đại này cũng thiếu đi cái vòng mờ ảo đó, chỉ là chúng ta chưa thể khắc phục được vấn đề này để đem nghệ thuật quay về vị trí vốn có.

AI có thể hỗ trợ hoàn toàn công việc sáng tạo nghệ thuật, hoặc thậm chí thay phần con người trong công việc đó. Con người sử dụng AI như một công cụ đắc lực. Việc tạo nên nghệ thuật bằng AI dễ dàng, đa dạng, không tốn nhiều thời gian và tiền bạc, công sức. Nhiều sản phẩm AI giờ đây được đón nhận ngang với sản phẩm do con người sáng tạo, thậm chí còn hot hơn. Tiêu biểu là các sản phẩm âm nhạc được remix và phối lại bằng AI. Các nghệ sĩ tác giả của những bài hát này đã lên tiếng về việc nhạc AI tràn lan khắp nơi, sử dụng trí tuệ của họ mà chưa được sự cho phép. Thế nhưng, chúng ta vẫn đón nhận những sản phẩm này nồng nhiệt, hoặc có thể nói là không thể dứt ra được sức lôi cuốn của nó.

Khi đó, bất kỳ ai cũng có thể trở thành người nghệ sĩ. Chỉ cần khả năng viết lời mà không cần chứa đựng chiều sâu suy tư bên trong cùng một thiết bị điện tử để sử dụng AI, như vậy là một sản phẩm nghệ thuật ra đời. Sản phẩm này phần nhiều gây ra những phản ứng trái chiều. Nhưng nó vẫn được ưa chuộng khi được giới trẻ sử dụng làm trò đùa, trở thành những câu hát đặc trưng riêng của giới trẻ. Bước vào thế giới mạng xã hội, thật sự rất khó để phân biệt được đâu là sản phẩm của con người, đâu là sản phẩm AI. Giới trẻ thì nghiễm nhiên là rất hưởng thụ với những sản phẩm này. Một phần khác, các tác phẩm dùng AI làm giảm nhẹ đi trí tuệ con người, gây ra sự nhập nhằng giữa nhân tạo và AI tạo. Các bài hát, bài thơ đó phần nhiều chưa được kiểm duyệt, chiêm nghiệm bởi giới nghiên cứu. Đôi lúc, nó thiếu đi giá trị, chỉ mang ý nghĩa như một văn hóa phẩm gây cười. Điều này chẳng khác gì thuật ngữ 67 và “rage bait”, là mồi giận dữ gây tức giận cho cộng đồng khán giả.

Vì truyền thông, người nghệ sĩ bắt đầu trở thành đối tượng mổ xẻ. Họ bị nghi vấn “hết thời”, bị chê bai rằng “nhạc còn không hay bằng nhạc AI”. Họ bị buộc bước vào tháp ngà của những định kiến, những truy vấn từ xã hội. Còn AI, kẻ chưa từng lên tiếng trong những cuộc đối thoại thì đứng yên cười nham hiểm khi nó đã thay đổi cách chúng ta nhìn về người nghệ sĩ.

Nghệ thuật giờ đây, nên được đưa về đúng với định nghĩa của nó. Nghệ thuật chưa bao giờ cần là sự hoàn hảo. Nó cần có những điểm chạm, khoảng hẫng và khoảng lên cao để người đọc được đi sâu. Tác phẩm nghệ thuật thực sự phải gây nên những đối thoại, trăn trở, thậm chí là tranh biện. Càng có những ý kiến trái chiều xung quanh càng cho thấy nghệ thuật đã đạt được mục tiêu của nó: gây nên sự đối thoại, va chạm và giao thoa giữa những nền văn hóa cá nhân. Nghệ thuật, nên được trả về nguyên bản như thế.
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...
Screenager là thuật ngữ lai ghép giữa từ "screen" (màn hình) và "teenager" (thanh thiếu niên), dùng để chỉ thế hệ trẻ lớn lên trong thời đại số, có kỹ năng sử dụng công nghệ cao và dành phần lớn thời gian tương tác với các thiết bị điện tử như điện thoại, máy tính và tivi. Thế hệ trẻ trong thời đại công nghệ này thường có hiểu biết rộng mở về các thiết bị điện tử, dành rất nhiều thời gian cho các thiết bị này nên có thể dẫn đến sự phụ thuộc. Thuật ngữ này cũng là tiêu đề của bộ phim tài liệu nổi tiếng năm 2016 khám phá cách màn hình ảnh hưởng đến sự phát triển, giao tiếp và tâm lý của thanh thiếu niên. Câu hỏi được đặt ra đó chính là trong thời đại công nghệ số phát triển, nội dung được tiếp cận dễ dàng qua một cú chạm, làm thế nào để chạm sâu đến cảm xúc của người sử dụng, nhất là để nội dung đó “đọng lại” chứ không “lướt đi”?

Screenagers đã thay đổi cách chúng ta nhìn về giới trẻ. Nếu như trước đây, hình dáng tuổi thơ của thanh thiếu niên được định nghĩa bằng các trò chơi dân gian, những kí ức gắn với món ăn tuổi thơ, thì giờ đây nó bị nhìn nhận theo cách khác. Lời ru, những câu hát, những bài hát, những trò chơi rồng rắn lên mây, cá sấu lên bờ,... giờ đây thiếu vắng dần trong kí ức của tuổi trẻ. Tuổi thơ giờ đây gắn liền với chiếc điện thoại, những chương trình tivi có nội dung hấp dẫn. Dĩ nhiên, không thể phủ nhận mỗi giai đoạn xã hội phát triển sẽ tạo nên cách con người hành xử khác nhau. Tuy nhiên, việc này đang làm đồng hóa hình dáng tuổi thơ của mỗi người. Nếu như trước đây tuổi thơ của người Việt mang màu sắc riêng, tuổi thơ của người Mỹ mang màu sắc khác, thì giờ đây chúng trở nên giống nhau – vì cùng có chung các thiết bị điện tử.

Thế hệ trẻ giờ đây tiếp cận thế giới qua chiếc màn ảnh. Những tri thức thực tế không được trải nghiệm khám phá qua thực tế, mà là qua các thiết bị đại chúng. Một đứa trẻ có thể lớn lên cùng với chiếc điện thoại, máy tính, vai trò đồng hành của cha mẹ khi đó cũng dần giảm đi. Chúng có cảm giác yêu chiếc điện thoại hơn việc dành thời gian cho gia đình, bởi điện thoại không phán xét, không yêu cầu, ngược lại còn cung cấp cho chúng những nội dung cuốn hút. Nhiều đứa trẻ lớn lên trong hoàn cảnh như vậy dễ dàng mắc chứng trầm cảm, rối loạn lo âu và xây dựng khoảng cách với cha mẹ mình từ sớm. Theo thời gian, những khoảng cách này được kéo giãn ra, gây ra mối lo lắng về giá trị thực sự của gia đình đối với sự lớn lên của mỗi người.

Màn hình điện thoại, tivi, máy tính giờ đây không còn là công cụ, mà là người bảo mẫu trong gia đình từ rất sớm. Trẻ em, khi lên 3 tuổi, đã được bố mẹ cho sử dụng công nghệ để con tập trung hơn khi ăn uống, không quấy khóc, để bố mẹ có nhiều thời gian và sức khỏe hơn. Việc này dễ dàng khi nó tạo ra khoảng nghi cho bố mẹ, giúp bố mẹ có nhiều thời gian để nghỉ ngơi và không mất sức khi chăm con. Nhưng đi theo cùng với lợi ích đó, đứa trẻ dễ dàng bị phụ thuộc vào công nghệ từ sớm. Thậm chí, chúng có thể phụ thuộc vào công nghệ (không ăn khi không có điện thoại). Cha mẹ, rất nhiều người đã tin tưởng vào vai trò của thiết bị công nghệ. Họ sẵn sàng để con ở nhà cùng với chiếc điện thoại vì biết rằng với nội dung đa dạng ở đó, con sẽ bị thu hút, liên tục bị cuốn vào và dĩ nhiên sẽ không gây ra các hiểm họa khác. Nhưng họ quên rằng, “bảo mẫu” giúp họ chăm con cũng tiềm ẩn nhiều hiểm nguy khi nội dung trong đó chưa được kiểm duyệt. Những thí nghiệm trên các nền tảng mạng xã hội thậm chí còn gây ra nhiều hiểm họa hơn khi đứa trẻ thoát ra khỏi chiếc điện thoại.

Một thế hệ screenagers nên dịu dàng hơn với ông bà, cha mẹ của họ khi được yêu cầu hướng dẫn cách sử dụng công nghệ. Chúng ta dễ dàng có cảm giác khó chịu, bực tức khi đã hướng dẫn ông thực hiện thao tác suốt cả ba tiếng, đã chỉ cho mẹ cách gọi bằng app suốt 30 phút mà họ chưa thể làm được. Nhưng họ đâu phải là screenagers giống như chúng ta? Họ cần có thời gian để học hỏi, để tiếp cận dần với những công nghệ từng rất xa vời trong thời đại của họ. Tôi nghĩ, những phút giây hướng dẫn gia đình mình sử dụng công nghệ lại là một cơ hội tuyệt vời để tăng sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình.
Thêm
73
0
0
Viết trả lời...
“Việt Nam hiện ra với tôi qua những khoảnh khắc nhỏ - những cử chỉ đầy ân cần và kiên cường đã định hình cách tôi nhìn thế giới. Càng qua năm tháng, sự gắn bó ấy càng sâu đậm hơn,” Catherine Karnow chia sẻ.

Việt Nam, có lẽ chẳng phải kí ức của riêng một cá nhân nào. Đó là di sản kí ức của dân tộc, thời đại, xã hội và luôn nằm sâu trong tâm trí mỗi người. Qua khung kính kỉ niệm, Việt Nam hiện lên qua những khoảnh khắc nhỏ, nhưng là những khoảnh khắc rực rỡ, thân thương và khó để chôn vùi. Những cử chỉ đầy ân cần và yêu thương ấy đã định hình cách mà chúng ta đối thoại với thế giới, giao lưu với những vùng văn hóa khác mình. Càng theo năm tháng, sự gắn bó ấy càng trở nên đậm sâu hơn. Nó đã trở thành một miền kí ức trong tâm thức người ra đi và người ở lại. Qua bấy nhiêu sự thay đổi, tôi vẫn thấy Việt Nam là một vùng đất đẹp đẽ lạ thường, giữ được sự nguyên sơ, hồn hậu vốn có.

Từ hình ảnh của đất nước mình, tôi suy nghĩ về việc những kí ức có thể định hình nhân cách, dựng xây cách chúng ta nhìn thế giới. Những kí ức gắn liền với quá khứ, thường mang theo hình ảnh của những con người, vùng đất, miền quê, không gian thân thương. Chúng tác động đến tâm tưởng của ta. Tâm trí ta thường dễ bị ảnh hưởng, chi phối bởi quá khứ. Có thể chúng ta không nhận ra, nhưng quá khứ luôn đọng lại một phần bên trong mỗi người. Theo thời gian, quá khứ bắt đầu lớn lên, nó không còn là quá khứ nữa, nó trở thành hình ảnh của thực tại. Nếu một giây phút nào đó, bạn chợt nhận ra hành động mình đang làm giống hệt như một hành động đã từng xảy ra trong quá khứ, đó là tiếng gọi của hồi ức và kỉ niệm trở về. Từ đó, nó chi phối cách ta nhìn cuộc đời. Những góc nhìn bị định nghĩa trong quá khứ sẽ liên tục được gìn giữ hoặc sẽ thay đổi, nhưng vẫn được đặt trong sự tương quan đối sánh với quá khứ.

Kí ức, khi đó cũng đồng thời trở thành một phương tiện trao niềm tin cho con người. Nếu được sống trong quá khứ tốt đẹp, con người thường suy nghĩ rằng nếu quá khứ đã có thể xảy ra điều đó, vậy thì tại sao hiện tại lại không thể tiếp tục diễn ra điều này. Bởi vậy, họ bắt đầu hành động để thay đổi hiện tại, để quay về với quá khứ nhiệm màu và lấp lánh. Nếu phải sống trong quá khứ nhiều tổn thương, đau đớn, con người sẽ có xu hướng muốn thay đổi nó, để được sống trong những cảnh đời khác. Dù quá khứ diễn ra theo cách nào, con người cũng đều sẽ hành động để có được niềm tin trong đời. Những kí ức cổ vũ cho ta, động viên, khích lệ ta vượt lên mọi hiện thực buồn khổ để vẽ nên câu chuyện cho riêng mình.

Việt Nam, theo một cách nào đó, cũng đã hiện lên với tôi như thế. Việt Nam có lẽ không chỉ đơn thuần là kí ức, mà còn là hiện tại, là tương lai. Nhìn thấy đất nước mình ngày ngày rực rỡ, tỏa sáng lung linh mà không đánh mất đi những nét nguyên sơ vốn có, lòng tôi không khỏi dâng lên nỗi tự hào. Thấy quê hương mình chưa bao giờ đẹp thế này. Đẹp đến nỗi ngay cả những tàn tích cũng rất đẹp.

Ngồi trên máy bay, nhìn thấy Việt Nam mình chỉ còn là một chấm nhỏ qua cửa sổ, tôi khao khát đến ngày được trở về, lại được thấy một dải đất đẹp đẽ như thế. Đã thôi cái cảm giác ban đầu khi rời xa mảnh đất quê hương, giờ cảm giác mong đợi ngày về lại quyến luyến lấy tôi. Việt Nam, quả thực là đất nước của những chuyến đi để trở về.
Thêm
64
0
0
Viết trả lời...