Mạng xã hội Văn học trẻ

Đứng giữa phố đông người qua, trên cả nhân gian mà ở xa kia là đồng loại của ta đấy, sao ta chẳng tìm được một người để sẻ chia? Ta đứng giữa đám đông mà thấy mình như một kẻ vô hình, chẳng biết chia sẻ cùng ai, cũng chẳng tìm được một bờ vai nào đủ tin cậy để tựa vào. Đó là lúc nỗi cô đơn không còn là một trạng thái, mà nó hóa thành một thực thể hiện hữu, bủa vây và thắt chặt lấy tâm hồn vốn đã quá mệt mỏi vì những gồng gánh bấy lâu.

Cái cảm giác bơ vơ và trơ trọi ấy đôi khi đến vào một buổi chiều tà, khi ánh nắng cuối ngày tắt lịm và bóng tối bắt đầu lan trên những bức tường lạnh lẽo. Ta thèm một tiếng người, thèm một cái nắm tay, hay chỉ đơn giản là một câu hỏi han. Đáng sợ nhất là khi tỉnh dậy lúc xế chiều, căn phòng tối sập, thấy chung quanh chẳng có ai, chẳng có ai chờ cơm, đó là lúc cô độc mà người ta muốn khóc nhất. Ta thèm được trút bỏ cái lớp vỏ mạnh mẽ mà hằng ngày để đổi lấy một phút giây được yếu lòng, được khóc, được vỗ về như một đứa trẻ. Sự "thèm người" ấy thực chất là một tiếng kêu cứu của trái tim, là khát vọng được kết nối giữa những tâm hồn đang dần xa cách trong thế giới ảo hào nhoáng này.

Lúc ấy, con chỉ ước ông trời cho con một người ở bên cạnh. Con chỉ ước có một gia đình để an ủi, vỗ về con mỗi khi buồn. Càng thấy cô đơn càng thấy nhớ nhung gia đình da diết. Nước mắt là thứ dễ bị nước mắt gợi ra nhất. Bởi suy cho cùng, con người dù có kiên cường đến đâu cũng có lúc yếu đuối, mỏi mệt và cần được yêu thương.

Nhưng trong khi chờ đợi một "ai đó" xuất hiện, có lẽ điều duy nhất ta có thể làm là tự ôm lấy chính mình. Hãy để đôi tay mình xoa dịu những bận lòng của ngày hôm nay, để trái tim mình tự vỗ về những vết thương chưa kịp khép miệng. Cô đơn không phải là một hình phạt, mà có thể là một khoảng lặng để ta học cách đối thoại với chính mình một cách chân thành nhất. Lời cầu nguyện gửi đến trời xanh có thể chưa được hồi đáp ngay lập tức, nhưng cứ yêu và tin, chờ ngày ông trời hồi đáp. Không sợ cô đơn, chỉ sợ mình không đủ yêu mình..
Thêm
76
0
0
Viết trả lời...
Vùng ký ức xưa ta còn nhau còn đâu em hỡi... Nắng thanh xuân rực rỡ và chói lọi. Một mùa nắng đi qua, một kí ức ở lại. Nhưng có những đứa trẻ vẫn mãi mãi không thoát ra khỏi được vùng trời áy.. chúng sống mãi dưới vòm trời ấy để hồi niệm quá khứ mà có đâu biết rằng chẳng bao giờ có thể quay lại năm tháng ấy nữa.

Đó là vùng ký ức về những năm tháng thanh xuân, nơi ta đã từng có nhau, từng tin rằng thế giới này là màu hồng và ta mãi mãi là những đứa trẻ. Nhưng khi mùa nắng ấy đi qua, điều duy nhất ở lại chỉ là những mảnh vỡ của kỷ niệm, óng ánh và sắc lẹm, cứa vào lòng người.

Hóa ra, trưởng thành không phải là lớn lên, mà là học cách từ biệt những "đứa trẻ" vẫn còn đang mải miết rong chơi bên trong mình. Có những người trong chúng ta, vẫn mãi mãi mắc kẹt ở một quãng sân trường, một góc phố quen hay một buổi chiều tà rực nắng của nhiều năm về trước. Họ sống bằng hồi ức, hít thở bằng bầu không khí của quá khứ và nuôi nấng những hy vọng viển vông về một ngày được quay lại. Họ là những đứa trẻ không chịu lớn, hay đúng hơn, là không nỡ rời xa cái vùng trời trong vắt mà ở đó chia xa là vết xước trong tim.

Những năm tháng ấy giống như một thước phim âm bản, càng soi vào ánh sáng rực rỡ của hiện tại thì càng thấy nó xa xăm. Đôi lúc, giơ tay ra, cứ tưởng rằng có thể nắm lấy những mảng kí ức, chẳng ngờ nó hóa thành sương mai, tan thành khói bụi. Vùng ký ức xưa, nơi có tiếng cười trong trẻo và những lời hứa hẹn bạc đầu, giờ đây chỉ còn là một khoảng không vắng lặng. Người ta vẫn thường nói "nắng thanh xuân không bao giờ trở lại hai lần", không phải vì mình không còn nhớ, mà vì người đứng dưới nắng đã chẳng còn là đứa trẻ của ngày xưa.

Sống mãi dưới vòm trời hoài niệm là một cách để vỗ về lòng mình, nhưng cũng là một loại chối bỏ thực tại. Bởi khi ta cứ đắm mình trong cái chói lọi của quá khứ, ta sẽ chẳng bao giờ thấy được vẻ đẹp của những mùa nắng mới. Ký ức nên là một điểm tựa để ta vững bước, chứ không phải là một chiếc lồng giam cầm khát vọng. Năm tháng ấy đã qua, người cũ đã xa, và vòm trời ấy giờ chỉ còn là vùng kí ức xưa ta xa nhau.
Thêm
66
0
0
Viết trả lời...
"Những đứa trẻ rồi sẽ đi xa nhà/ Có rất nhiều hành trình qua trong đời...". Rồi ai cũng phải đi xa nhà, xa nơi mái ấm mình đã từng lớn lên. Có những hành trình rực rỡ đã bước qua tuổi trẻ, nhưng lại làm mất đi của mình một cơ hội được quay về nhà. Mình sợ nhất là cảm giác ngày chia xa… Cuộc đời cũng như một tiếng thở dài đầy thổn thức của một người con vừa bước chân ra khỏi "vùng sáng" rực rỡ của tuổi trẻ để ngoái nhìn về mái nhà xưa. Cảm giác ấy thật lạ, vừa ấm áp vì sự đoàn viên, lại vừa xót xa vì nhận ra dấu vết của thời gian trên những gương mặt thân quen.

Tuổi trẻ thường thúc giục chúng ta lao về phía trước, chinh phục những đỉnh cao, chạm tay vào những hào quang xa lạ. Chúng ta gọi đó là sự trưởng thành, là khẳng định bản thân. Khi đôi chân ta càng đi được xa, khi đôi mắt ta càng được chiêm ngưỡng những rực rỡ của nhân gian, thì con đường trở về nhà dường như lại càng dài thêm. Nhưng đôi khi sự rực rỡ ấy lại vô tình tước đi của chúng ta những cơ hội quay về. Quay về không chỉ đơn giản là một chuyến xe, một tấm vé máy bay. Quay về là sự hiện diện trọn vẹn của tâm hồn trong những khoảnh khắc đời thường nhất. Khi càng bước qua giông gió, con người càng cần đến một trạm dừng chân.

Rất lâu rồi mình mới quay trở về nhà ăn đám giỗ ông nội, mình thấy hình ảnh đoàn viên gia đình mà phải rất lâu rồi mình mới thấy được. Những nụ cười ấy, ánh mắt ấy, những câu hỏi han ấy bao lâu rồi mới có được? Và liệu sau này nếu mình không được thấy nó nữa thì sao? Liệu sau này, khi thời gian khắc nghiệt mang đi những người thân yêu, ta còn có thể tìm thấy những ánh mắt ấy, những nụ cười ấy ở đâu giữa cõi đời mênh mông này?

Có lẽ, trong suốt những năm tháng bôn ba, chúng ta đã quá quen với những gương mặt lạnh lùng nơi phố thị, với những câu hỏi mang tính xã giao đầy toan tính. Chỉ khi đứng giữa những con người mang tên gia đình, ta mới nhận ra mình đã cô đơn như thế nào. Những nụ cười ấy, gương mặt vẫn ở đó, vẫn bao dung như thế, chỉ có chúng ta là đã đi quá xa để rồi khi nhìn lại, thấy mọi thứ quý giá dường như đã nhuốm màu thời gian.

Nỗi sợ lớn nhất của một người con xa nhà không phải là sự vất vả nơi đất khách, mà chính là cảm giác của ngày chia xa. Mẹ mình bảo “Ai mượn mi về sớm làm chi nờ. Giờ đi buồn chết”. Đã bám hơi quê, làm sao bảo quên là quên ngay được. Cả năm biền biệt nơi đất khách, chìm ngập trong cuộc sống mưu sinh, cứ mỗi lần về quê lại thấy mình bé trở lại. Và mỗi lần xa quê lại một lần thêm nhung nhớ. Trên thành phố, con nhớ món rau muống xào tỏi của mẹ quay quắt. Thấy sao đĩa rau xào với bát canh vắt quất mà làm con nhớ nhung đến thế.

Có lẽ, cái giá của sự trưởng thành chính là việc ta phải học cách đối diện với sự hữu hạn của cuộc đời. Ta đi xa để lớn lên, nhưng trái tim lại luôn khao khát được bé lại trong vòng tay gia đình. Để rồi sau mỗi chuyến đi, sau mỗi lần trở về, ta lại càng thấu hiểu hơn giá trị của hai chữ "vị nhà".
Thêm
58
0
0
Viết trả lời...
Có một nỗi buồn lặng lẽ cứ thấm đẫm vào từng trang viết của Thạch Lam, tựa như thứ hương hoa hoàng lan được chưng cất từ cuộc đời. Văn ông phảng phất hương vị buồn từ cuộc đời, thứ buồn mênh mang của kiếp sống. Giữa phiên chợ văn chương vốn quá nhiều ồn ào, bao chứa cả bao nhiêu nỗi đời, văn Thạch Lam hiện lên như một điểm đến và chốn trở về. Trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ", điều khiến người ta đau đớn nhất không phải là cái đói hay cái cuộc sống nghèo khổ, mà là bi kịch của những kiếp người đang bị mài mòn trong sự đơn điệu và bị lãng quên ngay giữa cõi nhân gian này.

Bi kịch của họ là bi kịch bị tạo ra bởi cái nghèo, do cuộc sống lạc hậu và cũng chính do tư duy luôn sống trong tạm bợ, luôn chờ đợi một niềm hy vọng mà không chủ động tạo ra nó. Ngay từ khi sinh ra, họ đã quen với cái nghèo. Họ sống trong cái nghèo như một người bạn vong niên, sống cùng nó và chấp nhận nó. Cũng như trong “Nhà mẹ Lê”, nhà văn đã viết về cuộc đời của bác Lê đầy đau xót: “Ngay từ khi sinh ra, bác đã thấy cái nghèo rồi…”. Cũng bởi vậy, họ quen với cuộc sống tạm bợ, sợ sự thay đổi và thấy cuộc sống tẻ nhạt mà họ đang sống là chỗ trú an toàn.

Phố huyện hiện lên như một góc khuất của thế giới, nơi mà không thời gian ngập tràn trong bóng tối và nghèo khổ. Mỗi ngày của chị em Liên, của mẹ con chị Tí hay gia đình bác Xẩm đều là một bản sao nhợt nhạt của ngày hôm trước. Họ bày biện những món hàng đơn sơ, rồi lại thu dọn khi bóng tối phủ kín, tất cả lặp đi lặp lại như một thói quen. Cái nghèo ở đây không chỉ là sự thiếu thốn về vật chất mà còn là sự trống rỗng về tinh thần, khi con người ta cứ sống như những bóng ma dật dờ trong chính cuộc đời mình.

Thạch Lam đã chạm đến tận cùng của nỗi đau nhân sinh khi đặt ra câu hỏi về ranh giới giữa sống và tồn tại. Những con người nơi phố huyện ấy dường như đang bị cầm tù bởi một thực tại tù đọng và quá đỗi bình lặng. Chị Tí dẫu biết hàng nước của mình chẳng được bao nhiêu khách vẫn cứ dọn ra, bác Siêu vẫn gánh phở đi trong đêm đen dù chẳng mấy ai mua nổi, và bà cụ Thi điên vẫn cứ cười khanh khách rồi chìm vào bóng tối. Họ đang chờ đợi một điều gì đó, một điều mơ hồ mà chính họ cũng không thể gọi tên. Sự chờ đợi ấy không phải để thay đổi số phận hay mưu cầu vinh hoa, mà thực chất là một nỗ lực tuyệt vọng để cảm thấy mình vẫn còn tồn tại, vẫn còn chút liên hệ mỏng manh với thế giới rực rỡ ngoài kia.

Bi kịch lớn nhất của một kiếp người chính là sự mòn mỏi của tâm hồn. Khi người ta đã quá quen với bóng tối và sự im lặng, trái tim dễ trở nên chai sạn và cảm xúc bắt đầu lịm dần. Những đứa trẻ nhặt nhạnh rác rưởi ở chợ chiều, hay chính Liên với đôi mắt ngập đầy bóng tối, tất cả đều đang bị dòng chảy nghiệt ngã của thời gian lãng quên. Họ giống như những hạt bụi nhỏ nhoi rơi vào hư vô, không ai biết đến và cũng chẳng ai hay nếu một ngày họ biến mất. Chuyến tàu đêm đi qua dù chỉ trong chốc lát nhưng đó là khoảnh khắc duy nhất họ thực sự thức tỉnh, để rồi khi ánh sáng ấy vụt tắt, phố huyện lại chìm sâu vào giấc ngủ mệt mỏi và nhẫn nhịn.

Thạch Lam đã dùng một ngòi bút đầy xót thương để phác họa nên bức tranh về sự mắc kẹt của con người trong cõi nhân gian. Ông nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống sẽ thật đáng sợ nếu chỉ là những vòng lặp vô nghĩa và nếu con người không còn đủ sức để mơ về một ánh sáng khác ngoài bóng tối vây quanh. Những kiếp người nhỏ bé kia chính là lời cảnh tỉnh về sự tàn nhẫn của thói quen và sự tĩnh lặng đến đáng sợ của một cuộc đời thiếu vắng khát vọng.
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...
Giữa những thước phim ồ ạt trên mạng xã hội, tôi dừng lại trước video về một người đàn ông trong vùng chiến tranh di cư đến Trung Quốc. Anh gọi một bàn đồ ăn lớn, háo hức thưởng thức từng món ăn, gọi hết món này đến món khác. Và khi tiếng pháo hoa vang lên, anh giật thót, cứng đờ lại… rồi thở phào nhẹ nhõm. Hóa ra đây không phải đất nước mình. Những hình ảnh nhỏ bé thoáng qua ấy đã để lại dư âm, tạo nên một nốt trầm cho những người đang ngày ngày phải tiếp nhận những thông tin về chiến tranh. Chiến tranh của thời đại nào cũng vậy. Đằng sau những lời bình luận sôi nổi của hàng ngàn người vừa thấp thỏm âu lo vừa tò mò lo lắng là hàng ngàn con số về chết chóc, thương vong, giá xăng tăng, hàng loạt vấn đề về kinh tế và phát triển xã hội.

Hậu quả của chiến tranh chưa bao giờ dừng lại ở bãi chiến trường. Nó không đơn thuần chỉ là sự tổn thất về thiết bị, vũ khí, của nhà cửa, mà còn là mạng sống. Cay đắng hơn, nó là mạng sống của những con người đang ngày ngày quen với một cuộc sống bình yên. Tội nghiệp nhất vẫn là những đứa trẻ đang mang theo niềm hy vọng được cầm bút, được cắp sách đến trường và được yêu đời. Chiến tranh, suy cho cùng, là một nhát cắt tàn bạo vào mạch sống của nhân loại, mà vết sẹo của nó chẳng bao giờ mờ đi theo thời gian. Khi tiếng súng lặng yên, khi khói bom đã tan vào hư không, người ta bắt đầu đếm những đổ nát. Nhưng làm sao đếm được những khoảng trống trong lòng người? Làm sao đo được độ dài của nỗi đau nơi những đôi mắt trẻ thơ đã vĩnh viễn mất đi ánh nhìn trong trẻo, thay vào đó là bóng tối của sự sợ hãi và mất mát? Hậu quả của chiến tranh còn là sự đứt gãy của các giá trị nhân văn. Hy vọng, vốn là thứ ánh sáng rạng rỡ nhất của con người, giờ đây trở nên thật mong manh và dễ vỡ.

Là một người Việt Nam đã đi qua đống đổ nát của chiến tranh, nhìn thấy hết những nỗi đau của nhân dân mình, tôi càng nhận ra giá trị cao quý của hòa bình. Hòa bình là thứ có thể nắm bắt được nhưng người ta lại dễ đánh mất nó. Chỉ khi hòa bình trở lại, người ta mới thấy những đứa trẻ được học tập, được yêu thương, được gọi tên, được sống như một đứa trẻ. Chỉ khi đó, những trường học mới mở cửa, các gia đình được sống trong trọn vẹn. Như vậy thì, hòa bình đâu phải thứ mặc nhiên. Nó là thành quả của cả một quá trình thấu hiểu, yêu thương, sẻ chia và hợp tác.

Hòa bình chỉ thực sự vững chãi khi nó được xây dựng trên nền tảng của sự thấu hiểu. Khi chúng ta chọn cách ngồi lại cùng nhau, thay vì đối đầu, chọn sẻ chia một ổ bánh mì, thay vì tranh giành từng tấc đất, chọn dùng ngôn ngữ của trái tim để xóa tan những định kiến và hận thù. Đó là một quá trình gian nan, đòi hỏi mỗi người phải hạ thấp cái tôi cá nhân để nâng tầm cái ta chung của nhân loại. Bởi suy cho cùng, nỗi đau của một dân tộc này cũng chính là vết thương của cả thế giới, và niềm hạnh phúc của một đứa trẻ ở phương xa cũng là niềm hy vọng chung cho tất cả chúng ta.

Mỗi chúng ta hãy là một sứ giả của hòa bình, để những đống đổ nát của quá khứ mãi mãi nằm lại phía sau, nhường chỗ cho tri thức và những tiếng cười rộn rã dưới ánh nắng tự do. Tất cả chúng ta… tất cả… đều muốn được hít thở dưới bầu trời xanh.
Thêm
64
0
0
Viết trả lời...
“Hào khí cha ông ta muôn đời
Bao la bao la nước non quê hương Việt Nam ơi..”

‘‘Việt Nam tôi ’’

Cha ông ta ngàn xưa đã ngã xuống, hy sinh không tiếc đời mình. Họ cúi đầu trườn qua những dãy Trường Sơn hiểm trở cho hôm nay ta ngẩng cao đầu kiêu hãnh trong hòa bình. Chúng ta hôm nay, đều là con cháu, là tương lai của họ, là hiện thân cho những kí ức rực rỡ của một thời. Chúng ta hôm nay, thừa hưởng ở đất nước ta một kí ức lịch sử thật hào hùng, một trang kỉ niệm đầy vẻ vang của dân tộc. Và đã đến lúc, chúng ta suy tư sâu sắc về trách nhiệm của mình – tro tàn của kí ức, ngọn lửa của tương lai.

Chúng ta là "tro tàn" không có nghĩa là sự tàn lụi, mà đó là sự kết tinh của một thời. Tro tàn là những tinh hoa còn lại sau một cuộc cháy sáng hết mình của những thế hệ đi trước. Để chúng ta có được cái "ngẩng cao đầu kiêu hãnh" giữa màu xanh hòa bình hôm nay, cha ông ta đã phải cúi đầu trườn qua những dãy Trường Sơn đầy bom đạn, mang theo lòng nhiệt huyết và ý chí kiên cường.

Mỗi chúng ta hôm nay chính là sự tiếp nối của những người đã ngã xuống. Chúng ta sống thay cho họ, là hiện thân và là tương lai của họ. Bởi vậy, cuộc sống này đẹp hơn bao giờ hết bởi chúng ta được kết tinh từ sự ngã xuống của hàng ngàn thế hệ quang vinh. Chúng ta mang trong mình hệ gen của lòng quả cảm, mang trong tâm trí những câu chuyện kể về một thời khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt. Trách nhiệm đầu tiên của "tro tàn" chính là sự thấu cảm và tri ân. Nếu không biết trân trọng những gì đã hóa thành bụi đất để bồi đắp nên hình hài tổ quốc, chúng ta sẽ chỉ là những thực thể vô định, thiếu vắng gốc rễ và bản sắc.

Nếu tro tàn là quá khứ và dĩ vãng, chúng ta phải trở thành ngọn lửa rực cháy để viết tiếp tương lai cho thế hệ mình. Chúng ta không thể chỉ ngồi mãi bên đống tro tàn để hoài niệm; trách nhiệm của chúng ta là phải từ đống tro ấy mà nhen mà nhóm lên ngọn lửa mới. rong thời đại hội nhập, "chiến trường" không còn tiếng súng nhưng lại đầy rẫy những cuộc đua về trí tuệ và công nghệ. Trách nhiệm của mỗi cá nhân là biến hào khí cha ông thành động lực để học tập, sáng tạo, đưa cái tên "Việt Nam" rạng danh trên bản đồ thế giới. Khi tri thức Việt tìm được con đường trên địa đồ nhân loại, ta có nhiều hơn một cơ hội đưa những kí ức hào hùng của dân tộc sang trang. Để rồi, trước anh linh những người đã ngã xuống, ta có thể tự hào, con đã dâng tuổi trẻ mình cho Tổ quốc.

Giữa dòng chảy của văn hóa ngoại lai, việc giữ gìn bản sắc dân tộc, từ tiếng nói, chữ viết đến những giá trị đạo đức truyền thống chính là cách chúng ta giữ cho ngọn lửa thiêng không bị lụi tàn. Càng hòa nhập, càng phát triển, người ta càng dễ đánh mất mình trên biển toàn cầu hóa. Diều đó khiến những người Việt Nam đôi khi bị bơ vơ về bản sắc, bị tha hương về văn hóa. Càng mong lửa cháy, càng phải giữ cho tiếng nói truyền thống bên trong mình không bao giờ tàn.

Trách nhiệm của chúng ta là làm sao để "tro" và "lửa" luôn hòa quyện. Quá khứ tiếp thêm độ dày cho trải nghiệm, còn tương lai mở ra không gian cho những hoài bão. Một dân tộc biết nhìn lại quá khứ bằng lòng biết ơn và nhìn về tương lai bằng sự tự tin là một dân tộc bất diệt.
Thêm
71
0
0
Viết trả lời...
Mùa gió nồm thổi về trên con phố xưa. Mỗi bước đi, một kỉ niệm. Đã lâu lắm rồi, tôi không về bên cha bên mẹ trên con phố cổ đậm tình ấy.

Đó là ngôi nhà cũ kỹ ông tôi để lại. Căn nhà là tất cả cơ ngơi và tâm huyết của ông một đời. Từ ngày bà đi, ông gắng gượng nuôi sáu người con lớn lên thành người chẳng phải dễ. Căn nhà trần cao, tuy đã cũ kỹ nhưng vẫn luôn là ngôi nhà thân thương của tôi năm nào. Tôi nhớ, có những ngày nhà dột ngay trên giường, không ngủ được. Mẹ tôi phải bế tôi trên tay, ru tôi ngủ cho ông với bố chèo chống lại căn nhà. Ông bảo khi nào có tiền, ông xây lại cái nhà, sau cho tôi về ở. Nhưng tôi thấy, ông chẳng xây lại bao giờ, có lẽ là sợ đổ vỡ những kỷ niệm..

Phố cổ xưa nay với tôi đều hiện lên với dáng vẻ của những con người Thủ đô thân thương ấy. Tôi vẫn còn nhớ cái đêm hôm nào, nghe tiếng rao hàng bắp nướng bảng lảng trong đêm, tôi đã nằm thao thức mãi. Tiếng chị giao hàng khàn khàn đục đục, đôi lúc run run mỗi khi gió thoảng qua. Nằm trong chăn ấm, tôi nghĩ đến đôi vai liêu xiêu của chị đang bươn bải cho những đứa con ở nhà. Có một sợi dây nối những con người rất xa nhau lại gần nhau, những con người đi cùng một con đường, ướt chung một cơn mưa.

Gió nồm vẫn thổi, mang theo vị mặn mòi xen lẫn cái hanh hao của phố cũ. Tôi đứng lặng trước cánh cửa gỗ bạc màu, những vết rạn nứt như những nếp nhăn thời gian trên khuôn mặt ông tôi năm nào. Ngôi nhà vẫn vậy, trầm mặc giữa sự ồn ào vội vã của Thủ đô đang chuyển mình thay áo mới. Mùi gỗ cũ, mùi ẩm mốc đặc trưng của những căn nhà cổ, và cả mùi hương trầm thoang thoảng từ bàn thờ ông, tất cả ùa về, ôm lấy tôi như vòng tay ấm áp của mẹ ngày xưa.

Tiếng then cửa lạch cạch khô khốc vang lên, cắt đứt dòng suy tưởng của tôi. Cánh cửa mở ra, để lộ dáng vẻ gầy gò của bố. Thời gian chẳng chừa một ai, mái tóc bố đã bạc trắng, đôi mắt trũng sâu nhưng vẫn ấm áp nhìn tôi:

- Về rồi đấy à con? - Giọng bố khàn khàn, lúc nào cũng thế.



Gia đình tôi, một gia đình truyền thống điển hình của phố cổ, vốn trọng lễ nghi, gia phong. Bố tôi, người con trai cả, thừa hưởng ngôi nhà và cả gánh nặng gìn giữ nếp nhà từ ông. Tối hôm đó, mẹ tôi nấu bữa cơm đoàn viên, bữa cơm mà phải lâu lắm rồi mới có sự góp mặt đầy đủ của các cô chú, những người con mà ông tôi đã vất vả nuôi khôn lớn. Không khí vốn đang ấm cúng, vui vẻ, ngập tràn trong những câu hỏi thân thương thì chú Ba tôi bỗng lên tiếng:

- Anh cả, em nghĩ đến lúc chúng ta phải bàn việc sửa sang lại cái nhà này. Cứ để thế này, mùa mưa dột nát, mùa hè nóng nực, sống sao nổi. Mà anh xem, mảnh đất này bây giờ có giá, bao nhiêu người dạm ngõ mua, hoặc cho thuê, mình xây lên mấy tầng, vừa có chỗ ở khang trang, vừa có đồng ra đồng vào.

Lời chú Ba vừa dứt, không khí bỗng chốc trở nên ngột ngạt. Bố tôi đặt chén rượu xuống bàn, tiếng "cạch" khô khốc vang lên. Ánh mắt ông đanh lại, nhìn chú Ba chằm chằm:

- Sửa? Xây mới? Chú định phá bỏ tất cả tâm huyết cả đời của bố ư? Căn nhà này là nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm của gia đình mình. Chú quên rồi sao?

- Anh Cả, em hiểu ý anh. Chú Ba phân bua. Nhưng kỷ niệm thì để trong tim, còn mình phải tập trung vào cuộc sống của mình chứ. Căn nhà này đã quá cũ kỹ, xập xệ rồi. Mình cứ bám lấy nó mãi, liệu ông có vui không khi thấy con cháu sống khổ sở không?

- Chú nghĩ thế nào thì nghĩ. Bảo sửa nhà mà coi được. Căn nhà tâm huyết của bố để lại thế này…

Tôi ngồi lặng lẽ, lắng nghe những thanh âm quen thuộc, những tiếng cãi vã, những lời trách móc của mọi người. Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhận ra rằng, xung đột trong chuyện này không chỉ là chuyện sửa nhà, mà là sự va chạm giữa hai quan niệm sống, giữa truyền thống và hiện đại, giữa những giá trị cũ và mới. Và chúng tôi, những đứa trẻ lớn lên trong sự truyền thống này, thấy sợ cảnh mất mát quá đỗi. Sợ rằng khi ông bà mất, căn nhà thêm trống trải, và những câu chuyện trong bữa cơm chỉ còn là chuyện sửa nhà, bán đất.
Thêm
98
0
0
Viết trả lời...
Thơ ca là một thế giới nghệ thuật mà không thể nào lí giải, bởi nó được đặt trong tương quan của quá nhiều các quan điểm nghệ thuật. Mỗi nhà phê bình có một cách nhìn nhận, đánh giá và cảm nhận theo góc nhìn riêng. Mỗi cách phê bình đều cho thấy được một góc độ riêng về thơ ca. thế nhưng, đôi khi người ta lại phải trăn trở về giá trị và phẩm giá đích thực của thơ ca, khi mà nó đang bị thiêng liêng hóa. Thơ ca đã và đang bị đồng hóa với tôn giáo, với một thứ tôn chỉ cần được tôn thờ. Các nhà thơ xuất hiện như một vị thần tạo ra thế giới thiêng, đem đến khả năng đưa con người thoát khỏi buồn thương và thống khổ trên đời. Tôi cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần giải thiêng cho thơ ca.

Từ "ngôi đền thiêng", đã đến lúc thơ trở về với bản thể đời thường, hồn nhiên nhất của nó. Trong tâm thức của nhiều thế hệ, thơ ca luôn được đặt trên một bệ thờ trang trọng. Người ta coi thơ là "nghi lễ" của ngôn từ, có vạn năng để thay đổi cuộc sống, còn thi sĩ là những vị tư tế tạo ra một thế giới huyền hoặc. Người ta coi “thơ là một tôn giáo không kỳ vọng” (Jean Cocteau), là “thần hứng” (Platon). Tuy nhiên, khi thơ ca bị đẩy lên mức độ "tôn giáo hóa", nó vô tình tạo ra một khoảng cách dặm trường với cuộc sống vốn dĩ là rất nhiều thống khổ. Đã đến lúc chúng ta cần thực hiện một cuộc "giải thiêng" - không phải để hạ thấp giá trị của thơ, mà để đưa thơ trở về đúng với phẩm giá đích thực của nó: một hình thái nghệ thuật vị nhân sinh.

Khi thơ bị thiêng liêng hóa, nó đẩy cao lên hình tượng người nghệ sĩ vạn năng có khả năng thay đổi thế giới. Nhà thơ khi ấy như một vị thượng đế trên những tác phẩm nghệ thuật của mình, nắm cả “tạo hóa nằm trong tay anh” (Hữu Thỉnh). Khi đó, vị trí của người đọc trở nên bị nhòe mờ, vô tác dụng, mang thế bị động trong việc tiếp nhận thơ. Có lẽ, chính sự sùng bái này đã khiến thơ trở nên xa lạ. Độc giả tiếp cận thơ với tâm thế của một tín đồ chiêm bái hơn là một người tìm kiếm sự đồng điệu. Khi ấy, giá trị của thơ dần xa lạ với những tiếng thét khổ đau phát ra từ cuộc sống lầm than kia.

Nỗ lực “giải thiêng” là nỗ lực cởi bỏ lớp áo choàng hư ảo để nhìn thẳng vào bản chất của sáng tạo. Giải thiêng giúp thơ trở về đúng với nguyên bản của nó, không cần nói về những điều vĩ mô, xa lạ. Thơ cần có mặt ở nơi có giọt nước mắt, có nụ cười, có những bữa cơm thân thuộc. Đó là khi thơ ca thực sự cất tiếng thay cho hồn người và cả một thế hệ. Khi thơ ca không còn là ngôi đền chân lý, người nghệ sĩ được tự do sáng tạo theo phong cách riêng của mình. Họ không phải hóa thân thành ai khác, chỉ cần là chính họ, một người bộ hành cô độc, một kẻ suy tư đầy khiếm khuyết.

Khi huyền thoại về sự thần thánh mất đi, thơ ca không hề nghèo nàn đi mà trái lại, nó trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Phẩm giá của thơ không nằm ở việc nó có thể đưa con người "thoát ly" thế giới, mà ở việc nó giúp con người "thấu hiểu" và "chấp nhận" thế giới này một cách sâu sắc hơn. Thơ ca, sau cùng, là một hình thái ngôn ngữ đặc biệt để diễn tả những rung động tinh vi nhất của tâm hồn. Việc "hóa giải huyền thoại" cho thơ ca là một tất yếu của tiến trình phát triển nghệ thuật. Khi cánh cửa ngôi đền thiêng mở ra, thơ sẽ ùa ra phố thị, len lỏi vào từng ngõ ngách của tâm hồn con người. Thơ ca vẫn sẽ đẹp, nhưng đó là vẻ đẹp của sự chân thực, của sự thấu thị thế giới bằng cảm quan nghệ thuật. Nếu thơ mãi mãi ngồi trên bệ thờ, nó sẽ xa lạ với những con người “bị cái ác dồn đến chân tường”, sống nhẫn nhục, vô minh, vô đạo lắm.
Thêm
83
0
0
Viết trả lời...
Đại dịch COVID-19 là một trong những biến cố lớn nhất của thế giới trong thế kỷ XXI. Nó không chỉ là một cuộc khủng hoảng y tế mà còn là một thảm họa nhân đạo, nơi hàng triệu con người phải đối diện với mất mát, sợ hãi và tổn thương tâm lý sâu sắc. Trong bối cảnh ấy, những trang viết của nhà văn Phương Phương tại Vũ Hán đã cháy lên ngọn lửa của văn chương. Nhật ký của bà không chỉ ghi lại sự khốc liệt của đại dịch mà còn lưu giữ những nỗi đau, những giọt nước mắt và cả những hy vọng mong manh của con người trong cơn ác mộng toàn cầu. Qua đó, ta nhận ra rằng văn chương có thể trở thành nơi lưu giữ ký ức của thời đại, là tiếng nói nhân bản giúp con người thấu hiểu và chữa lành những vết thương của lịch sử.

Văn chương có khả năng ghi lại sự thật sống động của đời sống, đặc biệt là trong những thời khắc khắc nghiệt nhất của lịch sử. Khi đại dịch bùng phát tại Vũ Hán, thành phố này trở thành tâm điểm của thế giới. Nhưng những con số thống kê về số ca nhiễm hay số người tử vong không thể truyền tải đầy đủ nỗi đau của con người. Đằng sau mỗi con số ấy là một cuộc đời, một gia đình, một câu chuyện riêng đầy nước mắt. Chính trong hoàn cảnh đó, những trang nhật ký của nhà văn Phương Phương đã giúp thế giới nhìn thấy bức tranh chân thực về những gì đang diễn ra. Đến đay, người ta mới hiểu, thơ ca có ích nhất là khi loài người đang trải qua cơn đau, đang gắng gượng qua những xót xa của thời thế. Qua từng dòng chữ, người đọc có thể cảm nhận được nỗi bất lực của các y tá khi chứng kiến bệnh nhân lần lượt trút hơi thở cuối cùng, hay sự đau đớn của những gia đình chỉ có thể tiễn biệt người thân bằng ánh mắt khi thi thể được đưa đi hỏa táng. Văn chương ở đây không chỉ là nghệ thuật, mà còn là “chứng nhân của thời đại”, ghi lại những điều mà lịch sử đôi khi không thể diễn tả hết.

Nhà thơ, sâu sắc hơn, còn là người cảm nhận và thấu hiểu nỗi đau của người khác. Con người là một sinh vật dễ vô cảm hơn là thấu cảm. Một đại dịch ở một thành phố cách mình hàng nghìn cây số có thể chỉ là một bản tin ngắn trên truyền hình. Nhưng khi những câu chuyện ấy được kể lại bằng văn chương, chúng trở nên gần gũi và sống động hơn rất nhiều. Đó là bản hòa ca của cả một thế hệ, là tiếng kêu cứu của cả một dân tộc. Những trang nhật ký của Phương Phương đã khiến người đọc khắp thế giới cảm nhận được sự hoảng loạn, nỗi sợ hãi và cả sự kiên cường của người dân Vũ Hán. Nhờ đó, nỗi đau của một thành phố không còn là nỗi đau riêng lẻ, mà trở thành nỗi đau chung của nhân loại.



Văn chương, sau cuối, chia sẻ và chữa lành những tổn thương tinh thần. Những người mất đi người thân, những bác sĩ và y tá phải chứng kiến quá nhiều cái chết, hay những người bị cô lập trong nỗi sợ hãi, cạn kiệt về thể chất - tất cả đều mang theo những vết thương tâm lý khó có thể lành lại. Trong hoàn cảnh ấy, việc viết ra những gì mình chứng kiến và cảm nhận trở thành một cách để giải tỏa nỗi đau. Nhật ký của Phương Phương không chỉ là lời kể với thế giới mà còn là sự giãi bày của một con người trước những mất mát quá lớn. Qua từng dòng chữ, ta cảm nhận được nỗi nghẹn ngào, sự đau xót và cả niềm hy vọng mong manh rằng những hy sinh ấy sẽ không bị lãng quên.



Việc lưu giữ ký ức đau thương của đại dịch cũng nhắc nhở nhân loại không quên những bài học của lịch sử. Con người thường có xu hướng quên đi những đau thương khi bước ra khỏi nó. Nhưng nếu những ký ức ấy bị lãng quên hoàn toàn, một tấn bi kịch của nhân loại càng đáng thương gấp bội. Văn chương giúp lưu giữ những trải nghiệm ấy để thế hệ sau có thể hiểu được những gì đã xảy ra. Những trang viết về đại dịch COVID-19 sẽ trở thành một phần ký ức của nhân loại, nhắc nhở chúng ta về sự mong manh của cuộc sống và tầm quan trọng của sự đoàn kết, trách nhiệm và lòng nhân ái. Chính văn chương đã cho con người được sống lại một lần nữa thời khắc ấy trong nỗi bùi ngùi của người chứng kiến, một chứng nhân của năm tháng và lịch sử. Thời gian rồi sẽ chảy trôi, mười năm, hai mươi năm, thậm chí một nghìn năm nữa, hậu thế vẫn sẽ nhìn lại năm tháng này trong nỗi đau thương và bùi ngùi.
Thêm
80
0
0
Viết trả lời...
“Nhân sinh như mộng, kịch tàn người tan.” Đời người thoáng qua như một giấc mộng dài. Giữa dòng đời gấp gáp và nhiều biến động ấy, con người luôn cần tìm cho mình một chốn nương náu để giữ gìn tâm hồn. Tôi tìm đến văn chương như người gửi mộng trang hoa. Tôi náu mình nơi văn chương như náu mình trong một giấc mộng dịu dàng, ôm ấp giấc mơ gửi trọn cuộc đời vào những trang giấy đầy hoa chữ.

Đối với tôi, văn chương trước hết là một cánh cửa mở ra thế giới cảm xúc. Cuộc đời thực đôi khi chật hẹp, con người bị giới hạn bởi hoàn cảnh, bởi không gian và thời gian. Nhưng khi bước vào thế giới của văn chương, mọi giới hạn ấy dường như tan biến. Một trang sách có thể đưa ta đi qua hàng trăm năm lịch sử, gặp gỡ những con người ở những vùng đất xa xôi, sống cùng những nỗi niềm mà trong đời thực ta chưa từng trải qua. Nhờ văn chương, “cuộc sống phù phiếm và chật hẹp của cá nhân trở nên rộng rãi đến trăm nghìn lần”.

Tôi tìm đến văn chương như tìm về một nơi trú ẩn. Ngoài kia, cuộc sống có thể ồn ào, xô bồ, thậm chí khắc nghiệt. Con người có thể bị cuốn vào vòng quay của cơm áo, danh lợi và những lo toan không dứt. Nhưng khi mở một cuốn sách, mọi ồn ào dường như lùi lại phía sau. Chỉ còn lại tôi và thế giới của chữ nghĩa. Trong không gian yên tĩnh ấy, tâm hồn tôi được lắng lại, được nghỉ ngơi sau những mỏi mệt của cuộc đời. Có lúc đọc một câu văn giản dị mà cảm thấy như có ai đó đang nói hộ nỗi lòng của mình. Những cảm xúc khó gọi tên, những suy nghĩ mơ hồ trong tâm trí bỗng được diễn đạt bằng những con chữ tinh tế. Khi ấy, tôi nhận ra rằng mình không hề cô độc; đâu đó trong thế giới rộng lớn này, vẫn có những tâm hồn đồng điệu.

Nhưng văn chương không chỉ là nơi để trốn tránh thực tại. Trái lại, nó giúp ta hiểu sâu hơn về cuộc đời. Qua những câu chuyện, những số phận, tôi nhận ra rằng cuộc sống của con người luôn chứa đựng nhiều tầng cảm xúc rất sâu xa. Văn chương giúp ta trải nghiệm đủ “ngũ vị” của cuộc đời, là một cách thoát khỏi sự vô vị và tẻ nhạt. Sự hữu hạn của cuộc đời cũng vì thế mà thêm rộng mở. Đó là cách nói điều chưa nói, mơ điều chưa mơ, sống đời chưa sống. Viết, là cách để giữ lại những khoảnh khắc của cuộc đời, viết để ghi lại những cảm xúc thoáng qua. Có những cảm xúc nếu không viết ra, chúng sẽ trôi đi như mây khói. Nhưng khi được đặt lên trang giấy, chúng trở thành một phần ký ức, một dấu vết của tâm hồn, một hình hài của trái tim ta đang sống.

Có những lúc tôi tự hỏi mình rằng, nếu một ngày nào đó cuộc đời trở nên quá ngắn ngủi, điều gì sẽ còn lại? Danh vọng có thể phai nhạt, tiền bạc có thể mất đi, nhưng những trang viết vẫn có thể tồn tại như một dấu ấn của tâm hồn. Sau khi những đền đài sụp đổ, những lâu đài tan biến, những trang giấy bạc màu, vẫn có một trang văn với khúc ca khải hoàn ngày chiến thắng.

Nhân sinh như một vở kịch dài. Tôi nguyện nương náu nơi văn chương như nương náu trong một giấc mộng dịu dàng, ôm ấp ước mơ gửi một phần tâm hồn vào những trang giấy đầy hoa.
Thêm
95
0
0
Viết trả lời...
Cái đẹp dù xuất hiện trong hình dáng nào, đều là thứ mà con người luôn mơ ước. Cái đẹp nuôi dưỡng đời sống tinh thần, giúp con người vượt lên khỏi những tầm thường của cuộc đời trần. Tuy nhiên, khi sự tôn thờ cái đẹp đi đến cực đoan, khi con người chỉ sống để truy đuổi một vẻ đẹp tuyệt đối, cái đẹp ấy có thể trở thành một sức mạnh “bức tử sự sống”. Từ đó, người ta nhận ra cái đẹp đôi khi không xung khắc với cái xấu, không đối lập và “thiện lương” hoàn toàn. Đôi khi, chính cái đẹp lại mang sức mạnh phá hủy, làm tiêu tan sự sống. Trong văn chương, người ta nhìn thấy sức mạnh đó trong “Sầu trên đỉnh Puvan” (Nguyễn Ngọc Tư).

Vấn đề bắt đầu khi cái đẹp trở thành mục đích duy nhất của đời sống. Trong câu chuyện, Vĩnh đã dành mười lăm năm rong ruổi khắp thế giới, đi qua những ngọn núi, những dòng sông, những vùng đất đẹp nhất chỉ để tìm kiếm và chứng kiến sự nở rộ của hoa sầu trên đỉnh Puvan. Với anh, bông sầu không chỉ là một loài hoa, nó trở thành biểu tượng của vẻ đẹp tuyệt đối, một lý tưởng mà anh tôn thờ và theo đuổi. Chính niềm tin ấy đã thôi thúc anh bước vào một hành trình dài, một chuyến độc hành với cái đẹp. Nhưng cũng chính hành trình ấy đã dần tách anh khỏi những giá trị khác của cuộc sống.

Ở đây, bi kịch của Vĩnh nằm ở chỗ anh đã biến cái đẹp thành **đích đến cuối cùng của cuộc đời**. Khi con người sống chỉ để đạt tới một mục tiêu duy nhất, họ dễ đánh mất những điều khác: tình bạn, tình yêu, gia đình, những niềm vui giản dị của cuộc sống. Trong suốt mười lăm năm, Vĩnh không còn bận tâm đến việc xây dựng một đời sống bình thường. Anh không nghĩ đến những mối quan hệ con người, không nghĩ đến việc sống cùng người khác, mà chỉ tập trung vào hành trình truy tìm vẻ đẹp tuyệt đối. Cuộc đời anh dần bị thu hẹp lại, chỉ còn xoay quanh một giấc mơ duy nhất.



Khi cuối cùng Vĩnh được chứng kiến những bông hoa sầu chuyển sang màu tím phớt, trong vắt, hắt sáng lên bầu trời mưa gió, anh cảm thấy đó là vẻ đẹp hoàn mỹ nhất mà mình từng thấy. Trong khoảnh khắc ấy, anh không thể tưởng tượng được còn điều gì đẹp hơn. Nhưng chính sự hoàn mỹ ấy lại dẫn đến bi kịch. Bởi khi đã đạt đến đỉnh cao của khát vọng, anh bỗng nhận ra rằng “không còn điều gì chờ đợi mình phía trước”. Đây chính là nghịch lý của việc tôn thờ cái đẹp tuyệt đối. Cái đẹp thường mang lại cảm hứng sống, nhưng nếu con người đặt toàn bộ ý nghĩa đời mình vào một vẻ đẹp duy nhất, thì khi đạt được nó, họ có thể rơi vào trạng thái trống rỗng. Đối với Vĩnh, hoa sầu không chỉ là một trải nghiệm, nó là đích đến của toàn bộ cuộc đời. Khi đích đến ấy xuất hiện trước mắt, anh không còn lý do để tiếp tục bước đi.

Chuyến độc hành với cái đẹp không khiến Vĩnh trở nên tốt đẹp hơn. Thông thường, người ta vẫn tin rằng cái đẹp có thể làm cho tâm hồn con người trở nên nhân ái, bao dung hơn. Nhưng trong trường hợp của Vĩnh, điều ngược lại xảy ra. Hành trình truy đuổi cái đẹp đã khiến anh dần xa rời cuộc sống con người, xa rời những mối quan hệ và trách nhiệm xã hội. Anh không sống cùng người khác, không chia sẻ niềm vui hay nỗi buồn với ai. Cuộc đời anh chỉ còn là một hành trình cô độc, nơi cái đẹp trở thành một ám ảnh.

Sự cô độc ấy khiến tâm hồn Vĩnh dần kiệt quệ. Khi đứng trước vẻ đẹp của hoa sầu, anh không còn cảm thấy niềm vui thuần khiết nữa, mà chỉ còn sự hoang mang, rã rời và trống rỗng. Cái đẹp mà anh theo đuổi suốt mười lăm năm cuối cùng không cứu rỗi được anh, ngược lại, nó khiến anh nhận ra sự vô nghĩa của cuộc đời mình. Và rồi, trong cơn hoảng loạn như mộng du, anh đã treo mình trên cành sầu, kết thúc một hành trình mà đáng lẽ ra phải là hành trình tìm kiếm ý nghĩa sống. Cái đẹp, tưởng như một xứ xở miên man nuôi dưỡng sự sống, cuối cùng lại bức tử một người thanh niên trẻ. Anh bị đặt vào thế giữ lại hay bỏ đi, thấy mình vô vọng và không còn lí do để sống. Cái chết của anh là một cái chết nghệ thuật. “Treo mình trên cành sầu” – xung quanh cái xác (chết chóc/ xấu xa/ tàn lụi) là hoa sầu (đẹp đẽ/ thanh cao/ trong trắng).
Thêm
91
0
0
Viết trả lời...
Khi nhắc đến người nghèo, có lẽ phản ứng quen thuộc của nhiều người thường là thương hại. Chúng ta nhìn thấy những đứa trẻ vùng cao áo quần rách rưới, những người lao động lam lũ mưu sinh từng bữa, và tự nhiên cảm thấy rằng nghèo đồng nghĩa với đáng thương. Từ suy nghĩ ấy, rất nhiều hành động từ thiện xuất hiện: những túi gạo, những gói mì, những thùng quà, hay những món đồ ngọt cho trẻ em. Những việc làm đó xuất phát từ tấm lòng nhân ái, và chắc chắn chúng có giá trị nhất định. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn vào bản chất của vấn đề, ta có thể đặt ra một câu hỏi mang tính phản biện: nghèo có thực sự chỉ đơn giản là đáng thương hay không? Và liệu sự thương hại ấy có phải là cách nhìn đúng đắn, hay đôi khi nó lại che lấp những nguyên nhân sâu xa của nghèo đói? Hơn nữa, từ thiện liệu có còn giá trị khi nó biến thành nghề?

Nghèo đói thường gắn với sự thiếu thốn, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu điều kiện học tập, thiếu cơ hội phát triển. Một đứa trẻ sinh ra trong gia đình nghèo có thể phải bỏ học sớm để lao động, một người nông dân nghèo có thể phải làm việc quần quật mà vẫn không đủ sống. Những hình ảnh ấy khiến con người dễ cảm thấy xót xa và nảy sinh lòng trắc ẩn. Trong văn hóa Á Đông nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng, tinh thần “lá lành đùm lá rách” luôn được đề cao. Chính vì vậy, khi thấy người khác khốn khó, con người thường có xu hướng giúp đỡ ngay lập tức, như trao cho họ “con cá” để họ có thể vượt qua cơn đói trước mắt. Tuy nhiên, sự thương hại đôi khi chỉ dừng lại ở bề mặt của vấn đề. Nếu chỉ nhìn vào nghèo đói như một hoàn cảnh đáng thương cần được cứu trợ, chúng ta có thể vô tình bỏ qua những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng đó. Nghèo đói không phải lúc nào cũng chỉ là kết quả của sự thiếu may mắn hay sự lười biếng cá nhân. Trong nhiều trường hợp, nó bắt nguồn từ những cấu trúc bất công của xã hội. Những bất công về cơ hội giáo dục, sự chênh lệch trong phân phối tài nguyên, sự bóc lột lao động, hay những chính sách kinh tế chưa hợp lý đều có thể khiến một bộ phận người dân rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói.

Chính vì vậy, quan niệm “đừng cho họ con cá, hãy cho họ chiếc cần câu” đã ra đời như một bước tiến trong tư duy nhân đạo. Thay vì chỉ giúp đỡ nhất thời, người ta khuyến khích việc trao cho người nghèo tri thức, kỹ năng và cơ hội để họ tự vươn lên. Giáo dục, đào tạo nghề, hỗ trợ vốn sản xuất, hay tạo điều kiện tiếp cận thị trường là những “chiếc cần câu” giúp con người có khả năng tự cải thiện cuộc sống của mình. Khi một đứa trẻ được đi học đầy đủ, khi một người lao động được đào tạo nghề nghiệp ổn định, họ không chỉ thoát nghèo mà còn có thể xây dựng tương lai lâu dài cho bản thân và gia đình. Tuy nhiên, ngay cả hình ảnh “chiếc cần câu” cũng chưa hẳn đã giải quyết triệt để vấn đề. Bởi lẽ, chiếc cần câu chỉ hữu ích khi con người thực sự có cơ hội sử dụng nó. Nếu một người nghèo sống trong môi trường mà mọi nguồn lực đều bị kiểm soát bởi một nhóm nhỏ quyền lực; nếu đất đai, việc làm hay thị trường đều bị chi phối bởi những quy tắc bất công; thì dù họ có kỹ năng hay tri thức, cơ hội để vươn lên vẫn vô cùng hạn chế. Nói cách khác, vấn đề không chỉ nằm ở việc người nghèo thiếu “cần câu”, mà đôi khi còn nằm ở chỗ họ không được phép đến gần dòng sông có cá.

Đây chính là lúc chúng ta cần nhìn nghèo đói dưới góc độ xã hội học và đạo đức học rộng hơn. Nghèo đói không chỉ là câu chuyện của cá nhân, mà còn là sản phẩm của những cấu trúc xã hội. Trong lịch sử, nhiều giai đoạn cho thấy sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn có thể dẫn đến những bất ổn xã hội sâu sắc. Khi tài nguyên và cơ hội tập trung vào tay một số ít người, phần còn lại của xã hội dễ rơi vào tình trạng bị gạt ra bên lề. Những người nghèo khi ấy không chỉ thiếu tiền bạc, mà còn thiếu quyền lực, tiếng nói và cơ hội.

Từ góc nhìn đó, việc chỉ thương hại người nghèo có thể vô tình khiến chúng ta hài lòng với những giải pháp tạm thời. Những chuyến từ thiện phát quà, những chiến dịch quyên góp, hay những hình ảnh xúc động trên mạng xã hội đôi khi tạo ra cảm giác rằng vấn đề đã được giải quyết phần nào. Nhưng trên thực tế, nếu các cấu trúc bất công vẫn tồn tại, thì nghèo đói vẫn tiếp tục tái sinh. Khi ấy, sự thương hại trở thành một vòng lặp: người giàu tiếp tục cho đi, người nghèo tiếp tục nhận, nhưng khoảng cách giữa họ vẫn không hề thu hẹp. Điều này không có nghĩa rằng lòng trắc ẩn hay hoạt động từ thiện là vô nghĩa. Ngược lại, chúng vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ những người đang gặp khó khăn trước mắt. Trong những tình huống khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh hay khủng hoảng kinh tế, sự giúp đỡ kịp thời có thể cứu sống con người. Tuy nhiên, nếu muốn giải quyết nghèo đói một cách bền vững, xã hội cần tiến xa hơn sự thương hại.

Điều này đòi hỏi sự tham gia của nhiều cấp độ: từ chính sách nhà nước, hệ thống giáo dục, môi trường kinh tế cho đến ý thức của từng cá nhân trong xã hội. Khi các chính sách hướng tới công bằng cơ hội, khi giáo dục được phổ cập rộng rãi, khi người lao động được bảo vệ khỏi sự bóc lột và bất công, thì nghèo đói sẽ dần được giảm thiểu một cách bền vững. Khi đó, lòng nhân ái không còn chỉ là những món quà tạm thời, mà trở thành nền tảng cho một xã hội công bằng hơn.
Thêm
62
0
0
Viết trả lời...
Thạch Lam là gương mặt tiêu biểu của văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945. Những tác phẩm của ông là thứ “hương hoàng lan được chưng cất từ những nỗi đời”, nhẹ nhàng mà day dứt. Thạch Lam không có tham vọng xây dựng những tình huống éo le, đầy bi kịch và những thủ pháp công phu. Chính những tình huống vốn rất nhẹ nhàng, lãng mạn, giàu chiều sâu của ông lại khiến cho người đọc day dứt, để lại những suy tư về nỗi đời, nỗi người. Văn phong Thạch Lam là văn phong trong sáng, cất lên từ đời thường, bắt nguồn từ những cảm xúc sâu xa nhất bên trong con người. Nếu được chọn một tác phẩm tiêu biểu nhất của ông, có lẽ người ta sẽ nhớ ngay đến “Hai đứa trẻ”. Để nhìn được thấy màn kịch éo le ẩn đằng sau câu chuyện về hai đứa trẻ nơi phố huyện nghèo, có lẽ phải tiếp cận từu góc độ tình huống truyện.

Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã coi tình huống là “lát cắt” của đời sống mà qua đó có thể thấy được cả trăm năm của đời thảo mộc, là “một khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc’’. Cũng bàn về tình huống trong truyện ngắn, ông cho rằng:” Tình huống là một loại sự kiện đặc biệt của đời sống, được sáng tạo theo hướng lạ hóa. Tại đó vẻ đẹp nhân vật hiện ra sắc nét, ý nghĩa tư tưởng phát lộ toàn diện’’. Tình huống truyện trong “Hai đứa trẻ” không được đẩy lên thành bi kịch hay xung đột, không có những cao độ trong cảm xúc. Chính sự miên man như những dòng tản mản về cuộc sống người dâ trong phố huyện nghèo lại khiến người ta thêm day dứt, bận lòng. Qua tình huống, Thạch Lam làm nổi hình nổi sắc lên những phận người nhỏ bé, leo lét như ngọn đèn trước gió, với một cái tương lai mịt mờ như chính bóng tối xung quanh họ.

Trong ‘’Hai đứa trẻ’’, Thạch Lam đã xây dựng tình huống bao trùm toàn bộ tác phẩm là cuộc đợi tàu của hai đứa trẻ trên phố huyện nghèo. Đây là cuộc đợi tàu lạ lùng. Từ sau ngày rời Hà Nội xa xăm, Hà Nội “sáng rực và lấp lánh”, hai chị em Liên và An vẫn hy vọng về một đốm sáng xuất hiện trên dải đất ngehfo u tối này. Chuyến tàu đêm từ Hà Nội về mang theo giấc mơ về một vùng kí ức ngập trời, đẹp đẽ và rực rỡ, gắn với một quãng tuổi thơ mà hai đứa trẻ đã được sống trong đủ đầy. Bởi vậy, chúng đợi tàu về như đợi “sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya”. Lạ vì chúng đợi tàu chẳng phải vì một mục đích nào thiết thực, chẳng phải đợi khách đến mua cho vài bao thuốc hay cái bánh xà phòng. Chúng đợi tàu vì chúng là những con người duy nhất còn giữ lại lòng tin và khát khao sống giữa phố huyện này.

Và Thạch Lam không chỉ mô tả hiện thực bằng mẫn cảm nghệ thuật, mà còn bằng cả cảm thức triết học. Nhìn vào tâm lí thuần tuý, tâm trạng của Liên là một tâm trạng lãng mạn khá điển hình. Bất hoà với thực tại, cái tôi lãng mạn thường thoát vào trong mơ ước để tìm kiếm một thực tại khác thay thế. Hà Nội xuất hiện như một biểu tượng cho ánh sáng, cho hy vọng và khát khao. Nó đối lập hoàn toàn với cái thực tại mà chỉ có bóng đêm, cái bóng đêm cố hữu đã nuốt chửng sự vực dậy của bác phở Siêu, bác Xấm, mẹ con chị Tý,.. Hằng ngày Liên chờ đợi đoàn tàu và gửi vào đoàn tàu ấy cái mơ tưởng của mình. Đoàn tàu này chạy đến từ Hà nội, nơi Liên từng được sống một tuổi thơ vui tươi sung sướng. Tuy xa xăm, nhưng với Liên, Hà nội là có thật. "Liên lặng theo mơ tưởng. Hà nội xa xăm, Hà nội sáng rực vui vẻ và huyên náo.". Chờ đợi và nhìn đoàn tàu là một nhu cầu tâm lí rất tự nhiên và thiết yếu của chị em Liên. Thạch Lam đã mô tả những diễn biến ấy của tâm trạng Liên bằng ngòi bút tinh vi của một nghệ sĩ có khả năng làm sống dậy cả những gì vốn mong manh hư thoảng nhất của hồn người.

Những người dân nơi phố thị nghèo có một cuộc sống rệu rã, tàn tạ nhưng họ tưởng rằng mình đang sống. Đây là một bi kịch rệu rã của con người khi cả vật chất và tinh thần của họ đều thiếu thốn, đói khổ. Cuộc sống của họ là một cuộc sống nghèo nàn, kham khổ. “Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, hay bất cứ cái gì có thể dùng được của người bán hàng để lại… Chị Tý chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm…”. Và tinh thần của họ cũng rệu rã khi họ đã quá quen với cuộc sống cầm cự này, chẳng còn hy vọng gì về khả năng vượt thoát hoàn cảnh này. Điều này khiến tôi nhớ đến bi kịch của Trương Ba trong vở kịch “Hồn Trương Ba – da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ.

Chị em Liên vốn đã quen với Hà Nội, đã được tiếp cận với những ánh sáng xa xôi nơi những phố huyện huyên náo. Bởi vậy, khi về với vùng đất tăm tối này, chúng vẫn hy vọng và đợi chờ. Đó là sức mạnh của kí ức, có thể nâng đỡ người ta những lúc cùng cực. Những người dân kia, ta vốn không nên trách họ. Họ không hy vọng, không chờ đợi, không khát khao điều gì chỉ vì họ đã quá quen với nó. Cái tư duy nghèo đã cố hữu bên trong họ từ đời này sang đời khác mà không ai có đủ khả năng dừng nó lại. Bởi vậy, họ đáng thương là phần nhiều. Đây cũng chính là thông điệp mà Thạch Lam truyền tải qua tác phẩm. Cần phải thay đổi hoàn cảnh, thay đổi cái nền sống nghèo khổ đương thời chứ không phải là trách người dân sao không cứu lấy chính mình.
Thêm
71
0
0
Viết trả lời...
Trong lịch sử lý luận văn học thế kỷ XX, một trong những quan niệm gây nhiều tranh luận nhưng cũng có ảnh hưởng sâu rộng nhất chính là lý thuyết “Cái chết của tác giả”(La mort de l'auteur) do nhà phê bình văn học người Pháp Roland Barthes đề xuất trong bài tiểu luận cùng tên vào năm 1967. Lý thuyết này không chỉ làm thay đổi cách con người tiếp cận văn bản văn học mà còn mở ra một bước ngoặt trong tư duy phê bình, từ việc tôn vinh quyền lực của tác giả sang việc đề cao vai trò của người đọc. “Cái chết của tác giả” không phải là cái chết mang ý nghĩa sinh học, mà là sự “từ bỏ quyền lực của tác giả đối với ý nghĩa của tác phẩm”. Khi một tác phẩm ra đời, nó không còn thuộc độc quyền giải thích của người viết. Thay vào đó, ý nghĩa của văn bản được hình thành trong quá trình đọc, trong sự tương tác giữa văn bản và người tiếp nhận. Như vậy, chính người đọc mới là chủ thể làm cho tác phẩm thực sự “sống”.

Trước khi lý thuyết “Cái chết của tác giả” xuất hiện, phê bình văn học phương Tây trong một thời gian dài chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quan niệm coi tác giả là trung tâm của mọi ý nghĩa. Theo cách nhìn này, văn bản văn học được xem như sự biểu đạt trực tiếp tư tưởng, cảm xúc và kinh nghiệm cá nhân của nhà văn. Các nhà phê bình thường tìm hiểu tiểu sử, hoàn cảnh sống, tâm lý và quan điểm cá nhân của tác giả để giải thích tác phẩm. Văn học vì thế trở thành một “cánh cửa” để hiểu con người nhà văn. Ý nghĩa của văn bản được cho là nằm sẵn trong ý định của người viết, và nhiệm vụ của người đọc chỉ đơn giản là khám phá lại thông điệp ấy.

Chẳng hạn, khi nghiên cứu các tác phẩm của William Faulkner, nhiều nhà phê bình thường liên hệ trực tiếp với bối cảnh lịch sử và văn hóa miền Nam nước Mỹ - nơi ông sinh ra và lớn lên. Faulkner từng thừa nhận rằng sáng tác của mình là nơi để ông thể hiện cái tôi sáng tạo nghệ thuật và phản ánh những xung đột xã hội trong vùng đất quê hương. Quan niệm này củng cố ý tưởng rằng tác giả chính là nguồn gốc cốt yếu của ý nghĩa văn bản. Tương tự, khi đọc các tác phẩm văn học lãng mạn hay hiện thực, độc giả thường được khuyến khích tìm kiếm “thông điệp” mà nhà văn muốn truyền tải. Trần Dần gọi đó là “tìm ý nghĩa trước khi tìm cảm giác”. Tác giả giống như một “thượng đế” sáng tạo ra thế giới nghệ thuật, còn văn bản chỉ là phương tiện để chuyển tải ý chí của họ.

Tuy nhiên, bước sang nửa sau thế kỷ XX, trong bối cảnh triết học hậu hiện đại và sự khủng hoảng của những giá trị tuyệt đối, quan niệm này bắt đầu bị đặt dấu hỏi. Roland Barthes đã thách thức trực tiếp quan niệm truyền thống về tác giả. Trong bài tiểu luận “Cái chết của tác giả”, ông cho rằng việc xem tác giả như “nguồn gốc tuyệt đối” của ý nghĩa văn bản là một quan niệm mang tính “thần học”. Theo Barthes, cách nhìn này vô tình áp đặt một ý nghĩa duy nhất lên tác phẩm, làm nghèo đi khả năng diễn giải phong phú của văn bản. Barthes viết” “Văn bản không phải là chuỗi hình tuyến các từ ngữ biểu hiện một ý nghĩa duy nhất, một ý nghĩa mang tính thần học (thông báo của Tác giả – Thượng đế), mà là một không gian đa chiều, nơi những kiểu viết khác nhau kết hợp và tranh cãi nhau.” Do đó, khi tác phẩm được công bố, tác giả không còn quyền kiểm soát cách nó được hiểu. Ý nghĩa của văn bản chỉ xuất hiện trong quá trình đọc, khi người đọc diễn giải, liên hệ và tái tạo ý nghĩa dựa trên kinh nghiệm của chính mình.

Theo Barthes, văn bản văn học không phải là một thực thể đóng kín mà là một không gian mở, nơi nhiều cách hiểu khác nhau có thể cùng tồn tại. Mỗi độc giả, với kinh nghiệm sống và hệ thống giá trị riêng, sẽ tạo ra những cách diễn giải khác nhau cho cùng một tác phẩm. Điều này giải thích vì sao những tác phẩm lớn của văn học thường có khả năng được đọc lại nhiều lần và trong nhiều bối cảnh khác nhau. Ý nghĩa của chúng không cố định mà luôn biến đổi theo thời gian. Ví dụ, tiểu thuyết “The Great Gatsby” của F. Scott Fitzgerald có thể được đọc theo nhiều cách. Có người xem đó là câu chuyện về sự sụp đổ của “Giấc mơ Mỹ”, có người lại nhìn thấy trong đó một bi kịch tình yêu, trong khi người khác lại tập trung vào sự phê phán chủ nghĩa vật chất của xã hội hiện đại. Không có cách hiểu nào được xem là “duy nhất đúng”, bởi mỗi người đọc đều tham gia vào quá trình tạo nghĩa cho văn bản. Tương tự, tác phẩm “Hamlet” của William Shakespeare cũng là một minh chứng cho tính đa nghĩa của văn học. Hamlet có thể được xem là một nhân vật do dự và yếu đuối, nhưng cũng có thể được nhìn nhận như một trí thức nhạy cảm đang vật lộn với những câu hỏi triết học về sự tồn tại.

Lý thuyết của Roland Barthes đã mang lại nhiều thay đổi quan trọng trong nghiên cứu văn học. Nó giúp giải phóng văn bản khỏi sự áp đặt của ý định tác giả. Thay vì cố gắng truy tìm “thông điệp thật sự” mà nhà văn muốn gửi gắm, người đọc có thể tự do khám phá nhiều tầng ý nghĩa khác nhau của tác phẩm. Lý thuyết này đề cao vai trò sáng tạo của người đọc. Người đọc không còn là một chủ thể thụ động tiếp nhận thông tin, mà trở thành người đồng sáng tạo ý nghĩa với văn bản. Cuối cùng, “Cái chết của tác giả” góp phần mở rộng phạm vi nghiên cứu văn học sang các lĩnh vực khác như ngôn ngữ học, ký hiệu học và nghiên cứu văn hóa. Văn bản được xem như một mạng lưới ký hiệu phức tạp, phản ánh nhiều nguồn văn hóa khác nhau.
Thêm
118
0
0
Viết trả lời...
Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại, con người lại chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của công nghệ như trong những năm gần đây. Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đã mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của tốc độ, của tiện nghi, của những khả năng tưởng chừng chỉ tồn tại trong khoa học viễn tưởng. Chỉ với một vài cú nhấp chuột, con người có thể viết một bài luận, tạo ra một bức tranh, dịch một văn bản, lập trình một phần mềm, thậm chí trò chuyện và tìm kiếm sự hỗ trợ cảm xúc. Thế giới trở nên nhanh hơn, hiệu quả hơn, thông minh hơn sau hàng loạt cú nhấp chuột. Nhưng trong dòng chảy sôi động ấy, một cảm giác âm thầm cũng bắt đầu lớn dần trong tâm trí của nhiều người trẻ: nỗi sợ bị thay thế.

Người trẻ hôm nay lớn lên trong một thời đại mà sự cạnh tranh không còn chỉ đến từ những con người khác. Đối thủ của họ giờ đây có thể là một thuật toán, một cỗ máy học, hay một hệ thống trí tuệ nhân tạo có khả năng xử lý hàng triệu dữ liệu chỉ trong tích tắc. Những công việc từng được xem là “ổn định” như viết lách, thiết kế, dịch thuật, lập trình hay phân tích dữ liệu - tất cả đều đang dần bị AI bước vào “chia sẻ”. Điều này tạo nên một cảm giác bấp bênh chưa từng có.

Nỗi lo ấy không phải là tưởng tượng. Nhiều công việc đơn điệu, lặp lại đang dần được tự động hóa. Trong nhiều lĩnh vực, AI có thể xử lý thông tin nhanh hơn, chính xác hơn và không bao giờ mệt mỏi. Điều đó khiến người trẻ cảm thấy mình đang đứng trước một cỗ máy khổng lồ của thời đại, nơi mà năng lực của con người dường như trở nên nhỏ bé. Nhưng nỗi sợ bị thay thế không chỉ nằm ở câu chuyện nghề nghiệp.

Nó còn chạm đến một câu hỏi sâu xa hơn: Giá trị của con người nằm ở đâu khi máy móc có thể làm gần như mọi thứ? Ngày càng có nhiều người trẻ nhận ra rằng AI không chỉ viết văn, vẽ tranh hay sáng tác nhạc - những lĩnh vực từng được xem là biểu tượng của sáng tạo con người, mà còn có thể thực hiện chúng với tốc độ và quy mô vượt xa khả năng cá nhân. Khi một cỗ máy có thể tạo ra hàng nghìn ý tưởng trong vài phút, người trẻ đôi khi cảm thấy sự sáng tạo của mình trở nên tầm thường. Họ bắt đầu so sánh mình với máy móc - một cuộc so sánh vốn dĩ không công bằng. AI không cần ngủ, không cần nghỉ, không bị cảm xúc chi phối và có thể truy cập kho dữ liệu khổng lồ của nhân loại. Trong khi đó, con người lại dễ mệt mỏi, dễ sai lầm, dễ tổn thương.

Không ít người vì thế mà rơi vào tâm trạng hoang mang về tương lai. Họ lo lắng rằng những nỗ lực học tập của mình có thể trở nên vô nghĩa nếu công nghệ tiếp tục tiến xa hơn. Một số người thậm chí cảm thấy áp lực phải “chạy nhanh hơn máy móc”, phải học nhiều kỹ năng hơn, phải làm việc nhiều hơn chỉ để chứng minh rằng mình vẫn còn giá trị. Nhưng điều trớ trêu là trong cuộc chạy đua ấy, con người càng dễ đánh mất chính mình. Khi quá ám ảnh với việc phải vượt qua AI, người trẻ đôi khi quên mất rằng giá trị của con người không chỉ nằm ở năng suất hay tốc độ. Con người không phải là một cỗ máy sản xuất thông tin. Con người có cảm xúc, có trực giác, có khả năng thấu hiểu và đồng cảm, những điều mà dù AI có tiến bộ đến đâu cũng khó có thể tái tạo hoàn toàn.

Vì thế, thay vì nhìn AI như một kẻ thù, có lẽ người trẻ cần học cách nhìn nó như một công cụ của thời đại. Người trẻ có thể không cần phải chạy đua với máy móc. Thay vào đó, họ cần học cách phát triển những phẩm chất mà máy móc khó có thể thay thế: sự sáng tạo thật sự, khả năng tư duy độc lập, sự đồng cảm và tinh thần trách nhiệm với xã hội. Bởi vì cuối cùng, công nghệ dù phát triển đến đâu cũng chỉ là sản phẩm do con người tạo ra. Chính con người mới là người quyết định cách nó được sử dụng và hướng đi của tương lai.

Nỗi sợ bị thay thế trước AI vì thế không chỉ là nỗi lo của một thế hệ. Nó là dấu hiệu cho thấy chúng ta đang đứng trước một bước ngoặt lớn của lịch sử. Nhưng thay vì để nỗi sợ ấy làm tê liệt ý chí, người trẻ có thể biến nó thành động lực để hiểu rõ hơn về giá trị của chính mình. Nhưng chỉ con người mới biết vì sao mình sống, mình sáng tạo và mình hy vọng. Và chừng nào con người vẫn còn những câu hỏi ấy, chừng đó chúng ta vẫn còn chỗ đứng trong thế giới của trí tuệ nhân tạo.
Thêm
92
0
0
Viết trả lời...
Có lẽ trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, sẽ có một thời điểm nào đó ta nhận ra rằng điều khiến mình sợ hãi nhất không phải là thất bại, mà là phải nói với những người yêu thương rằng: “Con đã thất bại rồi”. Nỗi sợ ấy đã âm thầm lớn lên trong trái tim của rất nhiều người trẻ.

Khi còn nhỏ, chúng ta thường nghĩ thất bại là một điều rất đơn giản. Trượt một bài kiểm tra, thua một cuộc thi, bị điểm kém… tất cả chỉ giống như một vết xước nhỏ. Nhưng rồi theo năm tháng, những “vết xước” ấy dần trở thành những vết thương sâu hơn, bởi vì phía sau mỗi thất bại không còn chỉ là bản thân ta nữa, mà là ánh mắt của cha mẹ, là niềm tin của gia đình, là những hy vọng đã được đặt lên vai ta từ rất sớm.

Người trẻ lớn lên trong những kỳ vọng.

Kỳ vọng rằng ta sẽ học giỏi.

Kỳ vọng rằng ta sẽ thành công.

Kỳ vọng rằng ta sẽ trở thành niềm tự hào của gia đình.

Những kỳ vọng ấy ban đầu giống như đôi cánh. Nó nâng ta lên trước những kì vọng của xã hội, cho ta hy vọng về một tương lai tươi đẹp hơn. Nhưng có những lúc, đôi cánh ấy bỗng trở thành một gánh nặng vô hình. Bởi vì càng yêu thương cha mẹ bao nhiêu, ta càng sợ làm họ thất vọng bấy nhiêu.

Có những đứa trẻ từng đứng ngoài cổng trường thật lâu chỉ vì không dám bước vào nhà sau khi biết mình thi trượt.

Có những người trẻ cầm điện thoại rất lâu nhưng không đủ can đảm gọi về nhà để nói rằng: “Con trượt đại học rồi.”

Có những người đã trưởng thành, đi làm, sống ở một thành phố khác, nhưng vẫn chần chừ hàng tháng trời trước khi nói với cha mẹ rằng mình đã mất việc.

Nỗi sợ thất bại đôi khi không phải là nỗi sợ dành cho chính mình. Đó là nỗi sợ dành cho ánh mắt của cha mẹ.

Người trẻ sợ nhìn thấy sự thất vọng thoáng qua trên gương mặt của bố.Sợ thấy mẹ im lặng lâu hơn bình thường. Sợ những câu nói an ủi nhưng đầy xót xa: “Không sao đâu con, lần sau cố gắng hơn.”

Bởi vì trong sâu thẳm, ta biết cha mẹ đã hy sinh rất nhiều.



Ta bắt đầu tự hỏi: “Có phải mình đã không đủ cố gắng? Mình không xứng đáng với sự kì vọng?”. Những câu hỏi ấy lâu dần sẽ biến thành tư duy cố hữu, khiến người trẻ dần cảm thấy mình nhỏ bé hơn, yếu đuối hơn, và đôi khi… vô dụng hơn.

Nhưng có một điều mà rất nhiều người trẻ phải mất rất lâu mới hiểu được. Rằng trong mắt cha mẹ, thành công của con cái chưa bao giờ chỉ nằm ở điểm số, danh hiệu hay những thành tựu lớn lao. Nó giống như một hành trình nhiều ngã rẽ. Có những lúc ta đi sai đường, có lúc ta dừng lại rất lâu, có lúc ta cảm thấy mình tụt lại phía sau tất cả mọi người. Nhưng điều đó không có nghĩa là hành trình của ta đã kết thúc. Bởi vì khi ta dám thừa nhận thất bại, cũng là lúc ta dám nhìn thẳng vào chính mình. Nhưng chính từ khoảnh khắc ấy, ta bắt đầu trưởng thành. Người trẻ không cần phải trở thành niềm tự hào của cả thế giới. Cũng không cần phải trở thành giấc mơ của bất kỳ ai. Chỉ cần trở thành chính mình.
Thêm
74
0
0
Viết trả lời...
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, Friedrich Nietzsche từng viết: “Con người là một sợi dây thừng nối giữa con thú và siêu nhân. Con người không phải một thực thể hoàn thiện, trơn tru và tuyệt đối tốt đẹp; trái lại, họ luôn tồn tại trong trạng thái chênh vênh giữa bản năng và lý tưởng, giữa cái thiện và cái ác, giữa khát vọng vươn lên và những yếu đuối rất đời thường. Chính vì vậy, văn chương - với tư cách là tấm gương phản chiếu tâm hồn con người - mang một trách nhiệm lớn lao: khám phá, soi chiếu và lý giải những mâu thuẫn thiện - ác tồn tại trong bản thể con người. Tầm vóc của văn chương là khi nó dám soi vào gương trong để kiếm tìm bản thể, một phần người rất sâu bị ẩn giấu.

Con người là một thực thể phức tạp. Trong mỗi cá nhân luôn tồn tại song song hai lí tính: một bên là lý trí, đạo đức, những khát vọng hướng thiện, bên kia là bản năng, dục vọng, sự ích kỷ và cả những bóng tối của tâm hồn. Con người có thể yêu thương, hy sinh, nhưng cũng có thể tàn nhẫn và sai lầm. Chính sự giằng co ấy làm nên tính “người” trong con người. Nếu nhìn nhận con người chỉ bằng một lăng kính đơn giản hoặc hoàn toàn tốt đẹp, hoặc hoàn toàn xấu xa, thì đó là cái nhìn phiến diện. Bởi thế, văn chương chân chính không thể chỉ ca ngợi cái đẹp thuần khiết hay lên án cái ác một cách giản đơn, mà phải dũng cảm đi sâu vào những vùng tối và ánh sáng đan xen trong tâm hồn con người.

Một trong những trách nhiệm quan trọng của văn chương là “khám phá bản chất con người trong sự đa diện của nó”. Văn chương không phải là bài giảng đạo đức khô cứng, càng không phải là nơi tô vẽ những hình tượng hoàn hảo phi thực tế. Nhiệm vụ của nó là mở ra những chiều sâu tâm lý, phơi bày những mâu thuẫn nội tâm, những giằng xé giữa thiện và ác. Đôi khi, nó là nơi để con người soi chiếu và nhìn nhận lại mình một cách bình thản. Khi văn chương làm được điều đó, con người trong tác phẩm trở nên sống động và chân thực. Người đọc không chỉ nhìn thấy nhân vật mà còn nhận ra chính mình trong những mâu thuẫn ấy. Trong văn học Việt Nam, nhiều tác phẩm đã thể hiện sâu sắc trách nhiệm này. Chẳng hạn, trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo không chỉ là một kẻ lưu manh rạch mặt ăn vạ, mà còn là một con người từng khao khát được làm người lương thiện. Ẩn sau vẻ ngoài dữ dằn là một tâm hồn bị tổn thương và bị xã hội xô đẩy đến bước đường cùng. Khi gặp Thị Nở, phần người trong Chí Phèo bừng tỉnh, cho thấy ngay cả trong kẻ bị xem là “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” vẫn tồn tại mầm thiện. Nhưng bi kịch của Chí Phèo nằm ở chỗ xã hội không cho hắn cơ hội quay trở lại làm người. Qua đó, tác phẩm đã cho thấy sự phức tạp của bản chất con người: cái ác nhiều khi không phải là bản chất bẩm sinh mà là sản phẩm của hoàn cảnh. Không chỉ văn học Việt Nam, văn học thế giới cũng nhiều lần khắc họa sâu sắc cuộc đấu tranh giữa thiện và ác trong con người. Trong tiểu thuyết “Crime and Punishment” của Fyodor Dostoevsky, nhân vật Raskolnikov phạm tội giết người với niềm tin rằng mình có quyền vượt lên đạo đức thông thường. Tuy nhiên, sau tội ác ấy là một cuộc giằng xé dữ dội trong tâm hồn. Lương tâm không ngừng tra hỏi, khiến anh rơi vào trạng thái dằn vặt và khủng hoảng. Cuối cùng, chính sự thức tỉnh của lương tri đã dẫn anh đến con đường chuộc lỗi. Tác phẩm không chỉ kể câu chuyện về một tội ác mà còn là hành trình khám phá bản chất đạo đức của con người.

Bên cạnh việc phơi bày cái ác, văn chương còn có trách nhiệm “khẳng định và nuôi dưỡng phần thiện trong con người”. Trong nhiều tác phẩm, dù nhân vật có rơi vào hoàn cảnh tăm tối đến đâu, vẫn tồn tại những tia sáng của lòng nhân ái, của khát vọng hướng thiện. Chính những tia sáng ấy làm cho văn chương trở thành nguồn an ủi tinh thần cho con người. Khi đọc những câu chuyện về sự tha thứ, lòng trắc ẩn hay sự hy sinh, người đọc được khơi dậy niềm tin rằng con người vẫn có khả năng vượt lên những yếu đuối của mình. Khi nhà văn khắc họa những nhân vật phức tạp, người đọc buộc phải nhìn nhận họ với sự đồng cảm thay vì phán xét đơn giản. Ta nhận ra rằng phía sau mỗi hành động sai lầm có thể là một hoàn cảnh đau đớn, phía sau mỗi tội lỗi có thể là một tâm hồn bị tổn thương. Nhờ vậy, văn chương góp phần mở rộng lòng bao dung của con người.

Tuy nhiên, để thực hiện được trách nhiệm ấy, văn chương cần dũng cảm và trung thực. Nhà văn phải dám nhìn thẳng vào những mảng tối của đời sống, dám đặt ra những câu hỏi khó về đạo đức và nhân tính. Nếu văn chương chỉ dừng lại ở việc ca ngợi cái đẹp một cách đơn giản hoặc né tránh những vấn đề phức tạp của xã hội, nó sẽ mất đi sức mạnh khám phá con người. Chỉ khi dám đi vào những vùng sâu thẳm của tâm hồn, văn chương mới thực sự chạm đến bản chất của đời sống. Đồng thời, văn chương cũng cần tránh việc cực đoan hóa con người thành những hình tượng hoàn toàn tốt hoặc hoàn toàn xấu. Bởi như Nietzsche đã chỉ ra, con người là “sợi dây thừng” mong manh giữa hai cực đối lập. Chính sự chao đảo ấy mới làm nên vẻ đẹp bi kịch và cao cả của nhân loại. Một nhân vật có sai lầm nhưng biết hối hận thường khiến người đọc cảm động hơn nhiều so với một nhân vật hoàn hảo nhưng xa rời đời sống.
Thêm
62
0
0
Viết trả lời...
Sau hơn nửa thế kỷ kể từ ngày đất nước thống nhất, văn học Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, góp phần phản ánh đời sống xã hội, nuôi dưỡng tâm hồn con người và lưu giữ những giá trị tinh thần của dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, nền văn học nước nhà vẫn đang đối diện với nhiều hạn chế và thách thức. Tại Hội thảo tổng kết 50 năm văn học Việt Nam tổ chức tại Đà Nẵng vào ngày 26/9/2025, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều đã thẳng thắn chỉ ra những “non yếu” của văn học nước nhà trong suốt nửa thế kỷ qua. Đặc biệt, nhận định của nhà văn Nguyễn Bình Phương rằng “dường như văn học đã bỏ lỡ những vấn đề nóng bỏng của xã hội, dường như văn học đang rời xa khỏi đời sống” đã đặt ra nhiều suy nghĩ sâu sắc về tương lai của văn học Việt Nam.

Một trong những hạn chế của văn học Việt Nam là sự thiếu vắng những tác phẩm lớn có tầm vóc thời đại. Trong lịch sử văn học, mỗi giai đoạn phát triển thường gắn liền với những tác phẩm có sức ảnh hưởng sâu rộng, phản ánh những biến động lớn của xã hội và khắc họa rõ nét tâm hồn con người trong thời đại đó. Tuy nhiên, trong nhiều năm trở lại đây, dù số lượng tác phẩm được xuất bản khá nhiều, nhưng những tác phẩm thực sự có chiều sâu tư tưởng, có khả năng tạo ra dấu ấn lâu dài trong đời sống văn học lại không nhiều. Hàng năm, số lượng tác phẩm được in ấn, xuất bản lên đến hàng ngàn tác phẩm, nhưng số tác phẩm đạt được tiếng vang lớn là rất ít. Một phần nguyên nhân là do nhiều tác giả chưa dám đi đến tận cùng của những vấn đề lớn của xã hội, còn e dè, thận trọng hoặc thiếu sự trải nghiệm sâu sắc với đời sống. Đúng như Nguyễn Quang Thiều đã nói: “Thách thức lớn nhất đối với nhà văn là chính nhà văn”.

Văn học Việt có xu hướng xa rời những vấn đề nóng bỏng của xã hội hiện đại. Xã hội Việt Nam trong những thập niên gần đây đã có nhiều biến đổi mạnh mẽ: quá trình đô thị hóa nhanh chóng, sự phát triển của kinh tế thị trường, sự thay đổi trong hệ giá trị của con người, cũng như những vấn đề phức tạp nảy sinh trong đời sống như khoảng cách giàu nghèo, khủng hoảng giá trị, áp lực của công nghệ và mạng xã hội. Đây là những vấn đề nổi cộm, nóng bỏng, bức thiết của xã hội thế kỷ XXI. Tuy nhiên, những vấn đề này chưa được phản ánh đầy đủ và sâu sắc trong nhiều tác phẩm văn học. Không ít tác phẩm vẫn xoay quanh những đề tài quen thuộc, thiếu sự khám phá mới mẻ, khiến văn học dường như chậm nhịp so với đời sống đang vận động từng ngày. Trong chương trình học phổ thông, các học sinh được tiếp cận với những tác phẩm lớn, có giá trị bền vững nhưng cũng đồng thời phải tiếp cận với những tác phẩm thiếu đi bề sâu, không có giá trị được đo đếm bởi năm tháng.

Một phần “non yếu” khác của văn học Việt Nam là sự lặp lại trong cách viết và thiếu đổi mới về nghệ thuật. Văn học thế giới trong nhiều thập kỷ qua đã có những bước tiến mạnh mẽ về hình thức thể hiện, từ kết cấu, ngôn ngữ cho đến cách xây dựng nhân vật và điểm nhìn nghệ thuật. Trong khi đó, một số tác phẩm trong nước vẫn còn đi theo những lối mòn cũ, thiếu những thử nghiệm táo bạo về nghệ thuật. Điều này khiến nhiều tác phẩm trở nên dễ đoán, ít tạo được sự bất ngờ hoặc những trải nghiệm thẩm mỹ mới cho người đọc. Đây là một lối mòn mà càng đi thì văn học Việt càng bế tắc.

Ngoài ra, đội ngũ nhà văn trẻ vẫn chưa thực sự tạo được lực lượng kế cận mạnh mẽ. Mặc dù có nhiều cây bút trẻ xuất hiện trong thời gian gần đây, nhưng số lượng tác giả trẻ có tác phẩm thực sự nổi bật, có cá tính sáng tạo rõ rệt vẫn còn hạn chế. Một phần nguyên nhân là do môi trường sáng tác chưa thật sự thuận lợi, trong khi áp lực mưu sinh khiến nhiều người trẻ khó có điều kiện dành toàn bộ tâm sức cho việc viết. Văn chương vốn là con đường dài hơi, đòi hỏi sự kiên trì và trải nghiệm sâu sắc, nhưng trong bối cảnh xã hội hiện đại, không phải ai cũng đủ điều kiện để theo đuổi con đường này.

Sự cạnh tranh giữa những loại hình nghệ thuật và phương tiện thông tin đại chúng cũng tạo ra những cản trở không hề nhỏ đối với nền văn học truyền thống. Trong thời đại công nghệ số, người đọc có vô vàn lựa chọn để giải trí: phim ảnh, mạng xã hội, trò chơi điện tử, video ngắn… Những hình thức giải trí này thường mang tính trực quan, nhanh chóng và dễ tiếp cận hơn so với việc đọc sách. Điều này khiến thói quen đọc sách của một bộ phận công chúng, đặc biệt là giới trẻ, ngày càng suy giảm. Khi lượng độc giả giảm, sức ảnh hưởng của văn học trong đời sống xã hội cũng bị thu hẹp. Văn hóa đọc của người trẻ đang suy giảm dần theo làn sóng Tiktok, Facebook,… ồ ạt diễn ra. Khi người nghệ sĩ không đủ sức cạnh tranh với những nền văn hóa số ấy, nhà văn sẽ bị AI giật cần câu cơm.

Văn học Việt Nam vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc vươn ra những chân trời xa hơn, tạo được dấu ấn trên địa đồ thế giới. Mặc dù đã có một số tác phẩm được dịch và giới thiệu ở nước ngoài, nhưng nhìn chung số lượng còn khá khiêm tốn. Nguyên nhân có thể đến từ nhiều yếu tố, từ rào cản ngôn ngữ, thiếu chiến lược quảng bá, cũng như việc chưa có nhiều tác phẩm đủ sức tạo nên sự quan tâm lớn từ độc giả quốc tế. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc đưa văn học Việt Nam ra thế giới là cơ hội nhưng cũng chính là thách thức đối với những nhà văn trẻ.

Tuy nhiên, khi nhìn nhận những “non yếu” và thách thức của văn học Việt Nam, điều quan trọng không phải là bi quan hay phủ nhận những thành tựu đã đạt được, mà là xác định những hướng đi mới cho sự phát triển trong tương lai. Trước hết, các nhà văn cần gắn bó sâu sắc hơn với đời sống, dũng cảm đối diện và phản ánh những vấn đề phức tạp của xã hội hiện đại. Văn học chỉ thực sự có sức sống khi nó bắt nguồn từ đời sống và trở lại với đời sống. Đồng thời, cần khuyến khích sự đổi mới và sáng tạo trong nghệ thuật, tạo điều kiện cho các tác giả thử nghiệm những hình thức biểu đạt mới. Văn học luôn phát triển thông qua những tìm tòi và phá vỡ những giới hạn cũ. Khi các nhà văn dám bước ra khỏi vùng an toàn của mình, văn học sẽ có cơ hội mở ra những chân trời mới. Việc xây dựng môi trường thuận lợi cho các nhà văn trẻ cũng rất quan trọng. Những chương trình hỗ trợ sáng tác, các giải thưởng văn học uy tín, cũng như việc tạo điều kiện để các tác giả trẻ giao lưu với văn học thế giới sẽ giúp họ có thêm động lực và cơ hội phát triển.

Những “non yếu” và thách thức của văn học Việt Nam trong những năm qua là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, chính việc nhìn thẳng vào những hạn chế đó sẽ giúp văn học nước ta tìm ra con đường phát triển phù hợp trong tương lai. Khi các nhà văn tiếp tục gắn bó với đời sống, không ngừng sáng tạo và dám đối diện với những vấn đề của thời đại, văn học Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của mình trong đời sống tinh thần của xã hội và trong dòng chảy của văn học thế giới. Văn học truyền thống đang tiến những bước tiến mạnh mẽ, ngày càng nở rộ và khẳng định dấu ấn riêng của mình. Tôi chờ đợi, hy vọng và tin tưởng vào tầm vóc của người nghệ sĩ và người đọc Việt Nam trong hôm nay và tương lai.
Thêm
64
0
0
Viết trả lời...
Nếu ta lạc nhau giữa chốn phồn hoa.. Nơi đô thị này, khi người người đi cùng một con đường, ướt chung một cơn mưa, người ta vẫn dễ lạc mất nhau nếu tình yêu là một đóa hoa lửa. Ôi miên mộng, hãy cho tôi say mãi dưới bầu trời này, dưới những thước phim chiếu lại này để năm tháng không bao giờ ngừng lại, soi sáng tình yêu của tôi và người ấy.

Có những thành phố đông đến mức ta tưởng rằng chỉ cần mải mê một phút cũng có thể lạc nhau. Dòng người cuồn cuộn trôi qua từng ngã tư, từng chuyến xe buýt, từng quán cà phê sáng sớm. Người ta chen nhau trong những con đường sáng đèn, đi vội qua nhau như những cơn gió. Nhưng giữa tất cả sự gần gũi ấy, con người vẫn có thể đánh mất nhau một cách lặng lẽ. Không phải vì khoảng cách quá xa, mà vì lòng người bỗng dưng rẽ sang một lối khác.

Tôi từng nghĩ rằng chỉ cần hai người cùng đi trên một con đường là sẽ không bao giờ lạc nhau. Chỉ cần mỗi chiều tan làm vẫn còn thấy bóng nhau dưới hàng cây, vẫn còn nghe tiếng gọi quen thuộc vang lên giữa phố đông, thì mọi thứ sẽ mãi như thế. Nhưng thành phố này không giống một con đường thẳng. Nó có quá nhiều ngã rẽ. Và đôi khi, chỉ một khoảnh khắc quay lưng, ta đã không còn nhìn thấy nhau nữa.

Những ngày mưa ở đô thị luôn mang một vẻ buồn rất lạ. Mưa rơi xuống mái hiên, rơi lên những tấm biển quảng cáo sáng rực, rơi lên vai những người đang vội vã trở về nhà. Tôi đã từng đứng dưới một mái hiên hẹp, nhìn dòng người chạy qua cơn mưa, và bất giác nhớ đến một người. Một người đã cùng hẹn ước về tương lai. Cũng có lần chúng ta cùng đi dưới một cơn mưa như thế. Không ô, không vội, chỉ bước chậm giữa con phố ướt ánh đèn. Khi ấy tôi đã nghĩ rằng cơn mưa ấy sẽ còn ở lại rất lâu trong ký ức của chúng ta. Nhưng ký ức đôi khi giống như những thước phim cũ. Nó vẫn chạy, vẫn hiện lên rõ ràng, nhưng người trong phim thì không còn đứng cạnh ta nữa. Có lẽ tình yêu trong những năm tháng ấy giống như một đóa hoa lửa – đẹp mà dễ tàn phai. Nó bùng lên rực rỡ, nóng bỏng và đầy mê hoặc. Người ta sẵn sàng chạy qua cả thành phố chỉ để gặp nhau một lần, sẵn sàng thức suốt đêm chỉ để nghe câu thương. Rồi cũng từ thương mà xa nhau.

Nhưng tôi không muốn gọi đó là sự tàn lụi. Bởi con người vốn quá cố chấp trong tình yêu.

Đôi khi tôi tự hỏi, liệu trong hàng triệu con người đang sống ở nơi này, có ai cũng đang mang trong lòng một câu chuyện giống như tôi không. Có ai từng đi ngang qua con phố cũ và chợt nhớ đến một bàn tay đã từng nắm lấy mình… Có ai từng nhìn thấy cơn mưa đầu mùa và nhớ đến một buổi chiều rất xa…?

Thành phố không giữ ký ức cho riêng ai. Những quán cà phê vẫn mở cửa, những con đường vẫn đông người qua lại, những bản nhạc vẫn vang lên trong đêm. Chỉ có lòng người là lặng lẽ thay đổi. Người cũ dần trở thành một cái tên không còn được gọi, một gương mặt chỉ còn xuất hiện trong những giấc mơ muộn. Nếu mọi thứ đều ở lại, nếu mọi người đều không rời đi, thì ký ức sẽ không bao giờ trở nên lấp lánh như thế. Ta sẽ không bao giờ ngồi giữa một đêm yên tĩnh và bất chợt mỉm cười khi nhớ lại một ánh mắt. Ta sẽ không bao giờ hiểu được rằng chỉ một cái nắm tay trong cơn mưa cũng có thể theo ta suốt cả cuộc đời. Tôi vẫn thích tưởng tượng rằng đâu đó trong thành phố này, người ấy vẫn đang sống những ngày bình yên của riêng mình. Có thể người ấy đi qua những con đường mới, gặp những con người mới, và mang theo một cuộc đời hoàn toàn khác. Nhưng trong một khoảnh khắc nào đó, khi cơn mưa bất chợt rơi xuống, khi ánh đèn đường bỗng trở nên dịu dàng hơn thường lệ, biết đâu người ấy cũng sẽ nhớ đến một buổi tối rất cũ, khi hai chúng tôi cùng đi qua thành phố này.
Thêm
73
0
0
Viết trả lời...
Người ta nói quá nhiều về những thanh xuân thiếu thời đẹp như tranh vẽ, rực rỡ trong nắng hạ, đắm chìm trong thanh thân và tinh khôi của tuổi trẻ. Thanh xuân đối với người ta là Những Năm tháng rực rỡ nhất, đẹp đẽ nhất mà cho dù có ướt đẫm trong đó người ta vẫn muốn quay trở lại một lần nữa. Chẳng ai có thể phủ nhận được điều đó. Thanh xuân là quãng thời gian đẹp nhất của đời người, nơi mỗi chúng ta vừa khám phá thế giới vừa đi tìm chính mình. Rạo rực tháng năm không gì bằng rạo rực của tuổi trẻ. Tinh nghịch và rực rỡ cũng chẳng gì bằng tuổi trẻ. Đúng, tuổi trẻ là những tháng năm đẹp nhất mà đời người luôn ghi dấu. Nhưng chúng ta, liệu có đang tìm mình trong thanh xuân của người khác?

“Thanh xuân thiếu thời đẹp như tranh vẽ, rực rỡ trong nắng hạ, đắm chìm trong thanh thân và tinh khôi của tuổi trẻ. Thanh xuân đối với người ta là Những Năm tháng rực rỡ nhất, đẹp đẽ nhất mà cho dù có ướt đẫm trong đó người ta vẫn muốn quay trở lại một lần nữa”. Đôi câu văn đó đã khiến người ta thấy tuổi trẻ bị mĩ miều hoá, " thanh xuân” hoá, mất đi cả sự tinh khôi ban đầu. Tuổi trẻ ngập trong nắng hạ đẹp đẽ thật đấy, nhưng đừng lấy tuổi trẻ của người khác để miêu tả tuổi trẻ của mình.

Bởi thanh xuân của ai cũng có một dáng hình riêng.

Có những thanh xuân không đẹp đến thế. Có những thanh xuân là kí ức của một thời chưa trưởng thành, khao khát sự nổi loạn đến đáng trách. Đôi khi, những tiếc nuối cứ thế trôi qua trong đời mà chẳng ai kìm nén lại.

Có những thanh xuân trôi qua trong gió mùa đông. Khô khan. Lạnh lẽo. Tẻ nhạt. Người ta ở lại đó mãi trong lớp kén của riêng mình, chẳng dám đốt cháy mình cho một lần cháy mãi. Và tuổi trẻ cứ thế trôi qua thật bình lặng.

Có những tuổi trẻ đi qua trong nuối tiếc. Nuối tiếc vì lời yêu chưa nói ra. Nuối tiếc vì đã để lỡ một bóng hình. Nuối tiếc cả vì những đêm đã chẳng dám giữ mình khỏi tình yêu buổi đầu chớm nở.

Có những tuổi trẻ đi qua trong sự hối hận vì những lời đã nói ra. Những điều đã nói ra thì chẳng bao giờ thu lại được. Chỉ còn đội nuối tiếc là vẫn ở lại mãi bên trong lòng người ta.

Tuổi trẻ nào thì cũng có một dáng hình riêng. Tuổi trẻ của chúng ta thì sẽ luôn là đẹp nhất khi ở lại bên trong những ký ức. Đừng miêu tả Thanh Xuân của mình bằng những thanh xuân trong ánh nắng hạ, trong giấc mơ nhiệt thành của tuổi trẻ người ta. Thanh xuân đẹp nhất là khi giữ được trọn
vẹn hình hài.
Thêm
71
0
0
Viết trả lời...