Mạng xã hội Văn học trẻ

Khi gặp một người ăn xin trên phố, liệu bạn có cho họ tiền không?

Tình trạng những người ăn xin tìm những nơi đông người, trên những con phố, vỉa hè để xin tiền đã đã trở thành một hình ảnh quá quen thuộc trong văn hóa đường phố của người Việt, thậm chí nó gắn liền với đời sống và thế giới sống của chúng ta. Đứng trước hình ảnh những người ăn xin đi cầu thực trên đường phố, rất nhiều người đưa ra quan điểm rằng họ là những người đáng thương cần được xã hội hỗ trợ và giúp đỡ. Tuy nhiên một số người khác lại cho rằng, việc giúp đỡ những người ăn xin trên đường phố là một hành động thúc đẩy việc ăn bám và tư duy ỷ lại của những người ăn xin. Vậy nếu là bạn, bạn có cho những người ăn xin tiền không?

Nếu là tôi, tôi cho rằng chúng ta nên hỗ trợ những người ăn xin trên đường phố. Quan điểm này hoàn toàn không xuất phát từ việc cổ súy cho tư duy ăn bám của bất kỳ cá nhân và đối tượng nào. Chúng ta đang nhìn thế giới trên góc độ nhân bản với mục đích giải quyết những tình trạng tương tự trong việc xóa bỏ hoàn toàn hình ảnh những người ăn xin đi cầu thực trên phố.

Lý do thứ nhất khiến tôi đồng ý việc cho những người ăn xin tiền đó chính là hoàn cảnh của họ thường là những người không may mắn về thể chất hoặc đời sống, bị thiếu hụt trong hoàn cảnh gia đình hoặc sức khỏe. Họ là đại diện và là hình ảnh của những người bất hạnh trong cuộc sống của chúng ta. Sự bất hạnh của họ là sự bất hạnh vật chất, sự bất hạnh có thể nhìn thấy bằng mắt thường và có thể đong đếm được mức độ tổn thương. Chính vì những tổn thương về mặt sức khỏe thể chất, họ không có khả năng lao động để tự kiếm tiền và nuôi sống bản thân. Bởi vậy họ chỉ còn một cách cuối cùng dịch là đi ăn xin để duy trì cuộc sống. Đi ăn xin là một việc hoàn toàn loại bỏ danh từ “cái tôi" ra bên ngoài, nghĩa là những người ăn xin phải từ bỏ lòng tự trọng của mình để cúi đầu xin tiền từ những người may mắn hơn. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến lòng tự trọng và nhân phẩm của họ. Không phải ai cũng dễ dàng đánh đổi lòng tự trọng của mình để đổi lấy những đồng tiền mà có lẽ là chẳng đáng giá bao nhiêu so với những tổn thương của họ.

Lý do thứ hai khiến tôi đồng ý cho những người ăn xin tiền chính là chúng ta là những người may mắn hơn họ. Tiệc phải giúp đỡ những con người như vậy không phải là trách nhiệm của ai, nhưng đó là nhân phẩm và tinh thần của chúng ta trong việc tương trợ những người kém may mắn hơn mình. Sự hỗ trợ của chúng ta chẳng là bao nhiêu so với những đớn đau mà họ phải chịu đựng. Chúng ta không thể hỗ trợ quá nhiều về mặt tinh thần cho họ thông qua chỉ vài phút gặp gỡ ở trên đường phố. Bởi vậy, khi giúp đỡ bằng vật chất nghĩa là chúng ta đã giúp cho họ có được một bữa ăn no đủ, có thêm một chút niềm tin để tin vào ngày mai.

Rất nhiều người cho rằng việc chúng ta giúp đỡ người ăn xin là hoàn toàn không cần thiết, vấn đề quan trọng đó là phải cải tạo cơ sở hạ tầng để tất cả người dân đều có một cuộc sống no đủ chứ không phải là hỗ trợ những người ăn xin về mặt tạm thời. Tuy nhiên tôi cho rằng, việc cải tạo cơ sở hạ tầng là vấn đề đã được nói tới suốt nhiều năm nay, lăng chủ đề nóng được rất nhiều người quan tâm và bàn luận. Tuy thế, chúng ta vẫn chưa giải quyết được vấn đề cơ sở hạ tầng để cải thiện cuộc sống của người dân. Trong lúc đó, hàng ngàn người đang phải chịu cảnh vô gia cư và đói khổ, nếu như chúng ta chờ đến khi cơ sở hạ tầng được cải tạo tốt hơn thì những người ăn xin đó sẽ sống như thế nào. Họ không có đủ sự kiên nhẫn và cũng không có đủ sức khỏe để có thể chờ đợi một tương lai tươi sáng về một cơ sở hạ tầng được cải tạo tốt hơn như vậy. Sự hỗ trợ của chúng ta là sự hỗ trợ tạm thời, nhưng không có nghĩa là không có ích.

Một số ý kiến cho rằng việc cho những người ăn xin tiền là nguyên nhân khiến cho những người ăn xin ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Tuy nhiên tôi đã suy nghĩ khác. Đâu phải vì chúng ta cho họ tiền mà người ăn xin xuất hiện đâu? Họ chọn nghề ăn xin sau khi đã từ bỏ lòng tự trọng của mình, và quan trọng hơn hết là vì hoàn cảnh của họ không thể tự mình kiếm sống trên đôi tay của mình nên phải cần đến đôi tay của người khác. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chưa được cải thiện, cuộc sống của người dân Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển, Vậy chúng ta sẽ bắt những người ăn xin sống bằng gì trong khi chờ đợi một nền cơ sở mới được cải tạo đây? Chính việc giúp đỡ những người ăn xin là cơ sở khiến cho chúng ta khao khát tìm đến một cách thức mới hơn để giúp cho những người ăn xin có một cuộc sống ổn định, và hình ảnh của Việt Nam cũng sẽ không còn gắn liền với những con phố đầy những người ăn xin đi cầu thực nữa.

Từ góc nhìn nhân bản, Tôi thực sự hi vọng rằng tất cả những con người trong cuộc đời này đều có một cuộc sống thật đủ đầy, no ấm, có thể tự chủ trong cuộc sống của mình mà không cần phải dựa dẫm vào ai khác. Và tôi thật sự tin vào sự lãnh đạo của đất nước có thể đưa cuộc sống của người dân trở nên ổn định
toàn diện hơn.
Thêm
77
0
0
Viết trả lời...
Tết năm nào cũng có mưa xuân. Mưa xuân như một thứ đặc trưng trên con phố nhỏ này báo hiệu cho những con người nô nức rằng một Mùa Xuân đang đến thật tinh khôi.

Không phải những cơn mưa rào vội vã của mùa hạ, cũng không phải cái mưa lạnh buốt của mùa đông. Mưa xuân rơi rất khẽ, như làn sương đêm lặng lẽ đậu trên phố phường, trên những hàng cây bụi cỏ của khu phố tôi yêu. Từng hạt mưa li ti bay nghiêng qua mái hiên nhà ông tôi trên phố Hàng Bông, chạm vào những chậu hoa cúc vàng rồi tan ra thành những giọt nhỏ lấp lánh.

Ông tôi thường ngồi ở chiếc ghế gỗ cũ ngoài hiên. Chiếc ghế đã sẫm màu theo năm tháng, giống như mái tóc bạc của ông. Mỗi khi mưa xuân rơi, ông lại pha một ấm trà, đặt bên cạnh chiếc điếu thuốc lào, rồi ngồi nhìn mưa thật lâu.

Tôi khi ấy còn nhỏ, thường ngồi bệt xuống bậc cửa, chống cằm nhìn theo ánh mắt ông.
“Mưa xuân là lộc trời,” ông hay nói vậy, giọng chậm rãi như kể một điều gì rất cũ. “Năm nào mưa là năm đó sẽ thuận lợi.”

Tôi tin điều đó tuyệt đối. Với một đứa trẻ, lời của ông giống như một thứ chân lý giản dị. Tôi nhớ rõ mùi trà nóng, mùi khói thuốc lào ngai ngái, và tiếng mưa rơi lách tách trên mái tôn cũ.

Có một năm, mưa xuân đến sớm.
Sáng mùng Một, phố Hàng Bông còn thưa người. Những cành đào trước cửa hàng vải vẫn còn đọng những giọt nước nhỏ như pha lê. Ông tôi ra ngồi ngoài hiên từ rất sớm. Ông mặc chiếc áo len nâu đã cũ, tay cầm chén trà nhưng hầu như không uống.

Hôm ấy ông ngồi rất lâu.
Lâu đến mức tôi chạy ra chạy vào mấy lần, ăn bánh chưng, xem pháo hoa trên tivi rồi quay lại, ông vẫn ở đó.
Ánh mắt ông nhìn xa xăm, vượt qua con phố hẹp, vượt qua những mái nhà cổ kính đang phủ một lớp mưa mỏng.

Tôi hỏi:
“Ông nhìn gì thế?”

Ông không trả lời ngay. Một lúc sau ông mới khẽ cười, nụ cười rất nhẹ, như tan vào trong mưa.
“Mưa xuân thế này…” ông nói, giọng nhỏ đi, “chắc bà con cũng nhớ ông.”

Tôi lúc đó không hiểu.

Tôi chỉ biết bà tôi không ở nhà. Trong trí nhớ non nớt của tôi, bà giống như một câu chuyện mà ông đôi khi nhắc tới. Ông kể bà từng bán hàng vải ở chợ Đồng Xuân, từng thích trồng hoa, từng hay cằn nhằn ông hút thuốc quá nhiều.

Nhưng bà đã rời Hà Nội từ rất lâu.
Sau này lớn lên, tôi mới biết bà theo gia đình vào Nam từ những năm đất nước còn chia cắt. Những bức thư qua lại dần thưa đi, rồi có một ngày không còn nữa.

Chỉ có ông ở lại.
Ở lại với căn nhà nhỏ trên phố Hàng Bông.
Ở lại với chiếc ghế gỗ ngoài hiên.
Ở lại với những cơn mưa xuân.

Năm ấy, tôi thấy ông ngồi rất lâu dưới mái hiên. Mưa hắt nhẹ vào vai áo ông, làm ướt một góc tay áo len. Nhưng ông dường như không để ý.
Ông chỉ nhìn mưa.
Ánh mắt ông khi ấy, sau này tôi mới hiểu, không phải đang nhìn mưa.
Ông đang nhìn ký ức.
Những năm sau đó, ông vẫn ngồi ở chỗ cũ mỗi dịp Tết. Mái hiên vẫn đón mưa xuân, chậu hoa cúc vẫn nở vàng, và con phố Hàng Bông vẫn ồn ào như chưa từng thay đổi.

Chỉ có ông ngày càng già hơn.

Một mùa xuân nọ, khi tôi đã lớn, tôi ra hiên ngồi cùng ông. Mưa xuân lại bay nghiêng qua mái nhà, giống hệt những năm tôi còn nhỏ.
Ông không còn nói nhiều nữa.
Nhưng khi nhìn mưa, ông vẫn mỉm cười rất hiền.

Tôi chợt hiểu rằng có những cơn mưa không chỉ là thời tiết. Chúng là những chiếc cầu nối vô hình giữa hiện tại và quá khứ, giữa những người còn ở lại và những người đã đi xa.

Và từ đó, mỗi khi thấy mưa xuân rơi trên mái hiên, tôi lại nhớ đến ông.
Nhớ chiếc ghế gỗ cũ.
Nhớ chén trà nóng bốc khói.
Và nhớ câu nói quen thuộc của ông, nhẹ như một lời chúc đầu năm:

“Mưa xuân là lộc trời.”
Nhưng với tôi, mưa xuân còn là một điều khác.
Đó là ký ức.

Một ký ức đầy yêu thương về ông - người đã dạy tôi rằng đôi khi, chỉ cần ngồi yên lặng
nhìn mưa rơi… cũng đủ để giữ lại cả một đời thương nhớ.

Thêm
61
0
0
Viết trả lời...
“Nếu trong tim không có chốn dừng chân, vậy đi đâu cũng là lạc lối” (Phim “Mùa hè của Luca”).

Thế gian này vô thường nhỉ, lũ trẻ chúng ta như cánh buồm trắng hăm hở đón gió nhưng rồi bị gió đời quật cho tơi tả. Người ta khao khát đi xa nhiều, thấy tủ thúng trong bốn bức tường bốn góc là điều tẻ nhạt, lắm lúc đó còn ở nỗi sợ. Cũng phải thôi, ai mà chẳng sợ tẻ nhạt. Chúng ta đã lớn lên từ quá nhiều sự nỗ lực, từ gia đình, từ người thân, từ thế giới và cả từ chính chúng ta. Sự nỗ lực đó khiến cho chúng ta không dám khiến mình trở nên tẻ nhạt. Sự tẻ nhạt đồng nghĩa với đơn điệu, mà khi đã đơn điệu thì làm sao có thể sống Huy Hoàng được nữa. Bởi vậy mà người ta phải đi thật xa, đi đến nơi mà chưa có ai từng đặt chân đến. Đó là khi người ta chinh phục cảm giác được làm chủ cuộc sống của mình, được thấy mình trong vỏ bọc thành công hào nhoáng. Đứng trên đỉnh núi để ngắm nhìn thế giới quả nhiên là một cảm giác rất tuyệt.

Nhưng ngay cả những người đi xa nhất cũng sợ mình lạc lối. Người ta sợ chẳng tìm thấy mình đâu sợ thế gian ồn ào. Đi rồi thì cũng tốt thật đấy, nhưng biết đâu cái thế giới ngoài kia lại khiến cho người ta thay đổi hoàn toàn có những tâm tính mà người ta đã có. Người ta sợ rằng sau khi đã đi rồi thì người ta chẳng còn khao khát ở nhà nữa. Và đến khi mà người ta chẳng thể đi được nữa, cuộc sống sẽ chẳng còn gì đáng sống. Người thợ bán pha lê trong câu chuyện “Nhà giả kim” của Paulo Coelho từng chẳng dám viếng thăm thánh địa Mekka vì ông sợ khi đã hoàn thành bổn phận của một người hồi giáo, khi mà thánh địa Mekka không còn đủ sức để cho ông một hi vọng, ông sẽ chẳng còn lý do gì để sống nữa. Chúng ta ngày hôm nay có phải thì cũng đều giống như người thợ ấy, không dám ước mơ, không dám hy vọng bởi vì chỉ sợ chẳng còn gì thúc đẩy mình sống thật đáng sống nữa.

Nhưng những người đi xa cũng hiểu được rằng, muốn đi xa thì phải có một chỗ dừng chân. Chỗ dừng chân càng vững chắc thì bước đi càng vững vàng. Chỗ dừng chân vững chắc thì càng khát khao được về nhà. Nếu không có chỗ dừng chân thì bước đi đến đâu cũng đều là lạc lối, đều thấy mình bơ vơ và trơ trọi. Khi đó, ta sẽ thấy bực mình vì những người có chốn dừng chân lắm. Ta sẽ ghen tị và đố kị với họ chỉ vì ta không có một chốn để trở về. Và nếu như chúng dừng chân không vững chắc thì người ta sẽ muốn tìm một chốn dừng chân khác vững chắc hơn. Khi đó chồng chất trong nỗi đau là sự hiểu lầm, là nỗi bất lực thì không có một nơi để chia sẻ, thấu hiểu và trở về.

Muốn đi xa trên cuộc đời này thì thật sự cho mình một ước mơ. Trái tim loài người nói với họ rất nhiều về ước mơ nhưng chẳng có ai nghe thấy. Họ sợ mình không đạt được, sợ mình không xứng đáng để đạt được, hoặc sợ mình sẽ chẳng còn hi vọng gì để sống khi đã đạt được ước mơ. Và trái tim chỉ còn nói điều đó với những đứa trẻ, nói mãi cho đến khi chúng dần trở thành những người lớn.

Và nếu như không có ô, thì trong mưa càng phải cố gắng mà chạy. Đi qua cơn mưa này, đợi đến một ngày nắng hạ khác. Chúc cho tất cả những ai đang trên hành trình tìm kiếm con đường riêng của mình đều sẽ có một chốn để trở về.
Thêm
103
0
0
Viết trả lời...
“Tụi nhỏ không biết, thật sự của tết là bữa 30 này. Khi tụi nhỏ mặc bộ đồ mới đi khoe dài dài xóm, khi ba và anh tắm táp xong ra hàng ba ngẩn ngơ ngắm hoa sao nhái đốt lửa vàng run rẩy trước sân, khi má nhốt than trong những bếp lửa tàn, khi chị đứng chải tóc trước gương, thì Tết đã chớm hết, mùng 1, mùng 2 là Tết phai, mùng 3 mùng 4 Tết tàn.

Tụi nhỏ không biết, mãi về sau, khi lớn lên, trong ký ức Tết ấu thơ, những ngày mùng rất nhạt, đơn điệu, chỉ chơi và chơi. Nhưng bữa 30 luôn sống động, lung linh trong mồ hôi, những nụ cười, những khoan khoái, ngọt ngào…”.

(Nguyễn Ngọc Tư)


Pháo nổ lung linh trên nền trời tối sẫm của ngày cuối năm, âm thanh nô nức của người người nhà nhà chuẩn bị đón một năm mới qua tấp nập trên phố. Trong kim miên man của thời khắc giao thời, người ta chợt thấy lòng mình như se lại, chỉ muốn ôm choàng lấy một ai đó. Tết bởi vậy mà đoàn viên, thân thuộc, ai ở nơi xa cũng nhớ. Nhưng Tết chỉ đẹp vào mỗi đêm 30 này, thôi đêm 30 Tết cũng nhạt dần. Người ta sợ những ngày mùng, bởi sau cái đêm giao thừa thời gian trôi rất nhanh. Mùng 1, mùng 2 rồi mùng 3, Tết cứ thế chầm chậm tàm rồi phai, rồi cuối cùng là kết thúc, chỉ để lại trong lòng những đứa con xa nhà nhà nỗi nhớ nhung và tiếc nuối khôn xiết. Dẫu biết năm nào chẳng có tết, năm nào mà chẳng được về thăm gia đình, nhưng mỗi năm mỗi Tết, thấy ngày về nhà lại xa hơn, thấy bố mẹ mình lại già đi một chút.Tết đẹp nhất, rực rỡ nhất và cũng đau đáu nhất chính là vào cái đêm 30 giao thời này.

Ngày còn bé, người ta mong chờ những chuyến đi, mường tượng mình trong lớp vỏ thành công hào nhoáng. Nhưng càng lớn lên, người ta lại chỉ nhớ cảm giác được về nhà, về bên mẹ bên ba. Về lại cái căn nhà mà người ta đã ở suốt một thời thơ ấu. Vẫn là căn nhà ấy thôi, vẫn là cái nơi mà ta đã lớn lên từ cái thuở còn bé, nhưng nhà trong những ngày tết lại trở thành một miền ký ức đẹp đẽ và khó phai. a sợ những ngày mùng vì đó là lúc sự ly biệt bắt đầu đếm ngược, là lúc chiếc vali lại được xếp đầy những nỗi lo toan của cơm áo gạo tiền.

Càng lớn, gánh nặng trên vai người trưởng thành ngày càng nhiều. Và ta bàng hoàng nhận ra những người xung quanh ta lại già đi một chút. Hôm nay về nhà, thấy tóc mẹ lấm tấm bạc mà lòng đau đớn. Con chẳng biết tóc mẹ đã bạc như thế từ bao giờ. Con cứ mải bôn ba nơi xa, cứ mong kiếm được thật nhiều tiền để chờ ngày nuôi mẹ. Nhưng con đâu biết rằng trong những ngày còn vô tâm nhất, mẹ lại đang từng chút một già đi. Nhưng dưới ánh sáng lung linh cra màn pháo hoa giao thừa, bố mẹ vẫn hiện lên với dáng hình của tuổi thơ con năm xưa, dáng hình đã nuôi con khôn lớn và bước tới những chân trời xa hơn mà bố mẹ chưa từng bước tới.


Tết sẽ tàn, pháo hoa sẽ tắt, và rồi những ngày tết bận rộn cũng sẽ trở thành ký ức. Nhưng cái dư vị ngọt ngào của mồ hôi trên trán mẹ, những câu chuyện của cha sẽ là hành trang thanh khiết nhất để ta mang theo. Để rồi, giữa sự ồn ào của thế giới, ta vẫn giữ được một góc tinh khôi, rực rỡ trong tim mình - một góc nhỏ mang tên "Đêm 30", nơi thời gian ngừng lại cho tình thân đọng mật.

ĐÊM 30… Cuối cùng là thời khắc để lưu giữ những ký ức về những người mà phải rất lâu mới gặp lại được.
Thêm
52
0
0
Viết trả lời...
Này cô bé đang giả vờ làm người lớn kia ơi, liệu em còn nhớ cậu bé Peter Pan trong bộ phim tuổi thơ xem ngày còn bé không? Cậu bé ấy sống ở Neverland, nơi từ khước mọi trách nhiệm, luật lệ và những nỗi đau của thế giới người lớn. Đó là nơi “never” kết thúc ánh sáng, niềm hy vọng và hạnh phúc. Trong thế giới ấy, người ta trốn tránh việc lớn lên, trú ngụ tuổi thơ mình dưới những câu chuyện cổ tích đẹp như tranh vẽ. Người ta không bao giờ lớn, không bao giờ phải cảm nhận nỗi đau. Tuổi thơ trôi qua trong một thế giới bình lặng mà chỉ cần “rẽ phải, đi thẳng về hướng bình minh” là sẽ thấy.

Nhưng chúng ta, đâu thể mãi mãi là cậu bé Peter Pan ấy. Chúng ta không có quyền trốn tránh điều gì, không có tham vọng sống mãi dưới cái vỏ bọc nhỏ bé này. Người ta muốn vươn đến những chân trời xa hơn, muốn leo lên mặt trăng, muốn sống dưới đáy biển, muốn có những người lãnh đạo thế giới. Bởi vậy mà cho dù có đớn đau, người ta cũng chẳng thể thoát khỏi sự trưởng thành của mình. Cuộc sống nơi thế giới người lớn đâu thể như người ta mong, có những ngày ta tưởng mình chết đi rồi lại sống. Có những món quà được gửi tới khi người ta đã mất hoàn toàn hy vọng, chỉ còn muốn buông bỏ tất cả ở phía sau. Có lẽ, khi đó người ta chẳng còn ước mình lớn thật mau nữa.

Ai chẳng từng là đứa trẻ con mong mình lớn thật mau. Lớn lên thì chẳng bị ép ăn uống đúng giờ nữa, chẳng bị bắt ngủ trưa, chẳng bị trách phạt mỗi lúc hư nữa. Chẳng còn phải về nhà trước 10 giờ tối. Cứ nhắm thẳng hướng trời xanh mà bước, càng cao rộng cuộc đời lại càng đáng sống. Có những đêm em đã tưởng tượng rằng cuộc sống người lớn của mình như thế nào, đẹp đẽ và tinh khôi ra sao..

Nhưng em đâu có biết..

Khi em lớn nghĩa là em phải đối mặt với những chân trời rộng hơn mà chẳng có ai bên cạnh. Chỉ có một mình em phải bước qua tất cả những nỗi đau đó mà chẳng có ai thấu hiểu. Càng giải thích thì càng thấy mình đơn côi và bất lực. Đã bao lần em khóc ướt nhòe cả gối, đăm đăm nhìn trần nhà mà thấy trống rỗng.

Khi em lớn nghĩa là phải chấp nhận sự mất mát. Ai mà ngờ được rằng, những ngày em lăn lộn trên đời để “cháu lớn cháu nuôi bà” lại là lúc em nhận được cuộc điện thoại của bố mẹ báo rằng bà đã mất. Cả bầu trời tuổi thơ em cứ thế theo gió cuốn đi mất. Từ ngày bà đi, em thấy phần hồn nhiên trong mình chẳng biết đã mất đi đâu. Em thấy cả bố mẹ mình cũng già đi, khẩu vị của bố mẹ chẳng như xưa, mái tóc lưa thưa sợi bạc.

Khi em lớn nghĩa là em học cách độc lập trên đôi chân của mình. Vui thì cười. Buồn thì khóc. Cứ thế quên đi tất cả niềm đau, nỗi buồn..

Và em nhớ, thế giới người lớn không phải là NEVERLAND mà là FOREVERLAND.
Thêm
72
0
0
Viết trả lời...
Con người đang sống một cách rệu rã, tàn lụi và đui mù trước những tàn dư của thời đại mình. Người ta nói nhiều về lương tri và phẩm giá con người, bất chấp những rệu rã đang tồn tại. Thế nhưng, chính tại điểm rơi của sự tuyệt vọng ấy, vị trí của văn chương càng được đẩy lên trong một dáng hình khác: văn học không sống nhờ sự bảo trợ của quyền lực, cũng không tồn tại nhờ những tràng vỗ tay của đám đông. Nó sống bằng hơi thở của những cá nhân đơn độc, những người dùng ngôn ngữ như một thứ khí giới cuối cùng để "bảo trì ý thức làm người". Viết, khi ấy, trở thành một hành động tự khẳng định giá trị tự thân, một khoái cảm tự thân mà không cần đến bất kỳ sự vụ lợi hay hồi đáp nào từ thế giới bên ngoài.

Khởi nguồn của văn học, theo một cách hiểu thuần khiết nhất, chính là tiếng nói nội tâm của cá nhân tự đối thoại với chính mình và thế giới. Trước khi trở thành một công cụ truyền thông hay một phương tiện để cải tạo xã hội, văn học là một nhu cầu để thỏa mãn khao khát được nói ra lòng mình. Nhà văn sử dụng cảm xúc như một cách định hình mình giữa thế giới. Nhà văn viết vì họ "muốn viết", vì ngay trong khoảnh khắc ngôn ngữ tuôn chảy trên trang giấy, họ cảm nhận được sự đền đáp và an ủi. Mỗi chữ đặt xuống như giọt nước mắt thấm đẫm trên trang giấy, máu chảy nơi đầu ngọn bút. Đó là khoảnh khắc mà cái "tôi" được vẹn tròn, được giải thoát khỏi những áp chế của thực tại để trở về với bản chất nguyên sơ nhất của con người.

Sự "bảo trì ý thức làm người" thông qua văn chương chính là việc giữ gìn sự tỉnh thức trước những cám dỗ của sự tha hóa. Trong một xã hội mà con người dễ dàng bị biến thành công cụ, bị tước đoạt quyền tư duy và cảm xúc, thì hành động viết là một sự khẳng định đanh thép về chủ quyền cá nhân. Nhà văn xác nhận giá trị tự thân của mình không phải thông qua những huân chương hay địa vị xã hội, mà thông qua khả năng sử dụng ngôn ngữ để kiến tạo một thế giới riêng. Chính sự khẳng định này đã cứu rỗi con người khỏi cái chết lâm sàng về mặt tinh thần khi đối diện với bạo quyền hay sự vô nghĩa của tồn tại.

Văn học, xét tận cội rễ, là sự làm tròn vẹn chính mình của nhà văn. Nó nảy sinh từ sự thôi thúc nội tâm mãnh liệt, từ việc nhà văn cần phải nói ra để không bị nghẹt thở bởi chính những suy tư của mình. Văn học bảo trì ý thức làm người không phải qua giáo lý khô khan mà qua cảm xúc mãnh liệt thôi thúc người đọc duy trì ý thức làm người. Nhà văn không có quyền năng, và cũng không nên có ý nguyện, quyết định cách mà thế giới tiếp nhận đứa con tinh thần của mình. Bởi lẽ, một khi tác phẩm đã ra đời, nó thuộc về sự cảm thụ của hàng triệu cá nhân khác, mỗi người lại có một cách "bảo trì ý thức làm người" riêng biệt thông qua việc đọc.



Sáng tạo văn chương, vì thế, không nhắm tới mục tiêu cải tạo thế giới theo những khuôn mẫu có sẵn. Những nhà văn lớn đều hiểu rằng, thế giới này quá phức tạp và đầy rẫy những mâu thuẫn để có thể được sửa chữa bằng những dòng chữ. Thay vì tham vọng thay đổi trật tự xã hội, họ chọn cách thay đổi chiều sâu của tâm hồn. Họ trông cậy vào ngôn ngữ để soi rọi vào những ngóc ngách u tối nhất của nhân tính, để đối diện với cái ác, sự hèn nhát và cả những khát khao cao thượng. Hành động viết là một sự dũng cảm thầm lặng: dũng cảm để yếu đuối, dũng cảm để cô độc và dũng cảm để là một cá nhân tự do giữa một tập thể đang ngủ mê.



Văn chương không phải là một vương quốc rực rỡ ánh kim cương của những ngẫu tượng, mà là một túp lều tranh ấm áp nơi ánh lửa của sự tự thức chưa bao giờ tắt. Ở đó, nhà văn và độc giả gặp nhau trong sự chân thật trần trụi, thoát khỏi mọi lớp vỏ bọc của địa vị và tiền bạc. Chính cái khoái cảm được sống thật với mình, được đền đáp bằng sự thấu hiểu từ chính tâm hồn mình, mới là thứ năng lượng vĩnh cửu nuôi dưỡng văn chương qua mọi thời đại. Ngôn ngữ, với thần lực quyến rũ của nó, sẽ mãi là thánh đường để con người tìm về, để khẳng định rằng: dù thế giới có sụp đổ hay quyền lực có tàn bạo đến đâu, ý thức làm người vẫn sẽ được bảo tồn chừng nào con người còn biết tự nói với bản thân bằng những lời chân thật nhất.
Thêm
104
0
0
Viết trả lời...
Xoay vần trong không gian của những đại tự sự, nơi văn chương thường bị lôi kéo trở thành công cụ của chính trị và quyền lực, Cao Hành Kiện đã dội một âm vang vào hư không: nhà văn là một cá nhân đang tự nói chuyện với chính mình, đối thoại với chính mình về thế giới. Viết, trong bản chất nguyên sơ nhất của nó, không phục vụ cho bất kỳ thể chế hay hệ thống nào, mà là một cuộc đối thoại không hồi kết giữa bản thể và hư vô, giữa giờ phút hiện tại và mớ hỗn độn sâu thẳm trong lòng người. Sâu xa hơn, đó còn là quá trình giao tiếp – đối thoại để tạo ra tác phẩm nghệ thuật.

Chúng ta vẫn thường khoác lên vai nhà văn những bộ y phục quá mĩ miều. Người ta gọi họ là "thư ký của thời đại", là "người phát ngôn của nhân dân", hay thậm chí là "người kỹ sư tâm hồn". Những danh xưng lấp lánh ấy vô hình trung đã đẩy nhà văn vào một tư thế vạn năng giả tạo. Khi một người cầm bút tự huyễn hoặc mình là vị cứu thế, là "Ki-tô" của nghệ thuật, họ đã bắt đầu bước chân vào ngưỡng cửa của sự thác loạn tinh thần. Bởi lẽ, khi tự coi mình là chúa tể sáng tạo, nhà văn dễ dàng biến thế giới thực tại thành một thứ ảo giác phục vụ cho cái tôi duy mỹ hoặc ý đồ giáo điều của mình. Họ không còn nhìn thấy những bi kịch và thống khổ của một thời đại dưới rất nhiều xiềng xích, không còn thấy những nước mắt khổ đau hay niềm hân hoan lạc thú. Vô hình trung, họ dễ phụ thuộc vào một thứ chủ nghĩa của quyền lực hoặc tự tạo ra chủ nghĩa cá nhân cho riêng mình (phong cách sáng tạo bị o bế).

Khi văn chương trở thành thứ chủ nghĩa nghiêng về bất kỳ đảng phái nào, nó đã tự khai tử bản tính nghệ thuật. Bảo Ninh viết “Nỗi buồn chiến tranh” không vì đứng ở phía mộ người lính Việt Nam hay người lính Mỹ Ngụy, ông chỉ đơn giản nhìn những người ngã xuống như những con người bất hạnh phải hy sinh cho một cuộc chiến tranh phi nghĩa, cuộc chiến tranh không vì mưu cầu lợi ích hay hòa bình. Nguyễn Huy Tưởng không để nhân dân phá tan nát Cửu Trùng đài mà người nghệ sĩ tài hoa Vũ Như Tô tạo nên chẳng phải vì không tôn thờ cái đẹp, mà vì cái đẹp không thể được xây lên dưới quyền lực và trên xương máu của nhân dân.

Bởi lẽ, bản thân nhà văn cũng là một "mớ hỗn độn". Họ không sạch sẽ hơn ai, không cao thượng hơn ai. Khi tra hỏi thế giới và tha nhân, nhà văn đồng thời phải thực hiện một cuộc giải phẫu đau đớn trên chính cơ thể tinh thần của mình. Nếu không tự vấn về những góc tối, những nỗi sợ hãi và sự hèn nhát của chính mình, làm sao họ có thể hiểu được nỗi thống khổ của kẻ khác? Cao Hành Kiện đã chỉ ra rằng tai nạn và áp bức cố nhiên đến từ bên ngoài, từ những cấu trúc quyền lực hay nghịch cảnh khách quan, nhưng chính sự hoảng loạn và hèn nhát bên trong con người mới là thứ làm gia tăng nỗi đau ấy gấp bội. Nhà văn, khi viết, là đang đối diện với sự hèn nhát đó, đang tìm cách gọi tên những khủng hoảng trong tâm hồn để chúng không còn quyền năng thao túng cuộc đời họ.

Mối quan hệ giữa bản ngã và tha nhân trong sáng tạo văn chương là một mối quan hệ đầy căng thẳng. "Tha nhân là địa ngục" – câu nói nổi tiếng của Sartre được nhắc lại ở đây như một lời cảnh báo về sự mất kiểm soát của bản ngã. Khi một nhà văn mất đi khả năng tự kiểm soát, họ dễ dàng biến người khác thành công cụ, thành vật hy sinh cho cái tôi nghệ thuật của mình. Họ đòi hỏi người khác phải tin theo mình, phải khổ đau theo cách của mình. Đây chính là biểu hiện của một thứ quyền lực tinh thần độc đoán không kém gì quyền lực chính trị. Nhà văn chân chính phải là người biết tôn trọng sự hiện diện độc lập của tha nhân, xem họ là những cá thể có tiếng nói riêng chứ không phải là những minh họa cho lý thuyết của mình.

Hoạt động sáng tạo, vì vậy, là một hành trình đi trên sợi dây thăng bằng giữa sự mẫn cảm cá nhân và trách nhiệm với sự thật. Con người, cũng là sự chênh vênh giữa siêu nhiên và con thú. Càng đứng giữa những ranh giới đó thì càng thấy mình trần trụi và nhiều chiều sâu. Nhà văn viết ra, có thể người khác đọc hoặc không, nghe hoặc không. Đó là sự tự do tuyệt đối của cả người viết và người đọc. Văn chương không nên là một sự cưỡng bức tâm hồn. Nó là một lời mời gọi chia sẻ một góc nhìn, một cảm thụ về thế giới. Khi nhà văn chấp nhận sự "nhỏ nhoi yếu ớt" của tiếng nói cá nhân, chính lúc đó tiếng nói ấy lại có khả năng xuyên thấu mọi rào cản. Bởi nó không nhân danh ai cả, nó chỉ nhân danh sự thật của một con người đang sống, đang đau, và đang suy ngẫm.

Trong thế kỷ của những biến động số và sự ồn ào của đám đông, việc quay về với tiếng nói cá nhân lại càng trở nên cấp thiết. Khi con người dễ dàng lạc mất chính mình trong những thuật toán và những làn sóng cảm xúc tập thể, nhà văn phải là người giữ lấy sự tĩnh lặng cần thiết để nhìn vào gương. Viết là một hành động tự thức, một cách để định vị mình. Văn chương không được dễ dãi bị biến đổi trước thể chế hay chịu thua trước công nghệ. Nó phải đứng trên tháp ngà, cất cao tiếng nói sâu rộng của nhân loại mình. Người nghệ sĩ chỉ cần là một người trung thực. Sự trung thực với bản thân chính là hành động dũng cảm nhất và cũng là đóng góp lớn nhất của nhà văn cho xã hội. Văn học không giải cứu thế giới bằng những sắc lệnh, nó cứu rỗi thế giới bằng cách khơi dậy lòng trắc ẩn và sự thấu cảm từ những cảm thụ cá nhân tinh tế nhất.
Thêm
76
0
0
Viết trả lời...
Giữa những đại lộ thênh thang của kỷ nguyên số, nơi ánh sáng từ màn hình tinh thể lỏng chưa bao giờ tắt, có một thế hệ đang mải miết đi tìm định nghĩa về sự tồn tại của chính mình trong một nỗi khủng hoảng thầm lặng nhưng dữ dội. Chúng ta bắt gặp những người trẻ khắp nơi, từ nhà xe, vỉa hè, ga tàu, lớp học xuất hiện cùng chiếc điện thoại hoặc máy tính. Trông như họ rất bận rộn? Nhưng có lẽ đằng sau lớp ngụy trang ấy là hành động “lướt” trong vô thức để thoát khỏi sự trống rỗng thường nhật. Họ có thể kết nối với những thế giới xa lạ, từ London ánh sáng hay Paris hoa lệ, nơi cách xa họ cả nửa vòng trái đất. Thế nhưng, đằng sau sự kết nối tiện nghi ấy là một hố sâu của sự trống rỗng, nơi Jean Twenge đã từng cảnh báo rằng người trẻ hôm nay có thể kết nối toàn cầu chỉ bằng một cái chạm, nhưng lại dễ lạc mất chính mình trong sự ồn ào của thế giới số.

Nỗi khủng hoảng của người trẻ bắt đầu từ sự bội thực của những âm thanh và hình ảnh. Thế giới số không bao giờ ngủ, nó là một thực thể sống nuốt chửng sự tĩnh lặng và trả lại bằng những thông báo dồn dập, những trào lưu phù phiếm cùng những tiêu chuẩn sống được lý tưởng hóa đến mức cực đoan. Khi mọi giá trị cá nhân được đo đếm bằng lượt yêu thích và những dòng bình luận ảo, con người bỗng chốc trở thành những nô lệ tự nguyện cho một thuật toán vô hình. Chúng ta đã chờ đợi quá nhiều vào những thiết bị mang trái tim là thuật toán. Đau lòng hơn nữa là nhiều bạn trẻ rơi vào “đại dịch cô đơn” sau những kết nối vô thực, tìm đến Chatgpt như một sự hỗ trợ cảm xúc không bền vững. Sau những tương tác bị nhầm tưởng là tình yêu thương như lượt like, share, comment,.. ta bắt đầu đối diện với sự cô đơn, trống rỗng như một vòng lặp của suy nghĩ. Đó là lúc ta nhận ra rằng mình cần đến những kết nối hữu thực.

Sự lạc lối trong thế giới số còn đến từ nghịch lý của sự tự do. Chưa bao giờ người trẻ có nhiều lựa chọn và cơ hội tiếp cận tri thức như hiện nay, nhưng chính sự phong phú quá mức ấy lại tạo ra một trạng thái tê liệt về tâm trí. Họ có quá nhiều thiết bị thông minh hỗ trợ trong việc phát triển kĩ năng, rèn luyện năng lực, tìm hiểu thông tin, đôi khi là hỗ trợ cảm xúc. Nếu AI đã trở thành thiết bị toàn năng như thế, người ta có còn cần đến sự giao tiếp giữa người với người nữa không? Thách thức lớn nhất của kỷ nguyên này không phải là việc làm thế nào để kết nối nhanh hơn, mà là làm thế nào để ngắt kết nối đúng lúc nhằm tìm lại bản ngã. Sự ồn ào của thế giới số giống như một lọai tạp âm xen giữa những âm thanh vốn dĩ đã rất ồn ào của cuộc sống này.

Tuy nhiên, tôi khẳng định rằng, AI không toàn năng, không màu nhiệm và không đủ tầm thay thế con người. Nếu như một đứa trẻ hỏi bố mẹ chúng về tác hại của thuốc ngủ, bố mẹ chúng sẽ nhận ra con mình đang gặp vấn đề về tâm lý. Nhưng nếu chúng ta hỏi AI về tác hại của thuốc ngủ, nó sẽ chỉ đơn giản trả lời với mục đích giáo dục. Người ta phát hiện ra rằng, nếu bạn đóng vai một đứa trẻ 13 tuổi, AI sẽ hướng dẫn bạn hút thuốc, thực hiện những hành vi xấu xa vượt ra khỏi tầm kiểm soát. AI chỉ hỗ trợ cảm xúc cho con người trong một thời gian ngắn nhưng để lại nỗi trống rỗng đằng sau.

Cuộc hành trình đi tìm chính mình trong thời đại số thực chất là một cuộc trở về với những giá trị nguyên bản nhất của con người. Đó là khả năng thấu cảm giữa những sinh thể bằng xương bằng thịt, là sự kiên định với lý tưởng cá nhân trước áp lực của số đông và là sự dũng cảm để chấp nhận những khiếm khuyết của bản thân thay vì mải mê đuổi theo một ảo ảnh hoàn mỹ. Đừng để những chiếc điện thoại thông minh trở thành những cái lồng giam cầm trí tuệ và cảm xúc. Hãy để mỗi cái chạm vào màn hình là một bước mở ra chân trời mới, nhưng đồng thời đừng quên chạm vào trái tim mình để biết rằng ta vẫn đang sống một cuộc đời trọn vẹn và chân thật nhất giữa muôn vàn tiếng động của thời đại.
Thêm
70
0
0
Viết trả lời...
“Đến cuối cùng, nghề viết lại trở thành một nghề hiểm nguy. Hiểm nguy chẳng bởi những vết thương hữu hình, mà hiểm nguy bởi sự nhập nhằng nơi bản chất của văn chương. Những lát cắt của hiện thực đặt trong mối tương quan với những bình diện của văn chương, đến cuối ngày, lại trở thành con dao hai lưỡi bị chi phối bởi một xã hội ngày một phức tạp bởi những lật nhào trong định nghĩa về cộng đồng. Tại sao nhà văn lại cần và phải viết? Liệu văn chương từ cổ chí kim có giản đơn là sự tự phát của tiếng nói cá nhân, hay sự mạo hiểm của người nghệ sĩ?” – Diễn từ Nobel Văn chương 2000.

Văn chương, cuối cùng lại là những con chữ được viết từ “một nghề hiểm nguy”, hơn thế nữa, nó còn là một danh phù phiếm. Thế nhưng, Cao Hành Kiện – chủ nhân giải Nobel Văn chương 2000, đã cất lên lời phát biểu cho những bản chất vốn dĩ rất “nhập nhằng” nơi văn chương. Nếu như văn học trở thành “con dó hai lưỡi bị chi phối bởi một xã hội ngày một phức tạp bởi những lật nhào trong định nghĩa về cộng đồng”, nó sẽ không còn là văn học nữa. Từ đó, bản chất của văn chương một lần nữa cần được tái vấn. Nó là sự tự phát từ cảm xúc cá nhân hay là sự mạo hiểm khám phá thế giới của nhà văn?

Người nghệ sĩ, do vậy là một chức danh “phù phiếm” (cách nói của Nguyễn Huy Thiệp). Họ đứng giữa ranh giới nhập nhằng của cảm xúc cá nhân, đôi khi đối diện với câu hỏi nói hay không nói. Nói ra những cảm xúc cá nhân đồng nghĩa với việc nói ra những ung nhọt, rệu rã, bệ rạc của thời đại mình, nhân loại mình. Đôi khi, nó khiến nhà văn đứng giữa những mũi rìu một cách oan khiên. Sự "phù phiếm" ở đây chính là việc nhà văn dám khước từ những đại lộ thênh thang của tụng ca để rẽ vào những lối mòn u tối, trong tâm hồn con người. Họ viết về nỗi cô độc, về sự hèn nhát, về những ham muốn tầm thường hay những giấc mơ tan vỡ. Nhà văn là người đứng giữa đại lộ của những giấc mơ con người, phơi bày gương mặt nhân loại mà anh ta đang sống.

Tuy nhiên, khẳng định văn học là tiếng nói cá nhân không đồng nghĩa với việc cổ xúy cho một lối văn chương vị kỷ, thoát ly thực tại. Cao Hành Kiện rất tỉnh táo khi cho rằng văn học không nhất thiết phải thoát ly hay can dự chính trị. Bản thân việc giữ gìn tiếng nói cá nhân đã là một hành động chính trị cao cả nhất. Trong một thế giới luôn tìm cách đồng hóa con người thành những con số, những đám đông vô tính, thì việc một cá nhân cất lên tiếng nói riêng biệt, khẳng định cái tôi duy nhất của mình chính là một sự phản kháng âm thầm nhưng mãnh liệt đối với mọi hình thức áp chế. Nhà văn "can dự" vào đời sống không phải bằng cách cầm biểu ngữ, mà bằng cách khơi gợi sự thức tỉnh của từng cá thể độc giả, khiến họ nhận ra bản ngã của mình.

Tiếng nói của nhà văn là tiếng nói duy nhất không thể bị chiếm đoạt. Đó là tiếng nói hướng về sự ca tụng nhân bản, tố cáo những thế lực chà đạp lên quyền sống của con người. Khi đó, ngòi bút của nhà văn trở thành bút chiến mà không chịu bất kì sự chi phối của chính trị. Văn chương, một khi không phục vụ hay phục tùng một đảng phái nào, nó đã thực sự trở thành tiếng nói chung của loài người, dù ở bất kì nơi nào. Viết về chiến tranh, nhiều nhà văn không còn đứng ở bình diện người bên kia hay bên này: họ đứng ở vị trí loài người. Khi văn học quay về với bản thể cá nhân, nó tìm thấy lý do tồn tại vĩnh cửu của mình, nó không phục vụ ai cả, nó chỉ hiện diện để chứng minh rằng con người là một thực thể tự do và duy nhất.

Văn chương sau cùng vẫn sẽ ở lại nếu như con người còn khát khao tìm về nhân bản. Nó có thể nhỏ bé, có thể phù phiếm, có thể tàn lụi, nhưng nó mang lại vẻ đẹp đích thực. Nhà văn, với sự chênh vênh giữa việc nói hay không nói, đôi khi lại quyết định sự tồn tại của những nỗi hiểm nguy. “Nhà văn muốn tránh tự sát và buộc câm, lại muốn nói lên tiếng nói cá nhân của mình thì không có cách nào khác hơn là đào thoát” – Cao Hành Kiện.
Thêm
102
0
0
Viết trả lời...
Giữa lớp vỏ polime lấp lánh và bản chất mục ruỗng bên trong con người, chúng ta cần nhìn sâu hơn vào một thực tế phũ phàng: Xã hội càng hiện đại, con người ta càng có xu hướng "thẩm mỹ hóa" sự vô đạo đức. Nếu như cái xấu của người nghèo thường thô lậu, trực diện và dễ bị bắt bài, thì sự đồi trụy của tầng lớp "xe sang, áo lụa" lại được tinh chế thành một loại nghệ thuật trình diễn thượng đẳng.

Trong văn chương, chúng ta từng rùng mình trước vẻ ngoài hào hoa của những nhân vật như Nghị Lại trong “Tắt đèn” hay Xuân Tóc Đỏ trong “Số đỏ”. Một tên quan phụ mẫu có thể vừa vuốt râu xướng họa thơ văn, vừa thản nhiên nhìn dân đen chết chìm trong dòng nước lũ. Ngày nay, những "Nghị Lại" ấy không còn mặc áo chùng vẫy quạt, mà họ khoác lên mình những bộ suit cắt may thủ công từ các nhà mốt lừng danh, ngồi trong những cao ốc chọc trời soi bóng xuống những khu ổ chuột lụp xụp. Sự tương phản ấy không chỉ là khoảng cách về thu nhập, mà là sự đứt gãy về lòng trắc ẩn.

Đồng tiền có khả năng tạo ra một "hệ sinh thái sạch sẽ". Khi bạn có đủ tiền, bạn có thể thuê những người viết diễn văn chuyên nghiệp để thốt ra những lời nhân ái lay động lòng người. Bạn có thể thuê những chuyên gia xử lý khủng hoảng để dập tắt những tiếng kêu oan khiên của những người thấp cổ bé họng bị bạn tước đoạt quyền lợi. Bạn có thể xây dựng một hồ sơ cá nhân lấp lánh với những bằng cấp quốc tế, những chuyến đi thực tế thiện nguyện được chụp bởi những nhiếp ảnh gia hàng đầu. Tất cả những thứ đó tạo nên một lớp màng lọc, ngăn chặn mọi mùi hôi thối từ những hành vi phi pháp hay những toan tính đê hèn chạm đến khứu giác của công chúng.

Cái bi kịch của "dân đen" nằm ở chỗ, họ bị tước đoạt cả vật chất lẫn quyền được lên tiếng về đạo đức. Khi một kẻ nghèo khổ sa chân vào tệ nạn, xã hội gọi đó là "bản chất". Nhưng khi một đại gia hay một chính khách bị phanh phui những bê bối chấn động, người ta thường gọi đó là "sự cố", là "áp lực công việc", hay thậm chí là "một phút lầm lỡ của một tài năng". Sự bao biện này chính là minh chứng cho việc đồng tiền đã mua chuộc được cả hệ thống giá trị quan của số đông. Chúng ta tôn thờ sự thành công đến mức sẵn sàng nhắm mắt làm ngơ trước phương thức đạt được sự thành công đó.

Hãy thử tưởng tượng về những sắc lệnh thuế được ký dưới ánh đèn pha lê sang trọng. Kẻ đặt bút ký có lẽ chưa bao giờ biết đến cảm giác của một người mẹ công nhân phải bấm bụng cắt bớt hộp sữa của con để đóng đủ các khoản phí "từ trên trời rơi xuống". Những kẻ ấy, sau khi tạo ra một cơn bão tài chính quét sạch tài sản của những người lao động nhẹ dạ, lại xuất hiện như những vị cứu tinh. Họ bước xuống từ chiếc Mercedes, đôi giày da bóng lộn không vướng một hạt bụi của con đường làng lầy lội, và ban phát những món quà nhỏ mọn.

Đó là một sự sỉ nhục được bọc đường. Mỗi gói quà ấy thực chất là một sợi dây trói buộc lòng biết ơn của người nghèo, khiến họ cảm thấy mình đang nợ kẻ đã lấy đi của mình tất cả. "Lương tâm sạch sẽ" của kẻ giàu được mua bằng chính những giọt nước mắt thầm lặng của người nghèo. Hắn ta vẫy tay cười, không phải vì yêu thương đồng loại, mà vì thỏa mãn với quyền năng vạn năng của đồng tiền: quyền được làm ác mà vẫn được tụng ca là thánh nhân.

Sự vô đạo đức của kẻ giàu có sức tàn phá khủng khiếp hơn nghìn lần cái sai của người nghèo. Một kẻ trộm vặt chỉ gây thiệt hại cho một cá nhân, nhưng một kẻ quyền thế vô luân có thể làm băng hoại cả một nền tảng đạo đức của một quốc gia, làm suy sụp cả một nền kinh tế và giết chết niềm tin của cả một thế hệ. Khi cái xấu được "đóng gói" quá kỹ, nó trở thành một loại virus không màu không mùi, len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống, khiến con người ta dần chấp nhận rằng: để giàu có và đẳng cấp, người ta buộc phải ranh ma, phải thủ đoạn và phải biết cách diễn kịch.

Đã đến lúc chúng ta cần phải thực hiện một cuộc "giải phẫu" tư duy. Chúng ta cần dạy cho thế hệ trẻ rằng, sự sang trọng không nằm ở cái ví polime dày cộp hay chiếc xe hơi đắt tiền, mà nằm ở việc đôi bàn tay tạo ra số tiền đó có thực sự sạch sẽ hay không. Đừng để tiếng cười "ha hả" của những kẻ ban ơn giả tạo át đi tiếng lòng của công lý. Một xã hội thực sự văn minh không phải là xã hội có nhiều người giàu, mà là xã hội mà ở đó, người giàu hay người nghèo đều phải đứng chung một vạch xuất phát trước pháp luật và đạo đức.

Phẩm giá con người không phải là một món hàng có thể định giá bằng ngoại tệ. Sự "thơm" của nhân cách không thể được tạo ra từ những chai nước hoa đắt tiền nhất thế giới nếu tâm hồn đó đã bị thối rữa bởi sự tham lam và tàn nhẫn. Chúng ta cần nhìn xuyên qua những chiếc xe Mercedes, xuyên qua những bộ suit bóng bẩy để thấy được cái tôi trần trụi của mỗi người. Nếu đằng sau sự giàu sang là sự bóc lột, thì đó là sự giàu sang bẩn thỉu. Nếu đằng sau sự học thức là sự lừa lọc, thì đó là sự học thức đê hèn.

Cuối cùng, sự công bằng của tạo hóa nằm ở chỗ: không ai có thể mang theo polime hay xe sang sang thế giới bên kia. Thứ duy nhất còn lại là tiếng vang của những gì chúng ta đã sống. Những bài học đạo đức không nên chỉ dành cho người nghèo như một lời răn đe, mà phải trở thành tấm gương soi hằng ngày cho những kẻ đang nắm giữ vận mệnh của người khác. Hãy để sự "sạch" và "thơm" trở thành giá trị cốt lõi của mọi tầng lớp, để cái giàu đi cùng với lòng nhân, và cái nghèo không bao giờ bị tước đoạt đi lòng tự trọng. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể mơ về một thế giới nơi con người đối đãi với nhau bằng sự chân thành, chứ không phải bằng những màn kịch được mua trọn bởi những đồng tiền lấp lánh mà đầy máu và nước mắt.
Thêm
101
0
0
Viết trả lời...
Mặt trời còn chưa lên, trên hè phố 4 giờ sáng đã nghe tiếng chổi tre lao xao của cô lao công. Tiếng chổi tre xào xạc giữa buổi sớm yên tĩnh. Người ta thường đi ngang qua cô rất nhanh, ít ai dừng lại để nhìn. Nhưng nhờ những nhát chổi kiên nhẫn ấy mà con đường trở nên sạch sẽ, để hàng nghìn người khác bước qua một ngày mới dễ chịu hơn. Cách đó vài con phố, một người bán bánh mì đang nhóm bếp. Hơi nóng từ lò than phả ra, mùi bánh thơm lan trong không khí. Những ổ bánh mì kẹp nóng hổi được trao vội cho những người đi làm sớm. Có thể khách hàng chỉ ăn vội trên đường, có thể họ chẳng nhớ rõ gương mặt người bán. Nhưng những vò xôi ấm nóng hương tình đã cho ngày mới có một chút gì thân thương đọng lại. Những con người ấy hiếm khi được gọi là “huy hoàng”. Họ không đứng trên sân khấu, không xuất hiện trên truyền hình, không có những bài diễn văn khiến đám đông xúc động. Nhưng họ vẫn sống, vẫn làm việc, vẫn có một sân khấu cho riêng mình. Vậy nên người ta băn khoăn: Nếu đời này không HUY HOÀNG?

Có lẽ vấn đề không nằm ở việc cuộc đời có huy hoàng hay không. Vấn đề nằm ở cách chúng ta nhìn nhận giá trị của một cuộc đời này. Từ rất lâu rồi, xã hội đã vô tình tạo ra một thước đo khá khắc nghiệt. Thành công phải lớn. Danh tiếng phải rộng. Thành tựu phải khiến người khác trầm trồ. Khi đứng trước thước đo ấy, rất nhiều người bỗng cảm thấy mình nhỏ bé. Một nhân viên văn phòng bình thường, một người công nhân, một người bán hàng rong, tất cả dường như đều đứng ngoài vùng ánh sáng follow.

Nhưng thử tưởng tượng một ngày nào đó những con người bình thường ấy biến mất. Không còn ai quét rác trên đường. Không còn ai giao những gói hàng. Không còn những xe bánh mì buổi sáng. Thành phố rực rỡ kia sẽ nhanh chóng trở nên hỗn loạn. Điều đó cho thấy rằng thế giới không được xây nên bởi vài ngôi sao sáng. Nó được giữ vững bởi vô số ngọn đèn nhỏ.

Chúng ta thường quá mải mê nhìn lên những đỉnh núi cao mà quên mất những thung lũng yên bình. Đỉnh núi luôn khiến người ta choáng ngợp. Nhưng chính những thung lũng mới là nơi con người có thể sống, trồng trọt và nuôi dưỡng sự sống. Có một sự thật mà càng lớn lên chúng ta càng nhận ra. Không phải ai cũng có một cuộc đời rực rỡ theo nghĩa mà xã hội ca ngợi. Và điều đó hoàn toàn bình thường. Một người có thể không trở thành nhà lãnh đạo nổi tiếng, nhưng họ là một người cha kiên nhẫn dạy con học từng tối. Một người có thể không viết nên những cuốn sách vang danh, nhưng họ là người bạn luôn lắng nghe khi ai đó tuyệt vọng. Một người có thể không tạo ra những phát minh thay đổi thế giới, nhưng họ đã làm việc chăm chỉ suốt nhiều năm để nuôi sống gia đình.

Những điều ấy không làm rung chuyển lịch sử. Nhưng chúng làm ấm một góc đời.

Có lẽ “huy hoàng” không phải lúc nào cũng nằm ở nơi đông người nhìn thấy. Đôi khi nó nằm trong những sân khấu thầm lặng. Sân khấu của anh shipper là những con đường dài đầy nắng gió. Sân khấu của cô lao công là mặt đường còn tối trước bình minh. Sân khấu của người bán bánh mì là góc phố nhỏ với làn khói bếp. Không có ánh đèn rực rỡ, chỉ có nhịp sống bình dị lặp lại mỗi ngày. Nhưng chính những sân khấu lặng lẽ ấy lại chứa đựng một dạng vẻ đẹp rất đặc biệt. Đó là vẻ đẹp của sự kiên trì, của trách nhiệm và của những nỗ lực không cần được ca ngợi.

Khi nhìn vào họ, ta có thể nhận ra rằng giá trị của một con người không nhất thiết phải được đo bằng độ lớn của ánh hào quang. Đôi khi nó được đo bằng cách họ sống tử tế đến mức nào, họ chăm chỉ ra sao và họ đã giúp cuộc sống của những người xung quanh trở nên dễ chịu hơn thế nào. Chúng ta thường sợ rằng nếu mình không nổi bật thì cuộc đời sẽ trôi qua vô nghĩa. Nhưng thật ra, rất nhiều ý nghĩa của cuộc sống nằm ở những điều nhỏ bé mà ta làm mỗi ngày. Một nụ cười khi giao hàng. Một con đường sạch sẽ vào buổi sáng. Một ổ bánh mì nóng trong ngày mưa. Những khoảnh khắc ấy có thể rất nhỏ, nhưng đối với ai đó chúng lại đủ để khiến một ngày trở nên dễ chịu hơn.

Có thể chúng ta sẽ không được nhắc tên trong sách lịch sử. Có thể sẽ không có tượng đài nào được dựng lên. Nhưng nếu trong suốt cuộc đời mình, ta đã sống chân thành, đã cố gắng làm tốt công việc của mình, đã không làm tổn thương người khác và đôi khi còn giúp ai đó vượt qua một ngày khó khăn, thì cuộc đời ấy đã có ý nghĩa theo một cách rất riêng.

Và biết đâu, chính những cuộc đời bình dị ấy mới khiến cho cuộc đời thêm đáng yêu.

Vì thế, nếu một ngày nào đó ta nhận ra rằng cuộc đời mình không huy hoàng như đã từng tưởng tượng, có lẽ cũng không cần quá buồn.




Thêm
64
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta nuối tiếc những ngày tháng Tết đi qua, trước hết và sau cùng vẫn là vì không muốn rời xa những con người mà phải rất lâu mới có thể gặp lại được. Những mảnh kí ức đẹp đẽ về ngày đoàn viên mà chỉ khi tết đến xuân về người ta mới có thể gặp lại được nhau, dưới cây nêu và tràng pháo tết. Mùa xuân, bởi vậy với những con người đang gieo giấc mơ nơi phương xa, đó là mùa của sum họp đủ đầy.

Tết năm nào cũng làm lòng tôi thấy bối rối. Mùa xuân nơi đất người xô bồ, nhộn nhịp, cũng có bánh chưng xanh câu đối đỏ, có tiếng nhạc “Nhà nhà hạnh phúc đón xuân sang…”, có cái không khí lạnh và mưa lâm râm, nhưng sao vẫn thấy thiếu điều gì đó. Cứ ngày 23 24 cúng ông táo, tôi lại nhận được cuộc điện thoại của mẹ từ quê nhà. Bức ảnh mờ mờ mẹ gửi chụp mâm cúng ngày 23 tết, đưa ông táo về nhà, gửi gắm trong đó biết bao ý nguyện của mẹ cho cái tết của gia đình. Có một thứ mang tên vị nhà vẫn âm thầm xuất hiện trong những bữa cơm của mẹ. Hương vị quê nhà ấy vẫn đau đáu nhắc tôi về một chốn trở về, nhắc tôi về cái tết của ngày đoàn viên. Lăn lộn trên phố thị xô bồ, nhẫn nhịn quên đi những thương tổn của thế giới người lớn, cuối cùng cũng là để trở về với một nơi thực sự dành cho mình.

Những bữa cơm ngập tràn thương thương của mẹ khiến con có thêm một lí do để về nhà. Trên thành phố xa xôi, con đã quen với những bữa nấu mì tôm ăn vội cho qua bữa để lên lớp. Đôi lúc thèm nồi thịt kho của mẹ, thèm được mẹ gắp cho những miếng ngon mà thấy xa vời quá. Con nơi xa, vẫn vẹn nguyên hình dáng quê nhà mình. Ở Hà Nội xô bồ, nhìn quê mình chỉ còn là một tia sáng nhỏ ở nơi xa lắm lắm, con đau lòng như có tảng đá đè nặng trong con. Mai này con sẽ còn đi xa nữa, còn tung cánh trên những vùng trời mới, ở nơi ấy, ai cho con được bữa cơm nóng ấm tình quê?

Con thấy cái tết này sao mà trôi nhanh quá thể. Ngày con đặt chân xuống tàu về với nhà mình đến ngày con đặt chân lên chuyến tàu ấy lần nữa gần nhau lắm, đến mức con tưởng như chỉ vừa qua một cái chớp mắt. Lại một lần nữa con rời xa quê mình, mang theo giấc mơ lên Hà thành xa xôi. Với những đứa trẻ miền quê như con, con ước một năm có 100 ngày tết, để con được ở bên mẹ, bên cha lâu hơn một chút, để con đỡ đi phần nào day dứt. Thế mà rồi, con lại ước tết ngắn lại. Tết dài, con lại bám mùi quê, lại quen với cái cuộc sống ngày còn bé, đến lúc đi xa thì nghẹn ngào nhung nhớ. Con nhớ buổi tối hôm soạn đồ lên thành phố, con bé em mắt rơm rớm nước, lén quay mặt đi giấu một giọt nước vừa rơi xuống. Liệu nó có biết rằng, con đã trốn trong một góc sau nhà để lén rơi nước mắt không mẹ nhỉ? Đêm trước ngày con lên thành phố, con và nó đã thủ thỉ với nhau cả đêm. Con đã tưởng con bé mạnh mẽ lắm, nhưng con nhận ra rằng nó cũng biết buồn khi hai chị em con xa nhau. Lại phải một năm nữa đi qua, con mới có thể gặp lại con bé hồn nhiên hay buồn ấy.


Chuyến tàu lên thành phố đã lăn bánh, chỉ vài tiếng nữa con đã lại lên thành phố bắt đầu một năm lăn lộn mới. Con chờ mong chuyến tàu này hàng đêm, nhưng cũng mong nó quay chậm lại một chút, để mỗi bước con đi và con về đều thật đắt giá. Cảm ơn cuộc đời này đã cho con trưởng thành trên những chuyến đi xa. Cảm ơn những chuyến rời nhà mới cho con khao khát được trở về, được ấp ôm trong “vị nhà”.

Tết đã qua, một năm mới bắt đầu, nguyện cho tất cả chúng ta đều thành công – hạnh phúc – rực rỡ – may mắn. Một năm mới trọn vẹn và đong đầy kỉ niệm..
Thêm
  • Like
Reactions: Văn Học Trẻ
213
1
0
Viết trả lời...
Trong phiên tòa xét xử vụ án gian lận trong kì thi Tốt nghiệp THPTQG năm 2028 tại tỉnh Hòa Bình, cô giáo Diệp Thị Hồng Liên đã nói: "Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ trở thành khuyết tật". Thế giới chỉ đánh giá người khác qua sự khác biệt và nếu như sự khác biệt đó tạo ra hai cực đối lập, người đó sẽ trở thành "người khuyết tật". Trong bóng tối chập choạng của những thang giá trị đang đảo chiều, đôi khi cái cúi đầu không phải vì hổ thẹn, mà là một nỗ lực để "khớp" mình vào một cộng đồng của những kẻ lưng gù. Lời tự sự của Diệp Thị Hồng Liên tại phiên tòa năm ấy không chỉ là một lời biện hộ, nó là một tiếng nấc cụt, một nhát dao rạch vào tấm màn nhung che đậy sự thối rữa của lòng người và những góc khuất tăm tối của xã hội. Khi sự liêm chính bị dán nhãn là "khuyết tật", và sự vặn vẹo được suy tôn thành "chuẩn mực", chúng ta không chỉ đang đối diện với một vụ án gian lận giáo dục, mà đang đứng trước một cuộc khủng hoảng căn tính nhân loại đầy bi kịch.

Lời khẳng định "Ai cũng gù, mình thẳng lưng sẽ trở thành khuyết tật" chứa đựng một sự mỉa mai đến buốt nhức. Trong sinh học, khuyết tật là sự thiếu hụt hoặc sai lệch so với tiêu chuẩn tự nhiên. Nhưng trong một xã hội bị bóp méo, "tiêu chuẩn" không còn nằm ở đạo đức hay lẽ phải, mà nằm ở số đông.

Con người là một sinh vật có tính bầy đàn. Chúng ta sợ bị bỏ rơi, sợ trở nên khác biệt. Khi một môi trường làm việc hay một cộng đồng bị bao phủ bởi sự gian dối, người lương thiện vô tình trở thành một "vật thể lạ" gây khó chịu. Sự "thẳng lưng" của bạn là tấm gương phản chiếu cái "gù" của họ. Vì vậy, để bảo vệ sự vặn vẹo của mình, số đông sẽ tìm cách đồng hóa bạn, hoặc triệt hạ bạn bằng cách định nghĩa sự ngay thẳng của bạn là một loại dị tật.

Tại sao một nhà giáo - người mang sứ mệnh khai sáng - lại chấp nhận "gù lưng"? Đó là nơi góc khuất của lòng người hiện hình rõ nhất. Nó không phải là cái ác lộ liễu với nanh vuốt, mà là cái ác của sự thỏa hiệp. Người ta sợ hãi quyền lực, sợ hãi bị cô lập, và cuối cùng, người ta tự thuyết phục mình rằng "mọi người đều thế cả". Cái góc khuất ấy chính là khả năng tự huyễn hoặc bản thân để chung sống với bóng tối mà không cảm thấy cắn rứt.

Xã hội chỉ đánh giá chúng ta qua sự khác biệt. Nhưng bi kịch nằm ở chỗ, khi đạo đức bị đảo lộn, những người mang tâm hồn lành lặn lại bị xem là "khuyết tật" về kỹ năng sống, "khuyết tật" về khả năng thích nghi. Thế giới thường chia đôi: kẻ "biết điều" (những kẻ gù) và kẻ "gàn dở" (những người thẳng). Khi bạn chọn không tham gia vào một guồng quay tham nhũng, bạn bị coi là kẻ không biết lo cho gia đình. Khi bạn chọn nói sự thật, bạn bị coi là kẻ phản bội đồng nghiệp. Sự khác biệt này tạo ra một hố ngăn thăm thẳm. Trong mắt những kẻ gù, cái lưng thẳng của người chính trực là một sự kiêu ngạo không thể chấp nhận được. Họ cần bạn phải gù xuống, không phải để bạn giống họ, mà để họ bớt cảm thấy mình thấp hèn.

Những góc khuất xã hội không chỉ nằm ở những phong bì dưới gầm bàn hay những con điểm được sửa chữa. Nó nằm ở sự mục rỗng về niềm tin. Khi lòng người đầy rẫy những toan tính, người ta nhìn đâu cũng thấy âm mưu. Một hành động tử tế bị nghi ngờ là "làm màu", một sự liêm chính bị coi là "chờ giá cao hơn". Đó mới chính là sự "khuyết tật" thực sự của xã hội – một sự khuyết tật về khả năng tin tưởng vào những điều tốt đẹp. Không thể đổ lỗi hoàn toàn cho lòng người nếu không nhìn vào cấu trúc của "cái hang" mà họ đang sống.

Liệu có lối thoát nào cho một xã hội mà ai cũng sợ "thẳng lưng"?

Thừa nhận mình đã "gù" chính là bước đầu tiên để bắt đầu nỗ lực đứng thẳng lại. Văn chương và nghệ thuật có nhiệm vụ phơi bày những góc khuất này không phải để chúng ta tuyệt vọng, mà để chúng ta thấy kinh hãi cái vẻ đẹp giả tạo của sự đồng dạng. Nếu đứng thẳng giữa những người gù bị coi là khuyết tật, thì hãy dũng cảm chấp nhận cái danh xưng đó. Bởi lẽ, thà là một "người khuyết tật" có nhân cách còn hơn là một thực thể "lành lặn" về hình thể nhưng mục rỗng về linh hồn. Lòng người cần một cuộc cách mạng của sự liêm chính, nơi mỗi người tự ý thức về cái lưng của mình.

Lòng người luôn có những góc khuất, và xã hội sẽ luôn có những giai đoạn mà bóng tối dường như chiếm ưu thế. Nhưng hãy nhớ rằng, ánh sáng không cần phải rực rỡ để chiến thắng bóng tối, nó chỉ cần hiện diện. Câu nói tại phiên tòa năm 2018 sẽ mãi là một vết sẹo trong lịch sử giáo dục, một lời nhắc nhở đau đớn về việc chúng ta dễ dàng đánh mất mình như thế nào trước áp lực của số đông. Nhưng đồng thời, nó cũng thôi thúc chúng ta phải kiến tạo một xã hội mà ở đó, người thẳng lưng được suy tôn, và cái gù lưng mới thực sự là nỗi hổ thẹn cần phải được chữa trị.

Bởi sau tất cả, chúng ta không sống để thỏa mãn định kiến của thế giới, mà sống để khi soi mình vào gương, ta thấy một con người trọn vẹn, không vặn vẹo, không góc khuất.
Thêm
  • Like
Reactions: Văn Học
106
1
1
Nhưng đồng thời, nó cũng thôi thúc chúng ta phải kiến tạo một xã hội mà ở đó, người thẳng lưng được suy tôn, và cái gù lưng mới thực sự là nỗi hổ thẹn cần phải được chữa trị.
Trước tiên là gìn giữ văn hóa tốt đẹp chung của xã hội đang sống, sau nữa là tấm lòng của bản thân. Bản thân cần có tấm lòng và thể hiện nó ở mọi lúc mọi nơi, có như vậy mới không "sống gù" - khuyết tật nhân cách.
 
Viết trả lời...
Tại sao khi con người đã có trong tay những kính hiển vi soi thấu tế bào, những vệ tinh quan sát tận rìa vũ trụ, hay những bộ luật đanh thép đủ để thiết lập trật tự cho hàng tỷ dân, họ vẫn cần đến những “trang văn mỏng manh”? Khi báo chí đã đưa tin về những vụ bạo hành ngay lập tức, khi chính trị đã định hình các thể chế, văn chương dường như trở thành một "kẻ chậm chân" tội nghiệp. Thế nhưng, giữa sự ồn ào của truyền thông và sự khô khốc của những con số, văn chương vẫn lẳng lặng cất giữ một thứ "vàng" hiếm quý: khả năng đánh thức sự tự giáo dục của con người. Nó không dạy ta cách vận hành thế giới, nó dạy ta cách nhìn lại chính mình qua những "bụi vàng" rơi vãi trên nẻo đường của những kiếp người vô danh.

Chúng ta sống trong một thời đại của những điều khổng lồ. Khoa học giải quyết những bài toán phổ quát, pháp luật áp chế những hành vi sai trái, và tôn giáo vạch ra con đường cứu rỗi cho đám đông. Văn chương, ngược lại, chọn cho mình dáng dấp nhỏ bé. Nó không nhìn vào "nhân loại" bằng một cái nhìn trừu tượng; nó nhìn vào cái "cá nhân" bằng một cái nhìn xuyên thấu.

Cái làm nên sự bất tử của văn chương không phải là tính thời sự, bởi vì nó sẽ cũ đi, hay tính hàn lâm (vì nó sẽ bị thay thế bởi những khám phá mới). Đó là những "bụi vàng" - những chi tiết đời sống li ti, những rung cảm tế vi mà báo chí và khoa học thường bỏ lỡ.

Khoa học có thể giải thích cơ chế của nỗi đau, nhưng chỉ văn chương mới cho ta thấy dáng hình "thập thững những đêm hàn" của một người bà côi cút sau trận bom. Pháp luật có thể trừng trị kẻ hành hung, nhưng chỉ văn chương mới thấu hiểu và dang tay đón nhận nỗi lòng kín kẽ của người đàn bà hàng chài - người chấp nhận những nhát quất cháy thịt để giữ lấy một mái ấm cho bầy con. Lịch sử có thể ghi lại danh tính những kẻ bị khai tử, nhưng chỉ có Nam Cao mới khiến ta phải soi chiếu mình qua tiếng chửi của một "con quỷ" mang tên Chí Phèo, kẻ bị triệt hạ quyền làm người nhưng vẫn khao khát lương thiện đến tận cùng. Văn chương không nói về những gì "cao siêu", nó nói về những gì "quanh ta". Nó biến những kẻ vô danh thành những định mệnh, biến những chuyện riêng tư thành nỗi nhức nhối của cả một thời đại. Chính từ sự tiếp cận này, một hành trình giáo dục thầm lặng bắt đầu.

Quá trình tiếp nhận văn chương thực chất là một cuộc đối thoại giữa cái vốn đã biết và cái chưa từng được nói ra. Chúng ta "biết" về cái đói, về chiến tranh, về sự bất công thông qua tin tức hàng ngày. Nhưng cái "biết" ấy thường dừng lại ở mức độ thông tin. Nó khiến con người ta dễ dàng trở nên dửng dưng, ráo hoảnh. Ta nghe về một vụ đuối nước hay một cuộc xung đột như một con số thống kê. Văn chương lấy cái "biết" ấy làm chất liệu, nhưng lại thổi vào đó một linh hồn để ta không thể đứng ngoài cuộc.

"Ải" lớn nhất mà văn chương giúp ta vượt qua chính là ải của sự thấu cảm. Nhà văn khéo léo đưa ta vào thế giới "giả vờ", nơi những nhân vật thực ra lại thật hơn cả người thật. Khi ta bước chân vào tâm khảm của một người đàn bà hàng chài, ta không còn nhìn bà như một nạn nhân yếu đuối của tệ nạn xã hội. Ta nhìn thấy ở đó một sự nhẫn nhịn thiêng liêng, một sự hi sinh đầy cay đắng mà không một bộ luật nào có thể định nghĩa được. Đây chính là sự phơi mở. Văn chương phơi mở những gì chưa từng được nói ra trong những mối quan hệ giữa người với người. Nó cho ta thấy cả bầu trời sao (những giá trị cao đẹp) ngay cả khi ta đang đứng giữa bùn lầy của thực tại nghiệt ngã.

Văn chương không giáo dục theo kiểu "răn đe" hay "áp chế". Nó giáo dục bằng sự tự giáo dục. Nhà văn không đứng trên bục giảng để rao giảng đạo đức; họ ném độc giả vào giữa những lằn ranh của yêu và hận, thật và giả. Khi một độc giả thực sự "đặt lòng" mình vào một cuốn sách, một phản ứng hóa học tinh thần sẽ xảy ra. Anh ta bắt đầu chất vấn chính mình: "Nếu là tôi trong hoàn cảnh ấy, tôi sẽ làm gì? Liệu sự dửng dưng bấy lâu nay của tôi có phải là một tội ác?"

Sự nhìn lại ấy chính là "vũ khí" của văn học. Nó tước bỏ chiếc mặt nạ vô can của chúng ta trước những bể dâu thời cuộc. Một khi đã hiểu được nỗi đau của Chí Phèo, ta không thể nhìn một người cùng khổ với con mắt khinh khi như trước. Một khi đã thấu được nỗi lòng của Márai Sándor, ta không thể xem căn tính dân tộc chỉ là một khái niệm trừu tượng trên giấy tờ.

Hành trình này cải biến con người mãi mãi. Nó tạo ra: những nhận thức mới, những niềm tin mới và sự tự-giáo-dục: Đây là hình thức giáo dục bền vững nhất, vì nó xuất phát từ nhu cầu nội tại của cá nhân muốn hoàn thiện hồn mình thông qua việc thấu tỏ hồn người.

Bởi vậy, văn chương có thể bé nhỏ trước sức mạnh của công nghệ, có thể yếu ớt trước quyền uy của chính trị, nhưng nó lại là thứ duy nhất có khả năng "lượm nhặt bụi vàng" để hàn gắn những tâm hồn tan vỡ. Nó là mặt hồ để ta soi tỏ gương mặt mình, để thấy rằng ta không phải là một thực thể cô lập mà là một phần của "phận đời, chuyện đời" rộng lớn. Viết hay đọc văn chương đều là để thực hiện một cuộc hành trình: đi xuyên qua hiện thực để đến với chân lý, đi xuyên qua cái tôi dửng dưng để đến với cái ta thấu cảm. Khi con người còn biết đau trước nỗi đau của một nhân vật "giả vờ", khi họ còn biết thẹn thùng trước một hành động cao thượng trên trang giấy, thì khi ấy, văn chương vẫn còn đang thực hiện sứ mệnh thiêng liêng của nó: Làm cho con người trở nên Người hơn.
Thêm
  • Like
Reactions: Văn Học Trẻ
66
1
0
Viết trả lời...
Sáng tạo văn chương chưa bao giờ là một cuộc dạo chơi thong dong trên cánh đồng chữ nghĩa. Đó là một cuộc hành trình vượt ải đầy cam go, nơi nhà văn vừa phải đóng vai một đấng tạo hóa toàn năng để khai sinh ra những vũ trụ mới, vừa phải làm một kẻ tội đồ tự hành xác để tìm kiếm sự cứu chuộc cho chính tâm hồn mình. Từ nỗi trăn trở về căn tính của Márai Sándor đến những kiếp người cùng khổ trong văn chương Nguyễn Minh Châu, hành trình ấy là một chuỗi những đứt gãy và hàn gắn, nơi mỗi con chữ đều mang sức nặng của một định mệnh.

Khi một nhà văn đối diện với trang giấy trắng, họ đang đứng trước một hư vô nguyên thủy. Bằng quyền năng của trí tưởng tượng, họ bắt đầu công việc của một "Thượng đế": ấn định số phận. Một cái tên được đặt xuống, một khuôn mặt được phác thảo, một giọng nói được cất lên. Nhân vật không chỉ là những ký tự vô tri; chúng là những thực thể sống động mang theo hơi thở của thời đại. Nhà văn cho họ "tiếng cười, giọng nói và những giọt nước mắt". Nhưng quyền năng này không đi kèm với sự độc đoán. Khác với Thượng đế trong huyền thoại vốn tạo ra con người từ đất sét, nhà văn tạo ra nhân vật từ chính huyết quản và những mảnh vỡ tâm hồn mình.

Mỗi nhân vật tiêu biểu cho một kiểu người, một nỗi nhức nhối ở đời. Đó có thể là sự tha hóa đau đớn của Chí Phèo, là nỗi cô độc kiêu hãnh của những quý tộc cũ trong văn Márai, hay là ánh mắt nhìn đời đầy bao dung của người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng. Khi nhà văn "ấn định" số phận cho họ, thực chất họ đang nỗ lực gọi tên những thực thể đang tồn tại lầm lũi trong bóng tối của hiện thực.

Nếu nhà văn chỉ dừng lại ở việc mô tả nỗi đau, họ mới chỉ là một thư ký của thời đại. Để trở thành một nghệ sĩ chân chính, họ phải bước thêm một bước nữa vào "ải" của lòng trắc ẩn: giải thoát và chữa lành. Nguyễn Minh Châu từng nói về công việc của nhà văn như "kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ". Đây là một vai trò thiêng liêng. Trong một thế giới đầy rẫy bất công và những sự thật nghiệt ngã, văn chương chính là nơi nương tựa cuối cùng. Nhà văn dùng thế giới "giả vờ" - cái thế giới tưởng tượng của nghệ thuật - để tạo ra phép màu khởi sinh cho những định mệnh có thật. Khi độc giả khóc cùng nỗi đau của một nhân vật, họ nhận ra nỗi đau của chính mình được xoa dịu. Khi họ thấy nhân vật vượt qua bóng tối, họ tìm thấy ánh sáng cho cuộc đời mình. Đó chính là sự tương tác kỳ diệu giữa văn chương và đời sống: cái "hư vô" trên trang giấy lại tạo ra sức mạnh "hữu hình" làm thay đổi nhận thức, tư tưởng và hành động của con người. Tuy nhiên, đừng lầm tưởng rằng nhà văn đứng ở trên cao để ban phát lòng thương hại. Thực chất, hành trình sáng tạo là một cuộc tự cứu.

Mỗi văn nhân đều mang trong mình một "tấm lòng ái nhân" nhạy cảm đến mức cực đoan. Họ không thể làm ngơ trước những va đập của đời sống. Hiện thực đôi khi hiện lên với sự chán ghét, nôn mửa và kinh hãi. Những sầu muộn và hoài nghi ấy nếu không được giải tỏa sẽ trở thành một "nhà lao" giam cầm tâm hồn nghệ sĩ.Viết, khi đó, trở thành một nỗ lực "khắc khoải, đèo bòng để trần tình". Nhà văn viết không phải vì họ muốn, mà vì họ buộc phải viết để không bị bóp nghẹt bởi chính những suy tư của mình. Họ dùng ngôn từ để phơi bày những góc khuất, để biện hộ cho những sai lầm, và để tìm kiếm sự chấp nhận từ thế giới. Từng trang viết là một lời tự thú, một nỗ lực vượt thoát khỏi bóng tối của bản ngã để đi tìm ánh sáng của sự thấu cảm.

Để đạt đến sự cứu chuộc ấy, văn nhân phải vượt qua những ranh giới mong manh và đầy cạm bẫy.

Viết về cái ác mà không trở nên độc ác, viết về nỗi đau mà không trở nên bi lụy, đó là một thử thách. Nhà văn phải đứng giữa lằn ranh của "cay nghiệt và dịu dàng". Như Márai Sándor, ông phải giữ được sự sắc sảo của một nhà luật học để phân tích sự thật, nhưng đồng thời phải có sự mẫn cảm của một tâm hồn lưu vong để cảm nhận cái đẹp trong sự tàn phai.

Người nghệ sĩ thường rơi vào trạng thái "tha hương" ngay trên chính mảnh đất của mình hoặc trong chính ngôn ngữ của mình. Họ trăn trở về bản sắc dân tộc, về niềm kiêu hãnh và nỗi đau chung. Việc cân bằng giữa cái "riêng biệt" của cá nhân và cái "phổ quát" của nhân loại là một cuộc đấu tranh không hồi kết. Nếu quá sa vào cái riêng, tác phẩm sẽ trở nên hẹp hòi; nếu quá chạy theo cái phổ quát, tác phẩm sẽ mất đi bản sắc.

Hành trình sáng tạo của người nghệ sĩ văn chương là một vòng tròn khép kín của tình thương và trách nhiệm. Bắt đầu từ việc mang vai trò "Thượng đế" để ban phát sự sống cho nhân vật, họ kết thúc bằng việc trở thành một "con chiên" ngoan đạo tìm kiếm sự cứu rỗi nơi người đọc. Văn chương không làm thay đổi thế giới theo cách của một cuộc cách mạng chính trị hay một phát minh khoa học. Nó thay đổi thế giới bằng cách khơi gợi lòng trắc ẩn, bằng cách biến những người lạ thành những người thân thuộc qua những trang sách. Nhờ có những văn nhân dám "dấn thân" vào những cuộc hành hương tinh thần khắc khoải, nhân loại mới có thêm những nhịp cầu cảm thông, và những người "cùng đường, tuyệt lộ" mới thấy mình không còn đơn độc trên thế gian này.
Thêm
68
0
0
Viết trả lời...
Trong một góc quán cà phê nhỏ ở Naples hay giữa lòng New York náo nhiệt, có một người đàn ông ngồi lặng lẽ, lắng tai nghe một mẩu đối thoại xa lạ. Bất chợt, một âm thanh vang lên—tiếng trẻ con ríu rít bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của ông, tiếng Hungary. Ngay khoảnh khắc ấy, thế giới của Márai Sándor như sụp đổ rồi lại được tái thiết. Ông bị xâm chiếm bởi "một nỗi buồn không cưỡng". Đó không đơn thuần là nỗi nhớ nhà của một kẻ lưu vong, mà là vết nứt toác của một căn tính đang tìm cách bám rễ vào hư vô. Từ hình tượng Márai - người lữ hành vĩnh cửu giữa những biên giới - ta nhận ra một sự thật nghiệt ngã: Nỗi trăn trở về bản sắc không chỉ là gánh nặng, mà còn là "lễ rửa tội" để một người thợ chữ trở thành một nghệ sĩ chân chính.


Người nghệ sĩ, về bản chất, là những kẻ "đa quốc tịch" trong tâm tưởng. Họ thuộc về thế giới của những ý niệm phổ quát, nhưng chân họ lại luôn lấm bùn đất của một quê hương cụ thể. Với Márai Sándor, Kassa không chỉ là một địa danh; đó là một trạng thái tinh thần. Khi đế chế Áo-Hung tan rã, khi những tác phẩm bị cấm đoán suốt 40 năm, Márai không chỉ mất đi một nơi chốn, ông mất đi một "tòa gương" để soi chiếu chính mình. Nỗi trăn trở về căn tính trong nghệ thuật thường xuất hiện dưới hai hình thái đối lập giữa sự kiêu hãnh và sự cô độc.

Khi Márai nghe tiếng trẻ con nói tiếng Hung ở nơi đất khách, nỗi buồn ấy chính là sự thức tỉnh về một "đứt gãy văn hóa". Người nghệ sĩ hiểu rằng, dù họ có đi xa đến đâu, có học bao nhiêu triết học hay luật pháp, thì phần cốt tủy nhất của họ vẫn thuộc về một cộng đồng, một ký ức tập thể. Nếu rũ bỏ nó, họ sẽ trở nên trống rỗng; nhưng nếu bám chặt vào nó trong khi thế giới đang đổi thay, họ sẽ trở thành những "bảo tàng sống" đầy bi kịch.

Nghệ sĩ không sáng tạo để giải trí; họ sáng tạo để định nghĩa lại bản thân. Trong cuốn Bốn mùa, trời và đất, Márai ném mình vào những lằn ranh. Ông không chọn đứng hẳn về phía "vĩnh hằng" hay "phù sinh", mà chọn đứng ở giữa—nơi sự xung đột diễn ra gay gắt nhất.

Nỗi trăn trở của người nghệ sĩ giống như một cuộc hành hương ngược chiều. Trong khi thế giới tiến về phía toàn cầu hóa, phía sự đồng nhất phẳng lì, thì người nghệ sĩ lại đào sâu vào những vỉa tầng bản sắc cá nhân. Họ tự hỏi: Tôi là ai giữa những biến động của thời đại? Tiếng nói của tôi có giá trị gì nếu nó không mang hơi thở của mảnh đất đã nhào nặn nên tôi? Sự sắc sảo, bền bỉ và lãnh đạm mà Márai thể hiện chính là cái "áo giáp" giúp ông chịu đựng nỗi đau của một kẻ tha hương. Một người nghệ sĩ không có trăn trở về bản sắc sẽ chỉ tạo ra những tác phẩm hời hợt, thiếu đi cái "men" nồng nàn của sự sống. Chỉ khi người ta đau đáu về gốc rễ, cái đẹp mới thực sự nảy mầm từ những vết thương.

Có một nghịch lý thú vị trong văn chương Márai: Càng viết về những nỗi niềm Hungary riêng tư, tác phẩm của ông lại càng chạm đến trái tim của độc giả toàn thế giới. Tại sao một độc giả Việt Nam hay Pháp lại có thể xúc động trước nỗi buồn của một người Hung lưu vong? Đó là bởi vì nỗi trăn trở về căn tính là một trải nghiệm nhân loại phổ quát. Ai trong chúng ta cũng đều là những kẻ tha hương trong chính cuộc đời mình, luôn đi tìm một "mái nhà" tinh thần để thuộc về. Người nghệ sĩ là kẻ lĩnh xướng tiếng nói ấy. Họ biến nỗi đau dân tộc thành nỗi đau thân phận, biến niềm kiêu hãnh cá nhân thành giá trị nhân văn cao cả. Văn chương của Márai là minh chứng cho việc: Để đạt tới cái "xa vời", người ta phải bắt đầu từ cái "chật chội" của chính lòng mình. Để thấy được "trời và đất", người ta phải đi qua đủ "bốn mùa" của sự cô đơn hiện sinh.
Thêm
54
0
0
Viết trả lời...
Ký ức là phần trầm tích sâu kín nhất bên trong tâm hồn mỗi con người, còn kí ức là còn cảm xúc, còn biết yêu và biết ghét . Nó không chỉ lưu giữ những gì đã qua mà còn âm thầm định hình hiện tại và tương lai. Marcel Proust từng xem ký ức như “con đường để đi tìm thời gian đã mất”, nhưng với văn chương, ký ức còn hơn một hành trình truy tìm: nó là chất liệu sáng tạo, là động lực nội tâm và là không gian để con người tự chữa lành. Khi nhà văn viết về ký ức, đặc biệt là những hồi ức khổ đau, họ không chỉ tái hiện quá khứ mà còn thực hiện một hành vi nhận thức và giải tỏa. Từ góc độ lý luận văn học, có thể nhìn nhận văn chương như một hình thức ký ức nghệ thuật, nơi quá khứ được tái cấu trúc, lưu giữ và trao truyền trong chiều kích nhân văn sâu sắc.

Theo quan điểm của tâm lý học sáng tạo, trải nghiệm cá nhân, đặc biệt là những trải nghiệm mang tính chấn thương, thường để lại dấu ấn sâu đậm trong tiềm thức và thôi thúc con người biểu đạt. Nhà văn, với khả năng nhạy cảm đặc biệt, biến ký ức thành hình tượng nghệ thuật. Quá trình ấy không phải là sao chép nguyên xi những gì đã xảy ra, mà là sự tái cấu trúc qua lăng kính cảm xúc và tư duy. Ký ức trong văn chương vì thế vừa mang tính cá nhân, vừa đạt đến tính phổ quát khi được nâng lên thành biểu tượng của thân phận con người.

Văn học có thể lưu giữ ký ức ở nhiều cấp độ: ký ức của một thế kỷ, của một cuộc chiến, của một cộng đồng lưu vong; nhưng cũng có thể là ký ức của một khoảnh khắc mong manh, một mùi hương thoảng qua, một cảm giác tế vi. Điều này cho thấy phạm vi rộng lớn của ký ức nghệ thuật. Theo lý thuyết tự sự, thời gian trong văn học không vận hành tuyến tính như thời gian vật lý. Nhà văn có thể làm chậm, đảo ngược, phân mảnh hoặc đan xen các lớp thời gian để tái hiện dòng chảy ký ức. Nhờ vậy, quá khứ không bị đóng khung mà trở thành một thực thể sống động, liên tục đối thoại với hiện tại. Đặc biệt, việc viết về những hồi ức khổ đau mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc. Khi thuật lại nỗi đau cá nhân hay cộng đồng, nhà văn buộc phải sống lại ký ức ấy, đối diện với những tổn thương từng in hằn trong tâm trí. Hành vi ấy có thể gợi lại cảm giác đau đớn, nhưng đồng thời cũng là một quá trình “catharsis” - thanh lọc cảm xúc. Aristotle từng cho rằng nghệ thuật bi kịch giúp con người giải tỏa những cảm xúc tiêu cực thông qua sự đồng cảm và suy ngẫm. Tương tự, việc viết lại ký ức đau thương cho phép nhà văn chuyển hóa nỗi đau thành ngôn từ, từ đó làm dịu gánh nặng tinh thần.

Ở đây, văn chương đóng vai trò như một liệu pháp tinh thần. Tâm lý học hiện đại đã chỉ ra rằng việc kể lại chấn thương trong một cấu trúc có ý nghĩa giúp cá nhân tái lập trật tự cho những ký ức rời rạc, từ đó giảm bớt ám ảnh. Khi nhà văn “gửi gắm nỗi đau” vào trang viết, họ không chỉ lưu giữ ký ức mà còn tạo khoảng cách thẩm mỹ với nó. Khoảng cách ấy giúp nỗi đau được nhìn nhận dưới ánh sáng mới, không còn là vết thương mở toang mà trở thành một phần của hành trình trưởng thành. Vì vậy, viết vừa là để nhớ, vừa là để quên; vừa là để giữ lại, vừa là để buông xuống. Tuy nhiên, ký ức trong văn chương không chỉ mang tính cá nhân mà còn mang tính tập thể. Nhiều tác phẩm lớn của nhân loại là những “kho lưu trữ ký ức” của cả một thời đại. Khi nhà văn ghi lại những biến cố lịch sử – chiến tranh, dịch bệnh, lưu đày, họ đang thực hiện sứ mệnh lưu giữ ký ức cộng đồng. Nếu ký ức chỉ tồn tại trong từng cá nhân riêng lẻ, nó dễ bị mai một theo thời gian. Văn chương, nhờ văn tự, giúp ký ức được cố định và trao truyền. Chính vì vậy, văn học trở thành một hình thức ký ức văn hóa, góp phần hình thành bản sắc và ý thức lịch sử của dân tộc.

Lời của giáo sư Diêm Liên Khoa: “Ký ức không thể thay đổi thế giới, nhưng nó cho chúng ta một tấm lòng chân thật” đã nhấn mạnh giá trị đạo đức của ký ức. Thật vậy, ký ức có thể không trực tiếp làm biến đổi cấu trúc xã hội, nhưng nó nuôi dưỡng sự trung thực và lòng trắc ẩn. Khi con người nhớ về những đau thương từng trải qua, họ ý thức rõ hơn về giá trị của hòa bình, của sự sống, của tình người. Văn chương, bằng cách khơi dậy ký ức, góp phần gìn giữ “tấm lòng chân thật” ấy. Nó chống lại sự lãng quên - một dạng nguy hiểm của vô cảm.

Từ góc độ tiếp nhận, ký ức trong văn chương còn mở ra không gian đồng cảm giữa người viết và người đọc. Khi độc giả bước vào thế giới ký ức của tác giả, họ không chỉ chứng kiến một câu chuyện mà còn tham dự vào một trải nghiệm tinh thần. Những ký ức tưởng như riêng tư bỗng trở thành điểm gặp gỡ của nhiều tâm hồn. Độc giả có thể tìm thấy trong đó những mảnh ghép của chính mình. Như vậy, văn chương biến ký ức cá nhân thành ký ức chung, tạo nên cộng đồng của những người biết nhớ và biết cảm. Mặt khác, ký ức nghệ thuật luôn mang tính chọn lọc và kiến tạo. Nhà văn không ghi chép toàn bộ quá khứ mà lựa chọn những chi tiết có sức ám ảnh, có giá trị biểu tượng. Một mùi hương, một âm thanh, một hình ảnh có thể trở thành chìa khóa mở ra cả một không gian thời gian đã mất. Chính sự cô đọng ấy làm cho ký ức trong văn chương trở nên giàu sức gợi hơn ký ức đời thường. Nó không chỉ tái hiện sự kiện mà còn khơi dậy cảm xúc và suy tư.

Nhờ văn chương, quá khứ không bị chìm vào quên lãng mà được tái sinh trong hiện tại. Đồng thời, qua hành trình viết và đọc, con người học cách đối diện với những gì đã qua, học cách chấp nhận và vượt lên. Văn chương vì thế mang sứ mệnh kép: lưu giữ và chữa lành. Nó lưu giữ ký ức để lịch sử không bị xóa nhòa, để những nỗi đau không bị phủ bụi lãng quên. Đồng thời, nó chữa lành bằng cách trao cho ký ức một hình thức thẩm mỹ, giúp con người tìm thấy ý nghĩa trong những mất mát. Khi ký ức được đặt vào trang viết, nó không còn là gánh nặng đơn độc mà trở thành một phần của di sản tinh thần chung.

Sau cùng, hành trình đi tìm và viết về ký ức cũng là hành trình đi tìm bản ngã. Con người hiểu mình là ai thông qua những gì mình đã trải qua. Văn chương, bằng việc tái hiện ký ức, giúp ta soi chiếu lại chính mình trong dòng chảy thời gian. Và chừng nào con người còn biết nhớ, còn biết kể lại và lắng nghe những ký ức ấy, chừng đó văn chương vẫn tiếp tục giữ vai trò thiết yếu: làm chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa nỗi đau và sự hồi sinh của tâm hồn.
Thêm
141
0
0
Viết trả lời...
“ Tôi đứng về phe nước mắt. Nước mắt ở đây không chỉ là biểu hiện của nỗi buồn, mà là biểu tượng của những đau đớn, tổn thương, mất mát và cả những rung động sâu kín nhất của con người. Khi nhà văn chọn “đứng về phe nước mắt”, họ đã lựa chọn một lập trường nhân bản: đứng về phía những thân phận bé nhỏ, những cảm xúc chân thật, những gì mong manh mà bền bỉ nhất trong cõi người. Từ góc độ lý luận văn học, có thể xem giọt nước mắt như một phạm trù thẩm mỹ đặc biệt, nơi kết tinh giá trị nhân đạo, chức năng cảm hóa và sức mạnh cứu rỗi của văn chương.

Nước mắt trong văn chương gắn liền với truyền thống nhân đạo - một trong những giá trị cốt lõi của văn học. Chủ nghĩa nhân đạo, theo nghĩa rộng, là sự quan tâm đến con người với tư cách một cá thể có phẩm giá, có khát vọng hạnh phúc và có quyền được yêu thương. Khi văn chương miêu tả những khổ đau của con người, mục đích không phải để khoét sâu bi kịch mà để khơi dậy lòng trắc ẩn. Aristotle từng nói về chức năng “catharsis” của bi kịch: thông qua sự sợ hãi và thương cảm, người xem được thanh lọc cảm xúc. Giọt nước mắt trong văn chương vì thế không chỉ là của nhân vật, mà còn là của người đọc, những giọt nước mắt giúp con người trở nên nhân hậu hơn.

Đứng về phe nước mắt trước hết là dám nhìn thẳng vào khổ đau. Văn chương không né tránh những góc tối của đời sống: nghèo đói, chiến tranh, bất công, cô đơn, phản bội. Bởi nếu chỉ ca ngợi ánh sáng mà bỏ quên bóng tối, văn chương sẽ trở nên phiến diện và giả tạo. Giọt nước mắt xuất hiện khi con người bị đẩy đến giới hạn của chịu đựng, khi phẩm giá bị chà đạp hoặc khi ước mơ tan vỡ. Nhà văn, bằng sự nhạy cảm đặc biệt, nhận ra những nỗi đau ấy và trao cho chúng hình hài ngôn từ. Hành động ấy chính là sự bảo vệ thầm lặng đối với con người. Tuy nhiên, nước mắt trong văn chương không đồng nhất với bi lụy. Nếu chỉ dừng ở việc gây thương cảm, tác phẩm sẽ dễ rơi vào cảm xúc rẻ tiền. Giá trị của giọt nước mắt nằm ở chiều sâu nhận thức và ở khả năng mở ra hy vọng. Khi người đọc rơi nước mắt trước một số phận, họ không chỉ thương xót mà còn suy ngẫm về nguyên nhân của bi kịch, về những cấu trúc xã hội và tâm lý đã đẩy con người vào đau khổ. Như vậy, nước mắt trở thành khởi điểm của ý thức. Nó đánh thức trách nhiệm và thôi thúc khát vọng thay đổi.

Từ góc nhìn thi pháp, giọt nước mắt là một chi tiết nghệ thuật giàu sức gợi. Chỉ một hình ảnh nhỏ bé cũng có thể mở ra cả một thế giới nội tâm. Trong tự sự, khoảnh khắc nhân vật rơi lệ thường là điểm nút tâm lý, nơi những dồn nén được giải tỏa. Trong thơ ca, nước mắt có thể hóa thành biểu tượng của nỗi nhớ, của tình yêu, của mất mát. Sức mạnh của chi tiết ấy nằm ở tính cô đọng: nó kết tinh cảm xúc, làm hiện hình điều khó nói thành lời. Ngôn ngữ văn học, với khả năng biểu tượng và hàm ẩn, biến giọt nước mắt thành một tín hiệu thẩm mỹ, khiến người đọc rung động vượt lên trên nghĩa đen.

Đứng về phe nước mắt còn có nghĩa là đứng về phía sự chân thật. Nước mắt không biết nói dối; nó xuất hiện khi cảm xúc chạm đến độ sâu nhất. Văn chương, nếu muốn lay động lòng người, phải xuất phát từ những cảm xúc chân thành như thế. Khi nhà văn viết bằng sự giả tạo hoặc toan tính, tác phẩm có thể trau chuốt nhưng thiếu linh hồn. Chỉ khi người viết thực sự đau với nỗi đau của nhân vật, thực sự yêu thương những kiếp người bé nhỏ, thì ngôn từ mới có sức truyền cảm. Giọt nước mắt của nhà văn, dù không hiện hình, chính là nguồn mạch nuôi dưỡng tác phẩm.

Một phương diện quan trọng khác là chức năng an ủi của văn chương. Con người tìm đến văn học không chỉ để nhận thức mà còn để được chia sẻ. Khi đọc một câu chuyện buồn, ta nhận ra mình không cô độc trong đau khổ. Nỗi buồn cá nhân được đặt trong một bối cảnh rộng lớn hơn, trở thành một phần của kinh nghiệm chung nhân loại. Sự đồng cảm ấy có tác dụng xoa dịu. Văn chương không thể xóa bỏ khổ đau ngoài đời thực, nhưng nó có thể giúp con người chịu đựng và vượt qua bằng cách trao cho nỗi đau một ý nghĩa. Đồng thời, nước mắt trong văn chương còn có thể là nước mắt của hạnh phúc. Đó là những giọt lệ khi con người tìm thấy nhau giữa đổ nát, khi tình yêu chiến thắng hận thù, khi phẩm giá được phục hồi. Như vậy, đứng về phe nước mắt không chỉ là đứng về phía bi kịch mà còn đứng về phía những rung động mãnh liệt nhất của đời sống. Văn chương ôm ấp cả nỗi buồn lẫn niềm vui, bởi cả hai đều là biểu hiện của một trái tim còn biết cảm xúc.

Trong bối cảnh hiện đại, khi thông tin tràn ngập và cảm xúc dễ bị chai sạn, việc văn chương tiếp tục “đứng về phe nước mắt” càng trở nên cần thiết. Xã hội có thể quen dần với những con số khô khan về mất mát, nhưng văn chương nhắc ta nhớ rằng đằng sau mỗi con số là một con người cụ thể, với khuôn mặt, ký ức và ước mơ riêng. Bằng cách cá thể hóa nỗi đau, văn học chống lại sự vô cảm. Nó buộc chúng ta dừng lại, lắng nghe và thấu hiểu.

Từ góc độ tiếp nhận, giọt nước mắt của người đọc là thước đo giá trị nhân văn của tác phẩm. Khi một văn bản có thể khiến người đọc xúc động, nghĩa là nó đã chạm tới tầng sâu của nhân tính. Song, điều quan trọng không phải là khóc bao nhiêu, mà là sau khi khép trang sách, ta sống khác đi như thế nào. Nếu nước mắt dẫn đến sự thức tỉnh, đến lòng bao dung và hành động nhân ái, thì văn chương đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Có thể nói, “đứng về phe nước mắt” là lựa chọn đạo đức của văn chương. Nó khẳng định rằng văn học không trung lập trước khổ đau con người. Nhà văn có thể không trực tiếp thay đổi hiện thực, nhưng bằng cách cất lên tiếng nói của cảm xúc chân thật, họ bảo vệ phần người mong manh nhất giữa thế giới đầy biến động. Chừng nào văn chương còn biết rung động trước nước mắt, chừng ấy nó còn giữ được linh hồn.

Giọt nước mắt trong văn chương vì thế không phải dấu hiệu của yếu đuối, mà là biểu tượng của sức mạnh tinh thần. Nó chứng tỏ con người vẫn còn khả năng cảm thương, vẫn còn trái tim biết yêu và biết đau. Và khi văn chương tiếp tục đứng về phe nước mắt, nhân loại vẫn còn một điểm tựa dịu dàng giữa những khắc nghiệt của đời sống, một nơi để được thấu hiểu, được sẻ chia và được nâng đỡ trong hành trình làm người.
Thêm
85
0
0
Viết trả lời...
Có những thời đại văn chương bị lôi kéo vào những sứ mệnh ồn ào: cổ vũ, đả phá, minh họa cho một học thuyết hay phục vụ một lý tưởng xã hội cụ thể. Thế nhưng, khi những khẩu hiệu lắng xuống, điều còn lại bền bỉ nhất vẫn là nhu cầu khám phá và phơi mở chân tướng đời sống con người. Bởi vậy, “Văn học chẳng nhằm lật đổ mà quý ở phát hiện và mở phơi những gì hiếm được biết… Sự chân thực e rằng chính là phẩm cách gốc rễ không thể bứng đi được của văn học” đã gợi ra một quan niệm sâu sắc về thiên mệnh của văn chương: không phải là công cụ của ý thức hệ, mà là hành trình bền bỉ đi tìm và nói lên sự thật về cõi người.

Bản chất của văn học là khám phá thế giới. Nhà văn không đơn thuần sao chép hiện thực, cũng không chỉ phản ánh bề mặt sự kiện; họ đi vào những vùng khuất lấp của tâm hồn, những nghịch lý âm thầm của số phận, những sự thật bị che đậy bởi định kiến hoặc thói quen nhận thức. Theo quan niệm của chủ nghĩa hiện thực, tác phẩm văn học có giá trị khi nó tái hiện được “bản chất trong tính tất yếu” của đời sống. Nghĩa là, văn học không dừng lại ở cái nhìn hời hợt mà phải chạm đến cấu trúc sâu xa của hiện thực. Điều này đòi hỏi nhà văn phải có khả năng phát hiện: phát hiện những điều “hiếm được biết”, “được biết chưa nhiều”, hoặc “tưởng là biết nhưng chưa rốt ráo”. Phát hiện trong văn chương trước hết là phát hiện về con người. Con người là trung tâm của văn học, đồng thời cũng là thực thể phức tạp và bí ẩn nhất. Đằng sau những vai trò xã hội quen thuộc là những xung đột nội tâm, những ước mơ thầm kín, những nỗi đau không dễ gọi tên. Văn học, bằng khả năng thâm nhập vào thế giới bên trong, có thể làm lộ diện những tầng sâu ấy. Khi một nhà văn miêu tả nỗi cô đơn của một cá nhân giữa đám đông, hay sự giằng xé giữa thiện và ác trong cùng một con người, họ đã phơi mở một sự thật không phải lúc nào cũng hiển nhiên trong đời sống thường nhật.

Thiên mệnh phơi mở của văn chương còn thể hiện ở việc chất vấn những điều tưởng như đã rõ ràng. Có những sự thật bị che phủ bởi thói quen, định kiến hoặc diễn ngôn chính thống. Văn học, nhờ tính độc lập và tự do của trí tưởng tượng, có thể đặt lại vấn đề, nhìn lại những điều tưởng chừng bất biến. Ở đây, văn học không “lật đổ” theo nghĩa chính trị trực tiếp, nhưng nó có khả năng làm lung lay những cách hiểu cũ kỹ, mở ra những cách nhìn mới về đời sống. Chính vì thế, giá trị của văn chương không nằm ở tính kích động mà ở khả năng soi sáng. Sự soi sáng ấy gắn liền với phẩm chất chân thực. “Sự chân thực… là phẩm cách gốc rễ không thể bứng đi được của văn học.” Chân thực trong văn học không đồng nghĩa với sao chép nguyên xi hiện thực. Nó là sự trung thành với bản chất đời sống và với trải nghiệm nội tâm của nhà văn. Nhà văn có thể hư cấu cốt truyện, sáng tạo nhân vật, nhưng cảm xúc và nhận thức gửi gắm trong đó phải xuất phát từ sự trải nghiệm chân thành. Khi văn chương đánh mất sự chân thực, nó dễ rơi vào minh họa, tô vẽ hoặc tuyên truyền.

Theo quan điểm của lý luận mác-xít, văn học có mối quan hệ mật thiết với đời sống xã hội. Tuy nhiên, mối quan hệ ấy không phải là sự lệ thuộc giản đơn. Văn học phản ánh hiện thực thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ; vì thế, tính chân thực nghệ thuật luôn bao hàm sự chọn lọc, khái quát và sáng tạo. Một tác phẩm lớn thường cho thấy sự hòa quyện giữa cái riêng và cái chung: từ một số phận cụ thể, người đọc nhận ra những quy luật phổ quát của đời sống. Đó chính là hình thức chân thực cao hơn – chân thực về bản chất.

Đoạn trích cũng nhấn mạnh rằng văn học, sau khi cởi bỏ sự trói buộc của các “chủ nghĩa”, phải quay về với “cảnh ngộ khốn khổ của đời người”. Điều này khẳng định đối tượng vĩnh hằng của văn chương là thân phận con người trong những giới hạn hữu hạn của kiếp sống. Dù xã hội thay đổi, khoa học tiến bộ, con người vẫn phải đối diện với những câu hỏi căn bản: sinh – lão – bệnh – tử, yêu thương – phản bội, hy vọng – tuyệt vọng. “Cảnh khổ của đời người” vì thế trở thành chủ đề muôn thuở. Văn học không né tránh khổ đau; trái lại, nó đi thẳng vào những vùng tối để nhận diện và lý giải. Chính ở đây, thiên mệnh của văn chương bộc lộ rõ nhất: làm chứng cho nỗi đau và phẩm giá của con người. Khi một tác phẩm khắc họa số phận bị áp bức, những bi kịch bị lãng quên, nó không chỉ kể một câu chuyện mà còn trao cho những thân phận ấy tiếng nói. Văn học trở thành nơi lưu giữ ký ức của những người bé nhỏ, nơi những nỗi đau cá nhân được nâng lên thành ý nghĩa nhân loại. Sự phơi mở ấy không nhằm kích động thù hận, mà nhằm khơi dậy sự thấu cảm và ý thức trách nhiệm.

Từ góc độ thi pháp, việc phơi mở những góc khuất đòi hỏi nhà văn phải có phương thức biểu đạt phù hợp. Ngôn ngữ văn học, với tính đa nghĩa và khả năng biểu tượng, cho phép nhà văn diễn đạt những điều khó nói trực tiếp. Có khi sự thật được bộc lộ qua hình ảnh ẩn dụ, qua dòng ý thức miên man, qua những khoảng lặng giữa các lời thoại. Sự tinh tế trong cấu trúc nghệ thuật giúp tác phẩm chạm đến những vùng sâu kín của tâm lý mà ngôn ngữ thông tin không thể với tới.

Tuy nhiên, phơi mở không đồng nghĩa với phô bày trần trụi. Văn học không phải là sự kể lể thô ráp, mà là sự khám phá có chiều sâu và có trách nhiệm thẩm mỹ. Nhà văn cần giữ khoảng cách cần thiết để biến trải nghiệm sống thành hình tượng nghệ thuật. Chỉ khi được thăng hoa qua cấu trúc và ngôn từ, sự thật mới có sức lay động bền lâu. Nếu chỉ dừng ở việc ghi chép sự kiện, tác phẩm sẽ thiếu đi chiều kích nhân văn. Có thể nói, thiên mệnh của văn chương là song hành giữa phát hiện và nhân bản hóa. Bằng việc phơi mở những góc khuất, văn học giúp con người hiểu rõ hơn về chính mình và về tha nhân. Sự hiểu biết ấy không phải để kết án, mà để cảm thông. Khi người đọc nhận ra trong số phận nhân vật những phần khuất lấp của chính mình, họ được thức tỉnh về trách nhiệm sống, về giá trị của sự bao dung và lòng trắc ẩn.

Văn học không sinh ra để lật đổ hay minh họa cho bất kỳ học thuyết nào; nó tồn tại để khám phá và nói lên sự thật về con người. Sự chân thực là gốc rễ nuôi dưỡng mọi giá trị thẩm mỹ và nhân văn của tác phẩm. Dù thời đại biến chuyển, dù những “chủ nghĩa” thay nhau xuất hiện rồi phai tàn, thì nỗi khốn khổ và khát vọng của đời người vẫn là đề tài bất tận. Trong hành trình phơi mở những góc khuất của cuộc sống, văn chương thực hiện thiên mệnh cao cả của mình: gìn giữ và khẳng định phẩm giá con người giữa những biến động không ngừng của lịch sử.
Thêm
109
0
0
Viết trả lời...
“Ngôn ngữ là kết tinh thượng thừa của văn minh loài người. Ngôn ngữ tinh vi như thế, khó nắm bắt như thế, thấu triệt như thế, không đâu chẳng lọt như thế, vì nó xuyên thấu cái cảm biết của con người, nó đem con người là chủ thể của cảm biết nối kết với cái nhận thức về thế giới của con người. Văn tự, thông qua việc viết ra mà lưu lại, kì diệu như thế, khiến cho một cá nhân cô lập vẫn có thể cảm thông với những con người, dù khác chủng tộc, dù khác thời đại”. Ngôn ngữ xuyên thấu cảm biết, nối kết chủ thể với thế giới; văn tự lưu giữ tiếng nói của cá nhân để vượt qua giới hạn thời gian và chủng tộc; và nghệ thuật ngôn ngữ nằm ở khả năng lay động thâm tâm chứ không phải ở trò chơi ký hiệu thuần túy. Từ đó, có thể bàn luận về đặc trưng của ngôn ngữ trong văn học như một hình thức biểu đạt đặc biệt, vừa mang tính ký hiệu vừa vượt lên trên ký hiệu, vừa là công cụ tư duy vừa là không gian của cảm xúc và trực giác.



Văn học là nghệ thuật của ngôn từ. Nếu hội họa dùng màu sắc, âm nhạc dùng âm thanh, điện ảnh dùng hình ảnh động, thì văn học chỉ có một chất liệu duy nhất - ngôn ngữ. Tuy nhiên, ngôn ngữ trong văn học không đồng nhất với ngôn ngữ giao tiếp thông thường. Theo quan điểm của các nhà hình thức luận Nga, tính văn học được tạo nên bởi sự tổ chức đặc biệt của ngôn ngữ, khiến lời nói thường nhật trở nên “lạ hóa”. Chính sự lạ hóa ấy làm mới cảm giác, buộc người đọc dừng lại, suy ngẫm và cảm nhận sâu sắc hơn về hiện thực. Ngôn ngữ “xuyên thấu cái cảm biết của con người” và nối kết chủ thể với nhận thức về thế giới. Điều này gợi đến bản chất hai mặt của ngôn ngữ văn học, vừa phản ánh hiện thực vừa kiến tạo hiện thực. Theo lý thuyết cấu trúc và hậu cấu trúc, thế giới con người nhận thức được luôn đi qua lăng kính ngôn ngữ; nói cách khác, ngôn ngữ không chỉ gọi tên sự vật mà còn tham gia định hình cách ta nhìn nhận sự vật. Khi nhà văn lựa chọn từ ngữ, nhịp điệu, hình ảnh, họ không chỉ mô tả thế giới mà còn tái cấu trúc thế giới ấy trong một trật tự mới. Vì vậy, ngôn ngữ văn học mang tính sáng tạo cao độ, nó mở ra những khả thể nhận thức chưa từng có.

Một đặc trưng quan trọng khác của ngôn ngữ văn học là tính hàm ẩn và đa nghĩa. Ngôn ngữ thông tin hướng tới sự chính xác, đơn trị; ngôn ngữ văn học lại giàu tính biểu tượng và gợi mở. Một hình ảnh thơ có thể chứa đựng nhiều tầng nghĩa; một chi tiết truyện có thể vừa mang ý nghĩa tả thực vừa hàm chứa ý nghĩa biểu trưng. Chính sự đa nghĩa ấy tạo nên chiều sâu thẩm mỹ và khả năng đối thoại lâu dài của tác phẩm. Người đọc ở những thời đại khác nhau có thể tiếp tục khám phá những lớp nghĩa mới, làm cho văn học luôn sống động. Tuy nhiên, đoạn trích cũng cảnh báo nguy cơ biến ngôn ngữ thành “trò chơi của trí xảo” nếu bỏ quên con người sống thực phía sau lời nói. Đây là vấn đề từng được đặt ra trong nhiều tranh luận lý luận thế kỷ XX, khi một số khuynh hướng quá nhấn mạnh cấu trúc ký hiệu mà xem nhẹ chủ thể sáng tạo. Thực chất, ngôn ngữ văn học không phải là hệ thống ký hiệu khép kín tự vận hành; nó luôn gắn với ý nguyện, động cơ, thanh điệu và tình tự của người nói. Mikhail Bakhtin từng khẳng định tính đối thoại của ngôn ngữ: mỗi lời nói đều vang vọng những tiếng nói khác và hướng tới người nghe cụ thể. Vì thế, ngôn ngữ văn học luôn mang dấu ấn cá nhân, là sự hòa quyện giữa hệ thống chung và giọng điệu riêng.

Đặc trưng của ngôn ngữ văn học còn nằm ở tính cảm xúc và tính nhạc. Đoạn trích cho rằng hàm nghĩa của ngôn ngữ văn học phải được “người sống cất lên âm thanh nói ra” mới thể hiện trọn vẹn, nghĩa là nó không chỉ thuộc về thị giác mà còn thuộc về thính giác. Từ lâu, thơ ca đã được xem là sự kết hợp giữa ý và nhạc; nhịp điệu, âm điệu, sự lặp lại, vần điệu… tạo nên sức ngân vang vượt ra ngoài nghĩa từ vựng. Ngay cả văn xuôi, khi đạt tới trình độ nghệ thuật cao, cũng có nhạc tính riêng trong cấu trúc câu và nhịp văn. Nhờ vậy, ngôn ngữ văn học không chỉ truyền đạt ý nghĩa mà còn tác động trực tiếp đến cảm giác và trực giác người đọc. Điều này lý giải vì sao “ký hiệu và thông tin không cách gì thay thế cho ngôn ngữ của con người sống thực”. Thông tin có thể được mã hóa, truyền tải nhanh chóng, nhưng nó thiếu đi chiều sâu tình cảm. Ngôn ngữ văn học, trái lại, là nơi con người “nghiêng tai lắng nghe và xác nhận chính mình”. Khi đọc một tác phẩm, người đọc không chỉ tiếp nhận nội dung mà còn tìm thấy sự đồng cảm, tìm thấy tiếng nói của mình trong tiếng nói của người khác. Như vậy, ngôn ngữ văn học mang chức năng nhân bản hóa, nó tạo nên sự gặp gỡ giữa các chủ thể cô lập, giúp họ vượt qua cô đơn.

Một phương diện nữa cần nhấn mạnh là khả năng vượt thời gian và không gian của văn tự. Khi lời nói được ghi lại, nó thoát khỏi tính tức thời của giao tiếp trực tiếp để trở thành di sản tinh thần. Văn tự giúp một cá nhân ở thời đại này có thể đối thoại với một cá nhân ở thời đại khác. Đó là hình thức giao tiếp đặc biệt của văn học: giao tiếp qua khoảng cách lịch sử. Chính nhờ văn tự mà những kinh nghiệm sống, những suy tư triết lý, những rung động thẩm mỹ được lưu giữ và truyền lại. Ngôn ngữ văn học vì thế không chỉ thuộc về hiện tại mà còn nối liền với “giá trị tinh thần vĩnh hằng”. Từ góc nhìn sáng tạo, công việc của nhà văn là “phát hiện cùng khai thác cái tiềm năng còn cất giấu” của ngôn ngữ. Ngôn ngữ vốn vô cùng tận về sức biểu hiện, nhưng không phải mọi khả năng đều được hiện thực hóa. Nhà văn, bằng tài năng và lao động nghệ thuật, khám phá những cách kết hợp mới, những hình ảnh mới, những giọng điệu mới. Họ có thể “nói thêm vào chỗ người trước đã nói” hoặc “mở đầu nói ở chỗ người trước đã ngưng nói”. Điều đó cho thấy tính kế thừa và sáng tạo đồng thời của ngôn ngữ văn học: mỗi tác phẩm vừa nằm trong truyền thống vừa góp phần làm mới truyền thống.

Dẫu vậy, nhà văn không phải là “chủ tể của tạo vật”. Họ không thể phế trừ thế giới hiện thực hay thiết lập ngay một thế giới lý tưởng. Sức mạnh của họ nằm ở lời kể, ở khả năng tạo ra những truyện kể mới mẻ. Ngôn ngữ văn học không trực tiếp thay đổi cấu trúc xã hội, nhưng nó có thể thay đổi cách con người nhìn nhận xã hội. Khi cách nhìn thay đổi, ý thức thay đổi, và từ đó đời sống tinh thần được chuyển hóa. Đây chính là sức mạnh thầm lặng nhưng sâu xa của ngôn ngữ.

Như vậy, đặc trưng của ngôn ngữ trong văn học nằm ở tính sáng tạo, tính hàm ẩn, tính cảm xúc, tính nhạc và tính đối thoại. Nó không chỉ là hệ thống ký hiệu chuyển tải thông tin mà là không gian sống của ý thức và tình cảm. Nhờ ngôn ngữ văn học, con người có thể vượt qua giới hạn cá nhân, nối kết với tha nhân và với truyền thống tinh thần của nhân loại. Công việc của nhà văn là khám phá và đánh thức tiềm năng vô tận ấy, để mỗi lời nói không chỉ mang nghĩa mà còn mang nhịp đập của sự sống. Khi còn có những lời kể mới được cất lên, khi con người còn tìm thấy mình trong âm vang của ngôn từ, thì ngôn ngữ văn học vẫn tiếp tục khẳng định vị thế đặc biệt của nó trong tiến trình văn minh loài người.
Thêm
63
0
0
Viết trả lời...