Mạng xã hội Văn học trẻ

Tuổi mười lăm, mười sáu nào cũng diễn ra trong những mơ mộng. Tập quán của người trẻ là rất thích mơ. Tuổi trẻ, được nuôi dưỡng cũng là bởi những giấc mơ đó. Trong số những giấc mơ của người trẻ, có giấc mơ thực hiện được, có giấc mơ chỉ mãi hoài là viễn tưởng. Nhưng tôi cảm thấy, bên trong giấc mơ luôn có dưỡng chất để nuôi dưỡng tài năng, lòng nhiệt huyết và khả năng thấu cảm ở con người.

Tuổi mười lăm, mười sáu, tôi trách mình có ước mơ nhưng chẳng đủ thời gian để thực hiện. Giấc mơ thời đó của tôi năm nào cũng rất lớn lao, đầy lý tưởng, hoài bão. Có lúc ngỡ rằng chỉ cần ngủ một giấc, khi thức dậy sẽ trở thành triệu phú có thể đi làm từ thiện cho hàng triệu trẻ em trên thế giới. Nhưng đến một lúc nào đó, tôi nhận ra là không phải giấc mơ nào cũng cố là được. Đôi khi, lý do là vì tiền. Giấc mơ đưa cha mẹ đi du lịch của tôi đã nằm ở đó lâu lắm. Hàng đêm, tôi đã mơ về nó dù biết rằng giờ đây mình khó mà thực hiện được. Giấc mơ đi du học với một đứa con nhà nghèo, muốn nhìn thấy thế giới, muốn đặt chân lên những vùng đất mà cha mẹ chưa từng đến, hóa ra lại khó như thế. Tiền bạc thường dễ che mờ lên giấc mơ của người ta, làm niềm tin bị thu hẹp đi.

Lại có lúc, tôi nghĩ mình còn trẻ, mình có thể làm được tất cả. Có lúc, nghĩ rằng chỉ cần cố gắng, quyết tâm, “cả vũ trụ sẽ giúp bạn đạt được”. Tôi đã tin vào điều đó suốt những năm tuổi trẻ thơ. Ngay cả lúc kiệt sức, muốn buông tay, tôi cũng phải trấn an mình, chỉ cần cố thôi mà. Cái câu cố gắng ấy, đúng là có lúc hiệu nghiệm thật. Có lúc tôi thành công, đứng trên ánh hào quang, tìm ra sân khấu cho riêng mình. Nhiều khi thấy mình cũng may mắn, được “trời thương”.

Đến một lúc nào đó, tôi lại suy nghĩ khác: thành công có lẽ bây giờ chẳng còn cần thiết. Bởi giá trị của nó không bất biến. Lúc này có thể cảm thấy đó là thành công, lúc khác lại nghĩ giá như mình chưa từng làm điều đó. Ở giai đoạn này, tôi mới nhận ra còn quá nhiều thứ bên ngoài kia mình chưa chạm tới. Những gì mình nghĩ là thành công có lẽ chỉ là một định nghĩa riêng đối với mình, là niềm tự hào rất nhỏ bé của một con người bình thường.

Tựu trung lại, tôi thấy giai đoạn tuổi trẻ là một quãng thời gian rất phức tạp, cần tiến lên mà cũng cần lùi xuống. Thành công hay rực rỡ, cuối cùng thì rất khó để mà định nghĩa được. Tôi chỉ mong mình, những người xung quanh mình có thể cống hiến rực rỡ với dộ tuổi này cho vừa đủ, cho xứng đáng.
Thêm
70
0
0
Viết trả lời...
Chắc hẳn chúng ta đều đã trải qua cảm giác bị phân tâm khi bị người khác nhìn ngó, theo dõi, quan sát trong khi đang làm việc. Trong hoàn cảnh đó, não bộ dễ bị mất kiểm soát, lo lắng sợ bị đánh giá và mất tập trung. Thay vì tập trung giải quyết công việc, chúng ta dễ dàng rơi vào câu hỏi “liệu họ đang nghĩ gì trong đầu”, “hình ảnh của mình trong mắt họ ra sao”. Hành vi này, có lẽ một phần xuất hiện từ sự lo sợ bị đánh giá bản năng.

Con người, theo bản năng, luôn muốn xuất hiện trong hình dạng đẹp đẽ nhất, ổn định nhất trong cái nhìn cộng đồng. Việc không có ai nhìn ngó, theo dõi chúng ta tạo ra một khoảng không gian riêng tư để con người tập trung vào công việc của mình. Khi đó, hàng loạt những ý tưởng hay được sáng tạo, công việc liên tục được giải quyết. Tuy nhiên, nếu có người nhìn ngắm, dõi theo hoặc đặt sự quan tâm lên chúng ta, sự tập trung sẽ bị đánh mất. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra thay thế cho việc suy nghĩ về công việc. Chúng ta sẽ tự hỏi mình “Tại sao họ lại nhìn mình”, “Mình có làm gì sai không”, “Trông mình như thế nào”... Đặc biệt, nếu đối tượng nhìn ngó là người cấp trên, hoặc người có kinh nghiệm hơn, não bộ hoàn toàn bị phân tâm. Điều này cũng tương tự như việc con người bị đặt trong sự kiềm tỏa của một chiếc máy quay, luôn không thể giao tiếp tự nhiên và sợ sự đánh giá từ phía người xem.

Vấn đề này phản ánh sự lo sợ bị đánh giá theo bản năng con người. Những người mang tâm lý tự ti thường cảm thấy mất tập trung, sợ người khác nhìn thấy hình ảnh mình đang suy nghĩ. Họ liên tục phải chứng minh rằng họ đang làm việc không bị gián đoạn để thể hiện sự tự nhiên. Nhưng càng cố để tạo không gian tự nhiên, não bộ càng trì trệ, cuối cùng thì dừng hẳn việc suy nghĩ về nhiệm vụ. Anxiety and Depression Association of America đã ghi nhận rối loạn lo âu ảnh hưởng tới khoảng 40 triệu người trưởng thành. Con số này sẽ tiếp tục tăng lên, đặc biệt là trong thời buổi mạng xã hội phát triển, con người ẩn sau tấm màn ẩn danh để phê phán ngoại hình, suy nghĩ người khác.

Khi cảm thấy những ánh nhìn đang hướng về mình, não bộ thiết lập cơ chế tự bảo vệ, khiến chúng ta dè chừng hơn với những ánh nhìn. Nhìn đâu quanh mình, ta cũng chỉ thấy sự soi xét, đánh giá, dè bỉu, phủ nhận. Từ đó, ta trốn tránh những ánh nhìn, sợ cái nhìn của người khác và tò mò sâu hơn về việc mọi người đang nghĩ gì về mình. Tôi từng gặp những trường hợp các bạn trẻ lo sợ bị đánh giá đến mức liên tục hỏi “Trông tôi có lố quá không”, “Lúc nãy trông tôi như thế nào”. Khi một đám đông cất tiếng ở phía xa, dù chưa biết ngọn nguồn câu chuyện, họ cũng tự khẳng định tiếng nói đó là lời bình phẩm dành cho mình. Kiểu tư duy xem mình là trung tâm của ánh đèn sân khấu cũng trở thành lý do chúng ta cảm thấy sợ đám đông. Đáng sợ hơn, tâm lý này còn gây ra cảm giác sợ hãi trước camera.

Kiểu tâm lý sợ bị đánh giá bản năng này, nhìn chung có thể gây ra nhiều bất lợi, song nó không phải là trạng thái của riêng ai. Sâu bên trong chúng ta ai cũng có một phần bản năng như vậy. Ngay cả người mạnh mẽ nhất cũng có lúc cảm thấy run sợ, áp lực trước đám đông với ánh nhìn hiếu kỳ. Đã đến lúc chúng ta học cách bình thường hóa những cảm xúc như vậy.

Nếu chúng ta có đủ sự tự tin, cho dù bị một cá nhân nhìn ngó hay bị một đám đông nhìn theo, chúng ta vẫn có đủ sự bình tĩnh để xử lý vấn đề. Hãy xem những ánh mắt đó là sự ngưỡng mộ, quan tâm theo hướng tích cực. Khi não bộ thoải mái, nhận được sự động vien, không còn lo lắng trước lời chê bai, chúng ta sẽ hoàn toàn tập trung vào công việc. Bởi lẽ, phía sau công việc được hoàn thành chỉn chu đó là những lời khen ngợi. Khi cảm thấy căng thẳng, hãy tập cách vỗ về cảm xúc của mình. Hãy biến mình thành con ếch thắng cuộc vì “tưởng những lời chê bai kia là lời cổ vũ, động viên”. Cuộc đời sẽ còn theo dõi hành trình của chúng ta bằng rất nhiều đôi mắt khác nhau, chúng ta không thể ép ánh mắt đó thôi nhìn ngó mình. Thay vào đó, tự tin đối đầu lại là phương cách tốt hơn.
Thêm
76
0
0
Viết trả lời...
67 (six-seven) là con số thịnh hành gần đây trên mạng xã hội để nói về một từ ngữ hoàn toàn không có ý nghĩa, chỉ được sử dụng như một trò đùa hoặc cách để đáp lời. Con số này được Dictionary.com chọn là "Từ của năm 2025". Nó bắt nguồn từ đoạn lời bài hát "Doot Doot (6 7)" của rapper Skrilla phát hành năm 2024. Cụm từ này sau khi xuất hiện đã bùng nổ và trở thành trào lưu toàn cầu. Việc cụm từ 67 được bầu chọn là “từ của năm” đã phản ánh xu hướng tiêu thụ thông tin của giới trẻ trong xã hội ngày nay. Giới trẻ đang được trao quyền để làm chủ ngôn ngữ bằng sự duyên dáng, sáng tạo và tôn trọng của mình. Tuy nhiên, đã đến lúc, chúng ta cần tái vấn về xu hướng sử dụng ngôn ngữ này.

Trước hết, việc sử dụng meme 67 là dấu hiệu của một lứa tuổi. Thế hệ gen X, gen Y có lẽ sẽ thấy khó hiểu trước cách sử dụng ngôn ngữ của gen Z. Khi được hỏi về ý nghĩa của từ này, họ nhận được câu trả lời “Chẳng có ý nghĩa gì cả”. 67 được nhìn nhận như cách để trả lời câu hỏi, thể hiện cảm xúc hoặc tạo tiếng cười bằng ngôn ngữ riêng của người trẻ. Nó là dấu hiệu nhận dạng những con người cùng ở trong một cộng đồng lứa tuổi ngang nhau. 67 phân biệt ranh giới giữa những người trưởng thành và người trẻ. Điều này có thể tạo ra một khoảng cách ngôn ngữ giữa những thế hệ. Thay vì chào nhau bằng lời nói, cử chỉ, nụ cười, họ chào nhau bằng cách nói “67” cùng bàn tay tung hứng lên xuống.

67 đang được nhìn nhận như hệ quả của xu hướng tiêu thụ thông tin vô nghĩa, tràn lan và không có định hướng. Người trẻ cảm thấy thích thú trước những hình ảnh, ngôn ngữ mà theo họ là rất độc đáo, mới lạ, sáng tạo và mang thị hiếu riêng. Họ chọn cách thể hiện cá tính của mình thông qua những trò đùa trên mạng xã hội. Trên không gian mạng, qua những câu chuyện trực tuyến, trò đùa về 67 trở thành bước mở đầu của những câu chuyện giới trẻ. Nếu như không hiểu được ý nghĩa của nó, chúng ta sẽ khó có thể nhận diện nội dung câu chuyện. Nhưng khi đã hiểu được ý nghĩa, chúng ta sẽ cảm thấy bất ngờ trước cách mà người ta sử dụng chúng và tần suất của nó. Hóa ra, giao tiếp trong thời đại ngày nay không cần đến một từ có ý nghĩa. Họ chỉ cần một từ ngữ có khả năng lặp lại theo quán tính để duy trì cuộc đối thoại.

Việc này phản ánh được thực trạng nội dung trên không gian mạng ngày hôm nay, nghĩa là có những nội dung chẳng cần đến giá trị nhưng vẫn có thể nổi tiếng. Tác giả của những cụm từ này nhận ra bản chất suy nghĩ của giới trẻ thích những điều lạ thường, vô nghĩa, mang xu hướng “brain rot”. Mạng xã hội đang tràn lan trong những thông tin vô nghĩa như vậy. Nó đã đánh mất ý nghĩa ban đầu của mình là mở rộng không gian đối thoại, nâng cao khả năng ngôn ngữ và diễn đạt. Meme 67 được sử dụng trong thời gian dài, tăng cao tần suất trong những cuộc giao tiếp có thể từng bước trở thành “rage bait” – mồi nhử giận dữ. Nó gây ra sự khó chịu cho người xem, gây bức xúc cho người đối diện và dễ dàng tạo ra một cuộc chiến giữa những hệ ý thức.

Vấn đề meme 67 trở nên phổ biến cũng đồng thời cho thấy bản chất của hiệu ứng đám đông. Cụm từ này có tính lan truyền bởi nó dễ đọc, dễ nhớ, ít ý nghĩa, người ta có thể sử dụng nó mà không cần suy nghĩ về ngữ cảnh. Từ việc được nhóm nhỏ sử dụng, 67 liên tục được lan rộng ra, trở thành ngôn ngữ chung của giới trẻ toàn cầu. Nó tạo nên tính liên kết cộng đồng, xây dựng màu sắc cho một nhóm lứa tuổi nhưng cũng đồng thời đẩy một nhóm lứa tuổi khác ra bên lề.

Người trẻ, được trao quyền trong việc xây dựng, phát triển ngôn ngữ giao tiếp. 67 hiện diện như một dạng phi ngôn ngữ, cũng làm mài mòn đi sự trong sáng vốn có của ngôn ngữ nước nhà. Việc này không chỉ đơn thuần là câu chuyện của riêng người trẻ. Đây còn là câu chuyện của một cộng đồng xã hội khi vẫn chấp nhận sự tồn tại của thứ ngôn ngữ đó. Xã hội giờ đây dễ dàng chấp nhận hơn trước những trò đùa dị biệt, khác lạ của người trẻ. Khi nhiệt quan tâm của xã hội giảm xuống, những trò đùa đó sẽ nâng cao lên thành một xu hướng phổ quát trong cộng đồng. Thậm chí, nó có thể dễ dàng trở thành công cụ truyền thông, khi mà hàng loạt thương hiệu “bắt trend”, sử dụng 67 để giới thiệu sản phẩm.

Tuy nhiên, nhìn đến cùng, thuật ngữ này ra đời cũng phần nào xuất phát từ khát khao nổi bật, mong ước thể hiện mình và bày tỏ sự độc đáo trong cộng đồng những người trẻ. Khi đó, việc sử dụng ngôn ngữ, hành động trong đời thường là cách dễ dàng nhất để họ chứng minh bản thân mình. Thay vì công kích xu hướng của người trẻ, hoặc chấp nhận nó, xã hội cần mở cửa để công nhận sự tồn tại của giới trẻ, khuyến khích họ thể hiện bản thân tích cực.
Thêm
85
0
0
Viết trả lời...
Tinh hoa liệu có được đào tạo nên bởi sự chọn lọc gen? Ngành khoa học di truyền đã tiến những bước dài, hỗ trợ những ý tưởng cho công nghệ y sinh góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Một số dịch vụ nghiên cứu, sàng lọc gen đã được thực nghiệm để phục vụ con người. Tuy nhiên, có một lằn ranh không thể vượt qua chính là khoảng cách giữa nghiên cứu và sự nhân đạo trong việc tôn vinh, đem đến những nghiên cứu bình đẳng cho con người.

Nếu như chúng ta sẵn sàng kì thị, bài trừ, giết chóc nhau chỉ vì màu da và sắc tộc, bộ gen sẽ lại một lần nữa tạo nên những xung đột trong việc tìm kiếm bộ gen hoàn hảo để phát triển người tinh hoa. Tôi cho rằng, phát triển người tinh hoa bằng công nghệ gen là sự cơ hóa quyền sống tự nhiên của con người, tước đoạt khỏi họ cơ hội được sống đúng nghĩa. Trí tuệ nhân tạo, công nghệ chỉnh sửa gen, hay kỹ thuật sàng lọc phôi di truyền trước khi chuyển phôi ban đầu được thiết kế như những chiếc khiên chống lại bệnh tật hiểm nghèo. Nhưng giờ đây, chúng đang bị một bộ phận giới học thuật và định chế xã hội nhìn nhận như những biện pháp tạo nên một thế hệ “siêu nhân”.

Hành vi can thiệp vào bộ gen để kiến tạo năng lực trí tuệ hay hành vi con người không đơn thuần là một thử nghiệm sinh học. Thực chất, đó là một hành động mang tính vi phạm pháp lý nghiêm trọng: tước đoạt quyền phát triển tự nhiên của một con người. Khi một đứa trẻ được lập trình sẵn để trở thành một thiên tài, quyền sống của đứa trẻ đó đã bị biến đổi từ một chủ thể tự do thành một sản phẩm được sản xuất. Nó cũng gây nên những sự lo lắng, bất an cho cha mẹ và người nuôi dưỡng chúng.

Trí thông minh là một tính trạng đa gen chịu sự chi phối của hàng ngàn biến thể gen, cộng hưởng với môi trường, giáo dục và dinh dưỡng. Tuy nhiên, con người đang rơi vào nhầm lẫn khi tin rằng có một hoặc một nhóm "gen thông minh" mà nếu sở hữu chúng, cá nhân hiển nhiên sẽ đứng vào hàng ngũ tinh hoa.

Nghiên cứu toàn diện của Savage và cộng sự vào năm 2018 trên mẫu dữ liệu khổng lồ gồm gần 270.000 cá nhân đã chỉ ra rằng mỗi biến thể gen này chỉ đóng góp một tỷ lệ ảnh hưởng cực kỳ nhỏ nhoi, thường là chưa tới 0,1% vào tổng thể sự biến thiên trí tuệ giữa các cá nhân. Do đó, không tồn tại một thực thể gọi là “gen thiên tài". Trí tuệ con người là một hệ thống từ sự vận hành đồng bộ của hàng vạn yếu tố sinh học, môi trường, y tế và dinh dưỡng. Việc cố gắng lựa chọn một vài tổ hợp gen với hy vọng tạo ra một thiên tài là hành vi đi ngược lại quy luật vận hành tự nhiên của bộ gen. Khi công nghệ cố tình can thiệp để tạo ra một tổ hợp nhân tạo, chúng ta không tạo ra thiên tài, mà đang tạo ra những rủi ro sinh học chưa thể lường trước do phá vỡ sự cân bằng di truyền đã được định hình qua hàng triệu năm tiến hóa.

Và khi đó, quyền được sinh nở tự nhiên của người phụ nữ cũng bị can thiệp, mất đi sự thiêng liêng vốn có. Quyền phát triển tự nhiên của một cá nhân bao gồm quyền được sinh ra với một tương lai mở, không bị định hình trước bởi ý chí chủ quan của bất kỳ ai khác, kể cả đấng sinh thành. Theo triết học đạo đức của Immanuel Kant, con người phải luôn được đối xử như một cá nhân tự thân, chứ không bao giờ được đối xử như một phương tiện để đạt được mục đích. Khi một đứa trẻ được tạo ra thông qua quá trình sàng lọc gen chọn lọc tinh hoa, nguyên tắc này đã bị vi phạm nghiêm trọng. Khi đó, chúng ta chỉ tồn tại như những “con cừu Dolly” bị sáng tạo ra bởi bàn tay con người.

Nhà triết học Jürgen Habermas trong tác phẩm nổi tiếng "Tương lai của bản chất con người" (The Future of Human Nature) đã cảnh báo rằng việc can thiệp di truyền làm xói mòn mối quan hệ bình đẳng giữa các thế hệ. Khi cha mẹ can thiệp vào bộ gen của con cái vì mục đích phi y tế, họ đã khiến đứa con không còn có thể xem mình là chủ thể duy nhất cho đời sống của chính mình, bởi một phần quan trọng trong năng lực và xu hướng của họ đã được định hình bởi sự lựa chọn có chủ ý của cha mẹ.

Trong thế giới hiện nay, sự bất bình đẳng giàu nghèo vốn đã tạo ra những khoảng cách rất lớn về cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế và công nghệ. Tuy nhiên, khoảng cách này vẫn có thể được san lấp phần nào qua các thế hệ nhờ vào sự nỗ lực, may mắn và các chính sách an sinh xã hội. Nhưng nếu công nghệ sàng lọc và thiết kế gen tinh hoa được thương mại hóa, một bi kịch nữa lại ra đời. Giai cấp thượng lưu, với nguồn lực tài chính dồi dào, sẽ là những người đầu tiên và duy nhất có khả năng tiếp cận các gói dịch vụ "tối ưu hóa bộ gen" cho con cái họ. Thế hệ con cái của họ không chỉ giàu có hơn nhờ thừa kế tài sản, mà còn khỏe mạnh hơn, có trí thông minh logic cao hơn, và khả năng tập trung tốt hơn nhờ vào sự can thiệp kỹ thuật. Điều này cuối cùng sẽ trở thành nguyên nhân gây nên bất bình đẳng không chỉ trong y tế mà còn trong y sinh.

Công nghệ y sinh ngày càng phát triển, đem đến nhiều cơ hội trong việc phát triển cuộc sống con người, cho con người cơ hội sống tốt và an toàn hơn. Tuy nhiên, nó cũng trở thành những mối nguy hiểm khi trở thành góc tối cho những mục đích thực dụng. Quyền được làm mẹ và quyền được sinh ra của những đứa trẻ trong môi trường tự nhiên là một quyền thiêng liêng. Đối với tôi, đó là một quá trình không thể thay thế được trên hành trình trưởng thành. Không thể tạo ra hàng loạt những thiên tài trong cùng một thế hệ. Không thể ép ai đó trở thành một thiên tài cho những mục đích cá nhân. Đó không chỉ là sự vi phạm pháp lý mà còn cản trở cách chúng ta sống như một con người. Bên cạnh nỗi sợ bị AI thay thế, giới y sinh cũng bắt đầu cảnh báo trước về một viễn cảnh nơi những “thiên tài nhân tạo” máy móc hóa những con người thuần hậu, tự nhiên.
Thêm
77
0
0
Viết trả lời...
“Chảy đi sông ơi?” xuất hiện trong một khung cảnh đẹp như miền cổ tích, ở đó có “bến đò ở ngay gốc gạo”, có “con sông bến nước mơ màng và buồn cô liêu, nửa như chờ đợi, nửa như hờn dỗi”, có “những con sáo lông đen chân vàng đậu trên sợi thép níu đò”. Cái khung cảnh ở cái miền quê thơ mộng ấy đã gợi dẫn cả một vùng kí ức rất đỗi đẹp đẽ của nhân vật “tôi” với những mơ mộng đẹp đẽ và thơ ngây về huyền thoại con trâu đen. Theo bước chân những nẻo đường quê, trong sự thân thuộc, gần gũi và nên thơ của nó, câu chuyện tuổi thơ, mà đúng hơn là những bi kịch của nhân vật được phơi bày.

Hóa ra, ở cái miền quê đẹp thơ mộng ấy là những người lầm lũi, ngu si và vô minh, khuất nấp sau sự văn minh của thời buổi hiện đại. Bóng văn minh tràn sang nước ta, nhưng chưa len lỏi đến những miền quê nơi này. Có lẽ, cái sự yên bình, nền nã của chốn thôn quê này có được là do những con người nơi đây chỉ biết lầm lũi với cái nhịp sống buồn tẻ, chênh vênh, nhiều hiểm nguy của mình, chưa dám bước ra khỏi không gian sông nước làng quê.

Nhân vật “tôi” đã đi hết tuổi thơ mình trong niềm khao khát, hy vọng và tin tưởng vào huyền thoại “con trâu đen”. “Nó ở dưới đáy lòng sông lao lên mặt nước. Toàn thân bóng nhẫy, đôi sừng cao vút, mõm thở phì phì, con trâu phi trên mặt nước như phi trên cạn. Con trâu phì bọt, nước dãi của nó tựa như trứng cá. Nếu ai may mắn hớp được bọt ấy sẽ có sức lực phi thường, bơi lặn dưới nước giỏi như tôm cá”. Những tin đồn thật ảo về con trâu đen mang sức lực phi thường đã khiến nhân vật tôi khát khao mơ ước. Dù chỉ một lần, cậu mong có thể gặp được con trâu, hớp được bọt của nó và bơi lặn dưới nước như tôm cá. Đó là niềm tin vào sự huyễn hoặc, về những điều tốt đẹp trên đời mà người ta chỉ còn thấy ở trẻ em. Việc nhân vật tôi mơ mộng, đó là hình ảnh đẹp đẽ, đáng giá nhất mà người lớn có thể cho đứa trẻ: quyền được tưởng tượng và mơ ước. Tuy nhiên, cuối cùng, những giấc mơ của cậu bị phản bội, chôn vùi và khuất lấp. Những ước mơ muốn được bay cao, muốn được lắng nghe giờ đây bị những tên như trùm Thịnh, lão Tảo giết chết. Đó là sự phản tỉnh với những niềm tin cổ tích. Đâu mất rồi một thời cô Tấm, anh Khoai, chỉ cần khóc là Bụt sẽ hiện lên cứu giúp? Đâu mất rồi hình ảnh những đứa trẻ được níu giữ giấc mơ trong suốt tuổi thơ mình? Nỗi đau của nhân vật tôi là nỗi đau bị phản bội, bị cuộc đời thực dụng ghìm sát đất. Những kẻ đã giết chết giấc mơ ấy, những kẻ đánh cá trên sông, chúng vẫn tin vào truyền thuyết Hà Bá bắt người trên sông, tin rằng không được cứu người chết đuối – những niềm tin rất trẻ thơ, cổ tích và khờ khạo, vậy mà chúng vẫn nhẫn tâm chà đạp lên nỗi đau của một đứa trẻ. Tuổi thơ của nhân vật tôi, cuối cùng đã ra đi đau đớn như vậy.

Chúng ta thường nhìn cuộc đời qua lăng kính của những câu chuyện cổ tích ngọt ngào, nơi mỗi đứa trẻ sinh ra đều đầy những mơ mộng, những phép màu, và hình ảnh một “con trâu đen” huyền thoại dưới đáy sông biết đâu sẽ có ngày lao lên mặt nước, ban phát sức mạnh phi thường cho kẻ có lòng tin. Nhưng có một thực tế nghiệt ngã rằng, không phải giấc mơ nào cũng có cơ hội được cất tiếng gọi, được định hình thành hình hài giữa dòng đời thực dụng và tăm tối. Có những giấc mơ vừa mới thành hình đã phải câm lặng, những giấc mơ không thể cất lời, bị bóp nghẹt bởi sự vô minh, tàn nhẫn của môi trường xung quanh và sự lạnh lùng của người lớn. Giấc mơ không thể cất lời là một loại chấn thương tinh thần, nơi ranh giới giữa cái đẹp đẽ cổ tích và cái tàn nhẫn thực tại bị xóa nhòa, để lại một khoảng trống đau đớn trong tâm hồn con người.

Những kẻ đánh cá trên sông, họ sống bằng nghề sông nước nhưng tâm hồn họ đã bị dòng nước đục ngầu cuốn trôi đi phần thiện lương. Khi một giấc mơ muốn được lắng nghe, muốn được bay cao xuất hiện, nó lập tức bị coi là sự dị biệt, là điều hão huyền cần phải bị tiêu diệt. Trùm Thịnh hay lão Tảo không chỉ là những đại diện cho một hệ tư tưởng cũ kỹ, độc hại ngu muội, lầm lũi và sẵn sàng dùng bạo lực tinh thần để ghìm chặt người khác xuống mặt đất, họ còn là nạn nhân của nghèo đói, thiếu tình yêu thương và sự quan tâm. Ở đó, ta thấy nghèo đói không chỉ là một vấn nạn, đó còn là tội ác. Bởi nghèo mà người ta không dám bay cao, cũng bởi nghèo mà người ta tạo ra những nạn nhân khác. Từ đó, chúng ta nhận ra rằng, giấc mơ bị phản tỉnh không có nghĩa là giấc mơ không tồn tại. Thứ phải thay đổi không phải là sự mơ mộng, mà là hiện thực khô cằn chà đạp lên con người, giết chết quyền được mơ của con người.
Thêm
104
0
0
Viết trả lời...
Tôi từng đọc ở đâu đó một câu nói rằng “Bật tivi lên là tắt cả thế giới”. Rất nhiều ý kiến cho rằng tivi là nguyên nhân gây ra sự xao lãng, mất tập trung và gây ảnh hưởng đến trí tuệ của con người. Tuy nhiên, tôi cho rằng, tivi, theo một cách nào đó lại là phương tiện kết nối gia đình, hàn gắn những khoảng trống cảm xúc mà rất nhiều gia đình hiện đại phải đối mặt. Xã hội hiện đại khiến các gia đình không có nhiều thời gian rảnh cho con cái. Cuối tuần là thời gian nghỉ ngơi thì cũng bị xem là thời gian hoàn thành công việc. Tôi nghĩ, không cần những chuyến đi xa, chỉ cần những buổi tối quây quần bên chiếc tivi là đã đủ lấp đầy những khoảng trống cô đơn của đứa trẻ.

Với những đứa trẻ như tôi, tivi trở thành kí ức khi được cùng bố mẹ quây quần, cùng thảo luận, trò chuyện. Đó là giây phút tôi thấy gia đình mình gắn kết nhiều hơn, thấy khoảng cách giữa cha mẹ và con cái được nối liền lại. Trong nhịp sống hối hả và dồn dập của thế kỷ XXI, con người ta dễ dàng bị cuốn vào vòng xoáy của những lo toan, bận rộn. Những áp lực vô hình từ cơm áo gạo tiền, từ guồng quay công việc không ngừng nghỉ đã vô tình tạo ra những khoảng cách giữa các thành viên dưới một mái nhà. Sự gắn kết này vô cùng đặc biệt vì nó diễn ra một cách tự nhiên, không gượng ép. Tivi tạo ra một "vùng đệm văn hóa" chung, nơi mà khoảng cách thế hệ giữa cha mẹ và con cái bỗng chốc được xóa nhòa. Cha mẹ hiểu được ngôn ngữ của người trẻ thông qua các chương trình âm nhạc hiện đại, còn con cái học được những bài học sâu sắc về cuộc đời thông qua những thước phim xưa cũ hay những câu chuyện thời sự chính luận. Trong những khoảnh khắc ấy, tôi cảm nhận được một sợi dây liên kết vô hình nhưng vô cùng bền chặt đang thắt chặt chúng tôi lại với nhau. Khoảng cách giữa cha mẹ và con cái đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự thấu hiểu và gắn kết sâu sắc. Chiếc tivi đã trở thành một chiếc cầu nối liền hai thế hệ, biến những buổi tối bình thường thành những ký ức lấp lánh mà dù sau này có đi xa đến đâu, mỗi khi nhớ về, lòng tôi vẫn thấy ấm áp lạ kỳ.

Tivi cũng đồng thời kiến tạo cuộc sống thông minh, mở ra rất nhiều cơ hội tiện nghi cho các gia đình hiện đại. Nhờ nó, cuộc sống gia đình trở nên tiện lợi, dễ dàng, giảm được rất nhiều áp lực cho cha mẹ trong việc chăm sóc con cái. Bước sang kỷ nguyên của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, chiếc tivi ngày nay không còn dừng lại ở vai trò của một máy thu hình truyền thống. Nó đã trở thành một "Smart TV" - trung tâm điều khiển thông minh, một trợ lý đắc lực giúp định hình và nâng tầm chất lượng sống cho mỗi gia đình hiện đại. Trong một thế giới mà thời gian được tính bằng từng giây, từng phút, sự xuất hiện của các tính năng thông minh trên tivi đã mang đến những giải pháp tiện nghi vượt bậc, trực tiếp san sẻ gánh nặng và giảm bớt những áp lực đè nặng lên vai của các bậc làm cha, làm mẹ trong hành trình nuôi dạy và chăm sóc con cái. Sự tiện nghi của công nghệ không làm xa cách con người, nếu chúng ta biết biến nó thành công cụ để phụng sự cho hạnh phúc gia đình. Không dừng lại ở đó, tivi thông minh còn kiến tạo nên một không gian học tập và giải trí ngay tại gia.

Sự áp lực, mỏi mệt trong việc chăm sóc con cái được chuyển hóa thành những trải nghiệm đồng hành đầy thú vị. Tivi không làm xao lãng con người, trái lại, khi được sử dụng một cách thông minh, nó chính là trợ thủ kiến tạo nên một lối sống hiện đại, tiện nghi, nơi công nghệ phục vụ cho sự phát triển của con người và bảo vệ sự bình yên của tổ ấm.

Ký ức về mùa giải bóng đá 2018 của đội tuyển Việt Nam vẫn khiến tôi nhung nhớ, một mảnh kỉ niệm đẹp xuất phát từ tivi. Bằng sự tiện nghi đó, gia đình, làng xóm có cơ hội kết nối với nhau, đến gần nhau hơn, kiến tạo ký ức cộng đồng đẹp đẽ khó phai mờ. Không chỉ kết nối những thành viên trong một gia đình, chiếc tivi còn gắn kết cả một xóm giềng, một cộng đồng, và rộng hơn là hàng triệu trái tim cùng chung một nhịp đập. Đối với tôi, ký ức về mùa giải năm ấy là một mảnh ký ức đẹp đẽ, chứa chan trong ấy tình làng nghĩa xóm và tinh thần tự hào dân tộc.

Chính chiếc tivi đã kiến tạo nên những khoảng không gian văn hóa cộng đồng vô giá như thế. Nó biến một chương trình thể thao thành một không gian sinh hoạt chung của tình làng nghĩa xóm. Giữa một xã hội hiện đại nơi con người ta có xu hướng thờ ơ với người sống ngay bên cạnh mình, thì chiếc tivi chính là cái cớ tuyệt vời nhất để người ta mở lòng, mời nhau vào nhà, cùng bàn luận về một trận bóng, một chương trình ca nhạc hay một bản tin thời sự. Ký ức 2018 ấy đã chứng minh rằng bằng sự tiện nghi và khả năng truyền tải thông tin đại chúng của mình, tivi không hề làm con người ta bị cô lập.

Suy cho cùng, hạnh phúc của một gia đình hiện đại không nằm ở những chuyến du lịch xa xỉ, đắt đỏ, cũng không nằm ở những giá trị vật chất hào nhoáng bên ngoài. Hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản và khiêm nhường như thế: là sau một ngày dài giông bão ngoài cuộc đời, ta được trở về nhà, thấy đèn phòng khách đã sáng, thấy mâm cơm ấm áp đã sẵn sàng, và cả gia đình lại cùng nhau quây quần bên chiếc tivi quen thuộc, cùng cười, cùng nói, cùng cảm nhận hơi ấm thiêng liêng của hai tiếng: Gia đình.
Thêm
69
0
0
Viết trả lời...
Chiến tranh là câu chuyện của quá khứ, nhưng đâu đó nỗi đau thì vẫn âm ỉ đến hiện tại. Đằng sau những tối hậu thư liên quan đến việc đưa một quốc gia trở về thời đồ đá, đó là nỗi đau của những đứa trẻ ngày ngày nghe tiếng bom rơi. Tôi còn nhớ những đứa trẻ ở Gaza cho biết chúng đã thôi không đòi kẹo ngọt, giờ đây chúng muốn được uống nước sạch hơn. Chiến tranh, cướp đi căn tính con người, giành giật nơi họ cơ hội sống và quyền được tồn tại như một con người. Quá nhiều trận chiến đi qua, quá nhiều máu đổ đầu rơi và những vết thương còn xót xa mãi, vậy mà sao người ta vẫn liên tục tạo ra những cuộc chiến vì lợi ích, để nỗi đau lại một lần nữa hiện diện?

Những cuộc chiến mang đến thương đau, cướp đi ở người ta cơ hội được sống, được yêu thương và tồn tại như một con người. Đôi khi, nó che mờ đi lý trí, khiến chúng ta quên cả tính người, lao vào cuộc sinh tồn như một con thú. Để rồi, phía sau những chiến trường, chỉ còn máu chảy với đầu rơi, chỉ còn những nỗi đau ngày đêm cháy mãi. Khi những tính toán chiến lược được đặt lên bàn cân lợi ích, giá trị của một sinh mạng bỗng chốc trở nên rẻ mạt. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, con người bị đẩy vào trạng thái khốn cùng, phải bất chấp để sinh tồn, giữ lại mạng sống. Nhìn vào những dải đất Trung Đông hoang tàn, nơi những khu phố sầm uất chỉ sau một đêm biến thành những nấm mồ tập thể, ta mới cay đắng nhận ra sự hủy diệt tàn khốc của chiến tranh. Những người mẹ mất con, những gia đình ly tán, và những thi thể không còn nguyên vẹn nằm lại dưới lớp gạch vụn. Bom đạn không phân biệt người già hay trẻ nhỏ, nó san phẳng tất cả, để lại một khoảng trống trong lòng những người ở lại - một nỗi đau dai dẳng, nhức nhối mà không một hiệp định nào có thể bù đắp nổi.

Những đứa trẻ lớn lên trong chiến tranh xem chiến tranh như một ký ức đen tối mà cả đời chúng không thể quên. Dưới những hầm trú ẩn, tuổi thơ của chúng bị tước đi tàn bạo. Chúng mất đi cơ hội được lắng nghe, được yêu thương và sống trong đủ đầy. Tuổi thơ lẽ ra phải gắn liền với trang sách, với tiếng cười và thế giới kẹo ngọt đầy sắc màu, thì nay lại bị bủa vây bởi mùi thuốc súng và khói bụi di tản. Ở những vùng tâm điểm xung đột chịu nhiều bom đạn, một thế hệ trẻ em đang phải trưởng thành trong nỗi sợ hãi tột cùng. Thay vì học cách yêu thương, chúng phải học cách trốn chạy, thay vì đòi hỏi những món đồ chơi, ước mơ duy nhất của chúng chỉ là một ngụm nước sạch, hay đơn giản là ngày mai tỉnh dậy vẫn còn nhìn thấy cha mẹ mình.

Hòa bình không chỉ là sự ngừng bặt của những tiếng pháo, tiếng bom, mà là cơ hội để con người được sống trong đủ đầy. Hòa bình thực sự phải là khi tiếng súng ngừng hẳn, là khi trẻ em được sống đúng nghĩa với tuổi thơ của chúng, là khi người lớn chung tay cùng nhau tái thiết cuộc sống. Đó là lúc người dân không còn phải sống trong những hầm trú ẩn, được tiếp cận với nguồn nước, lương thực, y tế và giáo dục một cách nhân văn. Chỉ khi con người không còn bị ám ảnh bởi cái đói và nỗi sợ hãi rình rập từ những cuộc không kích, khi họ được bảo đảm những quyền lợi cơ bản để phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tâm hồn, thì lúc đó, mầm sống mới thực sự được hồi sinh.

Hãy chấm dứt chiến tranh vì lợi ích và xung đột. Hãy giải quyết chúng bằng các biện pháp hòa bình để những đứa trẻ, một lần nữa được lớn lên trong yêu thương. Đã đến lúc nhân loại phải thức tỉnh trước những tiếng khóc xé lòng phát ra từ các vùng chiến sự. Không có bất kỳ một lợi ích chính trị, kinh tế hay tham vọng quyền lực nào có thể dùng để biện minh cho máu và nước mắt của những sinh linh vô tội. Thay vì sử dụng họng súng để hủy diệt lẫn nhau, thế giới cần giải quyết những bất đồng bằng lòng trắc ẩn, bằng sự thấu hiểu và các biện pháp ngoại giao hòa bình. Hãy trả lại bầu trời xanh cho những vùng đất đang oằn mình trong lửa đạn, hãy dẹp bỏ những toan tính ích kỷ để mở ra một con đường nhân đạo hơn. Hãy cùng nhau hành động, để những đứa trẻ ở Gaza và ở khắp nơi trên thế giới không còn phải gồng mình gánh chịu hậu quả của người lớn, mà được trả lại quyền đòi kẹo ngọt, được lắng nghe, được sống đủ đầy và lớn lên trong vòng tay yêu thương chở che của toàn nhân loại.
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...
GĐ 1: Từ năm 1975 đến 1985: Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ văn học Cách mạng sang văn học hậu chiến
  • Sau ngày đất nước thống nhất, lịch sử Việt Nam chuyển sang một thời đại mới, nhưng văn học nghệ thuật vẫn hoạt động theo những quán tính của thời đại trước, trong đó khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn vẫn chiếm ưu thế.
  • Văn học thời đại này vẫn phát triển theo những quy luật và khuynh hướng của giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Tuy nhiên, giai đoạn ngày cho thấy những bước tiến khi nó không còn xem văn học như một công cụ để tuyên truyền cho chiến đấu mà đã có những bước phát triển mới ở cả văn xuôi và thơ.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa" (Nguyễn Minh Châu), truyện ngắn Nguyễn Khải, tập thơ “Ánh trăng" (Nguyễn Duy), tập thơ “Tự hát" (Xuân Quỳnh), tập thơ “Người đàn bà ngồi đan" (Ý Nhi).

GĐ 2: Từ năm 1986 - 1991: Đây là giai đoạn chuyển mình bứt phá của văn học Việt, đổi mới toàn diện và sôi nổi trên mọi lĩnh vực.

  • Công cuộc Cách mạng đổi mới với tiêu biểu là Đại hội VI của Đảng cùng cuộc gặp gỡ của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với giới văn nghệ sĩ đã thổi một luồng gió mới vào văn học, tạo nên cơ sở để đổi mới, thay thế toàn diện những góc nhìn, tư tưởng cũ.
  • Văn học giai đoạn này mang tinh thần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật. Cảm hứng thế sự - đời tư cũng trở thành tinh thần chính. Người viết bộc lộ rõ cái nhìn hoài nghi, suy tư. Tuy nhiên, cảm hứng phê phán cũng đôi lúc đẩy đến mức cực đoan.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Thời xa vắng (1986) - Lê Lựu, Tướng về hưu (1987) - Nguyễn Huy Thiệp, Bến không chồng - Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma - Nguyễn Khắc Trường.

GĐ 3. Từ 1992 đến nay: Qúa trình đổi mới chậm và lắng sâu vào cuộc sống thường nhật

  • Trở về với cuộc sống thường nhật với những vấn đề bình thường.
  • Có ý thức và nhu cầu đổi mới về hình thức nghệ thuật và phương thức biểu hiện.
  • Tuy nhiên, chưa có nhiều tác phẩm tiêu biểu, gây được tiếng vang.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, truyện ngắn Hồ Anh Thái, thơ Vi Thùy Linh,...
Thêm
80
0
0
Viết trả lời...
Tháng 6 vừa qua, các tỉnh trên cả nước đồng loạt tổ chức kì thi tuyển sinh vào 10. Đề thi Ngữ văn ở mỗi tỉnh đều rất đa dạng, đưa ra nhiều phần, nhiều ngữ liệu có khả năng thách thức tư duy thí sinh. Đề thi cũng đồng thời cho thấy được những điều người ra đề mong muốn ở học sinh, đó là sự sáng tạo, bứt phá và khả năng kết nối vấn đề với đời sống. Với mỗi đề thi ở mỗi địa phương lại gây ra những dư luận khác nhau. Đọc đề của một số tỉnh thành, tôi nhận ra rằng có rất nhiều tỉnh thành ra đề rất hay và mới, đòi hỏi học sinh phải gắn nó với thực tế và có những suy nghĩ riêng. Song song với đó, nhiều tỉnh chỉ ra đề dựa trên những yêu cầu cơ bản như biết cách phân tích văn bản, đầy đủ bố cục. Từ sự đa dạng trong kho đề tuyển sinh vào 10, tôi bắt đầu suy nghĩ về những thách thức đối với học sinh ở môn Ngữ văn.

Nội dung học và yêu cầu mà mỗi đề thi hướng đến đều là giúp học sinh có khả năng thể hiện cảm xúc, biết cách bày tỏ tư tưởng và gắn vấn đề với đời sống. Đây cũng là điều mà các học sinh rất hy vọng, khi các em đã quá chán với việc phải viết theo bất kỳ đáp án và góc nhìn riêng của ai. Bởi vậy, đề thi mở được ra trong rất nhiều cuộc thi lớn nhỏ trong những năm gần đây dự định sẽ trở thành một sân chơi rất bổ ích, sáng tạo cho học sinh. ãy nhìn vào đề thi lớp 10 của TP.HCM, nơi thường xuyên dẫn đầu về xu hướng ra đề đổi mới. Đề thi không còn trích dẫn những văn bản hành chính khô khan, mà đưa vào những câu chuyện về sự thấu hiểu, về "áp lực đồng trang lứa" (peer pressure) hay những khoảng lặng trong kỷ nguyên số — những vấn đề mà bất kỳ một đứa trẻ 15 tuổi nào cũng đang phải đối mặt hàng ngày. Hoặc như đề thi tại Hà Nội, phần nghị luận xã hội đã khéo léo lồng ghép những thông điệp về lòng trắc ẩn, tinh thần trách nhiệm cá nhân trước cộng đồng. Thay vì áp đặt một barem có sẵn, đề thi mở đóng vai trò kích hoạt toàn bộ hệ thống tư duy phản biện, óc quan sát và trải nghiệm sống của một đứa trẻ mười lăm tuổi. Đó là độ tuổi mà thế giới quan bắt đầu định hình, cái tôi cá nhân bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ và khao khát được khẳng định mình lớn hơn bao giờ hết.

Khi người ra đề dũng cảm trả lại cho học sinh quyền được cất tiếng, học sinh lập tức có cơ hội được nói bằng giọng của chính mình. Khảo sát nhanh tại một số hội đồng thi cho thấy, hơn 70% học sinh bày tỏ sự hứng thú với các dạng đề mở vì các em không còn phải học thuộc lòng những bài văn mẫu dài dằng dặc, được giải phóng khỏi lối mòn tư duy để tự do bay bổng và khẳng định cái tôi cá nhân. Nhiều năm liền, môn văn là môn học thuộc theo những nguyên mẫu được thầy cô “xào nấu” từ rất nhiều nguồn, ép học sinh phải học thuộc, và 100 bài văn đều có 100 gương mặt giống nhau. Giờ đây, cuối cùng thì nỗi lo của các em đã được gỡ bỏ.

Tuy nhiên, song song với đó, không phải tất cả sự sáng tạo của các em đều được chấp nhận. Một số học sinh từng phản hồi rằng em thể hiện những suy tư của mình, em nói về những điều bất cập nhưng không được lắng nghe. Các thầy cô hầu như đều chỉ chấm bài thi cho học sinh theo barem điểm. Đây không chỉ là thách thức đối với học sinh mà còn là câu hỏi đối với giáo viên và cả ngành giáo dục. Thách thức lớn nhất của các em lúc này không phải là làm sao để viết thật hay, thật sâu sắc, mà là phải làm sao để "đoán ý người chấm", làm sao để "nhốt" những ý tưởng bay bổng của mình vào vừa vặn cái khuôn chữ nhật của barem điểm. Câu hỏi này nhức nhối này được đặt ra cho cả ngành giáo dục: Chúng ta thực sự muốn gì? Chúng ta muốn những robot biết viết văn theo lập trình, hay muốn những học sinh có tư duy độc lập? Nếu đội ngũ giáo viên không được cởi trói về mặt tư duy, nếu quy chế chấm thi không chấp nhận những khoảng xê dịch cho sự khác biệt, thì mọi khẩu hiệu về "đổi mới giáo dục" hay "đề thi mở" suy cho cùng cũng chỉ là một khẩu hiệu, và người chịu thiệt thòi nhất luôn là những học sinh dám nghĩ dám làm.

Khi rất nhiều môn học mang tính ứng dụng cao như toán, Tin học, tiếng Anh được ưa chuộng, nhu cầu học văn càng cần phải được nâng cao chứ không phải là bị bỏ qua. Bởi lẽ, học văn là hình thức giáo dục nhân văn, bồi đắp tư tưởng và cách sống cho học sinh mọi lứa tuổi. Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nơi công nghệ trí tuệ nhân tạo AI và các ngành khoa học dữ liệu đang lên ngôi thống trị. Phụ huynh và học sinh đổ xô vào những môn học như Toán, Tin học, tiếng Anh với niềm tin rằng đó là tấm vé thông hành duy nhất dẫn đến thành công và sự ổn định nghề nghiệp. Thế nhưng, Toán học dạy chúng ta cách tư duy logic, Tin học cung cấp cho chúng ta công cụ để kết nối thế giới, Tiếng Anh giúp chúng ta hội nhập toàn cầu, nhưng chính Ngữ văn mới là thứ giữ cho chúng ta tính người, là chiếc neo níu giữ ta lại giữa một thời buổi cạnh tranh và vô cảm.

Nhu cầu học văn cần phải được nâng cao hơn bao giờ hết vì nó chính là lá chắn bảo vệ con người trước sự xói mòn về đạo đức trong xã hội hiện đại. Làm thế nào để bảo vệ môn Ngữ Văn và tư duy độc lập của học sinh, đó là cả một câu hỏi khó mà chúng ta cần giải quyết.
Thêm
62
0
0
Viết trả lời...
Từ trước đến nay, Nho giáo thường bị xem là tác nhân gây cản trở sự phát triển của xã hội Đông Á, gò gẫm con người trong những định kiến, quy tắc và bổn phận, làm xóa mờ đi ý thức phản kháng và sự sáng tạo của họ. Điều này đã khiến cho các quốc gia Á Đông bị lu mờ trước sự bứt phá của phương Tây. Tuy nhiên, nhìn đi cũng cần nhìn lại, đó đã trở thành cội nguồn và nền tảng phát triển văn hóa đất nước ta suốt hàng nghìn năm qua.

Nho giáo đã gián tiếp gây hại đến sự phát triển của văn hóa truyền thống Việt Nam. Sau hàng nghìn năm Bắc thuộc, dân ta bị đồng hóa, bị ép buộc phải sống theo những lề thói của Nho giáo, khiến chúng ta đánh mất đi bản sắc truyền thống. Đây là phương cách “nồi nấu chảy”, giúp phương Bắc thuộc địa hóa các quốc gia như Việt Nam. Đây cũng là lý do mà thời kỳ đầu, chúng ta mất đi sự vững vàng khi tự xây dựng vị thế cá nhân. Hệ thống giáo lý Tam cương (Vua - Tôi, Cha - Con, Chồng - Vợ) và Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) ban đầu có thể là những quy phạm đạo đức để ổn định xã hội, nhưng khi bị biến tướng thành công cụ cai trị, nó đã ép buộc người dân bản địa phải tuân phục tuyệt đối vào một trật tự ngoại bang. Sự áp đặt này hoạt động theo cơ chế của một "nồi nấu chảy” văn hóa, nơi mà các giá trị bản địa cốt lõi của người Việt cổ bị xóa bỏ và thay thế hoàn toàn. Sự tổn hại lớn nhất mà Nho giáo gián tiếp gây ra chính là việc bào mòn tư duy phản biện và triệt tiêu cá tính sáng tạo của con người.

Nó ép con người phải sống theo những bổn phận và phải thực hiện những bổn phận đó. Trong bài “Thuật hoài”, Phạm Ngũ Lão đã nói về những bổn phận của thân trai dưới góc nhìn Nho giáo: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”. Trong khi phương Tây bước vào cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất (cuối thế kỷ 18) và lần thứ hai (cuối thế kỷ 19) nhờ khả năng bứt phá, thì xã hội Việt Nam thời Nguyễn vẫn loay hoay với những câu hỏi về văn minh và đi tìm văn minh.

Tuy nhiên, Nho giáo cũng đã trở thành một nền tảng giúp chúng ta xây dựng đất nước, củng cố các kĩ thuật quản lí nhà nước, là cơ sở hình thành giáo dục chính thống ở Việt Nam. Dù thời Lý - Trần, Phật giáo và Đạo giáo chiếm ưu thế lớn trong đời sống tinh thần, nhưng vai trò của Nho giáo trong quản lý hành chính đã bắt đầu được khẳng định một cách chính thức từ năm 1070, khi vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu tại Thăng Long. Sự kiện này đã đánh dấu bước phát triển quan trọng của văn học chữ Hán dưới thời Tam giáo đồng nguyên. Đến năm 1075, khoa thi Nho học đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được tổ chức nhằm tuyển chọn những người có tài đức thực sự vào bộ máy chính quyền, thay thế cho hệ thống quan liêu dựa trên huyết thống hay đặc quyền dòng tộc của tầng lớp quý tộc cũ. Chính nhờ hệ thống tư tưởng này, ua Lê Thánh Tông đã thực hiện cuộc cải cách hành chính toàn diện nhất trong lịch sử phong kiến, bãi bỏ các chức danh trung gian như Tể tướng, chia đất nước thành 13 đạo thừa tuyên và thiết lập hệ thống Lục bộ. ộ luật này không chỉ bảo vệ quyền lực tuyệt đối của nhà vua để giữ vững kỷ cương quốc gia, mà còn chứa đựng những điều khoản tiến bộ vượt bậc so với luật pháp nhà Minh, nhà Thanh đương thời, như việc thừa nhận vai trò của người phụ nữ. Như vậy, Nho giáo hoàn toàn không phải lý do triệt tiêu sự sáng tạo của người Việt. Sự củng cố về mặt thể chế và giáo dục của Nho giáo đã tạo ra một bộ khung có tính bền vững, giúp đất nước ta giữ vững được sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ qua nhiều thế kỷ biến động, đồng thời tích lũy nội lực để tiến hành các cuộc kháng chiến bảo vệ chủ quyền thành công trước các thế lực ngoại bang lớn mạnh.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ giao thoa giữa các nền văn hóa. Rất nhiều ý kiến tranh luận được đặt ra cho rằng chúng ta cần “thoát Mỹ”, “thoát Tàu” để xây dựng một nền văn hóa cho riêng mình. Tuy nhiên, tôi tin vào quan điểm của tác giả Đặng Hoàng Giang trong cuốn sách “Bức xúc không làm ta vô can”: “Tôi muốn nhìn thấy người dân Việt Nam có đủ hiểu biết và sự dẻo dai về văn hóa để chèo lái trên biển toàn cầu hóa, để trở nên những công dân toàn cầu mà không bị tha hương về văn hóa, bơ vơ về bản sắc. Họ không cần phải thoát đi đâu cả”. Trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế toàn diện của thế kỷ 21, câu hỏi về bản sắc và định vị văn hóa quốc gia lại một lần nữa trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, việc cố gắng tạo ra một thí nghiệm văn hóa hoàn toàn tách biệt khỏi các dòng chảy văn minh lớn của nhân loại là một thí nghiệm khó có kết quả.Văn hóa chưa bao giờ là một thực thể bất biến, mà nó là một hệ thống liên tục tiến hóa thông qua quá trình tiếp xúc, va chạm và tiếp biến. Sự phát triển vượt bậc mà Việt Nam chúng ta có được hôm nay là hệ quả của quá trình tiếp biến văn hóa có chọn lọc. Giới trẻ Việt Nam hiện nay cần được trang bị một nền tảng tri thức sâu sắc để nhận diện rõ ràng: cái gì là hủ lậu, lạc hậu của Nho giáo phong kiến (như tư duy trọng nam khinh nữ, lối sống gia trưởng, tâm lý sùng bái quyền lực) để kiên quyết bài trừ, và cái gì là tinh hoa bền vững (như truyền thống hiếu học, tinh thần tôn sư trọng đạo, lối sống coi trọng gia đình, coi trọng đạo đức nghĩa tình) để tiếp tục kế thừa và phát huy. Chúng ta, cuối cùng rồi sẽ đứng vững trên mảnh đất của mình để vươn tầm ra thế giới, tự tin đối thoại bình đẳng với các nền văn minh khác bằng tư thế của một dân tộc tự chủ, dẻo dai và đầy sức sống sáng tạo.
Thêm
50
0
0
Viết trả lời...
1. “Nhà văn là người kiên nhẫn nhiều năm phát hiện ra cái con người thứ hai trong mình, tìm thấy cái thế giới trong đó mình là mình. Khi tôi nói về văn chương, điều đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi không phải tiểu thuyết, thơ ca, hay văn vẻ gì, mà chính là hình ảnh một người cặm cụi trong phòng kín, đào bới chính mình”

2. “Viết, tức là biến cái đắm đuối nội tâm thành câu chữ, là khám phá cái thế giới mình tương tác với mình, cần mẫn, ương ngạnh, và say sưa”

3. “Khi tôi ngồi vào bàn, thì dù ngày tháng bao nhiêu, chữ nghĩa gò gẫm thế nào, tôi vẫn cảm thấy như thể mình đang tạo ra cả một thế giới mới, như thể tôi đang sinh ra một kẻ khác bên trong tôi, giống như ai đó xây nhà, xây cầu từ từng viên gạch nhỏ”.

4. “Thiên thần cảm hứng (cái thứ rất thất thường) rất thích ai hy vọng và liều lĩnh. Và khi nhà văn cô đơn, lụi cụi ngồi mơ về những điều có giá trị, quyết viết nên câu chuyện độc nhất vô nhị, chính là lúc vị thần ấy đang lần mò tìm đến, giúp anh ta chọn được hình ảnh và mạch nối để dựng nên thế giới anh ta mơ mộng”.

5. “Nhưng khi tôi ngắm nghía cái vali, tôi lại phát hiện thêm một điều, rằng nếu cha tôi từng trăn trở với văn chương sách vở như thế, thì liệu cha có là một người hay bị giày vò không? Giờ đây, sau nhiều năm trải nghiệm, tôi hiểu được rằng chính những sự dày vò mới là đặc điểm cốt yếu để biến ai đó thành một nhà văn”.

6. “Tôi tin văn học là kho đụn có giá trị nhất loài người gom góp được để hiểu chính mình. Xã hội, bộ lạc, hay các cộng đồng ngày càng trí thức thêm, giàu có lên, nhiều triển vọng hơn khi con người ngẫm nghĩ sâu về lời lẽ của các tác giả.”

7. “Khi nhà văn đóng cửa lại, ngồi viết sách kể lại hành trình xuyên qua chính mình, anh ta phát hiện ra cái quy tắc vĩnh hằng: phải kể chuyện mình như thể đó là chuyện của người khác, và chuyện người khác lại như chuyện của chính anh ta. Văn chương là vậy”.
Thêm
69
0
0
Viết trả lời...
Thời đại công nghệ phát triển, các cộng đồng xã hội ngày càng được nâng cao, hạ tầng được quy hoạch góp phần đô thị hóa, gia tăng các giá trị tích cực vào sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, đi song song với những giá trị đó, người ta phải chứng kiến sự mai một dần của những kết nối cộng đồng. Giờ đây, việc không biết tên hàng xóm là điều quá bình thường. Tết đến, cũng chẳng có một lý do gì để gõ cửa nhà nhau. Đi làm về, các hộ gia đình đều đóng cửa nhà, không kết nối, không giao du với ngay cả hàng xóm mình. Và cứ thế, cố kết cộng đồng bị mai một và nứt gãy đầy xót xa.

Tôi được sống trong một cộng đồng mà ở đó mọi người gắn bó với nhau bằng tình làng nghĩa xóm. Những đêm mùa hè mất điện, với những đứa trẻ như chúng tôi thường là những đêm đẹp nhất. Người lớn phe phẩy quạt, ngồi dưới trăng, uống trà, tám chuyện. Trẻ em chúng tôi thì nô đùa xung quanh. Cái khung cảnh bình dị ấy đã trở thành một kí ức êm đềm mà rực rỡ bên trong bất cứ đứa trẻ nào. Nhưng rồi, những đêm trăng ấy cũng qua đi, nhường lại cho những đêm nằm trong điều hòa tiện nghi mà thao thức về cái kí ức ngày trước.

Những năm 2018, bóng đá Việt Nam trở thành kỉ niệm không dễ gì quên được của người dân Việt Nam. Dù sáng hay đêm, cứ mỗi lần có bóng đá, xóm tôi lại quay quần bên nồi lẩu, vừa ăn vừa bàn luận. Cả những tiếng hô vang, tiếng cười nói mỗi khi bóng vào lưới cũng là điều khó có thể quên được. Vậy mà theo nhịp đô thị hóa, cái văn hóa sống ấy cũng mờ phai. Giờ đây tôi mới biết, không phải vì bóng đá ngày ấy hay, mà chỉ là vì cái không gian làng xóm ấy, mãi mãi khó có thể tìm thấy được.

Bởi vậy, tôi liên tục suy nghĩ về việc đô thị hóa, một phần đem lại những tiện nghi, nhưng cũng phần nào làm suy giảm văn hóa cộng đồng. Nó khiến người ta xa rời nhau hơn, ít kết nối, ít gắn bó. Các khu nhà mọc lên san sát khiến người ta cũng chẳng còn mong muốn được kết nối. Thời buổi khiến người ta cũng chỉ quan tâm đến lợi ích riêng mình. Sự phát triển vượt bậc của cơ sở hạ tầng, những tòa nhà cao tầng chọc trời và các khu chung cư hiện đại là biểu tượng không thể phủ nhận của một nền kinh tế đang trên đà cất cánh. Thế nhưng, đằng sau sự phát triển tiện nghi ấy lại là một nghịch lý đáng buồn: không gian sống càng thu hẹp về khoảng cách địa lý thì khoảng cách tâm lý giữa con người lại càng bị nới rộng ra. Đô thị hóa tạo ra những không gian sống khép kín, nơi mỗi căn hộ là một ốc đảo riêng biệt được canh phòng cẩn mật. Bên cạnh đó, áp lực của cuộc sống mưu sinh tại các đô thị lớn cuốn con người vào một vòng xoáy hối hả không ngừng nghỉ. Thời gian mỗi ngày bị xé nhỏ cho công việc, chạy đua với chỉ tiêu, đối phó với tắc đường và cống hiến cho những mối quan hệ xã giao mang tính lợi ích. Sự lên ngôi của công nghệ giải trí cá nhân cũng đã thay thế hoàn toàn nhu cầu chia sẻ trực tiếp. Lối sống ích kỷ, thực dụng, chỉ biết đến lợi ích riêng mình dần dần lên ngôi, đẩy những giá trị văn hóa cộng đồng gắn kết trước đây trở thành dĩ vãng.

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều thẳng thắn đưa ra quan điểm: “Chúng ta sống không chỉ cần môi trường sống đẹp, đắt tiền mà cần hơn là sự yêu thương và chia sẻ một cách thiện chí. Sự liên kết giữa con người với con người mới chính là sức mạnh tạo nên văn hóa dân tộc”. Đó chính là những giá trị cao quý bị người ta bỏ quên đi. Một báo cáo về "Chỉ số vốn xã hội tại các đô thị lớn" được công bố gần đây chỉ ra một thực trạng đáng báo động: có đến hơn 60% cư dân tại các khu chung cư cao cấp ở Hà Nội và TP.HCM thừa nhận họ không biết tên hoặc chưa bao giờ trò chuyện với người sống sát vách nhà mình. Tại Nhật Bản, quá trình đô thị hóa cực đoan và lối sống khép kín đã sinh ra hiện tượng Kodokushi (những cái chết cô độc) – nơi hàng ngàn người già qua đời trong các căn hộ tiện nghi nhưng phải mất nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng mới được phát hiện chỉ vì hàng xóm xung quanh hoàn toàn không có sự kết nối. Việc này đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, thứ mà không thể giải quyết bằng tiền bạc và những căn hộ cao tầng.

Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng: việc đô thị hóa trong thời buổi này là điều bức thiết. Thay vào những nỗi lo về việc đô thị hóa làm mất dạng kết nối cộng đồng, hãy nỗ lực xây dựng sự kết nối cộng đồng ngay trong những khu đô thị. Tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam dự kiến đạt trên 45% vào những năm cuối thập niên 2020, điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta không thể duy ý chí để quay về với nếp sống làng quê thô sơ cũ. Thay vì chìm đắm trong sự hoài niệm bất lực, giải pháp cốt lõi là phải tái cấu trúc và định hình lại không gian văn hóa cộng đồng ngay trong lòng các khu đô thị mới. Chính phủ Singapore đã bắt buộc quy hoạch tầng trệt của các tòa nhà cao tầng làm Void decks (không gian trống công cộng) - nơi đặt các bàn cờ vua, khu sinh hoạt chung và ghế nghỉ. Kết quả từ khảo sát của HĐ Phát triển Nhà ở Singapore cho thấy, hơn 85% cư dân cảm thấy gắn kết và an toàn hơn nhờ các tương tác ngẫu nhiên tại không gian này. Xây dựng sự kết nối cộng đồng kiểu mới đòi hỏi sự thay đổi từ cả tư duy quy hoạch kiến trúc lẫn ý thức hành động của mỗi cư dân. Cố kết cộng đồng không tự mất đi vì đô thị hóa, nó chỉ mất đi khi con người ngừng nỗ lực để kết nối và yêu thương.
Thêm
77
0
0
Viết trả lời...
Hiện nay, xã hội ngày càng mở cửa cho những cơ hội bình đẳng, đặc biệt là đối với người LGBT. Cộng đồng LGBTQ+ được chấp nhận, tôn trọng và hòa hợp không tách rời với cộng đồng dị tính. Quyền lợi của họ hoàn toàn được xã hội bảo vệ và hỗ trợ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn luôn phải chứng kiến một sự thật rằng những người thuộc cộng đồng LGBTQ+ thường phải che giấu thân phận của mình để tránh những ồn ào từ số đông, thậm chí là từ chính bố mẹ mình. Rất nhiều phụ huynh cho rằng đồng tính là một loại bệnh và bắt con mình phải điều trị mặc dù đó là một xu hướng tính dục rất bình thường. “Tại Việt Nam, nghiên cứu 'Có phải bởi vì tôi là LGBT?' của Viện iSEE [2] chỉ ra, để sống sót qua sự săm soi, hơn 70% người thuộc cộng đồng LGBTIQ+ phải liên tục che giấu thân phận hoặc tự thay đổi ngoại hình, cử chỉ cho 'chuẩn mực' tại nơi làm việc và trường học”. Do đó, để những người đồng tính được sống một cách bình đẳng, chúng ta cần đấu tranh cho quyền lợi của họ.

Những giới tính khác nhau tạo ra những màu sắc khác nhau. Việc một người thuộc cộng đồng LGBTQ+ có nghĩa là họ hoàn toàn bình thường về mặt giới tính. Do đó, đây không phải một loại bệnh và hoàn toàn không cần bị chữa trị. Sự đa dạng về xu hướng tính dục và bản dạng giới là một phần tất yếu, tự nhiên của đời sống con người, tạo nên những sắc màu phong phú cho xã hội. Khoa học hiện đại từ lâu đã phá tan những định kiến cổ hủ coi đồng tính hay chuyển giới là một lệch lạc về mặt tâm thần. Từ năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chính thức loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh mục bệnh tâm thần, và gần đây nhất, Bộ Y tế Việt Nam cũng đã khẳng định rõ ràng rằng đồng tính hoàn toàn không phải là bệnh, không thể chữa và không cần chữa. Khi chúng ta nhìn nhận một người thuộc cộng đồng LGBTQ+, chúng ta đang nhìn thấy một cá nhân toàn vẹn với đầy đủ phẩm giá, năng lực và cảm xúc, chứ không phải một người cần sự can thiệp y tế hay một đối tượng cần được uốn nắn theo bất kỳ chuẩn mực nào. Những hành động ép buộc con phải tham gia các khóa trị liệu, cầu cúng tâm linh hoặc dùng bạo lực tinh thần của cha mẹ không những không thể thay đổi được xu hướng tính dục tự nhiên của đứa trẻ, mà còn gây ra những tổn thương tâm lý sâu sắc, dẫn đến trầm cảm, lo âu và thậm chí là những lựa chọn cực đoan.

Nếu chúng ta không bảo vệ quyền lợi cho người LGBTQ+, chính họ sẽ đứng lên để giành quyền lợi cho mình. Cuộc diễu hành tự hào là một phong trào của người LGBT khắp nơi trên thế giới được tổ chức hàng năm vào mỗi mùa hè. Đây là dịp tưởng nhớ các cuộc bạo loạn ở Stonewall, nơi những người đồng tính nam đã đáp trả cảnh sát khi bị dùng bạo lực. Cuộc bạo loạn tại quán bar Stonewall (New York) năm 1969 không chỉ là một sự kiện lịch sử, mà là mồi lửa cho phong trào đòi quyền lợi hiện đại của cộng đồng LGBTQ+ trên toàn cầu. Khi những người đồng tính, chuyển giới thời bấy giờ không còn chấp nhận sự đàn áp, quấy rối, họ đã chọn cách đứng thẳng và lên tiếng. Quyền bình đẳng không phải là thứ được ban bố khi họ có một giới tính “bình thường”, đó là quyền cơ bản mà mỗi con người sinh ra đều nghiễm nhiên có được. Đó là những bản tuyên ngôn để người LGBTQ+ bước ra khỏi sự che giấu, khẳng định sự hiện diện kiêu hãnh của mình. Sự dũng cảm của họ khi đứng lên tự bảo vệ mình là điều đáng khâm phục, nhưng nó cũng đặt ra một câu hỏi lớn cho phần còn lại của xã hội: Tại sao chúng ta lại để họ phải đơn độc chiến đấu cho những quyền lợi vốn dĩ thuộc về họ? Một xã hội văn minh không nên đợi đến khi có sự xung đột hay phản kháng mới bắt đầu thay đổi. Việc đồng hành, bảo vệ quyền lợi cho người LGBTQ+ từ phía cộng đồng dị tính không chỉ là sự hỗ trợ, mà là trách nhiệm đạo đức để xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật và giàu tính nhân văn.

Hãy để những người thuộc cộng đồng LGBTQ+ được sống hồn nhiên và bình thường đúng như những gì họ xứng đáng được nhận. Để trả lại sự hồn nhiên và quyền được sống bình thường cho họ, xã hội cần những hành động mạnh mẽ và nhân văn. Về mặt luật pháp, việc hoàn thiện và ban hành luật bình đẳng cho người LGBTQ+ cũng như công nhận hôn nhân đồng giới nên là điều luật bắt buộc, tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ quyền lợi cho họ. Về mặt giáo dục, trường học cần đưa các nội dung về đa dạng giới vào chương trình giảng dạy một cách khoa học để ngăn chặn vấn nạn bạo lực học đường nhắm vào học sinh LGBTQ+. Và quan trọng nhất, về mặt gia đình, các bậc cha mẹ hãy học cách lắng nghe con mình, bảo vệ con và giáo dục giới tính cho con. ã hội chúng ta mới thực sự chạm đến giá trị của sự bình đẳng và phát triển bền vững. Hãy để xã hội chúng ta thực sự chạm sự bình đẳng và phát triển bền vững, và hãy để mỗi con người được tỏa sáng theo đúng sắc màu tự nhiên của họ.
Thêm
47
0
0
Viết trả lời...
Sáng 11/6, hơn 1,2 triệu thí sinh bước vào kỳ thi THPTQG 2026. Câu nghị luận xã hội của đề gây ra khá nhiều tranh luận: làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”? Trong đó, câu gợi dẫn của đề viết: “Nước Mĩ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới". Tôi cho rằng đây là một đề văn hay và mới lạ, có khả năng thách thức tư duy của thí sinh, song tôi nghĩ cũng cần có những đối thoại xung quanh đề bài này. Bởi lẽ, tại sao chúng ta phải trở thành Steve Jobs? Tại sao chúng ta không thể nỗ lực để trở thành chính ta? Và liệu suy nghĩ tôn vinh Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… có phải là dấu hiệu của tư tưởng xem phương Tây là trung tâm không?

Phải công nhận rằng nước Mỹ xuất hiện rất nhiều thiên tài giỏi giang trong rất nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc chúng ta xem người Mỹ làm chuẩn và phải nỗ lực để trở thành họ. Nhìn về các nước Á Đông, chúng ta thấy rằng Việt Nam đã vươn lên sau tro tàn của chiến tranh, từng ngày tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và nâng tầm ngoại giao để bước vào kỷ nguyên vươn mình. Singapore – từ một làng chài trở thành một quốc gia phát triển. Trung Quốc trở thành siêu cường toàn cầu, nắm giữ nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và là quốc gia sở hữu khối tài sản ròng lớn nhất, không chỉ là con rồng Á Châu mà còn là con rồng quốc tế. Quá nhiều câu chuyện về sự vươn lên mạnh mẽ, ý chí sắt đá và thành công của các quốc gia, đủ để chúng ta thấy rằng mỗi quốc gia đều có một tiến trình phát triển riêng, và điều đó có nghĩa là chúng ta chỉ cần phát triển theo đường hướng của quốc gia mình. Sự trỗi dậy của các quốc gia Á Đông trong thế kỷ XXI là minh chứng cho thấy mô hình phát triển của phương Tây không phải là chiếc khuôn duy nhất để tạo nên sự thịnh vượng. Nước Mỹ có thể tạo ra Steve Jobs nhờ vào nền văn hóa khuyến khích sự đột phá cá nhân tối đa và một thị trường tiêu dùng toàn cầu đã được định hình sẵn. Nhưng Việt Nam, với xuất phát điểm là một quốc gia chịu nhiều tổn thương sau chiến tranh, lại có những thế mạnh và những mối quan ngại khác.

Kỷ nguyên vươn mình không đòi hỏi chúng ta phải tạo ra những vĩ nhân của nước Mỹ, mà đòi hỏi chúng ta phải thấu hiểu nội lực của chính mình. Bản sắc kinh tế - xã hội của Việt Nam nằm ở sự linh hoạt, khả năng thích ứng nhanh, tinh thần vượt khó và một lực lượng lao động trẻ dồi dào, am hiểu công nghệ. Những doanh nghiệp công nghệ lớn của Việt Nam hiện nay đang thành công không phải bằng cách phát minh ra một hệ điều hành hay một chiếc điện thoại làm thay đổi thế giới như Apple, mà bằng cách giải quyết các bài toán thiết thực của người bản địa: từ phủ sóng viễn thông đến các vùng sâu vùng xa, bình dân hóa dịch vụ số, đến việc đưa nông sản Việt ra thị trường quốc tế qua thương mại điện tử. Do đó, việc áp đặt một hình mẫu thiên tài công nghệ kiểu Mỹ lên thế hệ trẻ Việt Nam không chỉ là sự lệch pha về mặt bối cảnh, mà còn có thể làm lu mờ đi những tiềm năng bản địa.

Tại sao chúng ta phải trở thành Steve Jobs trong khi ta là chính ta? Mỗi con người đều có một bản dạng và dấu triện riêng. Thay vì trở thành ai đó, chúng ta cần cố gắng để trở thành chính mình. Vai trò của mỗi cá nhân, cộng đồng, xã hội trong thời điểm này còn chưa được phát huy hết khả năng, làm thế nào chúng ta có thể tạo nên những sự nghiệp lớn? Lời kêu gọi thế hệ trẻ phải trở thành những Steve Jobs, Mark Zuckerberg vô tình tạo ra một áp lực đồng hóa nặng nề, định hướng con người ta vào việc theo đuổi một khuôn mẫu thành công duy nhất: phải là doanh nhân công nghệ, phải giàu có, phải tạo ra những sản phẩm mang tính đại chúng toàn cầu. Nhưng một xã hội phát triển bền vững không thể được xây dựng bởi một tập hợp những bản sao. Nó cần sự đa dạng của bản sắc cá nhân. Khi người trẻ bị cuốn vào cuộc đua trở thành một ai đó danh tiếng, họ rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng bản sắc, hoang mang trên chuyến hành trình đi tìm kiếm chính mình. Bởi vậy, thay vì mơ mộng về một cá nhân xuất chúng hay thiên tài, điều cấp thiết hơn là phải phát huy tối đa nội lực của từng cá nhân trong xã hội, tối ưu hóa sức mạnh cộng đồng để tạo ra một môi trường mà ở đó, bất kỳ ai cũng có cơ hội cống hiến và thành công theo cách riêng của họ.

Hướng về những Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… để ngưỡng mộ tài năng của họ không phải là lý do chúng ta quên đi bản sắc dân tộc mình. Việt Nam không cần một Steve Jobs nào hết, Việt Nam chỉ cần những con người “biết căm thù và biết yêu thương” (Tố Hữu), biết sẻ chia và biết dấn thân, biết cách cống hiến sức trẻ cho quê hương đất nước. Sự ngưỡng mộ dành cho các thiên tài thế giới là một thái độ văn minh và cần thiết. Chúng ta không thể phủ nhận tầm vóc của những người đã định hình lại cách nhân loại làm việc và tư duy. Học hỏi từ họ tinh thần kiên trì, tư duy đột phá và khát vọng vượt qua các giới hạn là điều vô cùng quý giá. Tuy nhiên, chúng ta cần những con người đủ bản lĩnh để biết căm ghét cái nghèo nàn, lạc hậu, sự tụt hậu về công nghệ, kiên quyết bài trừ cái xấu, sự lười biếng và thờ ơ, ích kỷ, biết gắn kết, sẻ chia, thấu cảm với đồng bào xung quanh mình.

Đề bài NLXH THPTQG 2026 mang tính thách thức cao vì nó chạm đến khát vọng lớn lao của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy nhiên, câu trả lời không nằm ở việc theo đuổi những hình mẫu vĩ nhân Mỹ, mà nằm ở sự thức tỉnh về bản dạng và bản sắc dân tộc mình. Hãy để người Mỹ tự hào về Steve Jobs, Elon Musk, còn chúng ta sẽ tự hào về một thế hệ trẻ Việt Nam tự tin bước ra thế giới với tư cách là chính mình, viết nên câu chuyện phát triển của một quốc gia độc lập, tự chủ và giàu bản sắc.
Thêm
53
0
0
Viết trả lời...
1. “Việc viết là hoạt động cô đơn lạ kì… Sự không thỏa lòng này và cái tình tự về một điều gì đó không hoàn tất thúc đẩy bạn viết cuốn sách kế tiếp để lập lại sự thăng bằng, mà bạn sẽ chẳng bao giờ đạt tới. Những năm tháng trôi qua, những cuốn sách kế tục nhau và những người đọc sẽ nói về một “sự nghiệp”. Nhưng bạn sẽ có cái cảm giác rằng đó chỉ là một sự chạy trốn dài về phía trước.”

(Diễn từ Nobel – Patrick Modiano)

2. “Mọi thứ sẽ như thế và không có lối thoát: nhà văn đã, đang, và sẽ tiếp tục là một kẻ bất mãn. Không ai thỏa mãn mà có khả năng viết; không ai đồng thuận với, hoặc hòa giải với thực tế mà có thể thực hiện được sự điên rồ đầy tham vọng là sáng tạo ra những thực tại bằng văn bản”.

(Diễn từ Nobel – Mario Vargas Llosa)

3. “Ngôn ngữ chính thức được rèn giũa để hợp thức hóa sự ngu dốt và bảo vệ đặc quyền là một bộ áo giáp được đánh bóng đến mức lấp lánh đáng kinh ngạc, một lớp vỏ mà hiệp sĩ đã rời đi từ lâu. Tuy nhiên, nó vẫn ở đó: câm lặng, hung hãn, đa cảm. Khơi dậy sự tôn kính trong học sinh, che chở cho những kẻ độc tài, gợi lên những ký ức sai lầm về sự ổn định, hòa hợp trong công chúng”

(Diễn từ Nobel – Toni Morrison)

4. “Nói cách khác, thời chiến là thời kỳ tiền suy tư đối với tôi. Cũng là thời kỳ tiền đọc viết. Theo một cách nào đó, nó giống như thời kỳ tiền sử”

(Seamus Heaney)

5. “Phải thừa nhận rằng, trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, nơi chúng ta không dừng lại để cân nhắc từng từ, tất cả chúng ta đều sử dụng những cụm từ như “thế giới bình thường”, “cuộc sống bình thường”, “diễn biến sự kiện bình thường”… Nhưng trong ngôn ngữ thơ ca, nơi mỗi từ đều được cân nhắc kỹ lưỡng, không có gì là bình thường hay quen thuộc. Không một hòn đá nào và không một đám mây nào trên đó. Không một ngày nào và không một đêm nào sau đó. Và trên hết, không một sự tồn tại nào, không một sự tồn tại của bất kỳ ai trên thế giới này”

(Wislawa Symborska)

6. “Tóm lại là, tôi đã chết, một lần rồi, và như vậy, tôi có thể tiếp tục sống – và có lẽ đó là câu chuyện thực của tôi.Và nếu như vậy, tôi dâng tặng tác phẩm của tôi, nẩy sinh từ cái chết của một đứa trẻ, tới hàng triệu người đã chết, tới những người vẫn còn tưởng nhớ họ. Nhưng, chỉ là chuyện văn chương, nói cho cùng, như chúng ta đang nói về nó, ở đây, có thể tác phẩm của tôi sẽ được dùng vào một việc có ích, nào đó, trong tương lai, và – với một sự mong ước xuất phát tự trái tim – tương lai biết đâu lại chính là cái điều mà tác phẩm của tôi nói tới, dám như vậy lắm!”

(Imre Kertész)

7. “Nhà văn sống gần như một kẻ trần truồng giữa chợ, động một tí là tử thương. Chúng ta không cần phải than khóc vì chuyện ấy. Nhà văn tự lựa chọn vận mệnh của mình và thủy chung với nó. Quả thực có thể nói rằng ta trần trụi giữa gió tứ phương, đôi khi giữa giá băng cắt thịt. Ta độc hành, lẻ loi và bị đời hắt hủi. Ta không tìm được một chốn nương thân, một nơi trú ẩn an toàn – trừ phi ta nói dối – và nhờ thế mà dựng được rào chắn tự vệ của riêng mình, và trở thành một chính trị gia, có thể nói như vậy được.”

(Harold Pinter)

8. “Người Thổ có một câu đáng yêu: Đào giếng bằng kim, mà dường như đối với tôi thì rất đúng cho các nhà văn”

(Orhan Pamuk)
Thêm
70
0
0
Viết trả lời...
Mùa hè đến, nhiệt độ tăng cao, tưởng chừng như chỉ là nỗi lo của những nhà khí hậu. Tuy nhiên, vấn đề nhiệt độ tăng cao gây ra nắng nóng nên được nhìn nhận sâu sắc hơn khi nó gây ra những “chi phí khí hậu” làm ảnh hưởng đến người dân lao động. Nếu như nhìn sâu hơn vào việc làm của những người lao động xung quanh mình, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra rằng có sự phân tầng trong đối tượng lao động. Mùa hè đến, giới văn phòng được làm việc trong điều hòa mát mẻ, ngược lại với đó là những người lao động chân tay phải gồng mình dưới nắng. Dĩ nhiên, việc họ nhận được môi trường làm việc như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện, môi trường sống và khả năng của họ. Tuy nhiên, tôi muốn nói đến ảnh hưởng nặng nề của nắng nóng lên cuộc sống của người lao động nghèo.

Tôi từng đọc được bài báo về “thuế thời gian” xảy ra ở những vùng đất thiếu nước. Ở đó, người dân phải thức dậy từ tờ mờ sớm để đi lấy nước. Quá trình đó tiêu tốn của họ ít nhất hai giờ đồng hồ mỗi ngày. Ở vùng miền núi bến Giằng, Đà Nẵng, chị Do thường phải thức dậy từ lúc 1 2 giờ sáng để đi kiếm nước về cho sinh hoạt gia đình. Cứ mỗi giờ việc đi kiếm nước tiêu tốn của chị là một giờ mất đi dành cho nghỉ ngơi, lao động và doanh thu. Điều này được gọi là thuế thời gian, gây nên những hoang mang ở những nơi bất an nguồn nước. Điều đó cũng tương tự như “chi phí khí hậu” đang đè nặng lên người lao động, đặc biệt là người lao động ngoài trời.

Nhiệt độ tăng cao khiến người lao động nhanh chóng mệt mỏi, kiệt sức, làm giảm hiệu quả lao động. Điều đó khiến cho năng suất lao động và doanh thu cũng giảm dần theo, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Ở Việt Nam, số lượng người lao động ngoài trời rất đông đảo. Việc nắng nóng kéo dài sẽ khiến họ phải làm chậm hơn, chọn thời gian làm việc để tránh nắng. Trước khi nói đến đóng góp cho xã hội, chúng ta sẽ thấy được nỗi lo cho chính gia đình họ khi doanh thu bị giảm đi. Để bảo toàn tính mạng và sức khỏe cơ bản, họ không còn cách nào khác ngoài việc giảm nhịp độ vận động hoặc tạm dừng công việc vào những khung giờ cao điểm từ 11 giờ trưa đến 3 giờ chiều. Sự gián đoạn mang tính bắt buộc này trực tiếp cấu trừ vào quỹ thời gian tạo ra thu nhập của họ. Một ngày làm việc bị thu hẹp hoặc bị chia nhỏ khiến số lượng sản phẩm hoàn thành thấp hơn, quãng đường di chuyển ngắn hơn và số ca kíp giảm đi. Tại các đô thị, phần lớn nhóm lao động không có lương cứng, không có bảo hiểm y tế hay bất kỳ khoản phụ cấp nào. Thu nhập của họ được tính theo ngày hoặc theo sản phẩm cụ thể. Khi doanh thu sụt giảm do thời tiết, tác động lập tức chuyển hóa thành những mối lo trong gia đình: chi phí tiền điện tăng cao do nhu cầu làm mát tối thiểu, tiền thuê trọ, chi phí ăn uống và học phí của con cái. "Chi phí khí hậu" lúc này không còn là một khái niệm học thuật mà trở thành gánh nặng tài chính đè nặng lên bữa cơm mỗi ngày của những hộ gia đình nghèo.

“Báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ước tính đến năm 2030, thế giới mất lượng giờ lao động tương đương 80 triệu việc làm toàn thời gian mỗi năm do căng thẳng nhiệt (stress nhiệt), đặc biệt ở những ngành nghề đòi hỏi hoạt động thể chất như xây dựng, nông nghiệp, vận tải và sản xuất công nghiệp” (Tạp chí Ánh Sáng). Căng thẳng nhiệt đang gây ra rất nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Hệ lụy của stress nhiệt không dừng lại ở việc suy giảm năng suất tức thời mà còn gây ra những tổn thương mãn tính cho sức khỏe lực lượng lao động. Việc mất đi lượng giờ lao động tương đương 80 triệu việc làm toàn thời gian vào năm 2030 là một tổn thất kinh tế khổng lồ, làm suy giảm nghiêm trọng chỉ số phát triển con người (HDI) và trực tiếp kéo lùi nỗ lực xóa đói giảm nghèo tại các quốc gia đang phát triển, nơi cơ cấu kinh tế vẫn phụ thuộc nặng nề vào các ngành lao động ngoài trời.

Sự bất bình đẳng nhiệt đôi khi không thể nhìn thấy trong các số liệu, đó chỉ là sự hoang mang của chúng ta khi nhìn thấy cảnh những người lao động phải làm việc nhiều giờ liên tục trong thời tiết nắng nóng này. Hãy thông cảm với họ, hãy đồng hành cùng họ trên hành trình đó, trao cho họ nụ cười, chai nước và sự động viên. Các chỉ số thống kê vĩ mô thường chỉ ghi nhận mức tăng trưởng kinh tế hoặc sản lượng chung, nhưng không thể đo lường chính xác mức độ kiệt sức, sự lo âu và những tổn hại vô hình mà người lao động phải chịu đựng khi phải bán sức lao động trong điều kiện khắc nghiệt. Sự hoang mang xã hội xuất hiện khi chúng ta nhận ra rằng khoảng cách về chất lượng môi trường sống và làm việc giữa các giai tầng đang ngày càng nới rộng bởi yếu tố nhiệt độ. Trước thực tế đó, hành động của cộng đồng đóng vai trò giảm thiểu sự căng thẳng này. Sự thông cảm không nên dừng lại ở mức độ cảm xúc thụ động, mà cần được chuyển hóa thành sự đồng hành cụ thể nhằm giảm bớt áp lực của "chi phí khí hậu" lên vai những người lao động.

Tôi nhìn thấy đâu đó trong bóng dáng những người lao động dưới trời nắng nóng ấy chính là hình ảnh cha mẹ mình. Từ đó, tôi thấy yêu thương những người lao động nhiều hơn.
Thêm
68
0
0
Viết trả lời...
Thức dậy từ 7 giờ sáng, ăn bữa điểm tâm vội vàng rồi chen lấn trong biển người lao động để đến chỗ làm đã khiến rất nhiều người cảm thấy chán nản và mệt mỏi, đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Đó là lý do mà rất nhiều đã lựa chọn mức lương thấp hơn để được làm việc từ xa tại nhà, xử lý công việc thông qua điện thoại và máy tính. Hình thức làm việc này dần trở nên phổ biến, giúp người lao động không cần bon chen trong biển người ùn tắc, không phải tiếp xúc nhiều với khói bụi, hạn chế ô nhiễm môi trường. Đặc biệt hơn, hình thức làm việc này cũng làm đổi chiều những định kiến về giới. Thay vì người đàn ông phải ra ngoài làm trụ cột gia đình với nhiều công việc nặng nhọc và phụ nữ bị yêu cầu trở thành nội trợ với hàng ngàn công việc không tên như chăm con, dọn dẹp nhà cửa thì xã hội giờ đây cho phép đàn ông được ở nhà chăm sóc con cái, và phụ nữ lại được đảm nhận những công việc lớn trong hệ thống chính trị, chuyên môn.

Hình thức làm việc nhà từ xa đang thay đổi cách con người làm việc. Nó chứng minh được sự phát triển của công nghệ trong việc giúp con người thay đổi cuộc sống, từ bỏ những thói quen làm việc truyền thống. "Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng người lao động sẵn sàng hạ khoảng 4% đến 10% thu nhập của mình chỉ để có cơ hội được làm việc từ xa," TS Natalia Emanuel, cho biết. Sự chuyển dịch này không đơn thuần là một giải pháp mang tính nhất thời, mà là một sự thay đổi toàn diện trong phương thức vận hành của lực lượng lao động hiện đại. Bản chất của sự thay đổi nằm ở việc giải phóng con người khỏi những ràng buộc về không gian và thời gian mang tính cơ học của kỷ nguyên công nghiệp cũ. Khi dòng chảy thông tin được số hóa toàn diện, khái niệm văn phòng đã không còn bị giới hạn bởi bốn bức tường bê tông. Khoản khấu trừ thu nhập này thực chất được hoán đổi cho những giá trị vô hình nhưng có tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống: chi phí cơ hội của thời gian di chuyển trên đường, chi phí nhiên liệu, hao mòn phương tiện, trang phục công sở, và quan trọng nhất là sự tái tạo sức lao động trong một môi trường chủ động. Sự sẵn sàng đánh đổi về mặt tài chính này minh chứng rằng mô hình phúc lợi của người lao động đã thay đổi định hướng, nơi sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống được đặt lên bàn cân với giá trị kinh tế trực tiếp.

Làm việc ở nhà từ xa cũng tiềm ẩn trong đó rất nhiều nguy cơ về sự ngăn cách xã hội, rối loạn lo âu, thiếu sự kết nối với đồng nghiệp và bạn bè. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tư duy, suy nghĩ và đời sống tinh thần của con người. Dù mang lại nhiều lợi ích về môi trường và sự linh hoạt trong không gian làm việc, mô hình làm việc từ xa lại bộc lộ những góc tối đáng ngại về mặt tâm lý xã hội. Con người, về mặt bản chất sinh học và xã hội, là một sinh vật có nhu cầu giao tiếp trực tiếp sâu sắc. Môi trường công sở truyền thống không chỉ là nơi thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, mà còn đóng vai trò là một không gian xã hội thu nhỏ, nơi diễn ra các tương tác, các mối quan hệ đồng nghiệp, và sự chia sẻ cảm xúc trực tiếp. Khi xóa bỏ hoàn toàn không gian này và thay thế bằng các giao diện màn hình phẳng, con người sẽ rơi vào trạng thái cô lập xã hội. Người lao động làm việc từ xa bắt đầu trải qua cảm giác lạc lõng, mất kết nối với tổ chức và cộng đồng. Tư duy của cá nhân bị thu hẹp trong không gian của ngôi nhà, thiếu đi những kích thích từ môi trường bên ngoài để đổi mới nhận thức. Đời sống tinh thần thiếu hụt các yếu tố chia sẻ trực tiếp dễ dẫn đến sự suy giảm khả năng thấu cảm, tăng mức độ áp lực đối với các công việc, và là nguy cơ cho các hội chứng rối loạn lo âu kéo dài.

Tuy nhiên, làm việc từ xa cũng là cách để giảm thiểu những nguy cơ về ô nhiễm môi trường, ô nhiễm khói bụi và tiếng ồn. Giống như trong đại dịch COVID 19, bên cạnh những nỗi lo và nỗi đau đớn về tỷ lệ người mắc bệnh, chúng ta được chứng kiến một môi trường sống trong sạch, không khói bụi và an toàn với người tham gia giao thông. Tác động tích cực của xu hướng này đối với hạ tầng và sinh thái đô thị là một thực tế không thể phủ nhận. Tại các siêu đô thị có mật độ dân cư đậm đặc như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, áp lực giao thông vào các khung giờ cao điểm luôn là bài toán nan giải của các nhà quản lý giao thông đô thị. Việc chuyển đổi một bộ phận lớn lao động khối văn phòng sang hình thức làm việc tại nhà đã trực tiếp cắt giảm lưu lượng phương tiện cá nhân lưu thông trên đường phố. Khi số lượng xe máy và ô tô giảm xuống, lượng khí thải cũng sụt giảm theo. Việc tái hiện lại một phần trạng thái sinh thái lành mạnh đó thông qua cơ chế làm việc từ xa tự nguyện là một giải pháp bền vững, không đòi hỏi các biện pháp hành chính cưỡng chế. Sự thay đổi về không gian làm việc này đồng thời tác động sâu sắc đến cấu trúc gia đình và thúc đẩy tiến trình bình đẳng giới một cách tự nhiên. Sự thay đổi này đã tái định nghĩa vai trò của người cha trong gia đình: không chỉ là trụ cột gia đình mà còn trực tiếp tham gia vào giáo dục.

“Sử dụng thang đo chuẩn hóa Kessler (K-6) để đánh giá mức độ suy nhược tâm lý, nghiên cứu phát hiện các triệu chứng lo âu, bồn chồn, tuyệt vọng v.v. ở nhóm có thể làm việc từ xa đang tăng” (Tạp chí Ánh Sáng). Khi không có một ranh giới vật lý rõ ràng giữa văn phòng và nhà ở, thời gian làm việc có xu hướng xâm lấn toàn bộ thời gian sinh hoạt cá nhân. Người lao động rơi vào trạng thái kiệt sức kỹ thuật số khi họ vừa phải xử lý công việc chuyên môn vừa phải gánh vác trách nhiệm gia đình cùng một lúc trong cùng một không gian. Sự dồn nén này, nếu không có các biện pháp can thiệp tâm lý kịp thời, sẽ dẫn đến những tổn thương sâu sắc đến cấu trúc nhân cách và sức khỏe tinh thần dài hạn của người lao động.

Mô hình làm việc hỗn hợp nổi lên như một phương cách làm việc mới, cho phép người lao động phân chia thời gian linh hoạt: làm việc tại nhà để tối ưu hóa năng suất cá nhân, giảm áp lực giao thông và khói bụi đô thị; đồng thời duy trì từ 2 đến 3 ngày có mặt tại văn phòng để thực hiện các phiên thảo luận trực tiếp, duy trì các kết nối xã hội và tái tạo cảm giác thuộc về một tổ chức. Bản thân mỗi cá nhân khi lựa chọn hình thức làm việc từ xa cũng cần thiết lập các kỷ luật nghiêm ngặt về không gian và thời gian: phân định rõ góc làm việc tách biệt với không gian ngủ nghỉ, đặt ra giờ tắt máy hoàn toàn để bảo vệ hệ thần kinh khỏi trạng thái quá tải, và chủ động tham gia vào các hoạt động cộng đồng trực tiếp ngoài giờ làm việc. Công nghệ sinh ra để phục vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, và chỉ khi chúng ta làm chủ được cấu trúc vận hành của nó, những tiến bộ ấy mới thực sự mang lại sự thịnh vượng toàn diện cả về mặt kinh tế, sinh thái lẫn đời sống tinh thần.
Thêm
51
0
0
Viết trả lời...
Một gia đình gửi con trai 17 tuổi vào trung tâm công tác xã hội với hy vọng nhận lại đứa trẻ ngoan. Nhưng chỉ sau hai ngày nhập học, đứa trẻ bị hành hung đến chết. Đáng đau đớn hơn chính là những lời cậu bé để lại cho bố mình: “Con lớn rồi, con có phá phách gì đâu. Cho con vào trung tâm xã hội Hải Hà, con cũng chịu bố. Con không hiểu vì sao? Con không hiểu, con có phá phách đâu". Vậy là một đứa trẻ đã ra đi trước khi nó kịp hiểu vì sao mình chết, trước khi nhận được câu trả lời và lời xin lỗi của cha. Người cha ấy, đã vĩnh viễn chẳng thể nhìn thấy con mình lần cuối, và có lẽ ông sẽ ân hận cả đời khi để con mình phải chịu đau đớn vào những năm tháng đẹp đẽ nhất ấy. Tôi tự hỏi mình rằng, đến bao giờ thì sự nổi loạn, khát khao được lên tiếng và những sự thay đổi tâm sinh lý rất đỗi bình thường ở tuổi vị thành niên mới thôi bị xem là “hư” và còn bao nhiêu trung tâm xã hội như thế hoạt động, với kẻ "vừa đi tù về, được đưa vào đó làm nhân viên"?

Xã hội phương Đông ép các gia đình và những đứa trẻ sống theo bổn phận. Bởi vậy, chúng phải cố để tỏ ra ngoan ngoãn, để được “mẹ thương”, để nhận được phần thưởng và không bị chịu sự trừng phạt. Thói quen giáo dục đó đã biến những đứa trẻ trở thành con thỏ, đứng giữa hai lựa chọn roi gậy hay cà rốt. Nếu ngoan chúng sẽ nhận được cà rốt như một phần thưởng. Và nếu không ngoan thì dĩ nhiên chúng sẽ phải nhận hình phạt. Điều này gây ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ và khả năng phản ứng của đứa trẻ. Hệ tư tưởng phương Đông truyền thống đã thiết lập một hệ sinh thái gia đình vận hành chặt chẽ dựa quyền lực và bổn phận. Trong cấu trúc này, đứa trẻ không được nhìn nhận như một thực thể tâm lý độc lập, mà là một đối tượng cần được uốn nắn, rèn giũa để tương thích với các chuẩn mực đạo đức cốt mẫu mang tính tập thể. "Ngoan" trở thành một phương cách sống bắt buộc mà người lớn cài đặt lên con cái. Để đạt được trạng thái an toàn trong hệ sinh thái đó, để được “mẹ thương” hay tránh khỏi những cái nhìn nghiêm khắc của người cha, những đứa trẻ buộc phải triệt tiêu bản sắc cá nhân, giấu đi những thắc mắc, hoài nghi và khoác lên mình lớp vỏ bọc ngoan hiền giả tạo. Thói quen tư duy này kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác, biến những tính cách có xu hướng khác biệt đều bị coi là lỗi và cần phải sửa chữa bằng mọi giá.

Sự nổi loạn của đứa trẻ là khát khao được nói với bố mẹ về điều chúng muốn là, muốn được công nhận và thể hiện. Người lớn cần nhìn nhận sự nổi loạn này như một phản ứng bình thường của tuổi dậy thì thay vì gửi con vào những trung tâm xã hội với mục đích để con “ngoan” hơn. Cơ chế giáo dục nhị nguyên dựa trên mô hình "roi gậy và cà rốt" đã giản lược toàn bộ thế giới tinh thần phức tạp của đứa trẻ thành những phản xạ có điều kiện đơn giản. Người lớn sử dụng phần thưởng vật chất hoặc sự tán thưởng tình cảm (cà rốt) để khuyến khích sự phục tùng, và dùng bạo lực thể xác hoặc bạo lực tinh thần (roi gậy) để trấn áp những biểu hiện lệch chuẩn. Lối hành vi này vô tình biến những đứa trẻ thành những sinh vật thụ động, luôn vận hành trong trạng thái sợ hãi hình phạt hoặc thèm khát phần thưởng. Theo các nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sự mất cân bằng sinh học kết hợp với sự bùng nổ của các hormone giới tính, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những hành vi nhạy cảm, bốc đồng và có xu hướng thách thức các quy định sẵn có ở trẻ. Do đó, sự nổi loạn không phải là một biểu hiện cúa sự hư hỏng. Đó là sự thay đổi mang tính lứa tuổi, thể hiện khát khao thiết lập ranh giới cá nhân, nhu cầu được công nhận như một người trưởng thành và khát vọng cất lên tiếng nói độc lập của đứa trẻ trước cha mẹ. Sự thiếu minh bạch và buông lỏng quản lý của các cơ quan chức năng đối với các trung tâm này đã tạo điều kiện cho những kẻ không có chuyên môn sư phạm, thậm chí có tiền án tiền sự về bạo lực, đứng ra quản lý và hành hung trẻ em dưới danh nghĩa kỷ luật thép.

Vấn đề này xảy ra phần lớn là do con cái và cha mẹ chưa có sự thấu hiểu, kết nối và lắng nghe nhau. Con cái chưa cũng cấp cho cha mẹ đủ thông tin để cha mẹ nắm bắt được tâm sinh lý lứa tuổi, về những dự định của con, về những điều con muốn. Cha mẹ chưa đủ bình tĩnh để lắng nghe con, để chấp nhận sự khác biệt thế hệ. Bản chất của các cuộc khủng hoảng gia đình dẫn đến những kết cục đau lòng thường bắt nguồn từ một sự đứt gãy trong kênh giao tiếp giữa hai thế hệ. Sự phát triển với tốc độ chóng mặt của công nghệ và các hình thái văn hóa mới đã tạo ra một khoảng cách tư duy rất lớn giữa cha mẹ và con cái. Người lớn, với những trải nghiệm sống thuộc về một thời kỳ kinh tế - xã hội khác, thường có xu hướng áp đặt những kinh nghiệm cũ kỹ lên một thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên trong kỷ nguyên số. Sự thiếu hụt về mặt kỹ năng đối thoại bình đẳng làm cho ngôi nhà không còn là nơi an toàn để sẻ chia. Về phía con cái, do áp lực tâm lý của lứa tuổi và nỗi sợ bị phán xét, các em thường lựa chọn cách khép kín thế giới nội tâm, không chủ động cung cấp cho cha mẹ những thông tin phản ánh đúng tình trạng tâm sinh lý, những áp lực học đường hay những dự định cá nhân. Sự im lặng này khiến cha mẹ hoang mang, mất phương hướng và dễ rơi vào trạng thái nghi ngờ, không tin tưởng chính con mình. Khi sự xung đột không thể giải quyết bằng đối thoại, người lớn sẽ đưa ra những quyết định sai lầm mang tính cưỡng bức, để lại những tàn dư đau thương không thể cứu vãn.

Để những câu chuyện đau thương không xảy ra và không còn bất cứ đứa trẻ nào phải ra đi trong oán hận và sự hoang mang, cần có sự đồng hành của chính cha mẹ và cộng đồng. Gia đình phải là tầng bảo vệ cốt lõi đầu tiên. heo số liệu thống kê từ Cục Trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 mỗi năm tiếp nhận hàng trăm nghìn cuộc gọi, trong đó có hàng nghìn ca can thiệp khẩn cấp liên quan đến bạo lực gia đình và bạo lực tại các cơ sở nuôi dưỡng. Tuy nhiên, số các cuộc gọi đa phần đến từ trẻ em từ 11 đến 18 tuổi, vậy câu hỏi đặt ra là trẻ em dưới 11 tuổi có biết cách gọi tổng đài để cầu cứu không? Cộng đồng dân cư cần từ bỏ tư duy bàng quan, coi việc bạo hành hay áp đặt trẻ em là "chuyện nội bộ nhà người ta". Khi đứa trẻ được xã hội và gia đình thừa nhận quyền tự chủ tinh thần, các em mới có cơ hội học cách nương tựa vào chính mình một cách tỉnh táo và vững vàng nhất.

Khi được tôn trọng, tuổi vị thành niên sẽ không còn là một giai đoạn "nổi loạn phá phách" trong mắt người lớn, mà sẽ là những năm tháng rực rỡ nhất của sự khám phá, sáng tạo và định hình bản sắc cá nhân.
Thêm
54
0
0
Viết trả lời...
Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em quy định rõ những chế định đặt ra yêu cầu bảo vệ trẻ khỏi xâm hại, đồng thời ghi nhận quyền được lắng nghe, được tiếp cận thông tin và được bày tỏ ý kiến của các em. Công ước này đã trả các em về với đúng lứa tuổi của mình, được cất lên tiếng nói của mình và được bảo vệ khỏi sự xâm hại từ bên ngoài. Tuy nhiên, nếu như nó bảo vệ các em khỏi những cơ chế cấm cản các em cất lên tiếng nói, liệu nó có đồng nghĩa với việc phải xử phạt thật nặng những người cha người mẹ cấm con mình được tiếp cận với thông tin và lên tiếng tự bảo vệ không? Những câu chuyện đau lòng về những đứa trẻ bị bạo hành đến chết ngay trong chính căn nhà mình, bởi chính bố mẹ mình đã trở thành điều quá quen thuộc. Phần lớn những vụ việc này xảy ra không phải do nhất thời mà thường là xung đột kéo dài, hành hạ các em trong suốt một thời gian mà không có ai lắng nghe và bảo vệ. Tôi tự hỏi, khi nào thì các em mới được bảo vệ toàn diện khỏi sự kiểm soát chuyên quyền của cha mẹ và cất tiếng bảo vệ chính mình?

Những câu chuyện đau lòng về bạo hành trẻ em vẫn ngày ngày được đăng tin. Hay đau đớn hơn, ở các vùng miền núi, các bố mẹ thường bắt con cái nghỉ học đứng ở đầu đường, chờ khách du lịch đến sẽ xin họ tiền. Và số tiền họ xin được sẽ bị sử dụng để mua rượu, bỏ mặc con cái nghèo đói, lang thang đầu đường xó chợ. Cũng có thể đơn giản hơn, những câu chuyện ấy diễn ra khi bố mẹ quản lý con cái đến mức nghẹt thở mà không cho con mình quyền được lên tiếng để thể hiện quan điểm. Sự ngây thơ của các em bị chính những người sinh thành biến thành thứ công cụ trục lợi, thành phương tiện để thỏa mãn những cơn nghiện rượu. Các em bị bỏ mặc trong sự đói rách, lang thang bên lề đường mà không hề biết rằng mình có quyền được bảo vệ, quyền được nương tựa vào một mái ấm thực sự.

Những cơ chế bảo vệ của xã hội đang dần thay đổi cách bố mẹ định nghĩa về quyền năng của mình trong việc quản lý con cái, nó cũng đồng thời nâng cao tầm hiểu biết của trẻ em trong việc bảo vệ chính mình. Sự tiến bộ của khung pháp lý quốc tế và quốc gia dần phá vỡ các cấu trúc tư tưởng phong kiến, gia trưởng vốn bám rễ sâu trong tâm thức của các thế hệ đi trước. Cha mẹ thời đại mới không thể tiếp tục duy trì thứ quyền lực tuyệt đối, coi con cái như một thứ tài sản thuộc quyền sở hữu vô điều kiện của mình. Luật pháp và các tổ chức xã hội dân sự đã thiết lập những lằn ranh đỏ không thể xâm phạm, buộc người lớn phải nhìn nhận đứa trẻ như một công dân độc lập. Sự can thiệp này đã buộc các bậc phụ huynh phải thay đổi phương thức giáo dục, chuyển từ áp đặt, cưỡng chế sang đối thoại và lắng nghe. Quyền năng của cha mẹ giờ đây không nằm ở việc kiểm soát hành vi một cách cực đoan, mà nằm ở năng lực định hướng và bảo trợ cho sự phát triển tự nhiên của con cái.

Quản lý không có nghĩa là cai trị, và tình yêu thương không đồng nghĩa với quyền sở hữu. Khi xã hội siết chặt các quy định pháp lý, những hành vi bạo lực hay áp đặt tinh thần thô bạo không còn được dung thứ dưới danh nghĩa "dạy con theo truyền thống". Cha mẹ buộc phải học cách lắng nghe những ý kiến khác biệt từ con cái.

Bảo vệ trẻ em không phải chuyện của riêng một gia đình. Những vụ bạo hành vẫn thường xuyên diễn ra trong cộng đồng dân cư nhưng không ai để ý chỉ vì nghĩ rằng “đó là chuyện nhà người ta”. Và hậu quả là rất nhiều đứa trẻ đã chết một cách đau đớn, khi mà các em không có ai để bảo vệ và cũng chẳng thể tự phản kháng. Hậu quả của sự thờ ơ ấy là những cái chết đau đớn của những đứa trẻ mà chỉ được xã hội biết đến khi mọi chuyện đã quá muộn màng. Ở lứa tuổi mà cơ thể và tâm lý còn quá non nớt, các em hoàn toàn không có khả năng tự vệ chống lại người lớn, và cũng chưa đủ nhận thức để tìm đường trốn chạy. Khi cộng đồng quay lưng, các em bị cô lập hoàn toàn trong chính không gian đáng ra phải an toàn nhất. Một đứa trẻ bị hành hạ trong suốt một thời gian dài mà không có một ai lắng nghe, không có sự che chở, sẽ rơi vào trạng thái tuyệt vọng. Bảo vệ trẻ em, do đó, phải được nhìn nhận là một nghĩa vụ mang tính sống còn của toàn xã hội, đòi hỏi sự thức tỉnh đạo đức và sự giám sát chặt chẽ của từng thành viên trong cộng đồng dân cư.

Con cái không phải toàn quyền sở hữu của cha mẹ. Cha mẹ chỉ có quyền một phần trong việc nuôi dạy và bảo vệ con. Trong các xã hội phương Đông, rất nhiều gia đình đã thay đổi cách sống cùng con, chỉ giữ vai trò như một người đồng hành để con mạnh mẽ hơn trước những sự xâm hại bên ngoài. Quyền năng của phụ huynh chỉ là một thứ quyền hạn có điều kiện, gắn liền với nghĩa vụ bảo trợ, chăm sóc và giáo dục đứa trẻ. Việc phân định rõ ranh giới của quyền làm cha mẹ giúp ngăn chặn xu hướng độc đoán và chuyên quyền trong giáo dục gia đình. Cha mẹ thông thái là người biết lùi lại phía sau để đứa trẻ tự thắp lên ngọn đuốc của cuộc đời mình.

Vai trò đồng hành này đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng hệ thống tâm lý vững chắc cho trẻ trước những biến động của kỷ nguyên số và sự bùng nổ thông tin. Thay vì cấm đoán một cách thô bạo, cha mẹ đồng hành sẽ cùng con phân tích thông tin, trang bị cho con bộ lọc tư duy phản biện để con không bị dẫn dắt bởi các trào lưu độc hại hay các thuật toán máy móc. Khi đứa trẻ cảm nhận được sự bảo bọc mang tính hỗ trợ ấy, em sẽ không có nhu cầu trốn chạy vào những thế giới ảo tưởng, mà tự tin đối diện với thực tại trần trụi bằng một tâm thế chủ động, độc lập.

Để trẻ em giữ được sự hồn nhiên của chúng, cộng đồng và các gia đình cần phát huy tối đa vai trò của mình. Xã hội tiến bộ không thể được xây dựng bằng cách dùng pháp lý để giải quyết bạo lực gia đình. Hãy trả các em về đúng với sự hồn nhiên của độ tuổi mình.
Thêm
50
0
0
Viết trả lời...
Xã hội tiến bộ đang ngày càng mở ra những cơ hội để chúng ta tồn tại như một cộng đồng bình đẳng, không phan biệt giới tính, sắc tộc, đất nước, vùng lãnh thổ,.. Các chính quyền đã cho phép người phụ nữ được nhận các quyền bình đẳng như đàn ông về mức lương, các quyền chăm sóc sức khỏe và quyền được đi học. Họ cũng nhận được sự bảo vệ về quyền sinh nở, quyền chăm sóc con cái, quyền được lên tiếng và bảo vệ chính mình. Rất nhiều người phụ nữ đã xuất hiện như những bông hồng thép truyền cảm hứng đến cộng đồng trong việc đứng lên bảo vệ quyền của phụ nữ. Họ là những nhà nữ quyền, những người đã đấu tranh không ngừng nghỉ để phụ nữ được tồn tại bình đẳng. Tuy nhiên, song song với sự bình đẳng ngày càng được hoàn thiện đó, chúng ta phải đối mặt với tình trạng “khủng hoảng cô đơn ở nam giới” khi phải gánh vác những trách nhiệm nặng nề, thậm chí bị so sánh với phụ nữ trong nhiều lĩnh vực. Bởi vậy, trong bài báo “Đàn ông phải thế” đăng trên báo VnExpress, nhà báo Nguyễn Trần Minh Luận đã bày tỏ: “Xã hội tiến bộ không chỉ cho phép phụ nữ quyền bước ra khỏi khuôn mẫu cũ, mà còn mở cho đàn ông những không gian riêng, để không phải sống cả đời chỉ như một cỗ máy gánh vác”.

Xã hội đang mở cửa cho quyền của phụ nữ. Họ được xã hội bảo trợ rất nhiều quyền về chăm sóc sức khỏe, quyền sinh nở, tự do ngôn luận, bầu cử và nhận được đãi ngộ tương xứng với những gì họ đã đóng góp. Điều này tạo nên chủ nghĩa “nữ quyền” cho phép người phụ nữ được khẳng định vẻ đẹp và phẩm giá cá nhân của họ. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa nữ quyền trong kỷ nguyên hiện đại không thuần túy là một cuộc cách mạng mang tính chính trị, mà sâu sắc hơn, đó là một cuộc tái định hình cấu trúc nhân văn của toàn nhân loại. Nhìn lại lịch sử, người phụ nữ từng bị giam cầm trong những gian bếp chật hẹp, bị tước đoạt căn cước xã hội và phải tồn tại dưới chế độ phụ quyền bên lề lịch sử. Giờ đây, tiến trình văn minh đã trả lại cho họ vị thế xứng đáng. Hệ thống pháp luật tiến bộ và các định chế quốc tế đã cho phép người phụ nữ nhận được những nhân quyền cơ bản, từ quyền kiểm soát cơ thể, quyền sinh nở an toàn cho đến việc thụ hưởng một mức lương tương xứng với năng lực lao động trên thương trường. Bản chất của làn sóng nữ quyền đương đại không phải là sự đảo dịch trật tự để tạo ra một thế độc quyền mới, mà là việc trả lại sự công bằng căn bản: nơi người phụ nữ được lắng nghe, được bầu cử, và được quyền định đoạt số phận của chính mình.

Khi những đường biên định kiến bị xóa nhòa, phái nữ không còn phải vay mượn bất kỳ thước đo nào từ nam giới để định nghĩa giá trị bản thân. Họ tự tại tỏa sáng bằng trí tuệ, bằng sự can trường và bằng chính bản sắc của mình. Những bông hồng thép xuất hiện trên khắp các nghị trường quốc tế, trong các phòng thí nghiệm khoa học hay trên cương vị điều hành các tập đoàn đa quốc gia đã minh chứng rằng phẩm giá con người không có giới hạn. Quyền của phụ nữ khi được xã hội bảo trợ toàn diện đã trở thành một xung lực mạnh mẽ, giải phóng nguồn năng lượng sáng tạo khổng lồ vốn bị kìm nén suốt hàng thế kỷ, làm giàu thêm kho tàng văn minh của nhân loại.

Tuy nhiên, song song với những thành tựu đó, chúng ta phải chứng kiến những mối lo của đàn ông khi lien tục bị so sánh, đòi hỏi phải khẳng định mình, phải có “một vợ, hai con, ba lầu, bốn bánh”. Những đòi hỏi này xuất phát từ “gender stereotype” (những định kiến về giới) liên tục áp đặt lên người đàn ông, quy định cách họ trông như thế nào, cách họ ăn mặc, nói chuyện và hành động. Trong khi thế giới đang đổ dồn mọi tâm sức để tháo cởi xiềng xích cho phái nữ, thì dường như một chiếc lồng vô hình khác lại đang áp đặt lên người đàn ông. Người đàn ông thời đại mới không chỉ phải mạnh mẽ, không được khóc, không được biểu lộ sự yếu đuối mà còn phải đáp ứng những tiêu chuẩn định lượng của xã hội hiện đại.

Hậu quả là tình trạng “khủng hoảng cô đơn ở nam giới” tăng cao, không chỉ ở các quốc gia phương Đông chịu nhiều định kiến mà còn là các quốc gia hiện đại trên thế giới. Họ không có một không gian an toàn để sẻ chia, không có một bờ vai để tựa vào khi chênh vênh, bởi lẽ việc bộc lộ sự bất lực đồng nghĩa với một thất bại về mặt giới tính. Đáng báo động hơn, ngay cả tại các quốc gia phương Tây hiện đại, nơi những tưởng quyền tự do cá nhân được tôn sung, tỷ lệ nam giới rơi vào trầm cảm và tự sát vẫn không ngừng gia tăng. Sự sụp đổ của các mạng lưới kết nối truyền thống cùng với áp lực của sự đào thải trong nền kinh tế số đã đẩy người đàn ông vào thế cô độc cực hạn. Họ cô đơn ngay trong chính ngôi nhà của mình, cô đơn giữa những kỳ vọng quá tải của người thân.

“Xã hội tiến bộ không chỉ cho phép phụ nữ quyền bước ra khỏi khuôn mẫu cũ, mà còn mở cho đàn ông những không gian riêng, để không phải sống cả đời chỉ như một cỗ máy gánh vác”. Một xã hội được coi là thực sự văn minh và tiến bộ không bao giờ là một xã hội vận hành bằng cách chuyển dịch áp bức từ giới này sang giới khác, hay lấy sự giải phóng của người phụ nữ làm cái giá phải trả cho sự giam cầm của người đàn ông. Bình đẳng giới chân chính phải là một tiến trình song hành, giải phóng cả hai nửa của nhân loại ra khỏi những khuôn mẫu định kiến đã lỗi thời. Mở ra cho đàn ông những không gian riêng nghĩa là xã hội cần phải kiến tạo một môi trường văn hóa bao dung hơn, nơi năng lực của một người nam không bị định giá duy nhất bởi tài sản, và nơi sự nhạy cảm, lòng trắc ẩn của họ được tôn trọng. Việc trả lại không gian riêng cho nam giới chính là cứu cánh để họ tìm lại sự cân bằng trong tâm hồn, thoát khỏi sự cô đơn độc hại và sống một cuộc đời trọn vẹn, tự tại.
Thêm
54
0
0
Viết trả lời...