Mạng xã hội Văn học trẻ

nương tựa chính mình

là tự do vĩnh cửu

tự thắp đuốc mình soi lối

bước chân mình đặt đúng chỗ, hãy đi

(Nguyễn Thánh Ngã, trích “Trước Hy Mã Lạp sơn”)

Trên chuyến tàu cuộc đời, chúng ta là những hành khách vô tình mà bước lên chuyến tàu ấy. Giữa đám đông xa lạ đơn sắc, chúng ta phải học cách để dựa vào chính mình. Đúng như Nguyễn Thánh Ngã viết, “nương tựa chính mình là tự do vĩnh cửu”. Ở đó, ta bỏ ngoài tai những định kiến, những đè nén, những miệt thị bắt chúng ta phải sống trong những bổn phận để được là chính mình, tự tại, rực rỡ và tự do. Đó là lúc tôi suy nghĩ về việc nương tựa vào chính mình trên hành trình sống của mỗi người.

Nương tựa vào chính mình có nghĩa là tự lập, tự chủ, tin tưởng vào khả năng của bản thân mà không cần phụ thuộc vào sự giúp đỡ của người khác. Nương tựa vào chính mình có nghĩa là ta dựa vào mình khi thấy chênh vênh, ta dùng sức mình để vượt qua khỏi những thách thức, ta lấy khả năng của bản thân để đem lại những đóng góp tích cực cho xã hội. Điều này là một hành trang cần thiết trên hành trình sống của mỗi người. Sự tự lập không đơn thuần là một kỹ năng sinh tồn, nó là biểu hiện của một tư thế sống đàng hoàng, chủ động. Bản chất của việc nương tựa vào chính mình bắt đầu từ một niềm tin vào nội lực, vào những giá trị nội tại mà bản thân đã tích lũy qua năm tháng. Đó là lúc con người tự hóa thân thành một điểm tựa kiên cố nhất cho chính mình, tự đối thoại, tự xoa dịu những vết thương và tự tìm kiếm lối thoát mà không cần mòn mỏi ngóng trông một bàn tay cứu vớt từ bên ngoài. Hơn thế nữa, một cá nhân biết tự chủ mới là một thực thể có giá trị đối với cộng đồng. Sức mạnh đóng góp cho xã hội phải được kết tinh từ những cá nhân độc lập, những người có thể tự tạo ra giá trị cho mình và từ đó lan tỏa, sẻ chia và làm giàu đẹp thêm cho cuộc đời chung.

Việc nương tựa vào chính mình ngày càng cần thiết hơn khi nó được đặt trong xã hội hôm nay. Xã hội hôm nay là một cuộc chiến sinh tồn nơi chúng ta phải đấu tranh để giành lấy quyền được sống và quyền được khẳng định bản thân mình. Do đó, nương tựa vào mình là điều cần thiết để ta xây dựng sự bản lĩnh cá nhân. Con người là một động vật xã hội có xu hướng thích bị dẫn dắt. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, họ cần có khả năng nương tựa vào chính mình để không bị dẫn dắt bởi người khác, đôi khi là máy móc ứng dụng AI. Cuộc cạnh tranh để khẳng định bản sắc cá nhân, để không bị hòa tan vào đám đông đồng hóa đã đẩy con người vào một trạng thái phải luôn nỗ lực tự thân không ngừng nghỉ. Xu hướng tâm lý đám đông, khát khao được thuộc về một hội nhóm nào đó thường khiến con người dễ dàng giao phó quyền quyết định cuộc đời mình cho các thế lực bên ngoài dẫn dắt. Trong một thế giới bị bủa vây bởi các thuật toán thao túng hành vi, các ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI có khả năng thấu hiểu và định hướng thói quen của người dùng còn hơn chính họ hiểu bản thân họ. Nương tựa vào chính mình trong xã hội hiện đại chính là việc giữ cho cái tôi của mình luôn tỉnh táo, không bị thao túng bởi thông tin rác, và không bao giờ để máy móc hay bất kỳ một cá nhân nào khác độc quyền định đoạt số phận của mình.

Việc nương tựa vào chính mình còn cần thiết bởi nó giúp cho cộng đồng của chúng ta trở thành một cộng đồng độc lập, phát triển tự thân, biết dùng sức mình để làm mạnh, làm giàu cho đất nước. Khi tinh thần nương tựa vào chính mình trở thành một triết lý sống, lan tỏa đến từng con người, từng gia đình, nó sẽ tạo nên một lực lượng lao động tự chủ, sáng tạo và đầy nhiệt huyết. Một cộng đồng phát triển tự thân là một cộng đồng biết tự tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề của mình thay vì trông chờ vào các nguồn viện trợ hay các yếu tố may rủi từ bên ngoài. Sức mạnh nội sinh ấy chính là cái gốc vững chắc nhất để một dân tộc tự tin hội nhập quốc tế mà không sợ bị đồng hóa, tự chủ về kinh tế, độc lập về tư tưởng và vững vàng về chính trị. Làm giàu cho đất nước bằng chính trí tuệ, mồ hôi và tài nguyên của bản thân dân tộc mình mới là sự phát triển bền vững và thịnh vượng lâu dài nhất.

Để nương tựa vào mình, chúng ta cần học cách tôn trọng và phát huy những tiềm năng của bản thân, không sử dụng sự giúp đỡ khi chưa cần thiết. Bước đầu tiên và quan trọng nhất là phải có một cái nhìn thấu suốt vào thế giới nội tâm để nhận diện, tôn trọng và đánh thức những năng lực còn đang ngủ yên bên trong. Mỗi người là một kho báu tiềm ẩn với những thế mạnh riêng biệt, nhưng kho báu ấy sẽ mãi mãi bị chôn vùi nếu chúng ta luôn chọn giải pháp an toàn là đi nhờ vả, dựa dẫm vào người khác ngay khi vừa gặp chút khó khăn nhỏ. Việc từ chối sự giúp đỡ dễ dàng khi bản thân chưa nỗ lực hết sức không phải là sự kiêu ngạo, mà là một sự tự trọng cần thiết, là sự mạnh mẽ để nói lời chối từ trước sức cám dỗ. Đó là cách chúng ta ép buộc các giới hạn của bản thân phải mở rộng ra, bắt mình đi qua những thử thách để phát triển mình.

Tuy nhiên, nương tựa vào chính mình sẽ trở thành việc rất khó khăn nếu chúng ta không có một hệ thống tâm lý vững chắc, đủ để bảo vệ chúng ta trước những thử thách của cuộc đời. Sự cô độc đôi khi là cái giá phải trả cho một lối sống độc lập, và đây chính là rào cản tâm lý lớn nhất thử thách lòng kiên trì của con người. Nếu không xây dựng được một hệ thống tâm lý kiên cố, những áp lực từ sự cô đơn, những hoài nghi từ dư luận xã hội và nỗi sợ hãi thất bại sẽ dễ dàng đánh gục chúng ta. Hệ thống tâm lý vững chắc ấy được hình thành từ sự điềm tĩnh trước nghịch cảnh, khả năng tự chữa lành sau những tổn thương và một tư duy tích cực, kiên định. Nó hoạt động như một lớp màng lọc bảo vệ, ngăn chặn những năng lượng tiêu cực từ bên ngoài xâm nhập vào thế giới nội tâm, đồng thời giữ cho ngọn đuốc lý trí luôn được thắp sáng ngay cả trong những đêm tối nhất của cuộc đời.

Hành trình đi tìm tự do vĩnh cửu bằng con người tự thân luôn đòi hỏi một sự thức tỉnh triệt để. Chỉ có ngọn lửa được thắp lên từ chính niềm tin, sự kiên định và tri thức của bản thân mới là thứ ánh sáng vĩnh cửu, soi rõ từng góc tối của cuộc đời, giúp ta nhìn nhận thế giới một cách trung thực và khách quan nhất.
Thêm
131
0
0
Viết trả lời...
Con người, từ trong bản chất, đã luôn phải gắng gượng đối diện với những giới hạn ngăn cản mình đạt đến chân lý. Những giới hạn luôn lộ diện dưới bất kỳ hình thức nào. Trong tiểu luận đăng trên Tạp chí sông Hương, tác giả Thanh Tâm từng đề cập đến hai loại giới hạn: “Câu chuyện này có thể được hình dung từ hai bình diện: chủ quan và khách quan. Những giới hạn khách quan tạo nên bối cảnh mà bất kỳ nhà văn nào cũng buộc phải chấp nhận. Giới hạn này hàm chứa các diễn biến của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, thời đại, lịch sử, văn hóa, chính trị,… Giới hạn chủ quan thuộc về từng tác giả gắn với các điều kiện về sinh thành, học vấn, tư tưởng, tài năng,…”. Đó là những đường biên mà người nghệ sĩ phải đối diện trong hành trình đi tìm bản chất của sự viết. Nhưng bản chất của sáng tạo văn học không chỉ là chấp nhận những vách ngăn mà còn là vượt qua những vách ngăn ấy để dấn than, để cả gan, điên rồ, để văn chương Việt Nam trở thành văn chương của thế giới.

Những giới hạn mà nhà văn luôn phải đối diện xuất phát phần nhiều từ hiện thực, từ những nhu cầu rất đáng chấp nhận của văn chương và độc giả. Những giới hạn đó cho họ đường biên và những thế giới bí mật mà họ không được phép xâm phạm. Đó là hiện thực của tác phẩm. Nhà văn không thể đi ra ngoài cái đời sống thực tại ấy để nói về những điều mà nhân loại chưa biết. Chẳng hạn, văn học giai đoạn 1945 - 1975 của Việt Nam mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đó là một giới hạn mang tính lịch sử bắt buộc khi cả dân tộc đang đặt nhiệm vụ giải phóng lên hàng đầu. Nhà văn thời kỳ đó không thể viết bằng cái tôi cá nhân vị kỷ hay những u uất riêng tư tách rời vận mệnh chung. Đó là một đường biên mang tính định hình, giúp văn chương mang hơi thở của một thời đại hào hùng. Độc giả ở mỗi thời kỳ cũng có một tầm đón nhận riêng, được xây dựng trên nền tảng văn hóa, tri thức và tâm lý xã hội đương thời. Một tác phẩm vượt quá xa tầm đón nhận ấy, cắt đứt hoàn toàn mối dây liên hệ với những trải nghiệm phổ quát của con người, sẽ dễ rơi vào trạng thái cô độc, bất khả thông hiểu.

Nhà văn cần có bản lĩnh vượt qua những giới hạn để tạo nên văn chương lớn, văn chương cho mọi thời và muôn người. Trong buổi hội đàm của Hội nhà văn Việt Nam, để nhìn lại tiến trình 50 năm của văn học Việt sau thống nhất đất nước, Chủ tịch Hội nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã đề cập đến giới hạn lớn nhất của nhà văn là chính họ. Nhà văn Việt có thói quen sống với cái “vòng an toàn vô lý” của mình, không dám sống khác, không dám nói khác đi những gì mình đang thấy. Sự an toàn vô nghĩa đó cùng với cái hiện thực nhạt nhẽo chưa được khai thác chính là lý do chúng ta chưa được thấy một tác phẩm lớn kể từ khi độc lập. Hiện thực đời sống Việt Nam sau năm 1975 vô cùng phong phú, chứa đựng biết bao chuyển biến dữ dội về cả kinh tế, xã hội lẫn tâm lý con người. Đó là sự va đập giữa các hệ giá trị cũ và mới, là nỗi đau của những vết thương hậu chiến chưa lành, là sự tha hóa đạo đức trong cơn lốc thị trường. Hiện thực ấy không nhạt nhẽo, nó chỉ trở nên nhạt nhẽo dưới những ngòi bút thiếu dũng khí. Để có được một "tác phẩm lớn" - thứ văn chương có thể đối thoại với nhân loại, có khả năng tồn tại qua mọi thời gian, không gian, nhà văn buộc phải phá vỡ cái vùng an toàn của mình. Họ phải dám nhìn vào những vùng tối, dám đối diện với những sự thật trần trụi và đau đớn nhất, để từ đó cất lên tiếng nói chân thực, sâu sắc nhất.



“Cất lời cho chúng ta sự táo bạo để sống một cách khác” (Lê Đạt). Chỉ khi dám cất lời để nói về những điều chưa nói, nhà văn mới đủ sức vượt qua những giới hạn đã định của văn chương. Trong văn học, "cất lời" không đơn thuần là việc phát ngôn, mà là một hành vi kiến tạo bản sắc và khai phóng tư duy. Giới hạn của ngôn ngữ chính là giới hạn của tư duy. Sự táo bạo trong cách cất lời chính là việc người viết dám khai phá những vùng mờ của ngôn ngữ, dám phơi bày những ẩn ức thầm kín nhất của con người trong thời đại mình. Chúng ta từng chứng kiến những bước ngoặt vĩ đại của văn học thế giới lẫn Việt Nam đều bắt đầu từ những tiếng nói "cả gan" như thế. Đó là khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trong thời kỳ Đổi mới với những truyện ngắn như “Tướng về hưu”, “Vàng lửa”, đập tan lối viết sử thi một chiều để đưa văn học trở về với hiện thực đa đoan, phức tạp. Đó là khi Bảo Ninh trong “Nỗi buồn chiến tranh” đã dám cất lời nói về góc khuất của người lính sau cuộc chiến — một góc nhìn đầy nhân bản, vượt qua những giới hạn định kiến lúc bấy giờ để chạm đến trái tim của độc giả toàn cầu. Chỉ khi dám cất lời để nói về những điều chưa ai dám nói, hoặc nói theo cách chưa ai từng nói, nhà văn mới có thể giải phóng văn chương khỏi những lối mòn trói buộc, biến hành động viết thành một cuộc cách mạng tư tưởng thực sự.

Văn học cần thiết được sinh ra bởi nó cổ vũ con người sống khác đi, làm mới cuộc sống, thay đổi những nếp thường mòn cũ để sống như những gì họ mơ ước. Văn học chỉ hay khi “chất vấn những lẽ thường”. Đọc là một cách phiêu du vào bên trong một thế giới mới để ở đó, ta thoát khỏi sự hữu hạn của cuộc đời. Văn học xuất hiện như một nghệ thuật phản tỉnh, đặt ra những câu hỏi nghi vấn trước những điều tưởng chừng như hiển nhiên. Nhờ vậy, nó cổ vũ con người rũ bỏ sự đơn điệu, nhàm chán của đời sống thường nhật để vươn tới những giá trị cao đẹp, tự do hơn. Ta có thể cùng đau khổ với nàng Kiều dưới ngòi bút Nguyễn Du, cùng trăn trở về lẽ sống với Hamlet của Shakespeare, hay đắm chìm trong không gian hiện thực huyền ảo của Gabriel García Márquez. Qua sự đồng điệu ấy, người đọc thoát khỏi sự hữu hạn của đời sống vật chất, mở rộng biên độ của tâm hồn, đạt đến sự vô hạn trong thế giới tinh thần.
Thêm
58
0
0
Viết trả lời...
1. Cô gái 16 tuổi ngồi trước mặt tôi phạm tội giết bố và ba đứa em. Cô ta giết bố bằng rìu, khi ông ngủ say. ông bố nằm ngửa, tay vắt lên trán. Cô gái đứng dạng hai chân, nâng rìu lên ngắm nghía, giống như ta lựa thế bổ củi:

– Ban đầu cháu định bổ vào mặt ông ta, nhưng cháu sợ lưỡi rìu trượt theo sống mũi, không chết được. ông ta rất khỏe, đã từng tay không mà bắt được một con trăn lớn…

Cô gái cúi xuống, một tay chống rìu, còn tay kia nhấc tay ông bố đặt sang bên cạnh. – Cháu nhằm vào giữa trán…cháu biết chỗ ấy có xương rất cứng, nên cháu lấy sức để bổ thật mạnh. óc bắn lên tung tóe như bã đậu…

Tôi đứng dậy đi ra ngoài trời. Tôi nhớ lại màn sương mù xám bạc vẫn thấy ở vùng cao, thứ màu xám bạc ủ dột, nó làm thần kinh bải hoải, vô vọng tột cùng”
(“Tội ác và trừng phạt” – Nguyễn Huy Thiệp)

2. “Những đứa trẻ, con của những tội đồ hoặc những người nghèo bị hắt hủi lớn lên trong mặc cảm về nhân cách, sống trong hoàn cảnh hết sức nhọc nhằn, bị bầu không khí ủ ê buồn bã của núi rừng làm mụ mị đi. Ta sẽ bất lực khi áp dụng những kinh nghiệm tâm lý của xã hội văn minh đối với họ. Họ không hiểu “các quan điểm chính trị”(!) của chúng ta, đã đành. Họ cũng không biết cách chế biến món ăn sao cho ngon miệng”
(“Tội ác và trừng phạt” – Nguyễn Huy Thiệp)

3. “Như vậy, sự mông muội tinh thần có cả ở những vùng đất xa xôi lẫn ở thành thị. Tội ác sẽ trở nên hết sức man rợ bởi sự mông muội tinh thần đó. Đã đành những tội ác nảy sinh từ sự mông muội tinh thần, nhưng chúng ta cũng có thể mô tả nó như kết quả của những thèm khát muốn thay đổi, muốn đổi mới hoàn cảnh sống theo xu hướng xấu di.

Những kẻ giết người thật thà nhất không bao giờ lý giải được vì sao chúng lại giết người. “Tôi không hiểu…Tôi cũng không biết vì sao như thế… Có cái gì buộc tôi như thế…”
(“Tội ác và trừng phạt” – Nguyễn Huy Thiệp)


4. “Tổng Cóc không chịu được cái vẻ sạch sẽ gớm ghiếc của người đời. Nó chán chết. Ông thích những gì ào ạt của cuộc sống thực trần tục”
(“Chút thoáng Xuân Hương” – Nguyễn Huy Thiệp)


5. “Đêm đó, Tổng Cóc lần đầu được ngủ với một bà lớn quyền thế nghiêng trời. Cành vàng lá ngọc cũng chẳng khác gì con đỏ”
(“Chút thoáng Xuân Hương” – Nguyễn Huy Thiệp)

-> Hạ thấp quyền thế quan chức như một cách hạ thấp uy thế của đồng tiền. “Cành vàng lá ngọc” nghe thì tưởng uy quyền, cao quý nhưng rồi cũng chỉ thứ nhân phẩm dễ dàng bị gạt đi trước đồng tiền, mà lại còn là tiền để đánh bạc cho một bà quận chúa! Đó là lý do mà Nguyễn Huy Thiệp để cho nhân vật của mình “không chịu được cái vẻ sạch sẽ gớm ghiếc của người đời”. Nó “chán chết”, bởi suy cho cùng nó chỉ là cái vẻ ngoài vô thực.
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...
"Điều này cho thấy những gia đình không trọn vẹn, nơi trẻ em phải sống cùng cha dượng hoặc mẹ kế thiếu tình yêu thương, coi thường pháp luật, ích kỷ, tàn nhẫn, tiềm ẩn nguy cơ rất lớn đối với trẻ nhỏ” (Báo Tuổi trẻ). Đọc lại những bài báo về vụ án bạo hành bé gái 4 tuổi ở Hà Nội mà thủ phạm chính là mẹ ruột và người tình của mẹ, tôi không khỏi thắc mắc cô bé ấy đã trải qua những gì. Đặc biệt là ở cái tuổi mà lẽ ra em phải được yêu thương, chăm sóc ấy, những nỗi đau phải chứng kiến một gia đình không trọn vẹn, phải chịu sự đánh đập, bỏ đói từ chính người mẹ ruột đã kết thúc cuộc sống nhỏ bé của em. Đó là lúc tôi bắt đầu suy nghĩ về giá trị của một gia đình hạnh phúc đối với sự phát triển của những đứa trẻ.

Một gia đình hạnh phúc sẽ trở thành cái nôi nuôi dưỡng các em phát triển có đạo đức, có nhân phẩm, sống đúng với luật pháp. Đó là nơi các em được cha mẹ định hình lối sống và kĩ năng ngay từ buổi ban đầu. Đó cũng là nơi các em được đón nhận tình yêu thương trọn vẹn, tình yêu mà các em không thể tìm thấy trong bất cứ mối quan hệ nào khác. Trong một môi trường tràn ngập sự tôn trọng và thấu hiểu, trẻ em sẽ học được cách thượng tôn pháp luật, biết phân biệt thiện ác, đúng sai.

Một gia đình hạnh phúc sẽ giúp các em không bị “bỏ đói” tình thương. Từ đó, nó xây dựng cho các em tinh thần sống độc lập, không phụ thuộc, không quỵ lụy vào tình cảm của người khác. Gia đình dạy tôi cần sống có giá trị để xứng đáng với phẩm giá của mình, không vì bất kỳ lý do gì mà đạp đổ hình ảnh và nhân phẩm cá nhân. Những đứa trẻ thiếu thốn tình thương thường có xu hướng dễ sa ngã, dễ bấu víu vào bất kỳ sự quan tâm tạm bợ nào ngoài xã hội, dẫn đến những quyết định sai lầm. Ngược lại, nền tảng gia đình vững chãi dạy cho mỗi đứa trẻ hiểu rằng chúng có những phẩm giá riêng cần được bảo vệ và gìn giữ, không được phép đánh mất trong mọi tình huống.Tự trọng và tự lực chính là chiếc khiên bảo vệ đứa trẻ khỏi những tổn thương từ áp lực bên ngoài.

Song song với đó, những gia đình không trọn vẹn vì nhiều lý do lại khiến các em luôn sống trong trạng thái cô đơn, sợ đi vào vết xe đổ của cha mẹ mình. Những tổn thương tâm lý trong tuổi thơ sẽ khiến các em hình thành lối sống sai lệch, và có thể sẽ trở thành phiên bản thứ hai của những nỗi đau. Sự rạn nứt của đấng sinh thành vô tình để lại những khoảng trống trong tâm hồn trẻ thơ. Các em vừa phải tự gánh vác nỗi sợ hãi bị bỏ rơi, vừa phải chứng kiến những mâu thuẫn, bạo lực hoặc sự thờ ơ lạnh nhạt. Những tổn thương tâm lý nghiêm trọng trong tuổi thơ này sẽ khuếch đại thành nỗi bất an kéo dài, khiến các em hình thành lối sống sai lệch, mất niềm tin vào con người và các giá trị đạo đức. Đáng sợ hơn, nếu không được xoa dịu và định hướng kịp thời, những đứa trẻ chịu tổn thương hôm nay có thể sẽ trở thành phiên bản thứ hai của những nỗi đau trong tương lai, tiếp tục lặp lại bi kịch bạo lực hoặc ruồng bỏ đối với thế hệ sau.

Những bài báo vẫn hàng ngày đăng thông tin về những vụ bạo hành trẻ em đến chết. Mức độ quan tâm của xã hội cũng sẽ giảm dần khi mà số lượng những vụ án bạo hành tăng cao. Chỉ có những nỗi đau và khoảng trống là mãi mãi ở lại đó. Bởi vậy, tôi cho rằng để giảm thiếu tối đa những vụ án bạo hành trẻ em thương tâm này, cần có sự xuất hiện của chính quyền để bảo vệ quyền sống của các em và nghiêm trị hành vi của cha mẹ. Thân thể các em là của cha mẹ, nhưng khi họ vi phạm vào quyền sống của các em, họ nên bị tước đi quyền kiểm soát than thể của con mình. Để giảm thiểu tối đa những vụ án bạo hành trẻ em thương tâm này, không thể chỉ trông chờ vào đạo đức hay sự tự giác của gia đình, mà cần có sự xuất hiện của chính quyền để bảo vệ quyền sống của các em và nghiêm trị hành vi của cha mẹ. Sự can thiệp kịp thời, nghiêm minh của pháp luật và hệ thống phúc lợi xã hội chính là lằn ranh đỏ cuối cùng để giữ lại mạng sống và tương lai cho những đứa trẻ vô tội.
Thêm
56
0
0
Viết trả lời...
Trong lời giới thiệu cuốn sách “Trên đường biên của lí luận văn học” của tác giả Trần Đình Sử, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Hiếu có viết: “Là một trí thức, không bao giờ được dừng lại khát vọng muốn biết, không nên nản lòng trước thúc ép bên ngoài, không được tự thỏa hiệp với những cái sai, cái ngộ nhận của bản thân, và nên để tư duy của mình mạo hiểm xê dịch ra đường biên. Từ đường biên ấy, sẽ thấy có những đường bay”.

Con người là một động vật xã hội với cái khao khát sống an toàn trong một vùng trời dành riêng cho mình. Sự đổi thay, hay sự “xê dịch đường biên” đôi khi khiến họ mất đi an toàn, bắt đầu lạc lõng trước thế giới. Nhưng là một trí thức, việc thỏa hiệp với những đường biên, từ khước việc thay đổi và xóa nhòa đi những giới hạn là một cách chối từ đi khát khao muốn biết. Giữa khát khao biết và không bao giờ biết chỉ cách nhau một khoảng dài bằng việc ta có dám mạo hiểm hay không. Nếu Galileo Galilei thỏa hiệp với mô hình địa tâm được Giáo hội bảo hộ, nếu Immanuel Kant dừng lại trước các giới hạn của lý tính thuần túy, nhân loại có lẽ vẫn đang chìm đắm trong sự ngộ nhận. Thỏa hiệp với cái cũ là một hành vi tự sát về mặt học thuật. Khi người trí thức chấp nhận đầu hàng trước các “thúc ép bên ngoài”, có thể là quyền lực chính trị, áp lực của định kiến số đông hay sự cám dỗ của một đời sống an nhàn, phẳng lặng, họ đã tự tước đi căn cước tồn tại của chính mình.

Trí thức không bao giờ được dừng lại khát vọng muốn biết, không bao giờ nên thôi đòi hỏi, không bao giờ được thỏa hiệp với những điều đã có mà phải liên tục tạo ra những điều chưa có. Sự thỏa hiệp sẽ chỉ ngày càng tạo ra những xiềng xích mà chúng ta khoác trong đời. Những sợi xiềng ấy ngăn cản chúng ta chạm tới chân lý, theo đuổi rốt ráo đến tận cùng những điều khả thể.

Ld2. Sự dấn thân đến cùng để không thỏa hiệp tạo nên những đường bay, đó là không gian để chúng ta vẽ nên thế giới cho riêng mình. Những đường bay sẽ mang những gương mặt riêng không trùng lặp, đó là dấu triện khắc của một hành trình bền bỉ theo đuổi đến cùng những chân giá trị, cho phép con người được mơ ước, được sống thỏa đáng. Đối lập với tinh thần thỏa hiệp hèn nhát là lòng dũng cảm thực hiện những cuộc viễn chinh ra ngoài biên giới. Đường biên là nơi kết thúc của một trật tự cũ nhưng đồng thời lại là nơi khởi đầu của một khả thể mới. Khi con người dám đứng ở lằn ranh mấp mé giữa cái đã biết và cái chưa biết, chịu đựng cảm giác chông chênh, cô độc của một kẻ tiên phong, họ mới có thể nhìn thấy khoảng không bao la của tự do sáng tạo. Những tiếng nói phá xiềng xích, ngông ngạo, điên rồ, cả gan, mất trí, suy cho cùng lại là tiếng nói tiên phong.

Ld3. Để mở rộng những “đường bay”, cách duy nhất là ngăn chặn những đường biên. Hãy ngăn không để những đường biên chảy tràn, cấm cản những suy nghĩ của ta. Hãy cho phép tư duy được lên tiếng, được phản tư với những gì đã có, được vẽ ra những gì chưa có. Đường biên, chúng xuất hiện dưới dạng những cấm kỵ xã hội, những vùng xám của tri thức, hay những lối mòn tư duy được lặp đi lặp lại đến mức trở thành hiển nhiên. Nếu chúng ta để mặc cho những đường biên ấy tự do co cụm và định hình, tư duy của con người sẽ bị giam cầm trong một không gian ngày càng chật hẹp, ngột ngạt. Phản tư chính là công cụ để người trí thức liên tục đẩy lùi và tái định vị các đường biên. Đó là năng lực tự nhìn nhận lại chính mình, nghi ngờ chính những tiền đề luận điểm của bản thân để không rơi vào cái bẫy của sự tự phụ. Chúng ta không chỉ phản biện thế giới bên ngoài mà còn phải dũng cảm đối diện với những giới hạn nội tại. Một tư duy động là một tư duy không có điểm kết thúc, nó liên tục tự phủ định để tự phát triển. Ngăn chặn đường biên chảy tràn nghĩa là chúng ta chủ động thách thức các giới hạn, liên tục đặt ra câu hỏi “Tại sao?” và “Nếu không như vậy thì sao?” trước mọi chân lý được xem là tuyệt đối.

Tuy nhiên, không phải đường biên nào cũng tạo ra để ngăn cấm những đường bay. Có những đường biên được tạo ra để bảo vệ và trở thành lá chắn cho đường bay đi đúng hướng. Điều đó có nghĩa là những quy chuẩn, luật lệ ngăn cấm người ta tận hưởng cuộc sống sai cách. Nó tương tự như việc hiến pháp cho phép chúng ta có quyền tự do, miễn là không vi hiến. Nó tương tự như chủ nghĩa tự do, cho phép người ta tự do ngôn luận, được bao dung, bình đẳng trước pháp luật miễn là không gây hại. Chủ nghĩa tự do không đồng nghĩa với sự hỗn loạn vô trị, và khát vọng vượt biên không phải là một sự hủy diệt mù quáng mọi giá trị gốc rễ. Đường biên ở đây không phải là một cái lồng giam cầm, mà là một hành lang an toàn, một hệ tọa độ quy chiếu giúp đường bay không bị biến tướng thành một sự rơi tự do vô định hướng vào vực thẳm của sự trống rỗng hay sự phá hoại nhân tính. Tự do đích thực phải tự mang trong mình một trách nhiệm đạo đức tối thượng. Nếu một người trí thức nhân danh việc "xóa bỏ mọi giới hạn" để chà đạp lên những giá trị cốt lõi của nhân quyền, của công lý, thì đó không phải là một đường bay tư duy, mà là sự ngông cuồng vô trách nhiệm.

Những quy chuẩn văn hóa, những bộ luật pháp lý và các nguyên tắc đạo đức cốt lõi chính là những đường biên thông thái. Chúng bảo vệ con người khỏi những nguy cơ tự hủy diệt, ngăn chặn sự trỗi dậy của cái ác nhân danh cái mới. Đường biên sinh ra không phải để dập tắt khát vọng, mà để định hướng cho khát vọng ấy phụng sự cho sự tiến bộ của con người, đảm bảo rằng mỗi hành trình mạo hiểm xê dịch đều là một hành trình hướng thiện và hướng thượng.
Thêm
85
0
0
Viết trả lời...
Tại Nhật Bản, một ngành kinh tế mới đang phát triển nở rộ và dự kiến sẽ đem đến cho đất nước này một khoản doanh thu khổng lồ. Ở các trung tâm thương mại lớn tại Tokyo, người ta chứng kiến không chỉ một quầy dành riêng cho mèo mà là cả một hệ sinh thái bao gồm đồ ăn cho mèo, khu vui chơi cho mèo, các quán cà phê cho những người yêu mèo. Đây là một ngành công nghiệp mới, theo kịp được những xu thế hiện đại đồng thời nắm bắt được tâm lý của giới trẻ để tạo ra lợi nhuận về mặt kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những khoản lợi nhuận khổng lồ và đầy hứa hẹn đó là rất nhiều mối quan ngại về tình trạng cô đơn ở người hiện đại.

Số lượng chó mèo được nuôi tại Nhật Bản dần tăng lên tỷ lệ thuận với mức sống tăng cao ở nhiều đô thị. Nguyên nhân của việc này là tỷ lệ sinh giảm kéo dài, hộ gia đình bị thu nhỏ lại, mức sống tăng nhanh, thêm vào đó là sự tránh né với những tiếp xúc cộng đồng của người trẻ. Thay vì ra ngoài kết bạn, giao lưu, tìm kiếm người yêu, xây dựng gia đình theo lối sống truyền thống, giờ đây người trẻ có xu hướng khép mình, tìm kiếm những kết nối gần gũi và bền vững hơn. Những kết nối bên ngoài đôi khi gây cho họ sự phiền toái, mệt mỏi, những tổn thương. Thay vào đó, mèo lại gần gũi, đáng yêu và dễ chăm sóc hơn rất nhiều. Vậy là, họ lựa chọn một cuộc sống khép kín với những chú mèo, thứ đem lại cho họ sự thư giãn và thoải mái. Các nhà kinh tế đang lợi dụng nỗi cô đơn của người trẻ để xây dựng một hình thức kinh tế mới – kinh tế mèo (catnomics). Hình thức kinh tế này đem lại cho Nhật Bản doanh thu hàng nghìn tỷ đồng chỉ trong vòng vài năm. “Theo nghiên cứu của giáo sư Katsuhiro Miyamoto trường Đại học Kansai, "nền kinh tế mèo" (catnomics) dự kiến đóng góp đến 3.000 tỷ yen (khoảng 19 tỷ USD) cho Nhật Bản trong năm 2026” (Báo Vnexpress).

Sự cô đơn của người trẻ hiện đại đang trở thành “mỏ vàng” để được-bị khai thác. Rất nhiều hình thức giải trí ra đời để lấp đầy khoảng trống cuộc sống của họ sau những giờ làm việc dài với đãi ngộ không quá cao. Các ứng dụng hẹn hò, tìm kiếm người yêu, ứng dụng chăm sóc thú cưng, dành hàng giờ bên cạnh các chú mèo của mình đang được người trẻ ưa chuộng và trở thành một motif sống mới. Lối sống này đã bắt đầu ảnh hưởng đến những người già, những người sống độc thân. Việc chọn một cuộc sống yên bình cùng với những chú mèo đã khiến họ thôi đi mong muốn lập gia đình, phải có một cuộc sống truyền thống như những thế hệ trước. Họ bắt đầu tập trung sống chậm hơn, tập trung vào bản thân mình hơn và quan sát đến bản thân mình hơn. Đây có thể nói là một tín hiệu đáng mừng cho một cuộc sống mà tất cả mọi người đều vội vàng chạy theo lợi nhuận trong cuộc mưu sinh.

Tuy nhiên, những lợi ích của ngành kinh tế mèo xuất phát từ sự cô đơn của người trẻ chỉ là bề nổi, là phần lợi ích ngắn hạn mà một quốc gia đạt được kể từ sau khi phát hiện ra nó. Những mối quan ngại nằm ở phía bên trong khi nó liên quan nhiều hơn đến sự cô đơn của người trẻ, và những ngành công nghiệp được sinh ra từ sự cô đơn chỉ giải quyết vấn đề tạm thời, mà không có một giải pháp dài hạn. Song hành với việc tìm kiếm lợi nhuận khổng lồ, các quốc gia nên bắt đầu quan tâm hơn đến đời sống tinh thần của người dân. Bởi tỷ lệ người chết vì các bệnh trầm cảm, rối loạn lo âu,.. cũng tăng cao theo từng năm, không khác là mấy số lượng người tử vong vì đói nghèo, dịch bệnh.

Ngành kinh tế công nghiệp dựa trên nỗi cô đơn chỉ khiến người ta quên đi một phần sự cô đơn, nhưng sâu bên trong đó những áp lực về một cuộc sống truyền thống vẫn ám ảnh họ. Người dân chưa thực sự dịch chuyển hẳn từ sống truyền thống sang những lối sống cởi mở hơn. Bởi vậy, rất nhiều người luôn phải đấu tranh giữa việc lập gia đình, có con cái, đối diện với mức sống tăng cao và việc sống độc thân, chăm sóc chó mèo và tận hưởng cuộc sống một mình. Ngay cả việc chuyển dịch trách nhiệm từ việc người đàn ông là chủ gia đình sang việc người đàn ông trở thành nội trợ, rất nhiều người đã rất ngạc nhiên, bất ngờ thậm chí là sửng sốt, vậy thì cũng rất khó để tránh khỏi những hoài nghi khi một người lựa chọn sống cùng với mèo.

Bên cạnh đó, nền kinh tế này mà món mồi béo bở cho các nhà kinh doanh, các nhà kinh tế nhưng lại gây ra nỗi cô độc thường trực cho người trẻ. Họ nghĩ rằng chỉ cần họ cô đơn, họ sẽ có thể tìm đến các giải pháp chữa lành như chơi cùng mèo, dành hàng giờ ở bên chúng nên tình trạng cô đơn sẽ kéo dài. Sự có mặt của chó mèo chỉ giải quyết một phần vấn đề mà không thể giải quyết triệt để nỗi lo lắng của người trẻ. Khi đó, thay vì lo lắng về mức độ tăng trưởng kinh tế, người ta sẽ bắt đầu lo lắng về tình trạng trầm cảm, rối loạn lo âu,.. kéo dài như một bệnh kinh niên. Đó sẽ là lúc chúng ta bắt đầu suy nghĩ về sự cần thiết phải cân bằng giữa kinh tế và tinh thần.

Suy cho cùng, phải công nhận rằng, các nhà kinh tế học rất thông minh và tinh tế khi nắm bắt được tâm lý số đông, phát triển được một ngành kinh tế phát triển như catnomics. Tuy nhiên, song song với đó, tôi cũn hy vọng rằng, chúng ta sẽ không lợi dụng những nỗi đau và sự cô độc của những người trẻ để tạo nên lợi nhuận. Hãy để họ tự nhiên trong một không gian riêng mà họ mơ ước với những con thú cưng của họ. Một ngành kinh tế chỉ phát triển bền vững khi nó xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, phải giải quyết được những nỗi cô đơn của người trẻ triệt để mà không làm tổn thương họ.
Thêm
45
0
0
Viết trả lời...
Tập phim mới đây của VTV “Cạm bẫy từ các hợp đồng kì nghỉ” đã thực sự khiến tôi suy nghĩ về giá trị thực sự của lương tâm nghề nghiệp và đâu là giới hạn cho đồng tiền. Đó là màn kịch tàn nhẫn, nơi lòng tin của những người già bị thao túng đến mức kiệt quệ, biến họ trở thành những con rối của những mô hình sinh lời nhanh chóng, khiến họ phải đánh đổi cả sổ hưu và những kỷ vật cuối cùng của đời mình. Những tên lừa đảo đã nhanh chóng lợi dụng tâm lý yếu đuối, sự khao khát có được lợi nhuận lớn và niềm tin trong sáng của người già để biến các nạn nhân trở thành mồi ngon của những chiêu trò lọc lừa. Hậu quả là rất nhiều người già đã đánh mất một số tiền lớn lên đến hàng tỷ đồng vào những dự án nghỉ dưỡng rất tiềm năng, bóng bấy. Trong tập phóng sự của VTV, tôi còn nhớ câu nói của người con với nhân viên bán hàng: “Chị chỉ khuyên các em một điều là việc của em làm ấy, nó thất đức lắm”. Đó la lúc tôi bắt đầu hoài nghi về lương tâm nghề nghiệp và điểm dừng cho đồng tiền trong cuộc sinh tồn này.

Con người là điểm giao nối giữa thiên thần và ác quỷ. Ranh giới giữa hai thái cực ấy chưa bao giờ mỏng manh và dễ vỡ như khi nó được đặt lên bàn cân cùng sức nặng của đồng tiền. Khi đồng tiền lên ngôi, lương tâm nghề nghiệp trở thành một xa xỉ phẩm, và giới hạn của con người trong cuộc sinh tồn này bỗng chốc bị đẩy xuống vực sâu. Đồng tiền, về bản chất, là thước đo giá trị lao động và là công cụ để con người duy trì, nâng cao chất lượng cuộc sống. Thế nhưng, khi chủ nghĩa thực dụng lên ngôi, đồng tiền đã bị biến tướng thành một thứ quyền lực vạn năng, một thứ "tôn giáo" mới mà không ít kẻ sẵn sàng quỳ lạy. Sức mạnh của đồng tiền nằm ở chỗ nó có thể che mờ lý trí, bẻ cong công lý và làm tê liệt cảm xúc của con người. Từ chỗ là phương tiện, đồng tiền nghiễm nhiên trở thành mục đích sống tối thượng, đẩy con người vào một cuộc đua khốc liệt không có điểm dừng.

Mô hình "bẫy hợp đồng kỳ nghỉ" được phản ánh trong phóng sự VTV không phải là một hoạt động kinh doanh thông thường, mà là một màn kịch được dàn dựng công phu, một thứ "công nghệ thao túng tâm lý" đánh vào tâm lý của những người già cô đơn. Họ khao khát có một khoản lợi nhuận nhỏ để không trở thành gánh nặng cho con cháu, họ mong muốn có một chuyến nghỉ dưỡng bên gia đình. Những kẻ săn mồi đã đánh trúng vào tâm lý ấy, dùng sự quan tâm giả tạo để đổi lấy niềm tin trong sáng của các nạn nhân. Để rồi, không chỉ là số tiền hàng tỷ đồng, mà thứ sụp đổ chính là niềm tin vào con người.

Giữa bối cảnh đó, lương tâm nghề nghiệp càng cần được đề cao như một thứ la bàn định hướng cho mỗi người. Đó là hệ thống những giá trị đạo đức, là những quy chuẩn về nhân phẩm mà từ đó con người biết phân biệt giữa đúng và sai, giữa thiện và ác trong quá trình lao động. Lương tâm nghề nghiệp đòi hỏi mỗi cá nhân khi thực thi công việc của mình không chỉ hướng tới lợi ích cá nhân mà phải đặt lợi ích của cộng đồng lên trên hết, hoặc chí ít, không được xâm hại đến quyền lợi và nhân phẩm của người khác.



Lương tâm là một sự lựa chọn và bản lĩnh. Những nhân viên tư vấn trong phóng sự VTV, họ cũng là những người trẻ bước vào đời với áp lực mưu sinh đè nặng trên vai, đối mặt với bài toán cơm áo gạo tiền khốc liệt của cuộc sinh tồn. Họ được tuyển dụng, được đào tạo bài bản về "kỹ năng chốt sale" mà thực chất là kỹ nghệ thao túng và che giấu sự thật. Ban đầu, có thể họ cũng có những phút giây đắn đo, ngập ngừng. Nhưng khi những con số hoa hồng khổng lồ xuất hiện, khi áp lực chỉ tiêu đè nặng, và khi họ nhìn thấy đồng nghiệp xung quanh thản nhiên bước qua ranh giới, lương tâm của họ bắt đầu bị đổi thay. Vì đồng tiền mà chính họ cũng không thể thoát ra được khỏi những dự án đầu tư mà ngay cả chính họ cũng hiểu rõ sự thất đức ấy.

Vậy đâu là điểm dừng cho đồng tiền trong cuộc sinh tồn này? Điểm dừng của đồng tiền chính là nơi pháp luật thực thi và đạo đức lên tiếng. Nó phải được định giới bằng luật pháp nghiêm minh và bằng một nền tảng văn hóa tinh thần vững chắc. Nền tảng văn hóa tinh thần phải tạo ra nền tảng đạo đức để đồng tiền không trở thành lý do đánh mất nhân tính. Nhưng quan trọng hơn, điểm dừng ấy nằm ở trong tâm thức của mỗi cá nhân. Đó là sự tự ý thức rằng có những thứ không bao giờ được phép mang ra mua bán, đó là nhân phẩm, là danh dự, và là sự bình yên trong tâm hồn.

Áp lực mưu sinh không bao giờ có thể trở thành tấm lá chắn hợp pháp cho hành vi vô đạo đức. Nghèo đói có thể là một hoàn cảnh đáng thương, nhưng lấy sự nghèo đói hay áp lực cuộc sống để biện minh cho hành động lừa đảo, cướp bóc đi chỗ dựa cuối cùng của người già thì đó là một sự hèn hạ. Cuộc đời là một chuỗi những sự lựa chọn và đánh đổi.

Phóng sự của VTV khép lại, nhưng những dư âm của nó vẫn còn vang vọng, buộc mỗi chúng ta phải tự trả lời câu hỏi: Đâu là định nghĩa của lương tâm và cái giá của đồng tiền trong cuộc đời này? Vì đồng tiền, người ta chọn giẫm đạp lên nhau, mặc kệ những nỗi đau của người già để kiếm tiền trên sự ngây thơ của họ. Những câu chuyện đau lòng về sự lừa đảo ngày càng tinh vi hơn, mà trong đó cách để những kẻ lừa đảo trục lợi chính là lợi dụng tâm lý của những nạn nhân. Và những lí do mà người ta lựa chọn tham gia vào con đường phạm pháp ấy thì cũng vô kể, hàng bao lý do biện minh cho sự thất đức, mà có vẻ như trong những lý do đó họ chua từng thấy mình là thủ phạm. Pháp luật chỉ trừng trị những kẻ thất đức, nhưng không ai có thể bù đắp được nỗi đau cho những nạn nhân đã mất đi tất cả chỉ vì một lần tin. Có những nỗi đau không thể bù đắp được, nhất là khi người ta đã mất đi sau cú sốc sụp đổ niềm tin. Đồng tiền, bởi vậy không chỉ khiến người ta mờ mắt, che mờ đi lý tính mà còn gây ra biết bao nỗi đau cho người ở lại, không dễ gì nguôi ngoai.
Thêm
54
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta đang sống trong một thế giới được cấu thành bởi những thực thể khách quan nhưng lại được định hình và phản chiếu qua hàng triệu lăng kính chủ quan của con người. Mỗi cá nhân bước đi giữa cuộc đời này không đơn thuần là một thực thể tiếp thu thông tin một cách thụ động mà là một chủ thể tích cực trong việc gán nghĩa, kiến tạo và định hình thế giới xung quanh mình. Cùng một sự vật, cùng một hiện tượng, nhưng trong những khoảng thời gian khác nhau hoặc qua những điểm nhìn khác nhau, bản chất của chúng lại hiện lên với những sắc thái hoàn toàn riêng biệt. Sự khác biệt này không phải là một lỗi hệ thống của nhận thức mà là minh chứng cho sự phong phú vô tận của đời sống tinh thần nhân loại.

Trong bài viết “Hãy nhìn bằng đôi mắt của một con mèo”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã chia sẻ một trải nghiệm mang tính bản lề về sự vận động của nhận thức: “Hồi nhỏ, tôi nhìn con sông Đáy chảy qua làng tôi với một cảm xúc rợn ngợp về sự hùng vĩ và vô tận của nó. Nhưng đến lúc này, cái nhìn và cảm giác của tôi về dòng sông ấy đã hoàn toàn khác cho dù con sông không thay đổi. Cả hai cái nhìn, của cậu bé lên 5 tuổi và của một ông già, đều hoàn toàn chính xác. Không cái nhìn nào có khả năng phủ nhận cái nhìn kia.” Lời bộc bạch đầy chất suy tưởng ấy không chỉ là một kỷ niệm cá nhân về một dòng sông quê hương, mà nó đã chạm đến một quy luật phổ quát: mỗi góc nhìn là một sản phẩm của trải nghiệm sống, và sự trưởng thành của con người thực chất là một chuỗi những cuộc dịch chuyển góc nhìn liên tục theo dòng chảy của thời gian và tri thức.

Từ chia sẻ của Nguyễn Quang Thiều, chúng ta thấy rằng cùng một sự vật, hiện tượng, con người có thể có những cách nhìn khác nhau theo thời gian, độ tuổi và trải nghiệm sống. Con sông Đáy không đổi, dòng nước của nó vẫn chảy qua ngôi làng ấy suốt hàng thập kỷ với cùng một lưu lượng, cùng một hệ thực vật bên bờ, nhưng cảm nhận của cậu bé năm tuổi và của một ông già đã khác đi, bởi đời sống tinh thần của con người vốn không đứng yên mà liên tục chuyển động. Ở tuổi lên năm, thế giới của một đứa trẻ được bao bọc bởi sự ngỡ ngàng, mọi sự vật bên ngoài đều mang kích thước vĩ đại và chứa đựng những bí ẩn khôn lường. Đối với đứa trẻ ấy, con sông quê hương chính là giới hạn của vũ trụ, là biểu tượng của sự vô tận vì tầm vóc sinh học và vốn sống của đứa trẻ chưa cho phép nó vượt qua khỏi lũy tre làng. Cái nhìn rợn ngợp ấy hoàn toàn chân thật và tương thích với thế giới quan của một vầng trán thơ ngây.

Khi thời gian trôi đi, đứa trẻ ấy lớn lên, đi qua những dông bão của cuộc đời, tích lũy thêm tri thức và trải nghiệm từ những vùng đất mới, để rồi trở về đối diện với dòng sông xưa trong tư thế của một ông già từng trải. Lúc này, con sông Đáy không còn vĩ đại như trong ký ức, nó trở nên nhỏ bé hơn, hiền hòa hơn và mang đậm màu sắc của sự hoài niệm. Cái nhìn của ông già không còn là sự rợn ngợp trước sự hùng vĩ của tự nhiên, mà là sự lắng đọng của những chiêm nghiệm về kiếp người, về sự trôi chảy của thời gian. Sự thay đổi này diễn ra bởi vì mỗi giai đoạn sống mang theo những hệ giá trị, những mối bận tâm riêng, từ đó hình thành những lăng kính cảm nhận khác nhau.

Vì vậy, chúng ta không thể dùng cái nhìn của hiện tại để phủ định cái nhìn của quá khứ, cũng không thể lấy trải nghiệm của người từng trải để xem nhẹ cảm xúc hồn nhiên ban đầu. Mỗi cái nhìn đều phản ánh một sự thật sống động của đời sống tinh thần con người tại một thời điểm lịch sử cụ thể của cá nhân đó, và chúng xứng đáng được tồn tại trong đời người.

Trong nhiều vấn đề của đời sống, không tồn tại một chân lý duy nhất tuyệt đối. Xã hội loài người vận hành dựa trên những quy luật vật lý khách quan, nhưng thế giới tinh thần và các hiện tượng văn hóa xã hội lại được dệt nên từ những sợi tơ của sự cảm nhận. Sự khác biệt trong cảm nhận không phải là biểu hiện của sai lệch mà là hệ quả tất yếu của sự đa dạng trong trải nghiệm cá nhân. Nhận thức được điều này giúp chúng ta học cách tôn trọng góc nhìn của người khác, giảm bớt thái độ áp đặt và phán xét trong các mối quan hệ xã hội. Bi kịch của sự bất hòa thường bắt nguồn từ việc một cá nhân hay một cộng đồng tự phong cho mình quyền sở hữu chân lý tối hậu, từ đó xem tất cả những góc nhìn khác biệt là sai trái, là dị biệt cần phải bị triệt tiêu hoặc cải tạo. Khi chúng ta hiểu rằng góc nhìn của một người là kết quả của toàn bộ lịch sử cá nhân của họ, của môi trường họ lớn lên, của những cuốn sách họ đã đọc và những nỗi đau họ đã trải qua, chúng ta sẽ nhìn sự khác biệt bằng đôi mắt của sự thấu cảm thay vì sự định kiến. Trong một xã hội ngày càng đa chiều và phức tạp như hiện nay, khả năng chấp nhận nhiều cách nhìn khác nhau chính là nền tảng của đối thoại, thấu hiểu và chung sống văn minh, là chìa khóa để mở ra cánh cửa của sự hòa hợp giữa các cá tính độc bản. Khi nhận thức được rằng mỗi góc nhìn của đối phương đều được xây dựng từ nền tảng của những trải nghiệm có thật, chúng ta sẽ tự khắc buông bỏ nhu cầu phân định thắng thua để bắt đầu một cuộc đối thoại chân thành.

Tuy nhiên, khi chúng ta ca ngợi sự đa dạng của các góc nhìn, chúng ta cũng không nên tuyệt đối hoá quan điểm “không cái nhìn nào có khả năng phủ nhận cái nhìn kia” để rồi rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa tương đối cực đoan. Trong thực tế đời sống, có những cái nhìn được hình thành từ định kiến, thiếu thông tin hoặc bị chi phối bởi lợi ích cá nhân ích kỷ, và nếu những cái nhìn này không được điều chỉnh, soi chiếu, chúng có thể dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng và gây ra những tổn hại sâu sắc cho cộng đồng. Sự chính xác của cái nhìn mà Nguyễn Quang Thiều đề cập nằm trong không gian của cảm xúc thẩm mỹ và sự trải nghiệm nhân sinh lành mạnh, nơi các góc nhìn bổ túc và làm giàu cho nhau chứ không tiêu diệt lẫn nhau.

Nếu một góc nhìn được xây dựng trên sự thiếu hụt nghiêm trọng về mặt tri thức khoa học, hoặc bị bóp méo bởi những thù hận cá nhân, những định kiến giới tính, sắc tộc, thì góc nhìn đó không thể được coi là một sự thật có giá trị tương đương với những nhận thức nhân văn. Vì vậy, việc tôn trọng sự khác biệt không đồng nghĩa với việc dung túng cho những nhận thức lệch lạc, độc hại. Cái nhìn của con người không phải là một hóa thạch bất biến, nó cần được liên tục soi chiếu, đối thoại và hoàn thiện qua tri thức, trải nghiệm thực tế và các giá trị nhân văn chung của nhân loại. Chúng ta chấp nhận sự đa dạng của các dòng chảy cảm xúc, nhưng chúng ta cũng cần một dòng hải lưu của lý trí và đạo đức để giữ cho những góc nhìn cá nhân không đi chệch khỏi quỹ đạo của sự tiến bộ và lòng trắc ẩn.

Từ câu chuyện về dòng sông và những suy ngẫm của nhà thơ, quan điểm của Nguyễn Quang Thiều còn gợi mở cho chúng ta thái độ sống dám nhìn lại và chấp nhận sự thay đổi trong chính nhận thức của mình. Nhiều người trong chúng ta thường có xu hướng sợ hãi sự thay đổi, chúng ta cố bám lấy những góc nhìn cũ kỹ như một cách để bảo vệ bản ngã và sự an toàn của bản thân. Chúng ta coi việc thay đổi quan điểm là một sự thừa nhận thất bại hoặc một sự phản bội đối với quá khứ. Thế nhưng, trưởng thành khi ấy không chỉ đơn thuần là sự tích luỹ thêm trải nghiệm theo năm tháng, mà còn là khả năng đối thoại một cách thẳng thắn với “cái tôi” của những giai đoạn đã qua để nhận ra những giới hạn của mình.

Khi con người biết mở rộng góc nhìn, họ sẽ bớt bảo thủ, bớt cực đoan và sẵn sàng lắng nghe những cách cảm nhận khác mình. Việc một ông già nhìn con sông Đáy khác đi không có nghĩa là ông đã phủ nhận đứa trẻ lên năm trong mình, mà là ông đã ôm ấp đứa trẻ đó vào những câu chuyện lớn hơn của cuộc đời mình. Biết thay đổi góc nhìn có nghĩa là biết thừa nhận rằng lượng tri thức và trải nghiệm hiện tại của mình chưa bao giờ là trọn vẹn, và thế giới ngoài kia luôn còn những chiều kích khác đang chờ được khám phá. Trong bối cảnh xã hội nhiều biến động và xung đột thông tin như hôm nay, khả năng thay đổi góc nhìn không làm con người mất đi bản sắc hay lập trường của mình, ngược lại, nó là biểu hiện của một bản lĩnh văn hóa cao, giúp họ sống một cách sâu sắc hơn, linh hoạt hơn và mang đậm tính nhân bản hơn trước những thử thách của thời đại.
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...
Con người ta được dạy phải luôn “cố lên” trong mọi hoàn cảnh để không chùn bước, không vấp ngã và để đạt được thành công. Nỗi cô đơn và những thất bại thường được nêu tên như những yếu tố tạo nên thành công mà không ai hiểu rằng nó cũng có những giá trị riêng của nó. Trong không gian tràn ngập áp lực đó, cụm từ “cố lên” xuất hiện như một thói quen ngôn ngữ, một phản xạ tự nhiên của sự quan tâm. Thế nhưng, có bao giờ bạn cảm thấy chính lời động viên ấy lại mang một sức nặng vô hình, một thứ áp lực khiến lồng ngực mình thắt lại? Trong cuốn sách “Điểm đến của cuộc đời”, Đặng Hoàng Giang đã ghi lại một chia sẻ i của nhân vật Thủy Tiên: “Cái câu “Cố lên” nhiều lúc làm người ta mệt lắm anh ạ. Nó tước khỏi người ta cái quyền được mệt mỏi, được khóc, nó không ngừng đẩy người ta lên bục anh hùng.” Lời tâm sự ấy chạm đến một góc khuất của thế hệ trẻ đương đại, nơi những con người đang kiệt sức phải gồng gánh một vai diễn hoàn hảo, vai của một người luôn ổn và luôn kiểm soát được cuộc đời mình.

Trước giờ chúng ta vẫn thường xem “cố lên” như một câu nói tích cực, một sự động viên giản dị mà cần thiết, nhưng đôi khi, chính sự tích cực ấy lại trở thành một áp lực vô hình. Khi một ai đó đang kiệt sức, điều họ cần có thể không phải là một lời thúc giục phải mạnh mẽ hơn mà là một không gian đủ an toàn để được yếu đuối. “Cố lên” trong nhiều trường hợp đã dần trở thành một mệnh lệnh náu mình rằng bạn không được phép dừng lại, không được phép gục xuống, không được phép mệt mỏi quá lâu. Việc liên tục nghe và tự nói với mình phải cố gắng đã vô tình tạo ra một cơ chế phòng vệ, nơi những tổn thương không có cơ hội được bộc lộ.

Con người trong cuộc sống hiện đại dường như bị ám ảnh bởi hình ảnh của sự kiên cường. Ta thường cổ vũ nhau vượt qua, tiến lên, không bỏ cuộc nhưng lại ít khi dạy nhau cách dừng lại, cách chấp nhận rằng có những ngày mình không ổn. Việc liên tục được khuyến khích phải “cố lên” đã vô tình tước đi quyền được yếu lòng, một quyền rất người. Nó đẩy ta vào một vai diễn vai của một người luôn ổn, luôn kiểm soát được bản thân, luôn biết cách đứng dậy. Nhưng phía sau vai diễn ấy, nhiều người đang âm thầm kiệt quệ, bởi họ không còn nơi nào để thừa nhận rằng mình đang mệt. Cảm xúc thật của chúng ta bị trì hoãn, bị nén lại, bị xem như một thứ không nên tồn tại.

Hệ quả của việc chối bỏ sự mệt mỏi là một trạng thái trống rỗng kéo dài, khi người trẻ không còn nhận diện được những nhu cầu cơ bản của cơ thể và tâm trí. Bản chất của sự trưởng thành không nằm ở việc sở hữu một tinh thần không dao động, mà nằm ở năng lực nhận biết và chấp nhận những giới hạn của chính mình. Khi bạn từ chối quyền được mệt mỏi, bạn cũng đang từ chối cơ hội để cơ thể và tâm hồn được phục hồi. Một ngày không ổn không làm giảm đi giá trị của những nỗ lực trước đó, cũng không biến bạn thành một kẻ thất bại. Đó đơn thuần là một tín hiệu cho thấy bạn đã hoạt động hết sức và cần một khoảng lặng để tái tạo năng lượng.

Việc chấp nhận sự yếu đuối không phải là sự buông xuôi hay thỏa hiệp với nghịch cảnh. Đó là một hành động dũng cảm, một sự trung thực với chính bản thân mình. Chúng ta cần hiểu rằng, cảm xúc tiêu cực, sự thất vọng hay cảm giác bất lực đều là những thành tố tự nhiên của trải nghiệm làm người. Thay vì cố gắng sửa chữa chúng ngay lập tức bằng những khẩu hiệu tích cực khiên cưỡng, việc cho phép mình được khóc, được im lặng và được nghỉ ngơi mới là bước đi thiết thực nhất để tìm lại sự cân bằng.

Có lẽ, điều an ủi nhất không phải là khi có ai đó nói với ta rằng “cố lên đi” mà là khi có ai đó đủ tinh tế để nói “nếu mệt thì nghỉ một chút cũng được”. Đâu phải cứ cố kéo một ai đó ra khỏi nỗi buồn thật nhanh thì là thấu hiểu đâu? Thấu hiểu đôi khi nằm ở việc ta nhẹ nhàng chấp nhận ở lại cùng họ trong chính nỗi buồn đó. Chúng ta thường có xu hướng hoảng sợ khi thấy người thân yêu của mình rơi vào trạng thái tiêu cực, và việc thốt ra câu “cố lên” thực chất là một cách để chúng ta giải tỏa sự lúng túng của chính mình, muốn họ nhanh chóng trở lại trạng thái bình thường để ta yên tâm.

Cảm xúc là thứ cần được lắng nghe và tôn trọng. Khi bạn ở bên một người đang kiệt sức, việc im lặng lắng nghe, việc không đưa ra những lời khuyên giáo điều, việc công nhận sự mệt mỏi của họ có giá trị trị liệu lớn hơn rất nhiều so với những lời thúc giục sáo rỗng. Hãy cho họ biết rằng họ an toàn khi ở cạnh bạn, kể cả khi họ đang là phiên bản vụng về, thất bại và yếu đuối nhất.

Hãy tự cởi trói khỏi biểu tượng “anh hùng” để cho mình cơ hội được tự thương lấy mình. Bạn không cần phải luôn luôn mạnh mẽ, không cần phải là người giải quyết mọi cuộc khủng hoảng, và càng không cần phải biến cuộc đời mình thành một vở kịch huy hoàng. Cuộc sống của bạn là một hành trình mà ở đó, bạn được phép khóc, được phép nói “tôi mệt rồi” và yêu lấy mình.
Thêm
75
0
0
Viết trả lời...
Trong các diễn ngôn đương đại về lịch sử và văn hóa, thân phận của người phụ nữ trong xã hội truyền thống thường là nạn nhân của “ý thức hệ phong kiến”. Những định chế áp đặt lên người phụ nữ không phải là những hiện tượng ngẫu nhiên nảy sinh từ một vài định kiến nhất thời, chúng là sản phẩm của một quá trình kiến tạo mang tính hệ thống, là tiến trình dài của văn hóa, lịch sử và nếp sống. Việc nhìn nhận các lễ thói này dưới góc độ phê phán hiện đại là một tất yếu, song, nếu chỉ dừng lại ở sự phán xét bề mặt, chúng ta sẽ bỏ sót cách mà xã hội phụ quyền nội tâm hóa các chuẩn mực cai trị vào tâm thức của đối tượng bị cai trị. Bóc tách cội nguồn và sự biến chuyển của các lễ thói truyền thống, từ những quan niệm về sinh học, hôn nhân cho đến các tập tục trong không gian sinh hoạt thường nhật, sẽ giúp chúng ta thấy được cách một trật tự xã hội được thiết lập thông qua việc chiếm đoạt và định cấu hình lại cơ thể lẫn tinh thần của người phụ nữ.

Truy nguyên về mặt cấu trúc ý thức hệ, công cụ đầu tiên và cũng là nền tảng nhất mà xã hội phụ quyền sử dụng để định vị người phụ nữ ở thế yếu chính là việc huyền thoại hóa các đặc tính sinh học của họ. Trong thế giới quan truyền thống, đặc biệt là dưới sự ảnh hưởng của thuyết Âm Dương cấu hợp được diễn dịch một cách thiên kiến, người phụ nữ bị gắn chặt với thuộc tính “Âm” - biểu tượng của sự tối tăm, thụ động, ẩm ướt và bất định. Sự phân định này không thuần túy mang tính triết học phân loại, nó nhanh chóng bị chuyển hóa thành một thứ định kiến sinh học nghiêm ngặt, biến những thiên chức tự nhiên của người phụ nữ thành minh chứng cho sự bất khiết.

Chính từ cái nhìn mang tính kỳ thị sinh học này, hệ thống lễ thói đã kiến tạo nên những ranh giới cấm kỵ bất khả xâm phạm xung quanh cơ thể người nữ. Các hiện tượng sinh lý tự nhiên như chu kỳ kinh nguyệt hay quá trình sinh nở lại bị diễn dịch như những nguồn cơn của sự ô uế, có khả năng làm tổn hại đến sự thanh sạch của các nghi lễ thần thánh và linh thiêng. Người phụ nữ trong những giai đoạn này bị trục xuất một cách tuyệt đối khỏi không gian tế tự, không được phép tiếp cận bàn thờ tổ tiên, đình miếu hay các nghi thức cộng đồng. Sự cô lập này không chỉ giới hạn trong phạm vi tôn giáo mà còn thấm sâu vào đời sống thường nhật qua các kiêng kỵ dân gian, khi người ta tin rằng sự hiện diện của người phụ nữ “không sạch sẽ” sẽ mang lại điềm gở cho các hoạt động kinh tế như trồng trọt, săn bắn hay giao thương.

Sâu xa hơn, cơ chế này đã hoàn tất việc tước đoạt quyền lực tâm linh của nữ giới. Bằng cách định danh cơ thể phụ nữ là nguồn gốc của sự ô uế, xã hội truyền thống đã mặc nhiên thừa nhận nam giới là chủ thể duy nhất sở hữu tư cách thánh sạch để giao tiếp với thần linh và tổ tiên. Đây chính là bước đi chiến lược nhằm hợp thức hóa sự loại trừ người phụ nữ ra khỏi các vị trí lãnh đạo và quản lý dòng tộc, đẩy họ vào một trạng thái mặc cảm thường trực, nơi họ phải tự nhìn nhận bản thân như một thực thể mang tội lỗi bẩm sinh.

Khi bước ra khỏi không gian sinh học để đi vào cấu trúc xã hội, người phụ nữ lập tức bị bủa vây bởi định chế hôn nhân, nơi quyền lợi của cá nhân hoàn toàn bị nghiền nát dưới lợi ích gia tộc. Diễn ngôn phổ biến về hôn nhân phong kiến thường được khái quát qua câu khẩu hiệu: “Mệnh cha mẹ, lời mai mối” (Phụ mẫu chi mệnh, mai chước chi ngôn). Bản chất của quy định này không đơn thuần là sự thiếu vắng tự do yêu đương, mà là sự phủ nhận hoàn toàn tư cách chủ thể của người phụ nữ trong việc định đoạt cuộc đời mình. Hôn nhân trong xã hội truyền thống không phải là sự kết hợp giữa hai cá nhân dựa trên sự đồng điệu về tâm hồn, mà là một khế ước chính trị - kinh tế giữa hai dòng họ nhằm mục đích “nối dõi tông đường” và mở rộng thế lực.

Trong khế ước đó, người phụ nữ bị đối xử như một thứ tài sản, một thứ công cụ dịch chuyển quyền sở hữu từ gia đình cha đẻ sang gia đình chồng. Sự áp bức này còn thể hiện thông qua định chế “Chính thất - Thiếp thất” (vợ cả - vợ lẽ) và tục đa thê. Dưới hệ quy chiếu của luật pháp phong kiến, người đàn ông có quyền sở hữu năm thê bảy thiếp như một minh chứng cho địa vị và sự giàu có, trong khi người phụ nữ bị buộc phải chấp nhận sự chia sẻ chia tình cảm và tài sản trong một không gian sinh hoạt chật hẹp. Định chế thê thiếp không chỉ duy trì đặc quyền tình dục và tái sản xuất của nam giới, mà còn cố tình tạo ra một cấu trúc xung đột nội bộ giữa những người phụ nữ. Sự phân cấp nghiêm ngặt giữa danh phận chính thất và thiếp thất đã biến không gian gia đình thành một chiến trường của sự đố kỵ và tranh giành ân sủng. Chính sự kiến tạo mang tính chia để trị này đã triệt tiêu khả năng liên minh hay đồng cảm giữa những người phụ nữ với nhau. Họ bị buộc phải tự giám sát, tự cấu xé lẫn nhau để giành lấy sự thừa nhận từ nam chủ thể duy nhất trong gia đình. Cơ thể và khả năng sinh sản của người phụ nữ lúc này hoàn toàn bị cơ giới hóa, trở thành một thứ công cụ sản xuất không hơn không kém, nơi giá trị tồn tại của họ được cân đo đong đếm bằng việc có sinh được “nam đinh” để nối dõi tông đường hay không.

Nếu như định chế hôn nhân trói buộc người phụ nữ lúc sinh thời, thì các lễ thói về “Tiết hạnh” lại kéo dài sự kiểm soát đó ngay cả khi nam chủ thể đã qua đời. Khái niệm “Thủ tiết” (giữ gìn trinh tiết và sự thủy chung) trong tiến trình phát triển của nó đã bị đẩy đến những giới hạn cực đoan và phi nhân tính nhất. Khởi thủy, sự thủy chung được nhìn nhận như một giá trị đạo đức tương hỗ, nhưng dưới sự nhào nặn của các nhà Nho tông phái, nó đã biến tướng thành một thứ nghĩa vụ đơn phương, tuyệt đối và tàn nhẫn dành riêng cho nữ giới. Biểu hiện rõ rệt nhất của sự cực đoan này chính là việc thần thánh hóa những người phụ nữ “Tuẫn tiết” (chết theo chồng) hoặc “Thủ tiết thiên cổ” (ở vậy thờ chồng từ thuở thanh xuân cho đến khi nhắm mắt). Xã hội truyền thống đã thiết lập nên một hệ thống phần thưởng danh vọng đầy mê hoặc như “Trinh tiết phang” (vòm cửa vinh danh trinh tiết), các sắc phong của triều đình hay sự ca tụng của cộng đồng để khuyến khích phụ nữ tự hủy hoại cuộc đời mình. Một người đàn bà góa chồng tái giá bị coi là một sự sỉ nhục dòng tộc, một vết nhơ không thể tẩy xóa trên gia phả, khiến cho không chỉ bản thân họ mà cả con cái cũng bị xã hội ruồng bỏ, khinh rẻ.

Để duy trì một cách bền vững hệ thống áp bức nói trên, xã hội truyền thống đã thực hiện một chiến lược cô lập triệt để người phụ nữ cả về mặt không gian vật lý lẫn không gian tri thức. Nguyên tắc “Nam trị ngoại, nữ trị nội” (Đàn ông lo việc bên ngoài, đàn bà lo việc bên trong) thường được biện minh như một sự phân công lao động hợp lý, nhưng thực chất, đó là một cơ chế giam hãm không gian sinh tồn nhằm tước đoạt năng lực độc lập của nữ giới. Không gian của người phụ nữ bị giới hạn nghiêm ngặt sau cánh cửa buồng, trong góc bếp, hay phía sau những tấm rèm che. Việc bước ra ngoài không gian công cộng mà không có sự giám sát hoặc không vì những lý do được xã hội thừa nhận bị xem là một hành vi lệch chuẩn, gây tổn hại đến gia phong. Sự giới hạn về không gian này trực tiếp dẫn đến sự tước đoạt về tư cách kinh tế. Người phụ nữ không có quyền sở hữu tài sản độc lập, không có quyền thừa kế và không được tham gia vào các hoạt động thương mại hay quản lý xã hội quy mô lớn. Mọi lao động của họ, dù có nặng nhọc đến đâu trong việc canh cửi, ruộng đồng, cũng chỉ được nhìn nhận như một sự phụ thuộc, bổ trợ cho kinh tế của nam chủ thể.

Các thể chế quyền lực trong lịch sử đã vô cùng khôn khéo khi biến các công cụ cai trị mang tính chính trị thành các chuẩn mực đạo đức, phong tục và tín ngưỡng, khiến cho sự áp bức trở nên vô hình và dễ dàng được chấp nhận. Việc nhận thức rõ cơ chế vận hành của các lễ thói này chính là bước đi đầu tiên để chúng ta không lặp lại những sai lầm của lịch sử dưới những hình thái diễn ngôn mới. Nó nhắc nhở xã hội đương đại rằng, tự do và bình đẳng của phụ nữ không phải là một món quà được ban phát bởi sự tiến bộ tự thân của thời gian, mà là kết quả của một cuộc đấu tranh bền bỉ nhằm đập tan những chiếc lồng kính tư tưởng vốn dĩ vẫn luôn tìm cách tái cấu trúc để duy trì sự thống trị dưới những danh xưng bóng bẩy và tinh vi hơn. Từ đó, chủ nghĩa nữ quyền được cất tiếng và tôn vinh rực rỡ hơn.
Thêm
49
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mà sự hoàn hảo được xem là chuẩn mực, là khuôn vàng thước ngọc trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Từ một bức ảnh được chỉnh sửa bằng các bộ lọc kỹ thuật số cho đến những hồ sơ cá nhân được bóng bẩy hóa trên các nền tảng hẹn hò, con người hiện đại luôn khao khát phô diễn những phiên bản không tì vết của chính mình. Sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo càng đẩy xu hướng này lên đến đỉnh điểm khi nó cung cấp những công thức chuẩn xác cho mọi hành vi xã hội, từ cách soạn một bức thư xin lỗi đầy thuyết phục cho đến cách mô phỏng những vần thơ tình cháy bỏng nhất. Thế nhưng, ngay trong chính cái không gian phẳng lặng, trơn tru và hoàn mỹ đó, một tiếng thở dài đầy bản năng lại vang lên như một sự phản kháng mạnh mẽ của nhân tính.

Trong tập 28 của series Podcast "CHỊ À", nhà báo Trác Thúy Miêu đã khẳng định: “Chị chỉ biết, tình yêu thật nhất, thứ phi AI nhất, đó là tình yêu đầy lỗi lầm”. Lời trần tình ấy đã nó mở ra một cánh cửa để chúng ta nhìn nhận lại thứ tình yêu đầy tội lỗi, sai số và vụng dại của tuổi trẻ. Đó là sự thừa nhận một thực tế hiện sinh rằng chính những vết nứt, những vấp ngã và cả những quyết định sai lầm mới là bảo chứng cho một sự sống sống động, một tình yêu bằng xương bằng thịt chứ không phải một chương trình đã được lập trình sẵn để trở nên hoàn hảo.

Trong một thế giới đang dần bị vây bủa bởi trí tuệ nhân tạo, nơi mọi phản hồi đều được tính toán để trở nên mẫu mực, thì chính sự "sai số" lại là bảo chứng cho sự sống của con người. Hãy tưởng tượng về một mối quan hệ được vận hành theo các mô thức lý tưởng của công nghệ, nơi các cặp đôi không bao giờ tranh cãi, không bao giờ trễ hẹn, và luôn biết cách thốt ra những lời nói vừa vặn với kỳ vọng của đối phương. Một viễn cảnh như vậy thoạt nhìn có vẻ bình yên, nhưng nhìn sâu vào bản chất, đó lại là sự đóng băng của cảm xúc, là một nấm mồ lộng lẫy chôn cất đi những xung năng nguyên thủy nhất của nhân loại. AI có thể sở hữu một kho dữ liệu khổng lồ để phân tích tâm lý, có thể đưa ra những đáp án đúng đắn nhất cho một cuộc khủng hoảng tình cảm, nhưng nó không bao giờ biết đau khi phạm lỗi hay biết bối rối khi đứng trước người mình thương.

Chính cái cảm giác bối rối đến mức vụng về, cái sự im lặng đầy nghẹn ngào hay thậm chí là những lời nói lỡ lầm trong lúc giận dữ mới là những thứ định hình nên bản ngã của con người. Tuổi trẻ bước vào tình yêu với một sự ngây thơ đến liều lĩnh, họ không có trong tay những thuật toán để dự đoán tương lai, cũng không có những bộ lọc để che giấu đi sự ích kỷ hay lòng kiêu hãnh của mình. Tình yêu "phi AI" của tuổi trẻ chính là thứ tình cảm chấp nhận những va vấp, những cơn ghen tuông vô lối hay cả những giây phút yếu lòng vụng dại. Khi người ta trẻ, người ta yêu bằng tất cả cái phần hoang dã, chưa được thuần hóa của tâm hồn. Những sai số trong cách hành xử không phải là lỗi hệ thống cần phải xóa bỏ, mà chính là những nhịp đập tự nhiên của một trái tim biết rung động trước cuộc đời.

Khi nói về tình yêu tội lỗi của tuổi trẻ, chúng ta cần nhìn nó như một trạng thái bình thường của cảm xúc. Tuổi trẻ là thời điểm mà năng lượng sống dồi dào nhất, nhưng cũng là lúc con người thiếu hụt kinh nghiệm sống và sự điềm tĩnh nhất. Họ yêu như thể ngày mai thế giới sẽ lụi tàn, họ lao vào nhau với một tốc độ kinh hoàng mà không cần quan tâm đến những rào cản hay những tổn thương có thể gây ra cho chính mình và người khác. Đó có thể là những tình yêu sai thời điểm, những mối quan hệ đi ngược lại với kỳ vọng của gia đình, hoặc những sự gắn kết đầy cực đoan dẫn đến những tổn thương sâu sắc cho cả hai phía. Nhưng chính trong cái trạng thái lộn xộn, đầy sai lầm đó, tuổi trẻ mới thực sự được sống một cách trọn vẹn nhất. Họ không yêu bằng một bộ não xử lý dữ liệu luôn đưa ra những đáp án đúng nhưng vô hồn. Họ yêu bằng một sự trả giá, bằng những đêm dài thức trắng với sự dằn vặt, hối hận và cả những giọt nước mắt muộn màng. Chính những vết nứt của sự lỗi lầm ấy lại là nơi nhắc nhở ta rằng mình đang yêu như một con người.

Một mối quan hệ trơn tru, bóng bẩy thường chỉ tồn tại trên bề mặt của những thỏa hiệp xã giao, nơi cả hai bên đều cố gắng đeo mặt nạ để làm hài lòng đối phương và tránh né những xung đột cốt lõi. Đó không phải là tình yêu chân chính, đó chỉ là một sự hợp tác có lợi về mặt cảm xúc. Ngược lại, một tình yêu sâu sắc, bền bỉ của đời thực luôn được xây dựng từ những lần chúng ta làm tổn thương nhau rồi nỗ lực hàn gắn. Chính cái quá trình va đập, làm rạn nứt rồi lại cùng nhau tìm cách vá víu những mảnh vỡ đó mới là thứ tạo nên mối liên kết không thể phá vỡ. Chúng ta yêu một người vì họ không có vết xước, vì họ là một con người với những tội lỗi đáng yêu, và vì ta trân trọng cả những mảnh vỡ vụn vằn của họ, chấp nhận cả cái phần tối tăm và yếu đuối nhất trong con người họ.

Lỗi lầm trong tình yêu nó buộc con người phải rũ bỏ cái tôi kiêu hãnh, hạ cái đầu bướng bỉnh của tuổi trẻ xuống để học cách thấu hiểu sự khác biệt. Vẻ đẹp của tình yêu không nằm ở một hành trình bằng phẳng từ đầu đến cuối, mà nó nằm ở khả năng biến những sai lầm thành bài học, biến những rạn nứt thành những vân hoa bền bỉ của sự trưởng thành. Một tình yêu đã kinh qua lỗi lầm và sự dung thứ sẽ mang một vẻ đẹp thâm trầm, kiên định, giống như kỹ thuật hàn gốm Kintsugi của người Nhật, nơi những vết nứt được hàn gắn bằng vàng để trở nên quý giá và rực rỡ hơn bao giờ hết.

Xu hướng hiện nay khiến con người ta luôn khao khát một "profile" tình yêu đẹp đẽ để phô diễn trên mạng xã hội, một mối quan hệ được định nghĩa bằng những món quà xa xỉ, những chuyến du lịch check-in sang chảnh và những lời nói yêu ngọt ngào trên mạng xã hội. Chúng ta đang biến tình yêu thành một thứ hàng hóa để trưng bày để người khác vào trầm trồ, ngưỡng mộ. Nhưng thực tế, sự hoàn hảo được dàn dựng đó thường đang đồng nghĩa với sự đóng băng của cảm xúc.

Lời chia sẻ của Trác Thúy Miêu trong podcast cũng đồng thời là một lời cảnh tỉnh khẩn thiết cho thế hệ trẻ ngày nay: chúng ta đừng sợ hãi lỗi lầm, bởi chính lỗi lầm mới làm nên cá tính và sự độc bản của một mối quan hệ. Một tình yêu không có lỗi lầm là một tình yêu không có lịch sử, không có ký ức sống. Khi ta chấp nhận một "tình yêu đầy lỗi lầm", ta cũng đồng thời khước từ sự can thiệp của những chuẩn mực khô khan, máy móc do xã hội hay công nghệ áp đặt. Tình yêu chân chính của tuổi trẻ có quyền được lộn xộn, có quyền được sai thời điểm, có quyền được trải qua những hối hận muộn màng. Nó không cần phải tuân theo bất kỳ một kịch bản chuẩn hóa nào, bởi vì mỗi một sai lầm, mỗi một lần vấp ngã đều là một dấu ấn riêng biệt, định hình nên bản sắc độc nhất vô nhị của cuộc tình đó.
Thêm
47
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta đang sống trong một cuộc địa chấn về vật chất và kỹ thuật, một thời đại mà lịch sử nhân loại chưa từng chứng kiến. Chưa bao giờ con người sở hữu trong tay lượng tri thức đồ sộ, khả năng kết nối xuyên lục địa và những công cụ vạn năng như lúc này. Chúng ta tự hào gọi đây là đỉnh cao của sự tiến bộ, là chương rực rỡ nhất của tư duy duy lý. Thế nhưng, ngay trong chính thời khắc hoàng kim đó, một tiếng thở dài đầy hoài nghi lại vang lên từ sâu thẳm tâm thức của những kẻ biết tư duy. Nhà nghiên cứu Lương Dũng Nhân cho rằng: “Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên giàu thông tin nhất, nhưng cũng có thể là kỷ nguyên nghèo nàn nhất về năng lực cảm xúc và xã hội”. Lời cảnh báo ấy buộc chúng ta phải nhìn nhận lại xem liệu sự bùng nổ của thông tin có đang tỷ lệ nghịch với độ trưởng thành của tâm hồn, và liệu thế giới công nghệ có đang trở thành một chiếc lồng kính khiến con người trở nên “nghèo nàn” hay không.

Thế giới công nghệ với những tiến bộ vượt bậc mang theo sự tiện nghi của nó đã giúp chúng ta được sống trong một kỷ nguyên giàu thông tin hơn bao giờ hết. Nhìn vào bức tranh toàn cảnh của xã hội đương đại, ta thấy sự hiện diện của công nghệ thông tin đã tái cấu trúc hoàn toàn cách thức thế giới vận hành. Không còn những ngày tháng con người phải mòn mỏi chờ đợi một cánh thư đi qua các đại dương, cũng không còn cảnh những tri thức quý giá bị chôn vùi trong những thư viện cổ kính mà chỉ một số ít học giả mới có quyền tiếp cận. Giờ đây, dòng chảy thông tin diễn ra theo dòng thời gian thực, liên tục, cuộn xoáy và tràn ngập khắp mọi ngõ ngách của đời sống. Công nghệ số hóa đã san phẳng các ranh giới địa lý, biến hành tinh này thành một ngôi làng toàn cầu nơi mà bất kỳ ai cũng có thể trở thành nhà xuất bản thông tin, và bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận nguồn tri thức của nhân loại chỉ bằng một thiết bị cầm tay nhỏ gọn.

Sự tiện nghi này mang lại cho con người một quyền năng tối thượng, một thứ cảm giác tự do vô bờ bến khi ta có thể kiểm soát và định cấu hình thế giới xung quanh theo ý muốn của mình. Chúng ta có thể học tập từ những giáo sư hàng đầu thế giới mà không cần rời khỏi căn phòng nhỏ, có thể điều hành những doanh nghiệp triệu đô thông qua những dòng lệnh trên nền tảng đám mây, và có thể kết nối với hàng triệu người xa lạ chỉ trong một khoảnh khắc. Kỷ nguyên giàu thông tin đã mang đến một sự giải phóng mạnh mẽ về mặt trí tuệ, giúp con người nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa các nguồn lực xã hội và mở rộng tầm nhìn ra ngoài vũ trụ bao la. Đó là một thành tựu không thể phủ nhận, một bước nhảy vọt vĩ đại minh chứng cho sức mạnh sáng tạo vô biên của bộ óc con người. Công nghệ đã phủ lên đời sống một lớp lụa là của sự tiện lợi, biến những điều tưởng chừng là viễn tưởng của thế kỷ trước thành những thói quen bình thường của ngày hôm nay.

Tuy nhiên, sự tiện nghi mà công nghệ mang đến cho con người cũng khiến con người rơi vào nguy cơ lo sợ trước những cơ chế mà nó mang lại, khi con người liên tục phải hoài nghi rằng liệu sự tiện nghi đó có tước đi quyền làm người của họ không, có thống trị vai trò của họ trong thế giới này hay không. Đây không phải là một nỗi sợ mơ hồ mang tính hoang tưởng, mà là một cuộc khủng hoảng hiện sinh có thật đang âm ỉ cháy trong lòng xã hội hiện đại. Khi công nghệ trở nên quá thông minh, quá thấu hiểu và quá tiện lợi, nó bắt đầu thay thế con người đưa ra các quyết định. Từ việc gợi ý một bài hát, một bộ phim, cho đến việc định hướng quan điểm chính trị, lựa chọn nghề nghiệp hay thậm chí là tìm kiếm bạn đời, tất cả đều đang được vận hành bởi những thuật toán tinh vi.

Con người bắt đầu cảm thấy mình trở nên nhỏ bé và thụ động trước chính những sản phẩm do mình tạo ra. Chúng ta lo sợ rằng khi mọi hành vi, sở thích và suy nghĩ của mình đều bị mã hóa thành những dữ liệu số để các tập đoàn công nghệ phân tích và thao túng, thì cái gọi là tự do ý chí liệu có còn tồn tại. Khi một cỗ máy có thể viết văn, vẽ tranh, lập trình và đưa ra những quyết định logic chuẩn xác hơn cả một chuyên gia con người, thì vị thế độc tôn của nhân loại sẽ ở đâu. Sự tiện nghi tối hạn dường như đang đi kèm với một cái giá quá đắt, đó là sự xói mòn dần quyền tự quyết của cá nhân. Con người phải đối mặt với nỗi ám ảnh rằng mình đang biến thành một mắt xích phụ thuộc trong một hệ sinh thái công nghệ khổng lồ, nơi mà vai trò chủ thể của họ bị hạ thấp xuống thành những sinh thể tiêu thụ thụ động, những kẻ nhận mệnh lệnh từ các thông báo đẩy trên màn hình điện thoại. Sự hoài nghi này đẩy chúng ta vào một trạng thái bất an thường trực, một nỗi lo sợ hiện sinh rằng liệu trong tương lai, chúng ta có bị biến thành những thực thể vô hồn, bị thống trị bởi chính sự tiện nghi mà mình hằng khao khát.

Hệ quả tất yếu của sự phụ thuộc đó là chúng ta đang sống trong kỷ nguyên nghèo nàn nhất về năng lực cảm xúc và xã hội, khi mà chúng ta phó mặc hoàn toàn cho những thiết bị công nghệ và đánh mất quyền năng thể hiện cảm xúc của mình. Thật nghịch lý khi trong một thế giới mà con người có thể kết nối với hàng ngàn bạn bè trên mạng xã hội, thì tỷ lệ người cảm thấy cô đơn và trầm cảm lại cao chưa từng thấy. Chúng ta đã thay thế những cuộc trò chuyện trực tiếp, những cái ôm ấm áp, những ánh mắt biết nói bằng những biểu tượng cảm xúc vô hồn trên màn hình điện thoại. Chúng ta phó mặc việc duy trì các mối quan hệ xã hội cho các thuật toán nhắn tin, phó mặc việc ghi nhớ những kỷ niệm cho các kho lưu trữ đám mây.

Khi mọi giao tiếp đều được lọc qua các bộ lọc kỹ thuật số, năng lực thấu cảm của con người bắt đầu bị thui chột. Chúng ta không còn đủ kiên nhẫn để lắng nghe một câu chuyện dài của một người bạn đang gặp khó khăn, không còn đủ nhạy cảm để nhận ra sự rạn nứt trong giọng nói của người đối diện, bởi vì chúng ta đã quen với những thông tin ngắn gọn, nhanh chóng và được định dạng sẵn. Quyền năng thể hiện cảm xúc, vốn là bản chất nguyên thủy và thiêng liêng nhất của con người, giờ đây bị giới hạn trong những nút bấm thích, thả tim hay những dòng bình luận ngắn ngủi đầy sáo rỗng. Chúng ta trở nên vụng về trong việc xử lý các xung đột đời thực, sợ hãi những tổn thương trực diện và xu hướng trốn nghĩa vụ chia sẻ bằng cách ẩn mình sau những hồ sơ cá nhân hoàn hảo trên không gian ảo. Sự nghèo nàn này không nằm ở chỗ chúng ta không có cảm xúc, mà là ở chỗ chúng ta không còn biết cách nuôi dưỡng, biểu đạt và trao truyền cảm xúc đó một cách chân thật giữa người với người trong thế giới thực tại.

Thế nhưng, thực tế cho thấy, chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên nghèo nàn về cảm xúc xã hội nhưng lại vô cùng giàu có về lý trí và bản lĩnh, mà chính lý trí và bản lĩnh này lại là thước đo, là cơ sở để chúng ta nhìn nhận lại mình đang ở đâu, đang tồn hiện như thế nào trước sức tấn công của công nghệ thông tin. Việc công nghệ hóa không hẳn chỉ toàn gây ra những tác hại tiêu cực mà nó còn tạo cơ hội lớn cho con người nhìn lại mình bằng cái nhìn lý trí hơn, nghiêm túc hơn và sâu sắc hơn. Khi đối mặt với sự thách thức của trí tuệ nhân tạo và những làn sóng tự động hóa, con người buộc phải trải qua một cuộc đại tự vấn mang tính sinh tử để định nghĩa lại chính mình.

Bản lĩnh của con người thời đại này được thể hiện ở chỗ họ biết cách hoài nghi nghi ngờ, biết cách đặt câu hỏi ngược lại cho các thuật toán và tìm cách thiết lập những ranh giới đạo đức cho sự phát triển của công nghệ. Công nghệ hóa đã đẩy chúng ta vào một tình thế hiểm nghèo, nhưng chính trong tình thế hiểm nghèo đó, lý trí của con người lại được kích hoạt ở mức độ cao nhất để tìm kiếm những giải pháp sinh tồn, giúp chúng ta nhận ra rằng những gì máy móc không thể thay thế được như sự sáng tạo đột phá, lòng trắc ẩn sâu xa và ý thức về sự tồn tại mới chính là những hòn đá tảng định hình nên giá trị của con người.

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà công nghệ phân bố chưa đồng đều, khi mà bên cạnh những vùng đất phát triển thịnh vượng, tiếp cận đầy đủ đến mức thừa mứa công nghệ thì ở rất nhiều vùng đất khác, việc tiếp cận công nghệ lại vô cùng khó khăn. Sự bất bình đẳng này tạo nên một thế giới phân mảnh sâu sắc, nơi tồn tại hai thực tế hoàn toàn trái ngược nhau trong cùng một không gian thời gian. Ở những đô thị siêu hiện đại, con người đang đau đầu với những căn bệnh của sự thừa thãi thông tin, của việc mất kết nối do quá kết nối ảo, của nỗi lo sợ bị thao túng bởi trí tuệ nhân tạo. Trong khi một bộ phận nhân loại đang tìm cách "thải độc kỹ thuật số" để tìm lại sự bình yên, thì một bộ phận khác vẫn đang phải vật lộn trong bóng tối của sự thiếu hụt thông tin cơ bản, bị gạt ra bên lề của tiến trình văn minh. Sự phân bố chưa đồng đều này không chỉ là một vấn đề kinh tế xã hội đơn thuần, nó còn làm trầm trọng thêm sự nghèo nàn về năng lực cảm xúc và xã hội khi nó tạo ra một khoảng cách lớn về sự thấu cảm giữa các tầng lớp và các khu vực địa lý. Kẻ thừa mứa công nghệ thì trở nên vô cảm trước những nỗi đau thực tế vì họ bận rộn trong thế giới ảo của mình, còn người thiếu thốn công nghệ thì lại bị tước đoạt mất những công cụ tối thiểu để tiếng nói của họ có thể được lắng nghe và chia sẻ trên diễn đàn toàn cầu.

Đứng trước sự suy giảm của năng lực cảm xúc, một câu hỏi quan trọng cần phải được đặt ra một cách nghiêm túc là con người thực sự đang mất đi năng lực đó hay họ đang chủ động dùng công nghệ như một phương tiện để xóa nhòa đi những cảm xúc rất đỗi hiện sinh của họ về một thế giới hiểm nguy. Nhìn sâu vào tâm lý học của con người hiện đại, ta thấy thế giới thực tại chứa đựng quá nhiều bất ổn, biến động, bạo lực và những tổn thương khó lường. Cuộc sống thực tế đòi hỏi con người phải đối mặt với những thất bại, những mất mát, những mối quan hệ đổ vỡ và những áp lực sinh tồn nặng nề. Trong bối cảnh đó, công nghệ xuất hiện như một cứu cánh, một chiếc kén an toàn và êm ái.

Việc con người mất đi cảm xúc không phải hoàn toàn do công nghệ tước đoạt, mà phần lớn là do chính nhu cầu muốn sống nội tâm, nhu cầu muốn trốn tránh những va đập khốc liệt của đời thực để tìm kiếm sự an ủi trong thế giới ảo. Chúng ta chủ động đeo tai nghe ở nơi công cộng không phải vì chúng ta ghét âm thanh của cuộc sống, mà vì chúng ta muốn xây dựng một bức tường ngăn cách mình với một xã hội quá xô bồ và bất an. Chúng ta thích nhắn tin hơn gọi điện vì nhắn tin cho phép chúng ta có thời gian biên tập lại cảm xúc, che giấu đi sự bối rối và kiểm soát được hình ảnh của mình trước người khác. Công nghệ ở đây đóng vai trò là một bộ giảm chấn, một phương tiện giúp con người né tránh những trải nghiệm hiện sinh đau đớn. Do đó, việc đổ lỗi hoàn toàn cho công nghệ là một sự ngụy biện trốn tránh trách nhiệm, bởi vì chính chúng ta đã chọn cách từ bỏ quyền năng cảm xúc của mình để đổi lấy một sự bình yên giả tạo và một sự an toàn trong bóng tối của những màn hình phát sáng.

Hơn thế nữa, thời đại này không hề nghèo về năng lực trí tuệ hay cảm xúc, những giá trị đó nó vẫn tồn tại, thậm chí là tồn tại rất rõ ràng và mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của nhân loại, tuy nhiên những tấm gương, biểu tượng, hình ảnh về sự thương xót, cảm thông, yêu thương thì rất dễ bị nhiệt lượng quan tâm của xã hội vùi dập đi. Xã hội hiện đại có một xu hướng đáng ngại là thích cái gây sốc, thích những trường hợp đặt con người vào hoàn cảnh kỳ lạ để họ có lý do để bàn tán, để bình giá, để soi xét từ trên cao xuống dưới. Hệ thống truyền thông và mạng xã hội được vận hành dựa trên nền tảng của sự chú ý, và thứ thu hút sự chú ý mạnh mẽ nhất lại thường là những điều tiêu cực, những scandal, những biểu hiện lệch chuẩn hay những tấn bi kịch của cá nhân.

Thời đại này đòi hỏi chúng ta phải có một bản lĩnh lớn, một lý trí tỉnh táo để không bị nhấn chìm trong đại dương thông tin nhưng lại chết khát trong sự thiếu hụt tính người. Cuộc cách mạng thực sự mà chúng ta cần thực hiện trong thế kỷ này không phải là cuộc cách mạng về trí tuệ nhân tạo hay công nghệ sinh học, mà là cuộc cách mạng thức tỉnh tâm hồn, nơi mỗi cá nhân tự ý thức được việc phải bảo vệ và nuôi dưỡng năng lực cảm xúc của chính mình. Chúng ta cần học lại cách lắng nghe những âm thanh trầm lặng của đời sống, học cách đối thoại trực diện với những nỗi đau hiện sinh mà không cần đến một bộ lọc công nghệ nào, và học cách trao đi tình yêu thương một cách thuần khiết, chân thật nhất. Đứng trước sự tấn công vũ bão của công nghệ thông tin, câu trả lời cho tương lai của nhân loại không nằm ở những phòng thí nghiệm hay những tập đoàn công nghệ khổng lồ, nó nằm ngay trong câu hỏi mà mỗi chúng ta tự đặt ra cho bản thân mình mỗi ngày khi đối diện với tấm gương của lương tri, rằng liệu ta có đang tồn tại như một con người đích thực với đầy đủ những rung động thiêng liêng.
Thêm
56
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta đang sống trong một cuộc địa chấn về vật chất và kỹ thuật, một thời đại mà lịch sử nhân loại chưa từng chứng kiến. Chưa bao giờ con người sở hữu trong tay lượng tri thức đồ sộ, khả năng kết nối xuyên lục địa và những công cụ vạn năng như lúc này. Chúng ta tự hào gọi đây là đỉnh cao của sự tiến bộ, là chương rực rỡ nhất của tư duy duy lý. Thế nhưng, ngay trong chính thời khắc hoàng kim đó, một tiếng thở dài đầy hoài nghi lại vang lên từ sâu thẳm tâm thức của những kẻ biết tư duy. Nhà nghiên cứu Lương Dũng Nhân cho rằng: “Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên giàu thông tin nhất, nhưng cũng có thể là kỷ nguyên nghèo nàn nhất về năng lực cảm xúc và xã hội”. Lời cảnh báo ấy buộc chúng ta phải nhìn nhận lại xem liệu sự bùng nổ của thông tin có đang tỷ lệ nghịch với độ trưởng thành của tâm hồn, và liệu thế giới công nghệ có đang trở thành một chiếc lồng kính khiến con người trở nên “nghèo nàn” hay không.

Thế giới công nghệ với những tiến bộ vượt bậc mang theo sự tiện nghi của nó đã giúp chúng ta được sống trong một kỷ nguyên giàu thông tin hơn bao giờ hết. Nhìn vào bức tranh toàn cảnh của xã hội đương đại, ta thấy sự hiện diện của công nghệ thông tin đã tái cấu trúc hoàn toàn cách thức thế giới vận hành. Không còn những ngày tháng con người phải mòn mỏi chờ đợi một cánh thư đi qua các đại dương, cũng không còn cảnh những tri thức quý giá bị chôn vùi trong những thư viện cổ kính mà chỉ một số ít học giả mới có quyền tiếp cận. Giờ đây, dòng chảy thông tin diễn ra theo dòng thời gian thực, liên tục, cuộn xoáy và tràn ngập khắp mọi ngõ ngách của đời sống. Công nghệ số hóa đã san phẳng các ranh giới địa lý, biến hành tinh này thành một ngôi làng toàn cầu nơi mà bất kỳ ai cũng có thể trở thành nhà xuất bản thông tin, và bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận nguồn tri thức của nhân loại chỉ bằng một thiết bị cầm tay nhỏ gọn.

Sự tiện nghi này mang lại cho con người một quyền năng tối thượng, một thứ cảm giác tự do vô bờ bến khi ta có thể kiểm soát và định cấu hình thế giới xung quanh theo ý muốn của mình. Chúng ta có thể học tập từ những giáo sư hàng đầu thế giới mà không cần rời khỏi căn phòng nhỏ, có thể điều hành những doanh nghiệp triệu đô thông qua những dòng lệnh trên nền tảng đám mây, và có thể kết nối với hàng triệu người xa lạ chỉ trong một khoảnh khắc. Kỷ nguyên giàu thông tin đã mang đến một sự giải phóng mạnh mẽ về mặt trí tuệ, giúp con người nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa các nguồn lực xã hội và mở rộng tầm nhìn ra ngoài vũ trụ bao la. Đó là một thành tựu không thể phủ nhận, một bước nhảy vọt vĩ đại minh chứng cho sức mạnh sáng tạo vô biên của bộ óc con người. Công nghệ đã phủ lên đời sống một lớp lụa là của sự tiện lợi, biến những điều tưởng chừng là viễn tưởng của thế kỷ trước thành những thói quen bình thường của ngày hôm nay.

Tuy nhiên, sự tiện nghi mà công nghệ mang đến cho con người cũng khiến con người rơi vào nguy cơ lo sợ trước những cơ chế mà nó mang lại, khi con người liên tục phải hoài nghi rằng liệu sự tiện nghi đó có tước đi quyền làm người của họ không, có thống trị vai trò của họ trong thế giới này hay không. Đây không phải là một nỗi sợ mơ hồ mang tính hoang tưởng, mà là một cuộc khủng hoảng hiện sinh có thật đang âm ỉ cháy trong lòng xã hội hiện đại. Khi công nghệ trở nên quá thông minh, quá thấu hiểu và quá tiện lợi, nó bắt đầu thay thế con người đưa ra các quyết định. Từ việc gợi ý một bài hát, một bộ phim, cho đến việc định hướng quan điểm chính trị, lựa chọn nghề nghiệp hay thậm chí là tìm kiếm bạn đời, tất cả đều đang được vận hành bởi những thuật toán tinh vi.

Con người bắt đầu cảm thấy mình trở nên nhỏ bé và thụ động trước chính những sản phẩm do mình tạo ra. Chúng ta lo sợ rằng khi mọi hành vi, sở thích và suy nghĩ của mình đều bị mã hóa thành những dữ liệu số để các tập đoàn công nghệ phân tích và thao túng, thì cái gọi là tự do ý chí liệu có còn tồn tại. Khi một cỗ máy có thể viết văn, vẽ tranh, lập trình và đưa ra những quyết định logic chuẩn xác hơn cả một chuyên gia con người, thì vị thế độc tôn của nhân loại sẽ ở đâu. Sự tiện nghi tối hạn dường như đang đi kèm với một cái giá quá đắt, đó là sự xói mòn dần quyền tự quyết của cá nhân. Con người phải đối mặt với nỗi ám ảnh rằng mình đang biến thành một mắt xích phụ thuộc trong một hệ sinh thái công nghệ khổng lồ, nơi mà vai trò chủ thể của họ bị hạ thấp xuống thành những sinh thể tiêu thụ thụ động, những kẻ nhận mệnh lệnh từ các thông báo đẩy trên màn hình điện thoại. Sự hoài nghi này đẩy chúng ta vào một trạng thái bất an thường trực, một nỗi lo sợ hiện sinh rằng liệu trong tương lai, chúng ta có bị biến thành những thực thể vô hồn, bị thống trị bởi chính sự tiện nghi mà mình hằng khao khát.

Hệ quả tất yếu của sự phụ thuộc đó là chúng ta đang sống trong kỷ nguyên nghèo nàn nhất về năng lực cảm xúc và xã hội, khi mà chúng ta phó mặc hoàn toàn cho những thiết bị công nghệ và đánh mất quyền năng thể hiện cảm xúc của mình. Thật nghịch lý khi trong một thế giới mà con người có thể kết nối với hàng ngàn bạn bè trên mạng xã hội, thì tỷ lệ người cảm thấy cô đơn và trầm cảm lại cao chưa từng thấy. Chúng ta đã thay thế những cuộc trò chuyện trực tiếp, những cái ôm ấm áp, những ánh mắt biết nói bằng những biểu tượng cảm xúc vô hồn trên màn hình điện thoại. Chúng ta phó mặc việc duy trì các mối quan hệ xã hội cho các thuật toán nhắn tin, phó mặc việc ghi nhớ những kỷ niệm cho các kho lưu trữ đám mây.

Khi mọi giao tiếp đều được lọc qua các bộ lọc kỹ thuật số, năng lực thấu cảm của con người bắt đầu bị thui chột. Chúng ta không còn đủ kiên nhẫn để lắng nghe một câu chuyện dài của một người bạn đang gặp khó khăn, không còn đủ nhạy cảm để nhận ra sự rạn nứt trong giọng nói của người đối diện, bởi vì chúng ta đã quen với những thông tin ngắn gọn, nhanh chóng và được định dạng sẵn. Quyền năng thể hiện cảm xúc, vốn là bản chất nguyên thủy và thiêng liêng nhất của con người, giờ đây bị giới hạn trong những nút bấm thích, thả tim hay những dòng bình luận ngắn ngủi đầy sáo rỗng. Chúng ta trở nên vụng về trong việc xử lý các xung đột đời thực, sợ hãi những tổn thương trực diện và xu hướng trốn nghĩa vụ chia sẻ bằng cách ẩn mình sau những hồ sơ cá nhân hoàn hảo trên không gian ảo. Sự nghèo nàn này không nằm ở chỗ chúng ta không có cảm xúc, mà là ở chỗ chúng ta không còn biết cách nuôi dưỡng, biểu đạt và trao truyền cảm xúc đó một cách chân thật giữa người với người trong thế giới thực tại.

Thế nhưng, thực tế cho thấy, chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên nghèo nàn về cảm xúc xã hội nhưng lại vô cùng giàu có về lý trí và bản lĩnh, mà chính lý trí và bản lĩnh này lại là thước đo, là cơ sở để chúng ta nhìn nhận lại mình đang ở đâu, đang tồn hiện như thế nào trước sức tấn công của công nghệ thông tin. Việc công nghệ hóa không hẳn chỉ toàn gây ra những tác hại tiêu cực mà nó còn tạo cơ hội lớn cho con người nhìn lại mình bằng cái nhìn lý trí hơn, nghiêm túc hơn và sâu sắc hơn. Khi đối mặt với sự thách thức của trí tuệ nhân tạo và những làn sóng tự động hóa, con người buộc phải trải qua một cuộc đại tự vấn mang tính sinh tử để định nghĩa lại chính mình.

Bản lĩnh của con người thời đại này được thể hiện ở chỗ họ biết cách hoài nghi nghi ngờ, biết cách đặt câu hỏi ngược lại cho các thuật toán và tìm cách thiết lập những ranh giới đạo đức cho sự phát triển của công nghệ. Công nghệ hóa đã đẩy chúng ta vào một tình thế hiểm nghèo, nhưng chính trong tình thế hiểm nghèo đó, lý trí của con người lại được kích hoạt ở mức độ cao nhất để tìm kiếm những giải pháp sinh tồn, giúp chúng ta nhận ra rằng những gì máy móc không thể thay thế được như sự sáng tạo đột phá, lòng trắc ẩn sâu xa và ý thức về sự tồn tại mới chính là những hòn đá tảng định hình nên giá trị của con người.

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà công nghệ phân bố chưa đồng đều, khi mà bên cạnh những vùng đất phát triển thịnh vượng, tiếp cận đầy đủ đến mức thừa mứa công nghệ thì ở rất nhiều vùng đất khác, việc tiếp cận công nghệ lại vô cùng khó khăn. Sự bất bình đẳng này tạo nên một thế giới phân mảnh sâu sắc, nơi tồn tại hai thực tế hoàn toàn trái ngược nhau trong cùng một không gian thời gian. Ở những đô thị siêu hiện đại, con người đang đau đầu với những căn bệnh của sự thừa thãi thông tin, của việc mất kết nối do quá kết nối ảo, của nỗi lo sợ bị thao túng bởi trí tuệ nhân tạo. Trong khi một bộ phận nhân loại đang tìm cách "thải độc kỹ thuật số" để tìm lại sự bình yên, thì một bộ phận khác vẫn đang phải vật lộn trong bóng tối của sự thiếu hụt thông tin cơ bản, bị gạt ra bên lề của tiến trình văn minh. Sự phân bố chưa đồng đều này không chỉ là một vấn đề kinh tế xã hội đơn thuần, nó còn làm trầm trọng thêm sự nghèo nàn về năng lực cảm xúc và xã hội khi nó tạo ra một khoảng cách lớn về sự thấu cảm giữa các tầng lớp và các khu vực địa lý. Kẻ thừa mứa công nghệ thì trở nên vô cảm trước những nỗi đau thực tế vì họ bận rộn trong thế giới ảo của mình, còn người thiếu thốn công nghệ thì lại bị tước đoạt mất những công cụ tối thiểu để tiếng nói của họ có thể được lắng nghe và chia sẻ trên diễn đàn toàn cầu.

Đứng trước sự suy giảm của năng lực cảm xúc, một câu hỏi quan trọng cần phải được đặt ra một cách nghiêm túc là con người thực sự đang mất đi năng lực đó hay họ đang chủ động dùng công nghệ như một phương tiện để xóa nhòa đi những cảm xúc rất đỗi hiện sinh của họ về một thế giới hiểm nguy. Nhìn sâu vào tâm lý học của con người hiện đại, ta thấy thế giới thực tại chứa đựng quá nhiều bất ổn, biến động, bạo lực và những tổn thương khó lường. Cuộc sống thực tế đòi hỏi con người phải đối mặt với những thất bại, những mất mát, những mối quan hệ đổ vỡ và những áp lực sinh tồn nặng nề. Trong bối cảnh đó, công nghệ xuất hiện như một cứu cánh, một chiếc kén an toàn và êm ái.

Việc con người mất đi cảm xúc không phải hoàn toàn do công nghệ tước đoạt, mà phần lớn là do chính nhu cầu muốn sống nội tâm, nhu cầu muốn trốn tránh những va đập khốc liệt của đời thực để tìm kiếm sự an ủi trong thế giới ảo. Chúng ta chủ động đeo tai nghe ở nơi công cộng không phải vì chúng ta ghét âm thanh của cuộc sống, mà vì chúng ta muốn xây dựng một bức tường ngăn cách mình với một xã hội quá xô bồ và bất an. Chúng ta thích nhắn tin hơn gọi điện vì nhắn tin cho phép chúng ta có thời gian biên tập lại cảm xúc, che giấu đi sự bối rối và kiểm soát được hình ảnh của mình trước người khác. Công nghệ ở đây đóng vai trò là một bộ giảm chấn, một phương tiện giúp con người né tránh những trải nghiệm hiện sinh đau đớn. Do đó, việc đổ lỗi hoàn toàn cho công nghệ là một sự ngụy biện trốn tránh trách nhiệm, bởi vì chính chúng ta đã chọn cách từ bỏ quyền năng cảm xúc của mình để đổi lấy một sự bình yên giả tạo và một sự an toàn trong bóng tối của những màn hình phát sáng.

Hơn thế nữa, thời đại này không hề nghèo về năng lực trí tuệ hay cảm xúc, những giá trị đó nó vẫn tồn tại, thậm chí là tồn tại rất rõ ràng và mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của nhân loại, tuy nhiên những tấm gương, biểu tượng, hình ảnh về sự thương xót, cảm thông, yêu thương thì rất dễ bị nhiệt lượng quan tâm của xã hội vùi dập đi. Xã hội hiện đại có một xu hướng đáng ngại là thích cái gây sốc, thích những trường hợp đặt con người vào hoàn cảnh kỳ lạ để họ có lý do để bàn tán, để bình giá, để soi xét từ trên cao xuống dưới. Hệ thống truyền thông và mạng xã hội được vận hành dựa trên nền tảng của sự chú ý, và thứ thu hút sự chú ý mạnh mẽ nhất lại thường là những điều tiêu cực, những scandal, những biểu hiện lệch chuẩn hay những tấn bi kịch của cá nhân.

Thời đại này đòi hỏi chúng ta phải có một bản lĩnh lớn, một lý trí tỉnh táo để không bị nhấn chìm trong đại dương thông tin nhưng lại chết khát trong sự thiếu hụt tính người. Cuộc cách mạng thực sự mà chúng ta cần thực hiện trong thế kỷ này không phải là cuộc cách mạng về trí tuệ nhân tạo hay công nghệ sinh học, mà là cuộc cách mạng thức tỉnh tâm hồn, nơi mỗi cá nhân tự ý thức được việc phải bảo vệ và nuôi dưỡng năng lực cảm xúc của chính mình. Chúng ta cần học lại cách lắng nghe những âm thanh trầm lặng của đời sống, học cách đối thoại trực diện với những nỗi đau hiện sinh mà không cần đến một bộ lọc công nghệ nào, và học cách trao đi tình yêu thương một cách thuần khiết, chân thật nhất. Đứng trước sự tấn công vũ bão của công nghệ thông tin, câu trả lời cho tương lai của nhân loại không nằm ở những phòng thí nghiệm hay những tập đoàn công nghệ khổng lồ, nó nằm ngay trong câu hỏi mà mỗi chúng ta tự đặt ra cho bản thân mình mỗi ngày khi đối diện với tấm gương của lương tri, rằng liệu ta có đang tồn tại như một con người đích thực với đầy đủ những rung động thiêng liêng.
Thêm
49
0
0
Viết trả lời...
Tiểu thuyết ”Xuân Tóc đỏ”, chưa bao giờ thôi để lại trong ta những trăn trở, suy tư và day dứt. Tác phẩm đã tái hiện rõ nét cách mà đàn ông - từ những kẻ vô học, lưu manh, ma cà bông như Xuân Tóc Đỏ cho đến tầng lớp trí thức rởm, tiểu tư sản thành thị như Văn Minh, TYPN - tổ chức, hợp thức hóa và thậm chí tôn vinh cái nhìn chiếm đoạt thân thể phụ nữ dưới lớp vỏ “Âu hóa”, “văn minh”. Trong thế giới đảo điên của “Số Đỏ”, phụ nữ không chỉ bị nhìn một cách thụ động, mà bản thân họ còn tự thích nghi với tha tính, bị nội tâm hóa bởi chính cái nhìn nam giới để khẳng định giá trị được định hình bởi chủ nghĩa thực dân nam quyền.

Cái nhìn này mang danh nghĩa sự thưởng lãm cái đẹp, nhưng thực chất là một hành vi quyền lực, mang tính chất áp đặt của ý thức hệ gia trưởng phong kiến. Dưới nhãn quan của những người đàn ông trong tác phẩm, cơ thể và danh dự của người phụ nữ trở thành một vùng đất thuộc địa mới, nơi họ tự do khai phá, dán nhãn, định giá và trưng bày để phục vụ cho các mục đích thương mại, danh vọng và khoái cảm thị dâm của phái mạnh. Trong cuốn tiểu thuyết, Tiệm may Âu hóa chính là một thiết chế hội tụ đầy đủ các đại diện của nhãn quan nam giới: ông chủ Văn Minh, nhà mỹ thuật TYPN (Tôi Yêu Phụ Nữ), ông nhà báo, và sau đó là Xuân Tóc Đỏ. Họ cùng nhau xây dựng một hệ thống mà ở đó phụ nữ bị biến thành đối tượng thẩm mỹ và dục vọng dưới danh nghĩa “văn minh”, “tiến bộ”. Trước hết, “nhãn quan nam giới” thể hiện ở những y phục tân thời của phụ nữ lại được thiết kế và chi phối hoàn toàn bởi những người đàn ông, thay vì bởi chính phụ nữ.

Cái tên TYPN thể hiện sự tôn trọng và tình yêu, có thể nói là triết lý sống đối với ông ta trong cuộc sống và công việc. Tuy nhiên, cái tên của ông cũng hướng đến một đối tượng bị soi xét, đánh giá, bình phẩm và bị thay đổi, lựa chọn dưới góc nhìn nam quyền. Chữ “Yêu” ở đây không mang bản chất nhân văn, giải phóng, mà là sự yêu chuộng một món đồ chơi, một thứ thị cảnh có thể nhào nặn theo ý muốn của chủ thể nhìn. TYPN công khai tuyên bố triết lý thiết kế của mình: “Quần áo để tô điểm, để làm tăng sắc đẹp, chứ không phải để che đậy”. Tưởng chừng như đây là một triết lý hướng tới việc tôn vinh sắc đẹp phụ nữ, nhưng thực chất, đây chỉ là một tuyên ngôn nhằm hợp thức hóa thứ y phục tân thời phô bày cơ thể phụ nữ ra trước mắt nam giới.

Việc đặt tên cho các bộ trang phục như Chinh phục, Ngây thơ, Dậy thì, Chờ một phút,… chính là một hành vi mã hóa ngôn ngữ lên da thịt phụ nữ. Đàn ông định đoạt xem phần nào trên cơ thể người phụ nữ được phép lộ ra, lộ ra ở mức độ nào để vừa vặn với trí tưởng tượng tình dục của phái mạnh. Tiệm may Âu hóa không giải phóng phụ nữ khỏi chiếc áo dài truyền thống để họ tự do hơn trong hành động, mà là chuyển dịch họ từ ngục tối của sự kìm kẹp phong kiến sang sân khấu của sự phô diễn tình dục thương mại hóa, nơi họ buộc phải khoác lên mình những biểu tượng “văn minh” do đàn ông kiến tạo để trở thành một thị cảnh hoàn hảo.

Khi người phụ nữ bước vào trò chơi thị giác này, họ ngay lập tức phải đối mặt với một hệ thống phán xét hai mặt độc hại của nhãn quan nam giới. Những nhân vật như Bà Phó Đoan, Cô Tuyết, vợ ông TYPN thì bị những người đàn ông và thậm chí là độc giả chúng ta gắn cho cái mác “dâm”, “già mà dâm” và bị những tên vô học như Xuân Tóc Đỏ miệt thị: “Bà Phó Đoan trông thế mà…, nhưng già thế thì còn nước mẹ gì”. Câu nói đó đã thể hiện sự hạ thấp quyền thế và giá trị của người phụ nữ trong việc thỏa mãn dục tính và sự chọn lọc sắc đẹp của đàn ông. Khi giá trị của một con người bị thu hẹp vào độ tuổi sinh học và khả năng kích thích tình dục, người phụ nữ đã bị tước đoạt hoàn toàn tư cách chủ thể.

Sự tàn nhẫn của nhãn quan nam giới nằm ở chỗ nó vừa kích động phụ nữ phải trở nên quyến rũ, phải phơi bày cơ thể thông qua các phong trào Âu hóa, nhưng ngay khi họ thực hiện điều đó, nó lập tức dán nhãn họ là những kẻ suy đồi về đạo đức. Bà Phó Đoan - một người phụ nữ góa chồng, có những nhu cầu sinh lý tự nhiên-– lại bị biến thành một trò cười châm biếm, một biểu tượng của sự “dâm đãng lố lăng” chỉ vì bà không còn sở hữu một cơ thể trẻ trung, vừa vặn với sự chọn lọc sắc đẹp của đàn ông. Ánh nhìn của Xuân Tóc Đỏ, một kẻ đi lên từ tầng lớp hạ lưu nhưng nhanh chóng hấp thụ trọn vẹn cái vô thức phụ hệ của tầng lớp thượng lưu, đã bộc lộ bản chất trần trụi của xã hội: phụ nữ khi quá tuổi thanh xuân sẽ bị xem như những phế phẩm thẩm mỹ, không còn giá trị sử dụng trong hệ thống trao đổi dục tính của nam giới.

Hệ quả sâu sắc nhất của cơ chế nhãn quan nam giới trong “Số đỏ” không chỉ dừng lại ở sự lăng mạ ngoại tại, mà nằm ở cách các nhân vật nữ tự nội tâm hóa ánh nhìn đó vào trong bản ngã của chính mình. Cô Tuyết, một nhân vật của giới thượng lưu luôn đau khổ vì bị xã hội đồn đại là “mất chữ trinh”, đã chọn cách chứng minh sự trong sạch của mình bằng một nghịch lý thẩm mỹ: mặc bộ y phục Ngây thơ đến đám tang của ông nội. Bộ váy nửa kín nửa hở, phô bày những đường cong cơ thể ra trước hàng trăm cặp mắt của quan khách, lại được Tuyết xem như một tuyên ngôn về phẩm hạnh, một cách để chứng minh cho thiên hạ thấy cô vẫn còn “ngây thơ”, vẫn là một thiếu nữ có giá trị. Cô Tuyết không nhìn cơ thể mình bằng cảm xúc nội tại, mà nhìn bằng con mắt đánh giá của đám đàn ông tư sản bên ngoài. Cô tự biến mình thành một đối tượng cụ thể nhất của thị năng, một thị cảnh hoàn chỉnh để vừa lòng người xem. Họ nghĩ rằng họ đang tự do, đang đi tiên phong trong phong trào tiến bộ, nhưng thực chất họ đang khiêu vũ trong chiếc lồng sắt của chủ nghĩa thực dân nam quyền. Giá trị của người phụ nữ lúc này hoàn toàn bị lệ thuộc vào sự định đoạt, ban phát của đàn ông. Họ phải ngoan ngoãn, phải ngây thơ, hoặc phải dâm đãng một cách có kiểm soát để làm thỏa mãn những ảo tưởng quyền lực của những kẻ như Văn Minh hay Xuân Tóc Đỏ.

Qua việc mổ xẻ cấu trúc thị giác trong “Số đỏ”, ta nhận ra Vũ Trọng Phụng không chỉ viết một cuốn tiểu thuyết trào phúng để cười cợt những hiện tượng lố lăng của xã hội đương thời. Đi xa hơn thế, tác phẩm là một bản giải phẫu xuất sắc về cách thức nhãn quan nam giới chiếm đoạt, thao túng và hủy hoại người phụ nữ dưới những chiêu bài văn hóa tinh vi. Độc giả chúng ta, nếu chỉ dừng lại ở việc cười cợt sự “dâm” của Bà Phó Đoan hay sự “lố lăng” của Cô Tuyết, thì chính chúng ta đang đồng lõa với cái nhìn của Xuân Tóc Đỏ, đang tiếp tục duy trì thứ quyền lực phụ hệ độc hại đã giam cầm họ. Giải phóng phụ nữ trong bối cảnh văn hóa thực dân gia trưởng không phải là khoác lên người họ những bộ y phục tân thời của tiệm may TYPN, mà là trả lại cho họ quyền được sở hữu ánh nhìn, quyền được tự định nghĩa năng lực và giá trị của bản thân mà không cần thông qua sự chọn lọc sắc đẹp hay dục tính của đàn ông. Chỉ khi khước từ nhãn quan nam giới, phá vỡ cái khuôn mẫu của “bình hoa di động” hay “thị cảnh bị chiếm dụng”, con người mới có thể bước ra khỏi những ảo tưởng về sự văn minh giả tạo, để xây dựng một không gian sống nơi phẩm giá của mỗi cá nhân được tôn trọng một cách thực chất, tự thân và toàn vẹn.
Thêm
64
0
0
Viết trả lời...
Khi nhãn quan nam giới (male gaze) xâm nhập vào cấu trúc của các phương tiện truyền thông và điện ảnh, nó không dừng lại ở việc định hình cách nhìn, mà còn trực tiếp can thiệp vào cách xã hội định giá năng lực hành vi và trí tuệ của người phụ nữ. Một hệ quả tất yếu và rõ rệt nhất của cơ chế này là khi phụ nữ liên tục được miêu tả như đối tượng của ham muốn tình dục, họ dễ bị đánh giá là kém năng lực hoặc kém thông minh hơn trong căn cước xã hội, từ đó khiến cho nam giới tiếp tục có cái nhìn bất cân xứng về vai trò của mình và vị trí của người phụ nữ.

Điện ảnh phương Tây, đặc biệt là các tác phẩm điện ảnh Mỹ và Châu Âu đình đám những năm 2000, đã minh chứng cho sự định kiến này qua mẫu nhân vật “tóc vàng hoe ngu ngốc” (dumb blonde). Hình tượng “tóc vàng hoe” được áp dụng rất nhiều trong các phim hài châm biếm để xây dựng một nhân vật nữ xinh đẹp nhưng ngu ngốc, kém trí tuệ, lố bịch hay vô dụng. Nhân vật này chỉ tồn tại như một thứ gia vị gây cười, một đối tượng để thỏa mãn thị giác của người xem nam giới đồng thời củng cố niềm tin của chế độ phụ hệ rằng sự hoàn hảo về ngoại hình luôn tỉ lệ nghịch với năng lực tư duy.

Tại thị trường văn hóa Việt Nam, một cơ chế định kiến tương tự cũng tồn tại và vận hành bền bỉ thông qua khái niệm “bình hoa di động”. Cụm từ này được sử dụng một cách phổ biến để chỉ những cô gái tuy xinh đẹp về mặt ngoại hình nhưng lại rỗng ruột về năng lực và trí tuệ. Việc đóng khung phụ nữ vào hai thái cực cực đoan hoặc thông minh nhưng kém hấp dẫn, hoặc xinh đẹp nhưng ngu ngốc, là một chiến lược tinh vi của nhãn quan nam giới hòng tước đoạt căn cước toàn vẹn của họ, tái định hình xã hội vốn dĩ đã quá bất công với người phụ nữ.

Hệ quả của việc bình thường hóa tư tưởng này là nó tạo ra một áp lực tâm lý vô hình, khiến cho phần lớn người phụ nữ phải thường xuyên tỏ ra ngốc nghếch, yếu ớt để làm thỏa mãn đàn ông. Để được chấp nhận và che chở trong một xã hội phụ hệ, người phụ nữ buộc phải tự thu nhỏ trí tuệ của mình, từ bỏ sự sắc sảo cá nhân để đóng tròn vai một khách thể an toàn, không gây đe dọa đến vị thế thống trị và lòng tự tôn của nam giới.

Hệ quả nguy hiểm hơn của nhãn quan nam giới không chỉ dừng lại ở những định kiến về mặt trí tuệ, mà nó còn trực tiếp chuyển hóa thành các nguy cơ đe dọa đến an toàn thân thể của phụ nữ trong đời sống thực tế. Khi truyền thông và điện ảnh liên tục mã hóa cơ thể phụ nữ như một thứ hàng hóa, một công cụ khơi dậy khoái cảm thị giác, ranh giới giữa một con người và một vật thể hoàn toàn bị xóa nhòa. Việc bình thường hoá những hình ảnh này cũng có thể khiến một số nam giới trở nên “dửng dưng” hơn với các hành vi quấy rối tình dục hoặc bạo lực giới, bởi cơ thể phụ nữ dần bị xem như một thứ có thể đánh giá, bình phẩm hoặc chiếm hữu. Khi một cấu trúc văn hóa liên tục phát đi thông điệp rằng phụ nữ tồn tại là để “sẵn sàng để bị nhìn”, nam giới sẽ tự cho mình quyền được tác động lên đối tượng đó bằng lời nói, ánh mắt, hoặc thậm chí là hành vi bạo lực mà không hề có cảm giác tội lỗi.

Cơ chế tác động của Nhãn quan Biểu hiện trong Văn hóa / Truyền thông Hệ quả trong Đời sống Thực tế

Vật thể hóa (Objectification) Cắt nhỏ cơ thể phụ nữ, biến thành công cụ quảng cáo, giải trí Nam giới dửng dưng trước quấy rối tình dục, xem thường bạo lực giới

Sự dửng dưng này chính là biểu hiện của một nền văn hóa dung túng quấy rối (rape culture), nơi các hành vi xâm hại không còn bị coi là tội ác mà được lý giải như một hệ quả tự nhiên của ham muốn nam giới. Những lời bình phẩm khiếm nhã về cơ thể, những cái nhìn soi mói nơi công sở, hay những hành vi quấy rối trên đường phố đều bị xem nhẹ như những trò đùa vô hại. Phụ nữ, từ vị thế của một nạn nhân, lại trở thành kẻ bị đổ lỗi do trang phục hay cách hành xử của họ không phù hợp với không gian thị giác phụ hệ. Sự đảo ngược lý luận này chứng minh rằng nhãn quan nam giới đã bẻ gãy khả năng thấu cảm của xã hội, biến những đau khổ thực tế của người phụ nữ thành một điều hiển nhiên dưới quyền năng chiếm hữu của phái mạnh.

Bên cạnh những tác động ngoại tại từ phía nam giới, nhãn quan nam giới còn để lại những vết thương sâu sắc trong thế giới nội tâm của chính người phụ nữ thông qua việc thiết lập các tiêu chuẩn thẩm mỹ độc hại. Việc thiết lập một tiêu chuẩn sắc đẹp hoàn hảo dựa trên các hình tượng phụ nữ trong điện ảnh có thể khiến phụ nữ cảm thấy tồi tệ về chính bản thân họ. Những hình ảnh được trau chuốt kỹ lưỡng bởi công nghệ trang điểm, góc máy, ánh sáng và các phần mềm chỉnh sửa kỹ thuật số đã tạo ra những biểu tượng sắc đẹp không có thực trong đời sống.

Hệ quả của nhãn quan nam giới trong đời sống hiện đại là một chuỗi những tác động mang tính hệ thống, hủy hoại người phụ nữ từ phương diện trí tuệ, an toàn thân thể cho đến lòng tự tôn cá nhân. Nó biến không gian sống thành một ma trận thị giác độc hại, nơi một giới liên tục thực hiện quyền lực nhìn và sở hữu, còn một giới bị đẩy vào thế bị động, tự giam cầm mình trong các chuẩn mực thẩm mỹ phi thực tế.

Để giải phóng người phụ nữ khỏi bi kịch này, xã hội không thể chỉ kêu gọi những giải pháp mang tính bề mặt hay những lời khuyên tự tin hời hợt. Điều cốt lõi là phải đập tan cấu trúc vô thức phụ hệ đang điều khiển các phương tiện truyền thông và điện ảnh, khước từ những hình tượng phân biệt giới tính như “tóc vàng hoe ngu ngốc” hay “bình hoa di động”. Nam giới cần phải học cách nhìn phụ nữ như những chủ thể độc lập, toàn vẹn về cả trí tuệ lẫn nhân cách, thay vì xem họ như một thứ có thể đánh giá, bình phẩm hoặc chiếm hữu. Đồng thời, chính người phụ nữ cũng phải dũng cảm từ chối việc nội hóa ánh nhìn nam giới, trả cơ thể về với giá trị nguyên bản, tự thân của nó. Chỉ khi quyền lực thị giác được tái cân bằng, khi cái đẹp không còn bị đo lường bằng mức độ thỏa mãn ham muốn của kẻ khác, con người mới thực sự tìm thấy tự do chân chính, bước ra khỏi sự vật thể hóa để sống một cuộc đời độc lập, kiêu hãnh và nhân văn.
Thêm
46
0
0
Viết trả lời...
Trong công trình khảo luận kinh điển “Những cách thấy” (Ways of Seeing), John Berger đã cho rằng: “Đàn ông hành động, còn đàn bà tỏ ra. Đàn ông nhìn đàn bà. Đàn bà quan sát cái bản thân đang bị nhìn đó. Điều này không chỉ xác định hầu hết các mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, mà còn mối quan hệ giữa đàn bà với bản thân họ. Cái bản-ngã-quan-sát bên trong một người đàn bà có giống đực, còn cái bản-ngã-bị-quan-sát có giống cái. Chính vì lẽ đó, cô ta biến bản thân thành một đối tượng - một đối tượng cụ thể nhất của thị năng: một thị cảnh (a sight)”. Nó là một công cụ thống trị được mã hóa bởi ý thức hệ phụ hệ, nơi cấu trúc thị giác bị phân cực một cách bạo lực thành hai cực đối lập: chủ thể hành động nắm giữ thị năng và đối tượng thụ động bị biến thành thị cảnh.

Khái niệm “nhãn quan nam giới” (male gaze) được Laura Mulvey - nhà lý luận điện ảnh nữ quyền người Anh - chính thức định danh lần đầu vào năm 1975 trong bài luận mang tính bước ngoặt “Visual Pleasure and Narrative Cinema” (Hoan hình và Điện ảnh tường thuật). Theo Mulvey, nhãn quan nam giới không thuần túy là một hành vi nhìn ngó mang tính cá nhân hay sinh lý của một người đàn ông cụ thể. Nó là một cơ chế ý thức hệ quy định cách thức mà nghệ thuật, điện ảnh, quảng cáo và các phương tiện truyền thông đại chúng khắc họa người phụ nữ thông qua lăng kính ham muốn của nam giới dị tính.

Trong cấu trúc này, phụ nữ bị tình dục hóa và vật thể hóa thành đối tượng của ham muốn, chỉ tồn tại để làm phông nền cho hành động của nam giới hoặc để thỏa mãn ánh nhìn thị dâm của chủ thể nhìn. Sự vận hành của xã hội phụ hệ đã biến nhãn quan này thành một trật tự mặc định, một thứ vô thức tập thể thống trị toàn bộ đời sống, ép buộc mọi trải nghiệm thẩm mỹ và giao tế hằng ngày phải tuân thủ luật chơi của kẻ nắm giữ quyền lực thị giác.

Điện ảnh, và rộng hơn là không gian thị giác của đời sống, vận hành như một phòng tối của những ham muốn vô thức bị dồn nén. Có hai cơ chế tâm lý học chính điều khiển hoan hình (khoái cảm thị giác) trong nhãn quan nam giới: sự thỏa mãn thị dâm (nhìn người khác như một đối tượng kích thích tình dục) và sự đồng hóa tự ngã với hình ảnh trên màn ảnh. Trong vai trò phô diễn truyền thống, phụ nữ đồng thời bị nhìn và bị trưng bày. Ngoại hình của họ được “mã hóa” một cách nghiêm ngặt bởi các định chế thẩm mỹ để có thể khơi dậy khoái cảm thị giác hay tình dục ở mức tối đa. Sự mã hóa này tinh vi đến mức nó biến người phụ nữ thành một thực thể biểu thị cho trạng thái “sẵn sàng để bị nhìn”. Máy quay trong điện ảnh, cũng như ánh mắt của xã hội trong đời sống, liên tục cắt nhỏ cơ thể phụ nữ thành các bộ phận độc lập: đôi môi, bờ vai, cặp đùi, vòng eo. Hành vi phân mảnh này tước đoạt đi căn cước chỉnh thể của người phụ nữ, biến họ từ một chủ thể có tâm lý, có tư duy thành một tập hợp của các ký hiệu kích dục phục vụ cho ham muốn của nam giới.

Ngược lại, nhân vật nam giới trong cấu trúc tường thuật luôn được xây dựng như một chủ thể hành động, một người kiểm soát cốt truyện và định đoạt số phận của các nhân vật khác. Người xem nam giới khi ngồi trong rạp chiếu phim hay khi quan sát đời sống, sẽ tự động đồng hóa cái tôi của mình với nhân vật nam quyền lực trên màn ảnh. Thông qua sự đồng hóa này, người đàn ông chiếm đoạt quyền kiểm soát gián tiếp đối với người phụ nữ trên sân khấu thị giác. Người đàn ông trở thành kẻ thống trị thế giới khách quan, còn người phụ nữ là phần thưởng, là vật trang trí biểu thị cho quyền lực và sự thành công của anh ta.



Các tiêu chuẩn về cái đẹp, các xu hướng thời trang, ngành công nghiệp mỹ phẩm và phẫu thuật thẩm mỹ phần lớn đều được vận hành để phục vụ cho việc duy trì trạng thái “sẵn sàng để bị nhìn” này. Hệ lụy sâu sắc nhất của cơ chế này chính là sự nội hóa ánh nhìn ở người phụ nữ. Khi một người phụ nữ lớn lên trong một xã hội bị thống trị bởi nhãn quan nam giới, cô ta không thể nhìn bản thân một cách thuần khiết. Như John Berger đã phân tích, cái bản-ngã-quan-sát bên trong một người đàn bà mang giống đực, còn cái bản-ngã-bị-quan-sát mang giống cái. Cô ta tự chia tách bản thân mình thành hai phần: kẻ nhìn và kẻ bị nhìn. Khi đứng trước gương, khi chọn một bộ quần áo, hay khi bước đi trên đường, người phụ nữ liên tục tự giám sát chính mình thông qua lăng kính của người đàn ông giả định. Cô ta tự kiểm tra xem mình đã đủ hấp dẫn, đã đủ gầy, đã đủ quyến rũ theo tiêu chuẩn của nam giới hay chưa. Sự tự giám sát triền miên này biến người phụ nữ thành kẻ tự giam cầm chính mình trong ngục tối của thẩm mỹ phụ hệ. Họ không còn sống cho những trải nghiệm nội tại của bản thân, mà sống để duy trì tư thế của một thị cảnh hoàn hảo trước nhịp điệu của thị năng nam giới.

Nhãn quan nam giới (male gaze) không phải là một hiện tượng tự nhiên, mà là một sản phẩm nhân tạo của lịch sử và quyền lực phụ hệ. Nó tồn tại và duy trì sức mạnh nhờ vào sự đồng lõa vô thức của cả xã hội, bao gồm cả chính những nạn nhân của nó. Việc vạch trần cơ chế vận hành của nhãn quan này, từ những thước phim tường thuật của điện ảnh cho đến những hành vi giao tiếp trong đời sống hằng ngày, là bước đi tiên quyết để phá vỡ xiềng xích của sự vật thể hóa. Con người chỉ có thể hướng tới một không gian sống nhân văn chân chính khi cấu trúc thị giác được tái định hình trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Phụ nữ cần phải được giải phóng khỏi trạng thái “sẵn sàng để bị nhìn”, khước từ việc tự biến mình thành thị cảnh cho kẻ khác sở hữu, để giành lại quyền là chủ thể tối cao của chính cơ thể và cuộc đời mình. Đập tan nhãn quan nam giới không phải là xóa bỏ hoan hình của nghệ thuật, mà là trả ánh nhìn về với bản chất thuần khiết của sự thấu hiểu, giải thoát con người khỏi những ảo tưởng chiếm hữu phái tính, để mỗi cá nhân, dù thuộc giới tính nào, đều có quyền tồn tại tự thân, độc lập và toàn vẹn.
Thêm
71
0
0
Viết trả lời...
“Hoa huệ chẳng đoái tâm đến xiêm y của mình, chính vì thế, xiêm y của chúng là hoàn hảo. Núi đẹp chẳng vì ai đắp đựng, rừng đẹp không vì ai trồng, bông tuyết đẹp cũng không vì người thợ bạc từng chạm búa, mài dũa... Bởi công trình của Ngài đã là sự đảm bảo đầy đủ cho sự hoàn hảo”. Lời luận giải ấy không chỉ là một phản tư về nghệ thuật vị nhân sinh hay vị nghệ thuật thông thường, mà nó chạm đến bản thể luận sâu xa của cái đẹp thuộc về lẽ tự nhiên. (Triết học nghệ thuật).

Cái đẹp của sông hồ núi non, của vẻ đẹp tình yêu và nhan sắc người con gái vốn dĩ là những hiện thể tự sinh, tự mãn. Nó tồn tại như thực thể khách quan, không cần đến bất kỳ một sự công nhận, một thang đo hay một định chế văn hóa nào của con người để trở nên có nghĩa. Trong thế giới của tự nhiên, cái đẹp vốn không có sự đối lập giữa cái đẹp và cái xấu. Toàn thể sự hiện diện của tự nhiên đã là cái đẹp được thống nhất cao độ bởi mong ý của Thượng đế, một sự sắp đặt hoàn hảo mà ở đó mọi yếu tố đều đứng đúng vị trí của nó trong một chỉnh thể hài hòa tuyệt đối.

Cái đẹp tồn tại dưới hai dạng thức nhìn thấy được hoặc không nhìn thấy được. Những gì nhìn thấy được như đóa hoa huệ tinh khôi, ngọn núi hùng vĩ hay làn da của người thiếu nữ thường dễ khiến con người sa vào lầm tưởng rằng có thể chiếm dụng và sở hữu. Ngược lại, những cái đẹp không thể nhìn thấy như nhịp điệu của gió, năng lượng của sự sinh nở hay dòng chảy ngầm của thời gian lại dễ rơi vào tình trạng bị lãng quên hoặc bị đẩy vào những đối tượng bên lề thẩm mỹ của kẻ phàm trần.

Tuy nhiên, dù ở dạng thức nào, nói như triết gia Plotinus: “Cái đẹp tự nhiên không có sự phân tách nhị nguyên về hình thức và ý niệm”. Hình thức của bông tuyết chính là ý niệm của bông tuyết, sắc hương của đóa hoa chính là bản chất của đóa hoa. Không có một khoảng cách nào giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong công trình của tạo hóa, vì mọi sự hiện diện đều là một khối thống nhất toàn vẹn, nguyên sơ và thuần khiết.

Khi thấu hiểu cái đẹp tự nhiên như một khối phi nhị nguyên, ta buộc phải chấp nhận rằng cái đẹp chứa đựng trong nó tính tự sinh và tự diệt. Con người, với tất cả sự tự phụ về nền văn minh kỹ nghệ, tuyệt nhiên không có khả năng để làm cho trương nở những chất đẹp thuần túy, lại cũng không cách nào ngăn được sự trào trạt của tiềm năng sinh nở nơi chất nguồn cái đẹp. Ta không thể ra lệnh cho một đóa hoa quỳnh phải nở nhanh hơn hay ép một thung lũng phải giữ mãi sắc xuân khi mùa đông đã gõ cửa. Sức sống của cái đẹp tự nhiên là một dòng thác lũ tự phát, nó trào dâng từ lòng đất, từ những bí mật của vũ trụ mà con người chưa từng và sẽ không bao giờ giải mã được.

Nghịch lý thay, chính tính tự hủy của vẻ đẹp lại là điều kiện tiên quyết để bảo toàn tính thiêng liêng của nó. Cách cái đẹp biến mất cũng tương tự như cách nó xuất hiện, mang trong mình quyền năng biến mất theo dự đồ của những nhịp điệu thẩm mỹ. Một bông hoa không thể bất tử, một giọt sương không thể tồn tại vĩnh hằng dưới ánh mặt trời, và một vệt hoàng hôn không thể đứng yên trên bầu trời để chờ đợi người họa sĩ chép lại.

Cái đẹp phải chết đi để bảo vệ tính nguyên bản của chính nó, để không bị tha hóa thành một thứ vật chất tầm thường bị mài mòn bởi thời gian và sự can thiệp của con người. Sự tự hủy không phải là sự diệt vong, mà là một hành động rút lui đầy kiêu hãnh của tự nhiên để bảo toàn chất nguồn thuần túy trước những thế lực muốn giam cầm nó. Lịch sử của văn minh con người, xét đến cùng, là một chuỗi những nỗ lực áp đặt quyền lực lên tự nhiên. Các chủ thể sở hữu quyền lực đã gieo rắc vào nhận thức của đồng loại nó về quyền chiếm dụng cái đẹp, biến những thực thể tự do thành tài sản và chiến lợi phẩm. Các cuộc phát kiến địa lý, những trận chiến tranh giành đất đai và thuộc địa hóa kẻ khác thực chất đều bắt nguồn từ lòng tham muốn thâu tóm nhịp điệu vũ trụ, muốn biến những cánh rừng nguyên sinh, những mỏ khoáng sản lấp lánh và cả những con người bản địa thành sở hữu độc quyền của một vương triều hay một thể chế.

Để khỏa lấp sự bất lực trước tính tự hủy của cái đẹp, con người đã thuần thục cách tạo ra các bản sao, hòng sao chép và mô phỏng cái đẹp ở mọi chiều kích, biên độ. Cái tài “mimic” (mô phỏng) này đã đẩy con người đến một sự ngộ nhận sâu sắc về khả năng sở hữu và sao bản những vẻ đẹp của vũ trụ. Người ta nghĩ rằng bằng nhiếp ảnh, họ đã đóng băng được cái nhìn của một sinh vật, bằng hội họa, họ đã tóm gọn được linh hồn của một ngọn núi, bằng những khu bảo tồn sinh thái và luật pháp, họ có thể quản lý được sự sống và cái chết của muôn loài.

Những nguyên mẫu thẩm mỹ vẫn vận hành theo cách của riêng chúng, như cách hoa nở và băng tan, như cách chim chóc sinh sôi và vượn hươu tuyệt chủng theo những chu kỳ vĩ mô của trái đất. Mọi nỗ lực cứu vãn hay duy trì của các nhà sinh thái đều trở nên bé mọn, bất lực trước sự vận động tự thân khổng lồ của tự nhiên. Con người đã tự đặt mình tại một thế đứng quá cao so với thứ năng lực hữu hạn mà nó có, tưởng rằng mình là chủ nhân của khu vườn địa đàng trong khi thực chất chỉ là một kẻ lữ hành nhất thời cư ngụ dưới mái nhà của tạo hóa.

Cái đẹp sinh ra và tồn tại tự thân, đó là một chân lý. Những vẻ đẹp được hoài sinh bởi những kết tinh tự nhiên là thứ tuyệt nhiên không thể sao chép. Chính vì vậy, cái đẹp tự nhiên tuyệt nhiên không thể bị giam cầm. Cái đẹp chân chính phải được trả về cho hoang dã, nơi nó có quyền được sinh ra trong lặng lẽ và biến mất trong kiêu hãnh mà không cần bất kỳ một nhân chứng nào. Nó đứng ngoài mọi nỗ lực định giá, bảo tồn hay chiếm đoạt của nhân loại, bởi vì công trình của tạo hóa đã tự chứa đựng một sự đảm bảo đầy đủ cho sự hoàn hảo của chính mình từ thuở hồng hoang cho đến ngàn đời sau.
Thêm
55
0
0
Viết trả lời...
"Bản chất của người" (Human Acts) của Han Kang chính là một tác phẩm đã mở ra một vết thương âm ỉ trong tâm thức, một vết thương bắt ta phải nhìn thẳng vào bóng tối của đồng loại và của chính mình. Xuyên suốt tác phẩm là một bầu không khí tang thương, u uất và đậm đặc mùi tử khí bao trùm cả sáu chương sách. Mỗi trang viết là một chứng từ bằng máu và nước mắt về phong trào dân chủ Gwangju năm 1980, nơi những tiếng thét đòi quyền sống của người dân bị dập tắt tàn bạo bởi những họng súng vũ trang, những cuộc vây bắt và những đòn tra tấn dã man từ chính quyền.

Đứng trước bức tranh hiện thực tàn khốc ấy, trước những thân xác người bị chất đống như củi khô, người ta không thể không rùng mình tự vấn: Nhân tính thực chất là gì? Nó là bản chất tự nhiên, là phần lõi bất biến của con người, hay thực chất chỉ là một thứ xa xỉ phẩm bậc nhất, một ảo tưởng mỏng manh dễ dàng bị nghiền nát dưới gót giày của bạo lực và quyền lực trên hành tinh này? Và điều quan trọng hơn cả là liệu nó có còn tồn tại hay không?

Thứ ngôn từ của những kẻ thống trị biến con người thành những quân cờ, đặt mạng sống con người trên bàn cân lợi ích. Những kẻ thờ ơ nhất với cái khổ đau của chiến tranh, những người đứng ngoài cuộc bạo tàn thường dễ dàng chấp nhận lý luận này. Họ xem sự khổ đau của đồng loại là một điều hiển nhiên, một thứ quy luật tất yếu của lịch sử. Nhưng Han Kang, đã kiên quyết viết về những con người bằng xương bằng thịt với những ước mơ, những nỗi sợ hãi và những mối ràng buộc gia đình thiêng liêng.

Việc coi sự đau khổ là hiển nhiên chính là bước đầu tiên của sự đồng lõa với cái ác. Nó biến nhân tính trở thành một thứ xa xỉ, bởi vì để duy trì nó, người ta phải dám từ bỏ sự tiện nghi của sự thờ ơ, dám đối mặt với nỗi đau của người khác như nỗi đau của chính mình. Nhìn vào lịch sử nhân loại nói chung và sự kiện Gwangju nói riêng, có những thời điểm ta buộc phải thừa luận rằng nhân tính dường như là thứ xa xỉ bậc nhất, khó sở hữu và dễ bị tổn thương nhất trên hành tinh này. Bạo lực tàn bạo có khả năng tước đoạt đi lòng tự trọng, bẻ gãy ý chí và khiến con người ta phải phản bội lại chính đồng đội, chính niềm tin của mình chỉ để đổi lấy một hơi thở. Trong hoàn cảnh đó, việc giữ lại một chút nhân tính, một chút lòng kiêu hãnh của con người trở thành một cái giá quá đắt, một sự xa xỉ.

Nhân tính trở nên xa xỉ vì nó phải đối đầu với một hệ thống phi nhân tính. Những người lính xả súng vào đám đông ở Gwangju, họ có phải là quỷ dữ không? Không, họ là những người con, người anh, người chồng trong các gia đình bình thường. Nhưng khi bước vào bộ máy chính trị vớ những cơ chế điên cuồng của nó, họ đã hòa vào cùng cái thiểu số đó để thống trị đa số. Khi cái ác nhân danh tổ chức, nhân danh luật pháp, thì tiếng nói của lương tri và nhân tính cá nhân trở nên vô cùng yếu ớt, lạc lõng.

Nhân tính có thể là một thứ xa xỉ phẩm nếu ta đo đếm nó bằng thước đo của tiền bạc, của quyền lực, của chính trị. Để sống một cuộc đời có nhân tính, người ta phải chấp nhận chịu tổn thương, phải dám đau nỗi đau của người khác và dám lên tiếng trước cái ác. Đó là một cái giá đắt. Thế nhưng, nhìn từ góc độ tiến trình văn minh của nhân loại, nhân tính chưa bao giờ là thứ xa xỉ có thể thiếu. Nó là nền tảng cốt lõi giữ cho xã hội này không sụp đổ vào hố sâu của sự dã man thú tính.

"Bản chất của người" là một khúc tưởng niệm u uất, nhưng vượt lên trên tất cả, đó là bài ca hy vọng về con người.
Thêm
66
0
0
Viết trả lời...
Người ta, vốn dĩ đã quen nhìn tự lập như một năng lực sinh tồn, một trạng thái độc lập về tài chính, hay khả năng tự đưa ra quyết định mà không cần điểm tựa từ người khác. Thế nhưng, nếu chỉ dừng lại ở căn cước vật lý và hành vi ấy, tự lập chẳng qua chỉ là một lớp vỏ bọc kiên cố của sự cô lập. Nhìn từ chiều sâu của tâm lý học Adler, tự lập chân chính mang một bản chất lớn lao hơn rất nhiều. Đó là cuộc vượt thoát để thoát khỏi bản tính ích kỷ, là hành trình tách mình ra khỏi những suy nghĩ ảo vọng về vị trí trung tâm của chính mình để dịch chuyển trọng tâm sinh mệnh hướng về “cảm thức cộng đồng”.

Sự ích kỷ ở đây không đơn thuần là việc một cá nhân ưu tiên nhu cầu của bản thân hay xem nhẹ lợi ích của đồng loại theo lối hành vi ích kỷ thông thường. Đáng sợ hơn, nó là một dạng thức tư duy bám rễ sâu trong vô thức, nơi con người đặt mình ở vị trí trung tâm của vũ trụ, xem cái “tôi”, cái “ngã” của mình là hệ quy chiếu duy nhất để đo lường mọi giá trị xung quanh.Quan điểm “trung tâm luận” này biến thế giới thành một bức tranh mà trong đó, cá nhân là nhân vật chính, còn vạn vật và những người xung quanh chỉ là những nhân vật nền, là công cụ hoặc là khán giả cho vở kịch của riêng họ. Khi một người còn chìm đắm trong ảo vọng rằng “mình là cái rốn của vũ trụ”, họ sẽ nhìn nhận mọi sự kiện xảy ra theo cách nó phục vụ hay gây hại cho cái tôi của mình. Họ đòi hỏi thế giới phải vận hành theo ý họ, mong cầu sự công nhận tuyệt đối và rơi vào bi kịch của sự bất mãn triền miên khi thực tế từ chối thỏa mãn ảo tưởng đó.Chính quan điểm “trung tâm luận” này là rào cản lớn nhất, một bức tường thành kiên cố ngăn chặn con người tiến tới “cảm thức cộng đồng”. Làm sao ta có thể kết nối sâu sắc với người khác khi trong tâm trí ta, họ chỉ tồn tại để làm nền cho sự vĩ đại hay nỗi đau khổ của ta? Một cái tôi phình đại, chứa đầy những ảo vọng về vị trí độc tôn của mình, thực chất là một cái tôi vô cùng yếu ớt. Nó sợ hãi sự lãng quên, sợ hãi việc không được chú ý, và do đó, nó không bao giờ dám tự lập một cách đúng nghĩa. Nó luôn bám chấp vào cái nhìn của người khác để định nghĩa chính mình.

Từ bước tra vấn về bản chất của cái ngã, ta hiểu sâu sắc hơn rằng sự lập thực chất là chống lại chính mình. Đây không phải là hành trình xây dựng một pháo đài bất khả xâm phạm để bảo vệ cái tôi, mà ngược lại, đó là hành trình đập tan pháo đài ấy để giải phóng bản thân.Tự lập là tách mình khỏi những suy nghĩ ích kỷ và những ảo vọng xem mình là trung tâm của thế giới.Nói cách khác, tự lập không phải là khẳng định quyền lực của cái tôi đối với thế giới, mà là năng lực từ bỏ đặc quyền tưởng tượng của cái tôi đó. Khi một đứa trẻ lớn lên, hành động tự đi bằng đôi chân của mình là bước tự lập đầu tiên về thể xác. Nhưng để tự lập về tâm thức, người trưởng thành phải biết tách mình ra khỏi cái kén êm ấm của sự vị kỷ. Việc nhận ra mình không phải là trung tâm của vũ trụ, rằng thế giới này không quay quanh trục cảm xúc của mình, là một trải nghiệm đau đớn. Nó giống như một cuộc lưu đày tự nguyện, nơi con người bước ra khỏi ngai vàng ảo tưởng do chính mình dựng lên để đứng ngang hàng với vạn vật.Chống lại chính mình là chống lại xu hướng tự nhiên của bản năng luôn muốn thu vén, luôn muốn được chiều chuộng và tôn sùng. Khi bạn từ bỏ ảo vọng về vị trí độc tôn, bạn mới bắt đầu có khả năng tự chịu trách nhiệm hoàn toàn cho cuộc đời mình mà không đổ lỗi cho hoàn cảnh, không oán trách người khác vì đã không đối xử với bạn như một “vị vua”. Đó mới chính là điểm khởi đầu của sự tự lập đích thực, một trạng thái tự do nội tại khi không còn bị xiềng xích bởi chính cái tôi của mình.

Nếu tự lập đòi hỏi chúng ta phải thoát khỏi quan điểm “trung tâm luận”, thì câu hỏi tiếp theo được đặt ra trong tiến trình tra vấn này chính là: Điều gì có đủ sức mạnh để giúp chúng ta thực hiện cuộc bứt phá vĩ đại đó? Câu trả lời không nằm ở những lý thuyết khô khan, mà nằm ở một danh từ vừa quen thuộc vừa thiêng liêng: chính là “tình yêu”.Tuy nhiên, “tình yêu” ở đây cần phải được gột rửa khỏi những định nghĩa hạn hẹp thông thường. Nó không đơn thuần là tình yêu lứa đôi mang tính sở hữu, nơi hai cái tôi tìm đến nhau để thỏa mãn sự cô đơn hay để nhân đôi sự ích kỷ của mình. Tình yêu lứa đôi đôi khi chỉ là một dạng “trung tâm luận mở rộng” thành hai người. Tình yêu có khả năng giải thoát con người phải là cái gì rộng lớn hơn thế để đủ sức kéo con người ra khỏi cái “ngã”. Đó phải là tình yêu mang tính nhân loại, tình yêu giữa người với người, một thứ tình cảm vượt lên trên những toan tính cá nhân và những biên giới tự nhiên của huyết thống hay lợi ích

Khi yêu theo nghĩa rộng lớn này, con người ta mở rộng lòng mình để đón nhận “kẻ khác”. Từ “kẻ khác” ở đây đại diện cho tất cả những gì nằm ngoài phạm vi kiểm soát và lợi ích của cái tôi. Yêu là chấp nhận rời bỏ vị trí độc tôn, bước xuống khỏi kiệu hoa của sự kiêu hãnh để bước vào một cuộc đồng hành và thấu hiểu. Trong cuộc đồng hành đó, ta không còn xem mình là chủ thể duy nhất còn người khác là khách thể. Ta học cách nhìn thế giới bằng đôi mắt của người khác, lắng nghe bằng tai của người khác, và cảm nhận bằng trái tim của người khác. Tình yêu chính là chiếc cầu nối giúp ta học cách “đón nhận” một cách vô điều kiện.

Hành trình tự lập thông qua tình yêu dịch chuyển con người đến một trạng thái cao hơn: “đón nhận thế giới”. Khái niệm “thế giới” ở đây không phải là một danh từ địa lý trừu tượng, mà là nhân loại rộng lớn với tất cả sự đa dạng, phức tạp và thậm chí là mâu thuẫn của nó.Chính phần nhân loại thuộc về cái “không” ấy, những người không liên quan đến ta, không mang lại lợi ích cho ta, không hiểu ta, và không giống ta, mới chính là thử thách tối thượng. Nó là hòn đá thử vàng để con người phá vỡ giới hạn chật hẹp của cái “tôi” trung tâm và bước ra phạm vi “cả cộng đồng và nhân loại”.Dễ dàng làm sao khi ta yêu thương và đón nhận những gì quen thuộc, những gì thuộc về ta hay giống ta. Sự đón nhận đó thực chất vẫn là một biểu hiện của cái tôi mở rộng. Chỉ khi ta đối mặt với cái “không” – với những nghịch lý, những sự khác biệt, thậm chí là những sự đối lập – mà ta vẫn có thể mở lòng đón nhận, lúc đó cái tôi mới thực sự bị khuất phục. Đón nhận cái không giống mình chính là bằng chứng cho thấy ta đã không còn xem mình là chuẩn mực duy nhất của thế giới. Ta chấp nhận rằng sự tồn tại của người khác là độc lập và có giá trị tự thân, chứ không phải tồn tại để làm vừa lòng ta.

Một hành trình bóc tách bản thân, vượt qua ảo vọng trung tâm luận bằng sức mạnh của tình yêu và sự đón nhận thế giới, cuối cùng sẽ dẫn ta đến cái đích hướng tới là “cảm thức cộng đồng”. Đây đồng thời là khái niệm then chốt trong hệ thống tâm lý học của Alfred Adler. Theo Adler, “cảm thức cộng đồng” không phải là một cảm giác thuộc về một hội nhóm cụ thể mang tính hình thức, mà là nhận thức sâu sắc của con người về chính cộng đồng rộng lớn mà mình “thuộc về”. Đó là cái nhìn thấu suốt rằng ta là một phần của chỉnh thể nhân loại, một mắt xích nhỏ bé nhưng không thể tách rời trong chuỗi xích của sự sống. Một người tự lập có cảm thức cộng đồng sẽ không nói: “Tôi không cần ai cả”. Thay vào đó, họ hiểu rằng: “Tôi tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình để trở thành một phần hữu ích cho tất cả mọi người”. Lúc này, tự lập và hòa nhập không còn là hai khái niệm đối lập, mà chúng hòa quyện vào nhau làm một. Tự lập là để hiến dâng, và hiến dâng là biểu hiện cao nhất của một cá nhân tự lập.Con người chỉ thực sự tìm thấy vị trí chân chính của mình khi họ ngừng tìm kiếm vị trí độc tôn. Trớ trêu thay, khi ta cố chấp giữ lấy ảo vọng mình là trung tâm, ta trở nên nhỏ bé và lạc lõng trong sự cô đơn cùng cực. Nhưng khi ta dũng cảm đập tan ảo tưởng đó, tách mình khỏi những suy nghĩ ích kỷ để đón nhận nhân loại bằng một tình yêu rộng lớn, ta lại thấy mình có mặt trong tất cả, dòng máu của ta hòa cùng dòng chảy của cộng đồng.Hành trình tự lập, vì vậy, không phải là một con đường hướng nội ích kỷ nhằm đánh bóng cái tôi cá nhân. Đó là một đại lộ hướng ngoại, nơi con người đi xuyên qua chính mình, dùng tình yêu làm động lực để phá vỡ vỏ kén trung tâm luận, bước những bước đi vững chãi vào lòng thế giới, để sống, để thấu hiểu và để thuộc về.
Thêm
63
0
0
Viết trả lời...
Nguyễn Huy Thiệp bước vào văn đàn Việt Nam đã làm đảo lộn những căn tính vốn đã định hình vững chắc sau nhiều năm chiến tranh. Bản lĩnh của ông không chỉ nằm ở lối viết lột trần hiện thực hay kỹ thuật đối thoại sắc lẹm, mà cốt lõi hơn, nằm ở khả năng nhìn nhận và đánh giá con người, nói cho ra được những vấn đề của con người. Trong truyện ngắn “Sạ”, nhân vật Sạ là một hình tượng anh hùng khi nó bị ném trả về với đời sống thường nhật. Tác phẩm là bức tranh khắc họa một tấn bi kịch mang tính phổ quát: khát vọng vượt thoát khỏi những "nếp thường" để chạm đến một cuộc đời mới, một tư thế anh hùng, nhưng rốt cuộc, thứ chủ nghĩa anh hùng đầy bản năng ấy lại bị bóp nghẹt, chèn ép không thương tiếc dưới sức nặng của thực tại trần trụi.

Đặt nhân vật Sạ trong dòng chảy văn học Việt Nam, người đọc lập tức nhận ra một sự đứt gãy về mẫu hình nhân vật. Nếu văn học giai đoạn 1945 - 1975 xây dựng chủ nghĩa anh hùng gắn liền với lý tưởng cộng đồng, với những tráng sĩ mang tầm vóc sử thi, hành động vì đại nghĩa và tìm thấy sự bất tử trong cái chết vì đại cuộc, thì Nguyễn Huy Thiệp lại đặt chủ nghĩa anh hùng vào một không gian hoàn toàn khác: không gian của đời sống sinh hoạt cộng đồng, của cái hằng ngày với những lo toan với một cộng đồng “không thể tách khỏi”. Sạ không có một bệ đỡ lý tưởng cao cả nào từ bên ngoài chỉ dẫn. Anh ta là một con người bình thường, thậm chí mang đầy tính bản năng, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn lại lấp lánh một thứ ánh sáng lạc loài: khát vọng khẳng định bản ngã vượt lên trên cái tầm thường của số đông.

Khát vọng của Sạ trước hết được biểu hiện qua sự khước từ đối với những "nếp thường". "Nếp thường" ở đây chính là trật tự đời sống đã bị định hình. “Nếp thường” đối với bản Hua Tát là cuộc sống dân bản hiền hòa, quen thuộc và đơn sơ với con trâu, con bò, tiếng khèn và những mối duyên. Đó là một thực tại mà mọi hành vi, suy nghĩ của cá nhân đều bị đồng hóa bởi tập tục, bởi cái nhìn định kiến và sự an phận thủ thường của cộng đồng xung quanh. Sạ không chấp nhận sự tồn tại mờ nhạt đó. Ở anh có một sự bứt rứt, một năng lượng dư thừa luôn chực chờ bùng nổ. Sạ khao khát có một cuộc đời mới. Cuộc đời mới ấy đơn giản là một cuộc sống có tự do, có cá tính, một cuộc sống mà anh được làm chủ số phận của mình, được trải nghiệm cảm giác của một kẻ chinh phục, một người anh hùng theo cách riêng của anh.

Chủ nghĩa anh hùng của Sạ mang tính chất "thường nhật" bởi nó nảy sinh và hướng vào những mục tiêu của đời sống hằng ngày. Đó là sự dũng cảm đối mặt với những bất công nhỏ nhặt, là thái độ sống thẳng thắn, không quỵ lụy, là ý chí muốn thay đổi hoàn cảnh sống tù đọng của bản thân và gia đình. Sạ muốn chứng minh rằng, ngay cả trong một không gian chật hẹp, con người vẫn có thể sống một cách kiêu hãnh, không bị khuất phục bởi vật chất hay danh lợi tầm thường. Sự kiêu hãnh của Sạ chính là biểu hiện cao nhất của ý thức cá nhân - một giá trị vốn bị lu mờ trong giai đoạn trước đó. Anh không muốn là một mảnh ghép vô danh trong bức tranh tập thể; anh muốn là một thực thể độc lập, có tiếng nói và có tầm ảnh hưởng lên môi trường sống của mình.

Tuy nhiên, Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn hiện thực nghiêm khắc đến mức tàn nhẫn. Ông không xây dựng những câu chuyện cổ tích về sự chiến thắng của cái thiện hay sự thành công của những kẻ mộng mơ. Toàn bộ truyện ngắn Sạ là quá trình chứng minh một quy luật nghiệt ngã: chủ nghĩa anh hùng thường nhật, khi thiếu đi một bệ đỡ xã hội và cơ chế đồng thuận, sẽ nhanh chóng bị chèn ép, bóp nghẹt bởi chính thực tại mà nó muốn vượt thoát.

Thực tại trong văn Nguyễn Huy Thiệp không phải là một phạm trù trừu tượng, nó được cụ thể hóa bằng sức mạnh của đám đông, của cơ chế kinh tế thị trường thô sơ đang hình thành, và của những mối quan hệ người - người bị tha hóa. Đối lập với khát vọng của Sạ là một bức tường thành kiên cố của sự vô cảm, ích kỷ và toan tính. Đám đông xung quanh Sạ không cần anh hùng, họ chỉ cần sự an toàn và những lợi ích thiết thân trước mắt. Sự khác biệt của Sạ, khát khao sống vượt ngưỡng của anh không được nhìn nhận như một giá trị cao đẹp, ngược lại, nó bị xem là một sự dị biệt, một mầm mống gây rối loạn trật tự yên ổn giả tạo của cộng đồng.

Sự chèn ép của thực tại đối với Sạ diễn ra trên nhiều phương diện. Trước hết, đó là sự cô độc về mặt tinh thần. Sạ hoàn toàn đơn độc trong cuộc chiến chống lại "nếp thường". Những người thân yêu nhất, những người sống cạnh anh hằng ngày không hiểu được anh. Họ nhìn anh bằng ánh mắt nghi ngại, e dè, hoặc cố gắng kéo anh trở lại với cái chuẩn mực trung bình của xã hội. Sự từ chối thấu hiểu của gia đình và làng xóm là nhát dao đầu tiên cứa vào khát vọng anh hùng của Sạ. Bản thân nhân vật rơi vào trạng thái khủng hoảng bản sắc: anh không thể quay lại cuộc sống dung tục cũ, nhưng cũng không thể tìm thấy một không gian nào rộng lớn hơn để thi triển khát vọng của mình.

Tiếp theo, thực tại đè nặng lên Sạ bằng những áp lực sinh kế trần trụi. Trong thế giới của Nguyễn Huy Thiệp, đồng tiền và miếng ăn có một quyền lực chi phối khủng khiếp. Sạ muốn sống kiêu hãnh, nhưng anh vẫn phải ăn, vẫn phải đối diện với những nhu cầu vật chất tối thiểu hằng ngày. Sự va chạm giữa lý tưởng sống thanh cao, tự do với thực tế cơm áo gạo tiền nghiệt ngã đã làm xói mòn dần năng lượng anh hùng trong Sạ. Những toan tính mưu sinh nhỏ nhặt, từng ngày từng giờ, như những hạt cát làm rỉ sét cỗ máy khát vọng của nhân vật. Anh buộc phải thỏa hiệp, phải cúi đầu trước những cái tầm thường để duy trì sự tồn tại sinh học. Mỗi một sự thỏa hiệp là một lần chủ nghĩa anh hùng trong anh bị tổn thương và thu hẹp lại.

Trong một môi trường mà các “nếp thường” trở thành giá trị đạo đức, nơi khát khao phi thường bị nghi ngờ, hành vi trượng nghĩa của Sạ trở nên lạc lõng, thậm chí phản tác dụng. Anh muốn cứu giúp người khác, muốn lập lại công bằng, nhưng kết quả anh nhận lại chỉ là sự thờ ơ và khiển trách từ cộng đồng. Chủ nghĩa anh hùng thường nhật của Sạ, vì thế, không những không cải tạo được hoàn cảnh, mà còn biến anh thành một kẻ tội nghiệp, một "Don Quixote" nực nội và đáng thương giữa đời thực.

Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng một nghệ thuật trần thuật vô cùng đặc sắc để phơi bày tấn bi kịch này. Giọng điệu chủ đạo của tác phẩm là sự kết hợp giữa cái nhìn dửng dưng, khách quan của một nhân chứng với một niềm xót xa âm thầm. Nhà văn không ca ngợi Sạ một cách lãng mạn, cũng không hạ bệ anh một cách tàn nhẫn. Ông chỉ bày ra các sự kiện, các đối thoại với một nhịp độ dồn dập, nghẹt thở, phản ánh chính cái áp lực của thực tại đang bủa vây nhân vật. Ngôn ngữ trong Sạ là thứ ngôn ngữ góc cạnh, bóc trần, không có chỗ cho những hoa mỹ hay mơ mộng. Chính lối viết thô nháp này đã làm bật lên cái khốc liệt của cuộc chiến giữa một cá nhân muốn làm anh hùng với một thực tại muốn biến tất cả thành nô lệ của thói quen.

Nhìn từ góc độ toàn diện, truyện ngắn “Sạ” không chỉ là câu chuyện của một cá nhân, mà là bi kịch của cả một thế hệ con người bước ra khỏi chiến tranh, mang theo những khát vọng lớn lao nhưng bị mắc kẹt trong cái đầm lầy của đời sống thường nhật. Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đã đặt ra những câu hỏi mang tính bản thể luận sâu sắc: Làm thế nào để sống một cuộc đời có ý nghĩa khi xung quanh ta toàn là những điều tầm thường? Liệu chủ nghĩa anh hùng có thể tồn tại nếu thiếu đi một không gian sử thi? Nguyễn Huy Thiệp không đưa ra câu trả lời sẵn có, ông để nhân vật Sạ tự trải nghiệm, tự đổ vỡ, và chính sự đổ vỡ ấy đã buộc người đọc phải tự đi tìm câu trả lời cho chính mình. Tác phẩm khẳng định vị thế độc tôn của Nguyễn Huy Thiệp trong việc mổ xẻ những chấn thương tinh thần của con người hiện đại, biến Sạ thành một trong những truyện ngắn có chiều sâu triết học và giá trị hiện thực nhân bản của văn học Việt Nam đương đại.
Thêm
81
0
0
Viết trả lời...