Mạng xã hội Văn học trẻ

Đất nước bốn nghìn năm đứng dậy từ bùn đen, vùng lên giành lấy độc lập, hòa bình từ tay giặc, chuyển mình và phát triển theo nhịp sống toàn cầu. Theo dòng chảy lịch sử ấy, văn chương xuất hiện như một bức tranh siêu thực phản ánh toàn bộ những năm tháng hưng thịnh suy vong của đất nước Việt Nam. Lịch sử văn học cũng chính là lịch sử tâm hồn của quốc gia ấy, con người ấy. Bởi vậy, thấu hiểu dòng chảy văn học nước nhà cũng là cách để thấm đằm những kinh nghiệm, cảm xúc của cha ông ta xưa.

Văn học Việt Nam gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết.

Văn học dân gian ra đời và tồn tại trước thế kỉ X. Ở thời điểm đó, chữ viết chưa ra đời nên truyền miệng là phương thức truyền bá chủ đạo. Các sáng tác dân gian sau khi hoàn thiện thành một chỉnh thể thống nhất sẽ được lưu truyền qua nhiều thế hệ, nhiều tư tưởng cảm nhận khác nhau. Bởi thế, văn học dân gian thường tồn tại nhiều dị bản với những đặc điểm riêng. Đặc trưng nổi bật của giai đoạn văn học này là tính tập thể, không mang dấu ấn cá nhân của riêng ai. Các tác giả sáng tạo nên văn học dân gian được gọi là tác giả dân gian. Vì là sản phẩm của nhân dân quần chúng lao động, các sáng tác trong thời kỳ này không “nói chí” hay “chở đạo”. Chúng chỉ đơn thuần thể hiện tâm tư của người dân lao động, phục vụ cho những hoạt động sinh hoạt cộng đồng. Các sáng tác dân gian cũng là sự phản ánh văn hóa, tín ngưỡng của một thời, tạo tiền đề cho bước đi văn học của mọi thời. Đó là phương tiện gửi gắm những quan niêm của cha ông ta về lẽ sống, đức tin vào những giá trị có thực ở đời.

Văn học dân gian gồm nhiều thể loại như tục ngữ, câu đố, ca dao, đồng dao, hát ru, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn,... Mỗi thể loại đều mang một đặc trưng riêng, phản ánh được góc nhìn nghệ thuật riêng. Sản phẩm do quần chúng lao động sáng tạo theo phương thức truyền miệng nhưng chưa bao giờ mất đi tính hoàn chỉnh và nghệ thuật. Văn học dân gian là nền tảng thúc đẩy, phát triển những giá trị của văn học viết. Bởi vậy, trong các tác phẩm văn học viết thường kế tục những motif, tư tưởng hoặc cổ mẫu trong văn nghệ dân gian.

Văn học viết có sự phân hóa phức tạp theo từng thời kỳ, mỗi thời kỳ chịu sự ảnh hưởng của một hệ tư tưởng khác nhau. Nhìn chung, văn học viết gồm văn học trung đại (Thế kỉ X - XIX) và văn học hiện đại (Thế kỷ XX - nay). Văn học trung đại chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Văn học hiện đại mang sức ảnh hưởng từ phương Tây. Nhưng quan trọng hơn cả, văn học viết cũng chịu sự chi phối của văn học dân gian, khai thác đề tài, thi liệu, ngôn ngữ,.. trong tâm thế bổ sung và sáng tạo. Văn học viết mang theo hơi thở thời đại, bộc lộ rõ nét hơn cái “tôi” cá nhân thoát ra khỏi tính tập thể xưa cũ. Dù xuất hiện muộn vào thế kỉ X nhưng văn học viết lại nắm vai trò chủ đạo, giữ vị trí thống trị trong nền văn học nước nhà.

Văn học trung đại đặc trưng bởi tính phi ngã, sùng cổ, trang nhã, uyên bác, quy phạm, ước lệ, gắn liền với quan niệm văn - sử - triết bất phân. Những tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này thường mang âm hưởng hào hùng, giàu khí thế, khẳng định ý chí tung hoành Nam Bắc của bậc trí thức nước Nam.

Văn học hiện đại thể hiện nỗ lực cách tân, đào thải tư tưởng bảo thủ, phát huy những tư tưởng hợp thời, tái sáng tạo theo một cách rất riêng. Ở giai đoạn này, văn học cho phép người sáng tạo thể hiện rõ cái “tôi” cá nhân. Người sáng tạo không nhất thiết phải là người trí thức. Văn chương hiện đại chịu sự chi phối bởi văn học phương Tây, nhưng không làm mờ đi bản sắc Việt Nam.

Dù là văn học ở thời kì hay giai đoạn nào, dù là văn học dân gian hay văn học viết, chúng đều tồn tại trong mạch chảy văn chương Việt Nma, làm nền hình thái nền văn học nước nhà. Bốn nghìn năm xây dựng và phát triển cũng kéo theo một mốc thời gian dài văn chương ra đời và

phát triển.
Thêm
45
0
0
Viết trả lời...
“Nếu biết trước cái giá của việc lớn lên, liệu có đứa trẻ nào còn ước lớn thật nhanh nữa không?” – câu hỏi trong "Về nhà ăn bát cháo hành" của Doãn Hằng vang lên như một tiếng thở dài rất khẽ, nhưng dư âm thì lan rất xa. Nó không đòi một câu trả lời dứt khoát, mà gợi ra một khoảng lặng để mỗi người tự soi mình vào đó, nhớ về tuổi thơ đã qua và đối diện với hiện tại đang sống.

Khi còn là trẻ con, lớn lên là một ước mơ rực rỡ. Lớn lên để được tự do, để không phải nghe người lớn nhắc nhở, để có quyền quyết định cuộc đời mình. Trẻ con chỉ nhìn thấy “phần thưởng” của sự trưởng thành mà chưa bao giờ hình dung đến “cái giá” phải trả. Bởi làm sao một đứa trẻ có thể hiểu được áp lực mưu sinh, những lựa chọn đầy do dự, những mất mát không thể gọi tên, hay cảm giác cô đơn ngay cả khi đang ở giữa đám đông? Tuổi thơ trong veo như bát cháo hành nóng hổi: giản dị, ấm áp, chỉ cần được trở về nhà là đủ.

Nhưng rồi, ai cũng lớn lên. Và cái giá của việc lớn lên hiện ra theo nhiều cách, lặng lẽ mà dai dẳng. Đó là khi ta bắt đầu hiểu rằng không phải cứ cố gắng là sẽ được đền đáp xứng đáng. Là khi ta nhận ra người lớn cũng có lúc bất lực, yếu đuối, cũng cần một bờ vai nhưng không biết tựa vào đâu. Là khi những mối quan hệ dần mang thêm điều kiện, toan tính, và sự vô tư ngày nào trở thành một thứ xa xỉ. Lớn lên, ta học cách mỉm cười ngay cả khi lòng đầy mỏi mệt, học cách nuốt nước mắt vào trong để “ổn” trước mặt người khác.

Cái giá ấy còn là sự đánh mất. Mất những buổi chiều chỉ cần một cơn gió mát cũng đủ vui. Mất những giấc mơ đơn giản mà thuần khiết. Mất cảm giác an tâm tuyệt đối khi biết rằng, dù có chuyện gì xảy ra, vẫn có một mái nhà chờ sẵn, có bát cháo hành ấm nóng dành cho mình. Khi lớn, “về nhà” không còn là điều hiển nhiên, mà đôi khi trở thành một mong mỏi xa xăm.

Vậy nếu biết trước tất cả những điều đó, liệu có đứa trẻ nào còn muốn lớn thật nhanh không? Có lẽ là không. Bởi trẻ con chưa sẵn sàng đánh đổi niềm vui giản dị lấy những gánh nặng vô hình. Nhưng cũng chính vì không biết trước, nên con người mới bước đi, mới trưởng thành. Lớn lên tuy nhiều mất mát, nhưng cũng mang lại cho ta sự thấu hiểu, lòng trắc ẩn và khả năng yêu thương sâu sắc hơn. Ta biết quý những điều nhỏ bé, biết trân trọng những bữa cơm gia đình, những khoảnh khắc được “về nhà” đúng nghĩa.

Câu hỏi của Doãn Hằng không nhằm khiến ta tiếc nuối hay sợ hãi trưởng thành, mà để nhắc ta đừng quên phần trẻ con trong mình. Giữa cuộc đời nhiều xô bồ, hãy cho mình một chốn để quay về, một bát cháo hành tinh thần để sưởi ấm những ngày mệt mỏi. Bởi dù lớn đến đâu, sâu thẳm trong mỗi người vẫn là một đứa trẻ từng ước lớn thật nhanh, và giờ chỉ mong được
bình yên.
Thêm
55
0
0
Viết trả lời...
Có những câu nói ta đọc qua tưởng chỉ là một dòng chữ bình thường, nhưng đến một ngày nào đó, khi mệt mỏi đến tận cùng, ta bỗng thấy nó như đang nói hộ lòng mình. Câu nói: “Rồi một ngày nào đó, chúng ta sẽ bất ngờ nhận ra mình đã đi qua được những năm tháng tưởng chừng như không thể vực dậy nổi. Hóa ra chuyện xưa không thể giết được ta như ta nghĩ” là một lời tâm sự lặng lẽ, nhưng chứa đựng sức mạnh của sự sống, của niềm tin và của khả năng hồi sinh nơi con người.


Trong cuộc đời mỗi người, ai rồi cũng có những giai đoạn tối tăm đến mức tưởng như không còn lối thoát. Đó có thể là mất mát, đổ vỡ, thất bại, hay những tổn thương âm ỉ kéo dài khiến ta mệt mỏi với chính mình. Có những ngày ta thức dậy chỉ để cố gắng tồn tại, không dám mơ ước, không dám hy vọng, chỉ mong thời gian trôi nhanh hơn một chút. Ta từng nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ vượt qua được, rằng nỗi đau ấy sẽ ở lại mãi, gặm nhấm từng phần trong tâm hồn.


Thế nhưng thời gian – thứ ta từng oán trách – lại âm thầm làm công việc chữa lành của nó. Dù ta không nhận ra, dù mỗi ngày vẫn nặng nề, ta vẫn đang đi về phía trước. Từng bước rất nhỏ, rất chậm, nhưng không hề dừng lại. Đến một ngày ngoảnh đầu nhìn lại, ta bỗng ngạc nhiên khi thấy mình vẫn đang đứng đây, vẫn thở, vẫn sống, và thậm chí còn mỉm cười được. Những năm tháng tưởng chừng như không thể vực dậy nổi hóa ra đã ở phía sau từ lúc nào.


Con người mạnh mẽ hơn chính nỗi đau của mình. Những ký ức buồn có thể làm ta tổn thương, có thể khiến ta rơi nước mắt, nhưng chúng không thể cướp đi hoàn toàn khả năng sống và yêu thương của ta. Ta từng nghĩ mình yếu đuối, nhưng thực ra chính việc tồn tại qua những ngày tăm tối ấy đã chứng minh ta kiên cường đến nhường nào.


Có lẽ điều đẹp đẽ nhất của hành trình ấy không phải là việc ta quên đi nỗi đau, mà là học cách sống cùng nó mà không còn bị nó điều khiển. Ta không còn run rẩy mỗi khi nhớ lại chuyện cũ, không còn tự trách mình vì những điều đã qua. Ta hiểu rằng mọi vết thương đều là một phần của con người hiện tại, và nhờ chúng, ta trưởng thành hơn, sâu sắc hơn, và biết trân trọng bình yên nhiều hơn.


Câu nói ấy giống như một lời nhắc nhở dịu dàng dành cho những ai đang còn mắc kẹt trong bóng tối: hãy cứ sống tiếp, dù hôm nay bạn chưa đủ mạnh, dù ngày mai vẫn còn mịt mờ. Bởi sẽ có một ngày, chính bạn cũng bất ngờ nhận ra rằng mình đã đi qua rồi. Và khi ấy, bạn sẽ hiểu rằng quá khứ không thể giết chết bạn – nó chỉ âm thầm dạy bạn cách trở nên mạnh mẽ hơn.


Có những lúc trong đời, con người ta tưởng như đã chạm đến đáy của nỗi đau. Những ngày tháng ấy trôi qua chậm chạp, nặng nề, đến mức ta tin rằng mình sẽ không bao giờ có thể đứng dậy nổi nữa. Ta nghĩ những chuyện đã qua – những tổn thương, mất mát, sai lầm – sẽ giết chết mình, sẽ nhấn chìm mình mãi mãi trong tuyệt vọng. Nhưng rồi, khi nhìn lại, ta mới chợt hiểu ra một điều: hóa ra chuyện xưa không giết được ta như ta từng nghĩ.


Có những năm tháng ta sống mà chẳng còn niềm vui, chỉ cố gắng tồn tại qua từng ngày. Mỗi sáng thức dậy là một cuộc chiến âm thầm với chính mình: chiến đấu với ký ức, với nỗi buồn, với cảm giác trống rỗng không gọi thành tên. Ta từng tự hỏi vì sao mình phải chịu đựng nhiều đến thế, vì sao những chuyện đau lòng ấy cứ bám riết lấy mình. Đã có lúc ta nghĩ nếu mọi thứ dừng lại thì có lẽ sẽ nhẹ nhõm hơn.


Nhưng con người kỳ lạ lắm. Dù yếu đuối đến đâu, ta vẫn tiếp tục sống. Dù không còn hy vọng, ta vẫn bước tiếp, chỉ là những bước rất chậm, rất run rẩy. Thời gian trôi đi, mang theo cả nước mắt và những đêm dài mất ngủ. Ta không nhận ra rằng trong chính sự chịu đựng ấy, ta đang dần mạnh mẽ hơn. Ta vẫn sống, vẫn thở, vẫn tồn tại giữa cuộc đời này, và đó đã là một minh chứng thầm lặng cho sự kiên cường của bản thân.


Rồi sẽ đến một lúc nào đó, rất bất ngờ, ta nhìn lại quãng đường đã qua và chợt sững sờ. Những năm tháng tưởng chừng như không thể vực dậy nổi ấy đã nằm lại phía sau. Nỗi đau không biến mất hoàn toàn, nhưng nó không còn làm ta gục ngã nữa. Những ký ức từng khiến tim ta thắt lại giờ chỉ còn là những vết sẹo nhạt màu – vẫn còn đó, nhưng không còn chảy máu.


Khi ấy, ta hiểu rằng quá khứ không phải để giết chết ta, mà để thử thách và rèn giũa ta. Những tổn thương đã dạy ta biết trân trọng bình yên, những mất mát khiến ta biết yêu thương nhiều hơn, và những lần gục ngã giúp ta học cách đứng lên bằng chính đôi chân mình. Ta không còn trách bản thân vì đã từng yếu đuối, bởi chính sự yếu đuối ấy đã giúp ta trở thành con người của hiện tại.


Suy nghĩ ấy – hóa ra chuyện xưa không giết được ta như ta nghĩ – không phải là sự phủ nhận nỗi đau, mà là sự thừa nhận sức mạnh tiềm ẩn bên trong mỗi con người. Nó là lời an ủi dành cho những ai đang ở giữa những ngày tăm tối nhất: hãy cứ đi tiếp, dù chậm, dù mệt, dù chưa nhìn thấy ánh sáng. Bởi rồi sẽ đến một ngày, bạn cũng bất ngờ nhận ra rằng mình đã đi qua được những năm tháng tưởng chừng như không thể vực dậy nổi, và bạn vẫn đang ở đây – mạnh mẽ hơn, sâu sắc h
ơn, và biết yêu cuộc đời này hơn.
Thêm
51
0
0
Viết trả lời...
Có những ngày, tôi chạm tay vào tận cùng của tuyệt vọng. Không phải là nỗi buồn thoáng qua, cũng không phải vài giọt nước mắt yếu mềm, mà là cảm giác trơ trọi đến mức ngay cả hi vọng cũng không còn đủ sức để tự an ủi mình. Trong những ngày như thế, tôi nhận ra: tôi và cuộc đời đã âm thầm tha thứ cho nhau. Không cần lời xin lỗi, cũng chẳng cần một bản án công bằng, chỉ là sau quá nhiều tổn thương, cả hai đều mệt mỏi và chọn cách buông tay.

Tôi từng tin vào vinh quang. Tin rằng cố gắng sẽ được đền đáp, rằng tử tế sẽ gặp tử tế, rằng sống hết mình thì cuộc đời sẽ dịu dàng hơn. Nhưng rồi, khi con người sống quá rẻ rúng với nhau — rẻ rúng cả tình cảm, niềm tin và nhân cách — tôi hiểu ra rằng vinh quang đôi khi chỉ là một lớp ánh sáng giả tạo. Nó lấp lánh từ xa, nhưng khi chạm vào thì lạnh lẽo và trống rỗng. Người ta sẵn sàng dẫm lên nhau để bước lên cao hơn, và gọi đó là thành công. Trong thế giới ấy, nếu giữ cho mình một tấm lòng nguyên vẹn, có khi lại trở thành kẻ thua cuộc.

Có lúc tôi đã hỏi: nếu mọi giá trị đều bị bào mòn như vậy, thì con người còn biết tin vào điều gì? Tôi tìm kiếm một thứ để chiêm bái, một điều đủ lớn để níu giữ mình ở lại với cuộc đời. Nhưng càng tìm, tôi càng thấy trống rỗng. Cuối cùng, tôi nhận ra mình chẳng còn gì ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung. Tuyệt vọng vì đã nhìn thấy quá rõ những vết nứt của cuộc đời. Bao dung vì sau tất cả, tôi vẫn không thể ghét bỏ con người, kể cả khi họ làm tôi tổn thương.

Thật lạ, chính lúc đi đến tận cùng của tuyệt vọng, tôi lại nhìn thấy một vẻ đẹp khác. Tuyệt vọng không còn là hố sâu đen tối chỉ biết nuốt chửng con người, mà giống như một bông hoa mọc lên từ đất cằn. Nó không rực rỡ, không kiêu hãnh, nhưng có một vẻ đẹp âm thầm và bền bỉ. Khi không còn gì để mất, con người ta bỗng trở nên tự do. Không còn ảo tưởng để bám víu, không còn mong chờ để thất vọng, ta học cách chấp nhận mọi thứ như nó vốn là.

Tôi hiểu rằng tha thứ không phải vì cuộc đời xứng đáng, mà vì tôi cần được bình yên. Bao dung không phải vì con người tốt đẹp hơn, mà vì nếu không bao dung, trái tim tôi sẽ cạn khô. Đi qua tuyệt vọng, tôi không trở nên mạnh mẽ hơn theo cách ồn ào người ta vẫn nói. Tôi chỉ trở nên lặng lẽ hơn, sâu hơn, và thật hơn với chính mình.
Và có lẽ, chính trong khoảnh khắc đó, khi tôi đứng giữa tuyệt vọng và bao dung, tôi đã học được cách sống tiếp — không phải bằng hi vọng mù quáng, mà bằng sự thấu hiểu rằng ngay cả những điều đau đớn nhất cũng có thể mang trong mình một vẻ đẹp rất người.
Thêm
47
0
0
Viết trả lời...
Thomas Fuller từng nói “Lời khen chẳng tốn một xu nhưng nhiều người sẵn sàng trả giá cao cho nó”. Thật vậy! Lời khen là lời ca ngợi, biểu dương từ người khác khi bản thân mình đạt được điều gì đó tốt đẹp hoặc cao cả. Lời khen có hai loại: lời khen tốt và lời khen xấu. Lời khen tốt là lời khen xuất phát từ sự chân thành, nể phục của người khen và lời khen đó có ý nghĩa tích cực, động viên và khẳng định việc tốt ta đã đạt được. Lời khen xấu là lời khen không phải xuất phát từ sự kính phục, công nhận khả năng của người khác mà đó có thể là sự châm biếm, giễu cợt, nịnh bợ, tâng bốc hoặc có thể là lời khen từ sự ích kỉ, đố kị, không thật lòng. Chúng ta sẽ phải gặp rất nhiều kiểu người mà họ có những thái độ và ý kiến khác nhau về cuộc sống của chúng ta và những lời khen của người khác đôi khi cũng ảnh hưởng đến ta và khiến ta phải suy ngẫm.


“Nguyên lí sâu xa nhất trong bản tính con người là sự khao khát được tán thưởng” (William Jame) và đặc biệt những lời tán thưởng chân thành, có ý tốt thì càng được khao khát và trân trọng hơn nữa. Lời khen tốt là một món quà tinh thần vô cùng quý giá đối với con người. Khi chúng ta đạt được một điều tốt, thành công trong công việc nào đó, lời khen mang ý tốt, chân thành từ người khác với mình là phần thưởng mà ai cũng mong muốn. Nhận được lời khen tốt, điều đầu tiên ta cảm thấy đó là sự vui vẻ, phấn khởi. Lời khen tốt giúp ta thêm tự tin vào bản thân và có nghị lực để tiếp tục đạt được những điều tốt đẹp hơn nữa. Đạt được một điều gì đó, được người khác khen ngợi, một điều chắc chắn rằng ai cũng sẽ cảm thấy hãnh diện về bản thân mình. Lời khen tốt có sức mạnh vô hình tác động đến suy nghĩ, nhận thức và hành động của ta rất nhiều.


Có một câu chuyện kể về một người đàn ông chăm sóc một vườn cây xanh tốt. Nhưng dù ông ta đã rào vườn cẩn thận và chắc chắn, bọn trẻ con trong xóm vẫn tạo ra một lối nhỏ để chui vào vườn của ông, bẻ hết hoa quả trong vườn khiến ông vô cùng tức giận và khó chịu. Một ngày nọ, ông đã bắt tận tay đứa trẻ đứng đầu lũ tinh nghịch ấy. Thằng bé sợ sệt và nghĩ rằng mình sẽ phải chịu một trận đòn đáng sợ. Nhưng không, người đàn ông thả thằng bé ra và dịu dàng nói: “Cháu đừng sợ, ta không phạt cháu đâu, vì cháu là một đứa trẻ vừa ngoan, vừa thông minh, dũng cảm, ta giao cho cháu một nhiệm vụ đó là đội trưởng của đội bảo vệ khu vườn này. Ta tin cháu sẽ làm tốt và xứng đáng với lời khen của ta”. Thằng bé rất ngạc nhiên vì lời khen của người đàn ông và nhận lời làm đội trưởng đội bảo vệ khu vườn. Kể từ đó, khu vườn của ông không những không bị phá mà còn được lũ trẻ chăm sóc chu đáo, cẩn thận.


Đó mới thấy được lợi ích của lời khen tốt là như thế nào. Vì vậy, việc thường xuyên dành cho nhau những lời khen tốt sẽ giúp con người có thêm động lực trong cuộc sống, giúp cho người gần người hơn, yêu quý nhau hơn.


Bên cạnh những lời khen tốt, cũng có những lời khen xấu mà người khác dành cho ta. Nếu như lời khen tốt chỉ có một kiểu đó là lời khen xuất phát từ sự kính phục, chân thành thì lời khen xấu lại có đủ kiểu khác nhau. Thứ nhất, đó là lời khen nhưng hàm ý chê bai, đó là sự mỉa mai, khinh bỉ. Khen kiểu chê bai sẽ dễ khiến người khác mặc cảm, tự ái, tự ti về bản thân. Nó mang ý nghĩa gay gắt hơn là một lời chê bai thẳng mặt. Thứ hai, đó là lời khen xuất phát từ sự ganh ghét, đố kị. Khi ta đã đạt được điều gì đó tốt đẹp nhưng có người khen ta mà lời khen xuất phát từ sự đố kị thì điều này thật khó chịu. Lời khen này tạo cho con người những đức tính xấu và gây mất thiện cảm, đoàn kết trong các mối quan hệ bởi khi ghen tị với người khác, trong đầu ta chỉ có những suy nghĩ về những điểm xấu của người khác để sẵn sàng chờ cơ hội phơi bày ra còn khi họ thành công thì không chấp nhận sự thành công đó và cho rằng vì lí do này hay lí do khác mà người ta thành công. Nhưng có lẽ lời khen nguy hiểm nhất đó là lời khen nịnh bợ. Dale Carnegle từng nói rằng: “Đừng sợ những kẻ thù tấn công bạn.


Hãy sợ những người bạn tâng bốc bạn”
Thêm
45
0
0
Viết trả lời...
Ai bảo dính vào duyên bút mực
Suốt đời mang lấy số long đong.

Nguyễn Bính đã từng than thở như thế. Bao con người cũng phải gánh chịu nỗi đau vì sự bạc bẽo của văn chương. Tai sao như vậy? Phải chăng nghệ thuật đòi hỏi rất cao ở người nghệ sĩ, đúng như Lêônit Lêônôp đã yêu cầu: "Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung"
Cũng như ý kiến của Xuân Diệu, NGuyễn Tuân, Macxim Gorki..., nhà văn Nga Lêônit Lêônôp muốn khẳng định các nghệ sĩ phải trau dồi cá tính sáng tạo của mình. Mỗi tác phẩm phải là một sự hiện diện của nhà văn đối với cuộc đời. Do vậy cái mới, cái độc đáo trong phong cách của người sáng tác phải thể hiện ở sự tìm tòi cái mới về nghệ thuật cũng như nội dung. Nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Hiện thực cuộc sống là kho đề tài vô tận để người nghệ sĩ khám phá, phát hiện, nhưng đối với mỗi cây bút, nó lại được chiếu rọi dưới một ánh sáng riêng. Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình và biết làm cho ấn tượng ấy có được hình thức riêng biệt, độc đáo. Đúng như vậy, sự lặp lại tẻ nhạt là cái chết của nghệ thuật.

Cuộc sống bày ra trước mắt biết bao cảnh ngộ, số phận. Người nghệ sĩ hơn những người bình thường ở chỗ biết tìm ra những hiện tượng đặc sắc có thể nói lên rõ rệt bản chất của hiện thực. Độc giả tìm đến với tác phẩm trước hết là để bồi đắp tâm hồn, làm phong phú hơn vốn tri thức. Vì lẽ đó, người sáng tác phải đem đến cho họ một cái nhìn mới, mang đậm dấu ấn chủ quan.

Cuộc sống là phong phú vô tận, nhưng sự hiểu biết và hứng thú của nhà văn thì có hạn. Do đó ngoài việc tìm đến những mảnh đất mới của hiện thực để gieo mầm tư tưởng, người nghệ sĩ phải biết phát huy vốn ấn tượng riêng của mình để tìm ra những gì mới mẻ trong những đề tài quen thuộc. Có như vậy, nhà văn mới tránh khỏi sự lặp lại vô nghĩa những điều mà người khác đã nói. Nói cách khác, mỗi nghệ sĩ phải tìm ra cho mình một con đường riêng để đến với cuộc sống và trái tim bạn đọc. LepTônxtôi đã từng nói với những người viết văn trẻ, đại ý: Nào, các anh có đem đến cho chúng tôi một cái gì mới khác với những người đến trước anh không? Bàn về thơ Nguyễn Tuân cũng khẳng định: "Thơ là đã mở ra được một cái gì đó mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ đó, vẫn như là bị đóng kín".

Mỗi tác phẩm là một thông điệp thẩm mỹ mà người nghệ sĩ gửi đến bạn đọc. Do đó trước hết mỗi tác phẩm là một "khám phá về nội dung". Muốn vậy, nhà văn không chỉ là "người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho", mà phải biết "đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có" (Nam Cao). Nhà văn phải biết nhìn sâu vào cuộc sống, hiểu về tâm hồn của con người để khám phá ra những vấn đề mới, cất tiếng nói riêng của mình với cuộc đời. Trong nghệ thuật, nội dung và nghệ thuật gắn bó chặt chẽ, mật thiết với nhau.

Nội dung là nội dung của hình thức, hình thức là hình thức của nội dung. Một nội dung mới sẽ tìm cho mình một hình thức mới. Sự thay đổi về hình thức biểu hiện cũng có thể kéo theo sự thay đổi về nội dung. Có khi nhà văn đề cập đến những vấn đề của muôn đời nhưng lại nói với giọng điệu riêng, âm sức riêng của tâm hồn mình; do vậy tác phẩm vẫn đem đến cho người đọc cái mới đáng quý.
Cái độc đáo sáng tạo về nội dung và hình thức của tác phẩm tạo nên phong cách riêng của người nghệ sĩ không phải là chuyện cách nói mà chủ yếu là vấn đề cách nhìn, một cách nhìn nếu không do nghệ sĩ đem lại thì không bao giờ có được. Cái mới không chỉ đơn thuần thuộc về nội dung hay nghệ thuật một cách cực đoan, có nghĩa là không chỉ đơn thuần tìm ra cái mới trong hình thức mà trước hết phải xuất phát từ các mới của nội dung. Khi cả tác phẩm toát lên cốt cách riêng, phong vận riêng mới lạ thì nó sẽ tác động mạnh mẽ vào người tiếp nhận. Người nghệ sĩ đi sâu vào cái chủ quan, cái cá nhân của mình, mặt khác vẫn phải gắn bó với cuộc sống để không đẩy sự mới lạ lên thành cá nhân chủ nghĩa.

Mỗi thời đại, mỗi tác giả góp vào dòng chảy văn học một cách cảm nhận mới, một niềm trăn trở khác nhau và một cách nói mới. Điếu này sẽ tạo ra tính liên tục, phát triển sự phong phú của nền văn học. Mỗi giai đoạn văn học, mỗi nghệ sĩ có một bản sắc riêng, một diện mạo riêng. Chính những phát minh về hình thức đã góp phần làm cho văn học nhân loại vận động từ kiểu sáng tác này đến kiểu sáng tác khác.

Trong văn mạch dân tộc, nhìn trên diện rộng cũng có thể thấy mỗi thời đại để lại một khí chất, mang một cảm hứng chủ đạo khác nhau. Văn học Lí, Trần, Lê lấy cảm hứng chủ đạo là lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Sang giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nhà nghệ sĩ lại bị ám ảnh hơn cả bởi vấn đề số phận con người. Họ không đi vào ngợi ca cảnh thái bình thịnh trị như văn học thời Lê mà xoáy sâu vào bi kịch của những thân phận con người. Mỗi tác phẩm lớn của thời kỳ này là một tiếng yêu thương mỗi cá nhân. Sang giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cảm hứng nổi lên trong văn học chân chính lại là tình yêu mãnh liệt, khát vọng độc lập dân tộc. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, các thi sĩ phong trào thơ mới nói lên khát vọng cởi trói cho cái "tôi" cá nhân của mình... Mỗi thời đại có một nét riêng và cái riêng ấy dội vào tác phẩm với những âm hưởng khác nhau. Thú vị thật, độc đáo nhất với người đọc lá sự lắng nghe những giọng điệu riêng của mỗi tâm hồn nghệ sĩ. Lĩnh vực thử thách lớn nhất đối với tài năng người cầm bút là trong một đề tài quen thuộc, anh có thể nói lên được điều gì mới lạ hay không. Bản sắc riêng, khí chất riêng của mỗi tâm hồn làm cho mỗi tác phẩm có một diện m
ạo riêng.
Thêm
  • Like
Reactions: Văn Học Trẻ
202
1
0
Viết trả lời...
Đôi khi mình nhận ra rằng, mình đã không còn là mình của trước kia nữa. Mình đã không còn giỏi giang trường chính những môn học mà mình cảm thấy tự hào nhất nữa. Những điều đã từng khiến mình cảm thấy đam mê, bây giờ lại chỉ khiến mình cảm thấy mệt mỏi. Mình sợ lắm cảm giác phải đối diện với ánh mắt hoài nghi của người khác, dò xét và hả hê khi thấy mình thất bại. Đó là khi mình đứng giữa ranh giới mong manh của sự xuất chúng và bình thường, để rồi mình lại tiếp tục trăn trở mình có thật sự xuất chúng hay không?


Mình từng có một niềm đam mê rất mãnh liệt với văn học. Mình yêu lắm cảm giác được viết, được thấy mình trưởng thành hơn qua mỗi trang giấy, được thể nghiệm chính mình. Cảm giác thành tựu đầu tiên đến với mình cũng là khi mình theo đuổi môn học này. Làm sao mình có thể quên được những ánh mắt ngưỡng mộ của những người xung quanh và những câu nhận định “dân văn mà" từng khiến mình thấy tự hào. Vậy mà bây giờ những ánh mắt ngưỡng mộ đó đang ở đâu, để lại chính mình cảm thấy bơ vơ và hoài nghi về bản thân mình. Hóa ra mình không giỏi như mình nghĩ. Lâu nay mình đang tự thôi miên mình rằng mình rất giỏi giang, mình có thể làm được tất cả. Thế nhưng đến lúc mình hiểu được rằng không phải lúc nào cũng có thể nói dối bản thân, bởi những gì mình làm được sẽ phản ánh đúng tất cả những gì đã diễn ra trong tâm hồn mình.


Và bây giờ là lúc mình muốn ôm lấy những người bạn đồng trang lứa, những người đang trải qua cảm giác bất lực khi không còn đam mê và cảm hứng chúc một môn học mà họ từng yêu thích. Thực ra thì, nếu như đã trải qua cảm giác này, chúng ta đều biết rằng nó rất tồi tệ. Thậm chí nó khiến cho chúng ta đánh mất hoàn toàn niềm tin vào bản thân. Nó khiến chúng ta hiểu rằng hóa ra mình không giỏi, tất cả chỉ là do may mắn mà thôi. Cảm giác đó sẽ dần hình thành nên phức cảm tự ti bên trong mỗi người, bắt đầu khiến chúng ta từ bỏ đi những gì chúng ta đã từng rất đam mê để tìm kiếm khả năng của một lĩnh vực mới. Khi đó, vô hình trung chúng ta cũng đang từ chối đi bản chất con người mình.


Nhưng kỳ thực thì cũng chẳng sao cả, đó chỉ là sự đánh mất cảm hứng tạm thời. Những bạn trẻ từng đi qua những giai đoạn khủng hoảng nhất đều có thể sẽ trải qua cảm giác này, khi mà họ đánh mất cảm hứng với tất cả mọi thứ, khi mà tất cả những gì từng làm họ cảm thấy yêu nhất bây giờ lại khiến họ cảm thấy áp lực và hoàn toàn không có một chút động lực để thực hiện nào. Điều này được hình thành khi bạn với trải qua quá nhiều áp lực mà không cho mình một điểm tựa và chỗ trú. Bạn luôn nghĩ rằng mình phải rùng mình lên để trở nên giỏi hơn, hoàn hảo hơn. Và càng hoàn hảo bạn sẽ cảm thấy cảm hứng của mình bị chai mòn dần đi, khi mà trong suốt quá trình bạn theo đuổi điều đó bạn không hề cho mình một khoảng trống nào. Cảm giác đau đớn đó là tín hiệu của cơ thể nhắc nhở bạn rằng đã đến lúc nghỉ ngơi rồi.


Và sau hành trình đau đớn đó là lúc chúng ta tìm lại đam mê của mình. Không phải là hừng hực lao vào quá trình tìm kiếm cảm hứng như trước kia, chắc chắn bạn không muốn tình trạng đó diễn ra thêm một lần nữa. Vậy thì hãy bình tĩnh, chầm chậm theo đuổi đam mê, từ từ tìm lại cảm xúc của chính mình trong những điều mà mình đã từng yêu thích. Đừng vội vàng nghe theo những lời khích bác, miệt thị hay hạ thấp mà đánh mất đi bản thân.


Bạn trở nên xuất chúng không phải để trở thành niềm ngưỡng mộ của những người khác. Bạn trở nên xuất chúng chỉ đơn giản là không có lý do gì cả, chỉ đơn giản là vì bạn xứng đáng với những điều tốt đẹp hơn.
Thêm
46
0
0
Viết trả lời...
Đứng giữa ranh giới giữa thế giới cũ và thế giới hiện đại, chúng ta hiểu được khoảng cách và sự khác nhau giữa hai thế giới ấy. Chúng ta nhận ra rằng: mặc áo chí kiến tạo nên những giá trị ảo, đời sống thực tiễn mới kiến tạo nên những giá trị thực. Nhưng hiện tại tình thế hoàn toàn không như vậy.


Chúng ta có thể thấy một người đến những quán cà phê không phải để nói chuyện, tâm sự hay chia sẻ, giữa bạn bè mà chỉ đơn giản là để chụp ảnh và đăng những tấm hình đó lên Facebook. Họ sẽ chờ đợi những cái like, những dòng comment và những lời khen ngợi. Họ sẽ thấy thích thú với những dòng bình luận khen ngợi và sẽ cau mày với những dòng bình luận chỉ trích. Họ sẽ âm thầm xóa những dòng comment mỉa mai và đúc chat với những dòng comment thoá mạ. Và hiển nhiên những người bước qua bài viết của họ mà không có một động thái bày tỏ cảm xúc sẽ khiến họ cảm thấy khó chịu. Khi phải tạm đóng điện thoại hoặc máy tính để làm những công việc khác, trong họ luôn thấp thỏm một câu hỏi liệu có người mới nào vào like hay comment không nhỉ? Và cứ như thế, họ mất dần tập trung vào những cuộc chạy đua với lượng like và lượng share, cuối cùng đánh mất đi thời gian và đánh mất đi cả bản thân của chính mình.


Toàn bộ quá trình đó được gọi là quá trình tìm kiếm cảm xúc thật. Tức là chúng ta đang ngủ một giai đoạn tìm kiếm cảm xúc Không phải chỉ nhờ những tương tác thật trong đời, mà là ở trên một nền tảng ảo. Đấy chỉ là một ví dụ giản dị và gần gũi nhất cho cả tỷ những ví dụ như thế. Điều đó khiến cho chúng ta hiểu được rằng mặc áo đã mang tới những giá trị thật như thế nào. Có thể con số 20 người theo dõi trên mạng xã hội chỉ là một con số ít ỏi, nhưng nếu bạn nhìn thấy 20 con người đó hiển hiện trước mặt bạn ngay lúc này thì bạn sẽ thấy rằng con số đó không hề nhỏ. Và bạn sẽ không hiểu được tại sao họ có thể sẵn sàng theo dõi bạn, thả tim và bình luận trước những bài viết mà bạn đang trên mạng xã hội. Điều đó cũng giải thích cho lý do tại sao những người có tầm ảnh hưởng trên mạng lại luôn đem lại cho chúng ta những sự tung hô và ngưỡng mộ, từ đó khiến chúng ta phải tạo ra những suy nghĩ cảm xúc có thật bên trong con người mình.


Mạng xã hội khủng khiếp tới mức có thể góp phần quan trọng để tạo ra cả một đặc tính chưa từng có trong lịch sử loài người, đó là đặc tính hậu sự thật. Đó là nơi mà những sự thật khách quan không được đặt lên tầm quan trọng bằng việc những sự tác động, tung hô của cảm xúc trước những vấn đề đó. Điều này đang làm đảo lộn vị trí của sự thật và giả dối, làm tăng cơ hội cho những kẻ xấu trục lợi. Vậy thì lúc này ai dám bảo mạng ảo chỉ là ảo?


Không thể phủ nhận rằng thời đại của chúng ta đang đi trước so với những thời đại trong quá khứ, chúng ta hiện đại hơn, chúng ta có nhiều máy móc để phục vụ cho cuộc sống của chúng ta hơn. Nhưng điều đó không thể chứng minh được rằng chúng ta hạnh phúc hơn hay đau khổ hơn so với tổ tiên của mình. Những máy móc thiết bị chỉ là những vật mang tính trung tính, việc quyết định nó tốt hay xấu hoàn toàn là phụ thuộc vào chúng
ta hôm nay.
Thêm
58
0
0
Viết trả lời...
“Đi sau người khác, đi cùng người khác thì sẽ không có cơ hội thay đổi thứ hạng Việt Nam. Khi chấp nhận cái mới, chúng ta có thể mất một số thứ, nhưng chúng ta không có quá nhiều thứ để mất, và đó là cơ hội của chúng ta". Những phát biểu của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn mạnh Hùng trong một hội thảo Công Nghệ năm 2019 đã để lại trong chúng ta những dư âm, đặt ra bên trong ta những câu hỏi đầy day dứt về việc sáng tạo cái mới trong kỷ nguyên số.


Cái mới là một vấn đề mang tính nhận thức luận kinh điển của loài người. Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi con người phải luôn trong trạng thái thay đổi, trút bỏ lớp áo cổ điển để chọn cho mình một bộ y phục mới. Sự mới mẻ luôn đòi hỏi ở rất nhiều thể loại, phương thức và lĩnh vực khác nhau. Tựu trung, xã hội càng đi lên thì con người càng cần cố gắng để thay đổi chính mình. Dĩ nhiên, cái mới không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với cái tốt, nhưng nhu cầu tìm hiểu cái mới, nắm bắt cái mới để đi đến làm chủ cái mới là điều kiện tối quan trọng của phát triển.


Có những kiểu tư duy theo lối mòn đã tồn tại theo cả trăm năm lịch sử. Nếu như đặt ra cho những học sinh cấp 1 viết bài văn tả về một loại cây, chắc chắn chúng ta sẽ bật cười vì những câu văn ngây thơ của chúng: “Trong tất cả các loại cây, cây xoài, cây ổi, cây táo,... em thích nhất là cây ổi". Kiểu tư duy đã tồn tại theo truyền thống trở thành cố hữu trong giáo dục này khiến chúng ta càng thêm trăn trở. Những tư duy theo lối mòn đã ăn sâu vào trong tư tưởng của các học sinh từ cấp 1, khiến các em học theo văn mẫu, viết theo văn mẫu, từ đó trở thành nô lệ cho văn mẫu mà không thể sáng tạo nên phong cách văn riêng. Việc học theo văn mẫu này đã khiến cho nhiều bạn cảm giác không muốn theo đuổi môn Văn, cảm thấy văn học chỉ đơn giản là sự sao chép và bắt chước. Chúng ta không thể đòi hỏi các học sinh phải đam mê môn Văn trong khi cách giáo dục trong môi trường phổ thông lại đang ép các em phải viết theo một quy chuẩn nhất định của thầy cô giáo. Ngay cả khi các em được quyền sáng tạo, thì sự sáng tạo đó vẫn nằm trong những quy phạm và tầm tiếp nhận của thầy cô giáo. Ngay cả việc các em thể hiện những suy tư, trăn trở của cá nhân về một vấn đề trong xã hội cũng biến thành viết lan man trong suy nghĩ của thầy cô giáo. Vậy thì khi đó, làm sao chúng ta có thể đòi hỏi một thế hệ đổi mới trong khi tư tưởng của chúng ta vẫn đang ở chế độ cũ?


Đã đến lúc phải nghi vấn cái cũ, đặt tung cái cũ, thậm chí tuyên chiến, đối đầu với cái cũ. Galileo nhận xét một câu kinh điển rằng: “Kinh Thánh chỉ cho ta đường lên trời, nhưng không, nhưng không nói cho ta trời xoay như thế nào?”. Và rồi chính ông đã đẩy những phát hiện trước đó của Copernicus lên đỉnh cao với việc khẳng định: mặt trời là chỗ mà trái đất xoay quanh, chứ không phải là thứ xoay quanh trái đất như giáo hội đã và đang lầm tưởng. Ai cũng biết, vì dám nói ngược với giáo hội mà cuối cùng galileo bị tòa án dị giáo xét xử và bị giam lỏng cho đến cuối đời. Thế nhưng, sự thật thì vẫn luôn là sự thật. Cái mới rất khó để được chấp nhận, nhưng đó là việc mà chúng ta cần làm. Trong văn học, khi phong trào thơ mới xuất hiện, đã xảy ra một cuộc bút chiến giữa các nhà văn phái thơ cũ và thơ mới. Các nhà thơ phái thơ cũ cho rằng các nhà thơ mới không biết làm thơ theo niêm luật nên phải sáng tạo nên một thể thơ không rõ ràng về mặt niêm luật. Quan điểm này đã mất rất nhiều thời gian để bị bác bỏ, đưa văn thơ mới xuất hiện gần gũi hơn và đem lại làn gió mới hơn cho văn học dân tộc.


Nhận thức được cái mới là yêu cầu sống còn của tồn tại. Biết ứng xử với cái mới là yêu cầu sống còn của phát triển. Và biết vận dụng cái mới một cách ưu việt nhất trong hoàn cảnh của mình là yêu cầu cơ bản để tạo nên những giá t
rị văn minh.
Thêm
54
0
0
Viết trả lời...
Con đã chờ mong về ngày ấy rất lâu, ngày được ngồi trên chuyến xe trở về thăm bố mẹ, thăm ông bà. Cả năm bận bịu, quay cuồng trong đống bài tập và những công việc làm thêm, con đã quên mất mình có một gia đình, có một nơi để trở về. Con đã quên mất mình từng ngây thơ như thế nào, từng đón cái Tết êm ấm trong gia đình hạnh phúc ra sao. Năm nay, con là một đứa xa nhà quay trở về thăm quê hương, mang trong mình tâm thế của kẻ lữ khách. Quê hương với con giờ đây chẳng còn gần gũi và ở ngay trước mắt như trước, con nhìn quê hương như một cái đốm xa trên đỉnh những nóc nhà, chờ đợi một ngày để quay trở lại.


Rồi ngày mai, trên chuyến xe kia, con trở về với gia đình mình. Ngay từ khoảnh khắc con bước xuống khỏi chiếc máy bay, lòng con đã rụng lên một cảm giác khó tả. Đây thôi, quê của con ở đây thôi. Cái làng quê nhỏ bé mà thân thương đã 2 năm rồi con chưa gặp. Hai năm con lăn lộn trên thành phố, cố tìm cho mình một chỗ đứng, để bây giờ khi đứng trước quê hương, con lại thấy không đâu bằng nhà mình. Con bước những bước đi thật chậm rãi, muốn khoảnh khắc này trôi qua thật chậm, để con được sống mãi trong giây phút hạnh phúc và lâng lâng này. Con mở điện thoại, gọi cho bố. Bên đường dây bên kia vẫn vang lên tiếng nói trầm ấm của bố khiến con thấy ấm lòng. “Con về đến nơi rồi bố ạ". “Con về đến nơi rồi à, con ở đâu để bố ra đón"... Chiếc xe Honda cũ kỹ nhạt màu sơn của bố chở con về nhà.


Quê hương con vẫn ngập một màu xanh trông thấy, xanh của lá rong, xanh của bầu trời, xanh của tấm lòng con lung linh và ngây dại. Con tưởng mình đã lớn lắm, thế mà sao khi trở về đây con lại thấy mình thật nhỏ bé trong vòng tay của quê mình. Cái mùi khói bếp ấy, chẳng biết đã bao lâu rồi con không được ngửi thấy. Trên phố thị con đã quen với những bữa ăn nhanh, với những bát mì tôm khi đói để chạy qua những ca học, con đã quên mùi khói của mẹ, nhớ bàn tay nhóm lửa của bà. Một mùi khói bếp thoáng qua trong mũi. Khói bếp trước đây thường khiến con thấy cay mắt, con nhắm tịt hai mắt lại. Thế mà giờ đây con lại thấy mùi khói thật thân thương như gợi lại một mảnh ký ức đã cũ.


Dường như con đã làm bừng sáng cả buổi chiều của bố mẹ. Bố mẹ nhìn con mỉm cười âu yếm. Con ước mình được bé lại, không còn là đứa con buôn ba khắp muôn nơi. Con muốn mình mãi mãi là đứa bé nhỏ trong vòng tay bố mẹ, vẫn là đứa bé bố đèo trên xe ngày hôm ấy. Tết năm nay rồi cũng như cái Tết mọi năm, vẫn bánh chưng xanh, vẫn hoa mai vàng, chỉ là Tết năm nay con trở về sau 2 năm xa quê. Xa quê, thấy mình chững chạc nên rất nhiều, đã có thể mua cho bố mẹ cái áo mới, mua cho em bộ áo dài. Xa quê, con chỉ chờ đợi một ngày trên chuyến xe hôm ấy..
Thêm
62
0
0
Viết trả lời...
Văn học là một loại hình ý thức xã hội tồn tại bên trong cấu trúc của xã hội hiện thực, bởi vậy nó ẩn chứa trong đó tất cả những biến thiên của xã hội đồng thời đặt ra trong ta câu hỏi về những " kẻ khác”. Những kẻ khác tồn tại trong văn học với vai trò vị trí của một người ở ngoại biên, bị đẩy ra vùng ngoại vi và không có tiếng nói. Văn học khi thực sự chạm đến góc cạnh sâu nhất mang tầng ý nghĩa của mình thì phải là khi mà nó cất lên tiếng nói của những kẻ khác.


Rằng khi chúng ta chưa chết, chúng ta không thể “phát biểu điều gì về cái chết”, cũng như với kẻ khác khép mình thì làm sao ta thấu về họ. Alexandre Gefen dẫn dắt chúng ta đến với lời giải đáp cho mọi vấn đề được đặt ra, cho chúng ta một câu trả lời chuẩn xác và hài long, đó là: “Và không phải ai khác, chính văn học là kẻ sẽ phải gánh vác trách nhiệm sửa chữa lại lỗi lầm đó của Đấng Tạo Hóa”. Nếu như thiếu sót của Vulcain là “không khoét một ô cửa nhỏ nơi trái tim… tâm hồn con người còn bị bó chặt và giấu kín đi trong một cái lớp vỏ dầy và mờ đục của máu và da thịt” thì chính văn học sẽ là chìa khoá giúp chúng ta đi tìm cánh cửa trái tim vô hình kia. Văn chương bởi vậy là con người, là phần người sâu thẳm nhất. Tuy vậy văn chương không chỉ là hình ảnh giống như chiếc bóng của con người đổ xuống mặt đường, đổ lên tường vách, lên cuộc đời, mà văn là con người ở mức cao hơn. Không thể có ngả đường nào khác cho hành trình của văn chương, chính là sự tham dự vào cuộc hành trình của tư tưởng và khơi dậy linh hồn. Nhà văn vì thế phải là “kẻ không căn cước, kẻ có khả năng xâm thực được trong thân xác của người khác”. Bởi vậy, khi ta cảm nhận một tác phẩm văn học cũng là lúc ta đi sâu vào thế giới của kẻ khác, nhìn họ ở khoảng cách gần hơn và cũng là lúc ta đi sâu vào tâm hồn của chính mình.


Liệu rằng có mấy ai không động lòng thương xót cho nàng Kiều bạc phận khi nhớ Truyện Kiều- Nguyễn Du? Có mấy ai không căm phẫn xã hội bất công, áp bức đẩy anh chàng Chí Phèo đến bờ vực thèm khát lương thiện? Và có mấy ai không căm thù lũ giặc cướp nước hại dân tộc khi đọc Bình Ngô đại cáo? Mỗi trang văn, mỗi tác phẩm là linh hồn, là con người bên trong, là cốt lõi của chính nhà thơ ẩn chứa bên ngoài là tấm thân xương thịt đời thường. Văn chương không phải là thứ mây ngũ sắc phiêu lãng bồng bềnh trôi trên tận tầng trời. “Khám phá, kể chuyện, cất lời ca, một cách tinh tế tinh tế hay bình dị về những cảm xúc của các cá thể. “Biến mỗi một kẻ khác ta thành một thế giới của những phép mầu, những bí ẩn…”- tác giả đã nói hộ lòng độc giả, những người đón nhận văn chương một cách trân trọng và thận trọng giữ gìn. Văn chương trở thành chiếc gương mà khi ta nhìn vào, ta thấy tâm hồn người viết trải lòng trong đó, ta hiểu về con người, đồng thời ta hiểu về chính ta. “Kẻ khác không phải là một dữ kiện, kẻ khác là một quan niệm lịch sử…”.


Hiểu và nhìn nhận về kẻ khác ở những khoảng cách gần, để không cảm thấy xa lạ với họ, để tiếng nói của họ được vang vọng lên giữa xã hội ồn ã này - đó là trách nhiệm của người nghệ sĩ. Văn chương là chân dung của cái tôi và tâm hồn của nhà văn. Không khó để mở cửa trái tim nhưng không phải ai cũng đủ trân trọng và yêu thương để thấu hiểu và hiểu một cách chân thành, sâu sắc. Chúng ta chỉ có thể khẳng định rằng văn chương là nhịp cầu hướng từ cái tôi tới cái ta, lan toả và chiếu rọi linh hồn con người. Đọc từng câu từng chữ, ta như nuốt trọn từng lời từng ý trong mỗi chữ mỗi câu. Tác giả đã mở ra một cái nhìn chân thực, một tia sáng phản tỉnh - độc giả với tâm thức tiếp nhận của nhà văn. Văn chương đã giúp ta nhìn gần hơn về
kẻ khác.
Thêm
50
0
0
Viết trả lời...
Văn học dân gian là một hình thái ý thức xã hội. Nhiều tác giả cho rằng, văn học dân gian ra đời từ thời kì công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại ngày nay.

Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, chỉ sau khi có nhà nước, mới có hai dòng văn học: văn học dân gian và văn học viết. Trước đó, chỉ có văn học cộng đồng. Theo quan niệm này, người Ê Đê, Mơ Nông… không có văn học dân gian vì chưa phát triển đến trình độ tổ chức xã hội có nhà nước.

Giáo sư Nguyễn Tấn Đắc viết: “Trong một xã hội cộng đồng như vậy, văn hoá mang tính cộng đồng và cũng chưa nhiễm tính chính trị - đẳng cấp. Chưa có sự phân biệt giữa cái chính thống, quan phương với cái dân gian, thôn dã. Tất cả chỉ là một. Không có hiện tượng hai bộ phận văn hoá. Tính cộng đồng là đặc điểm bao trùm toàn bộ đời sống của xã hội đó. Khi nói dân gian là mặc nhiên thừa nhận có cái đối lập với nó. Nhưng ở trong những xã hội này, văn hoá nói riêng cũng như xã hội nói chung chưa có sự tách đôi thành hai bộ phận “đối lập” nhau”. Ý kiến trên là đáng chú ý. Tuy nhiên, nếu chia văn học thành ba loại hình (văn học cộng đồng, văn học dân gian, văn học viết) thì chúng ta thấy, xét về phương thức sáng tác, phương thức lưu truyền và tiếp nhận, xét về mặt thi pháp, văn học cộng đồng vẫn rất gần gũi với văn học dân gian.

Nếu xét kĩ, văn học cộng đồng có điểm khác so với văn học dân gian (chẳng hạn không có sự tác động qua lại giữa hai dòng văn học khi đã ra đời nhà nước, chữ viết); nhưng nếu ta đem so sánh nó với văn học viết thì sự khác biệt còn nhiều hơn, sâu sắc hơn và dễ nhận thấy hơn. Ở cả văn học cộng đồng và văn học dân gian, dấu ấn cái tôi tác giả, dấu ấn cá tính sáng tạo không có hoặc rất mờ nhạt, phong cách tác giả hầu như không có. Ở văn học viết, dấu ấn cá tính sáng tạo, phong cách tác giả lại là một yêu cầu không thể thiếu. Văn học dân gian nhiều khi gắn liền với sinh hoạt mọi mặt của người dân và tham gia vào những sinh hoạt đó với tư cách là một thành phần, một nhân tố cấu thành. Ở các bài ca tế thần, bài hát đám cưới, hát đối đáp nam nữ, hát ru em, mối quan hệ đó biểu hiện thành mối quan hệ giữa văn học dân gian với nghi lễ, hội hè, phong tục tập quán trong sinh hoạt gia đình và sinh hoạt xã hội. Dân ca lao động nảy sinh trực tiếp từ trong quá trình lao động, được hát lên khi người ta kéo thuyền, kéo gỗ, có tác dụng làm giảm nhẹ sự mệt nhọc, bằng cách tăng cường cảm giác nhịp điệu trong công việc, góp phần tổ chức, phối hợp động tác lao động tập thể, gây sự phấn khích trong lao động bằng sự nhận thức thẩm mỹ về quá trình lao động đó5 . Nếu trong văn học viết, người sáng tác và người thưởng thức là hai đối tượng khác nhau, thì ở văn học dân gian, mối quan hệ giữa người sáng tác và người thưởng thức cũng như môi trường sáng tạo, thưởng thức có nhiều điểm khác biệt.

Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã viết: “Điều mà chúng ta có thể nhận thấy trước tiên là môi trường sinh hoạt văn học dân gian hay những hình thức sinh hoạt văn học dân gian khác nhau (thường là những sinh hoạt tập thể) tạo nên một thứ “không khí” riêng cho việc tiếp thu tác phẩm văn học dân gian, chỉ trong “không khí” đó, tác phẩm văn học dân gian mới bộc lộ được hết giá trị thẩm mĩ của nó và những tác động thẩm mĩ do nó gây ra mới toàn diện, mới đa dạng.
Thêm
66
0
0
Viết trả lời...
Cuộc sống hiện đại ngày nay mở ra nhiều cơ hội để con người tự do lựa chọn con đường đi riêng, thể hiện cái tôi và cá tính của mình. Xã hội càng sống dưới những áp lực, luật lệ và nỗi đau, con người càng cần khẳng định bản sắc văn hóa riêng của mình, để trở thành một phiên bản độc nhất không hòa lẫn. Đó là khi tôi rất ấn tượng với quan điểm của Phạm Thị Hoài trong tác phẩm "Thiên Sứ": "Tôi từ chối đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào, tôi từ chối bất kỳ bộ đồ đồng phục quá chật hay quá rộng nào." Lời giãi bày ấy không chỉ mang đến một tuyên ngôn cá nhân mạnh mẽ mà còn phản ánh những suy nghĩ sâu sắc về tự do, sự độc lập và niềm tin vào giá trị cá nhân.

Lời từ chối “đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào” khiến tôi nghĩ đến sự bức bối của một con người trước những định kiến, những chuẩn mực xã hội. Phạm Thị Hoài, qua lời nói này, không chỉ muốn nói về sự phản kháng đối với những giá trị bị gắn nhãn mà còn thể hiện quan điểm về việc không muốn bị giới hạn bởi những chuẩn mực xã hội áp đặt. Trong xã hội hiện đại, đôi khi chúng ta bị đẩy vào những “khuôn khổ” mà không biết mình có thực sự thuộc về nó hay không. “Từ chối bị gắn nhãn, đóng mác” nghĩa là từ chối bị đồng hóa, từ khước việc tự xóa mờ đi dấu ấn riêng của mình. Chúng ta đang gọi những vấn đề trong đời sống người trẻ hôm nay gắn với hai từ “thế hệ”. Như vậy nghĩa là, một vấn đề của một cá nhân, một cộng đồng cũng bị quy về vấn đề của một thế hệ.

Cùng với lời từ chối thế hệ, tác giả cũng khẳng định việc từ chối “những bộ đồng phục quá chật hay quá rộng”. Bộ đồng phục ở đây không chỉ là trang phục vật lý, mà chính là những khuôn mẫu, những chuẩn mực xã hội, những quy tắc hành xử mà đôi khi chúng ta phải tuân theo. Những bộ đồng phục quá chật khiến chúng ta cảm thấy bó buộc, mất tự do, không thể cử động thoải mái theo ý muốn. Còn những bộ đồng phục quá rộng lại khiến chúng ta lạc lõng, thiếu định hướng và không thể hiện được bản thân. Cả hai đều là những điều không thể tồn tại trong một cuộc sống đích thực, nơi mà mỗi người đều có quyền chọn lựa và sống theo cách của riêng mình. Với hình ảnh bộ đồng phục, Phạm Thị Hoài khéo léo phản ánh một thông điệp rằng, trong xã hội, mỗi người cần có không gian để phát triển, không thể sống trong một cái khuôn đã được chuẩn bị sẵn. Sự tự do không phải là sự bừa bãi, nhưng cũng không thể là sự bó hẹp, gò ép. Một bộ đồ vừa vặn là khi nó vừa khít với người mặc, không chật đến mức làm ta khó thở, cũng không rộng đến mức ta không thể cảm nhận được chính mình. Tương tự, mỗi người phải biết chọn cho mình những giá trị, những lý tưởng mà mình cảm thấy đúng đắn, để từ đó phát triển và sống trọn vẹn với con người thật của mình.


Những điều mà Phạm Thị Hoài thể hiện trong tác phẩm "Thiên Sứ" chính là sự đấu tranh cho tự do cá nhân trong một xã hội đầy rẫy những ràng buộc, những áp lực từ thế hệ này đến thế hệ khác, từ gia đình, xã hội đến môi trường làm việc. Trong một thế giới mà sự đồng nhất đôi khi được đề cao, lời nói của tác giả như một lời nhắc nhở về việc tôn trọng sự khác biệt và khẳng định quyền tự do lựa chọn con đường riêng của mỗi cá nhân. Chúng ta không phải là những bản sao, và xã hội không nên bắt buộc tất cả phải tuân theo một mô hình chung. Điều này có thể hiểu như một sự phản kháng mạnh mẽ trước những chuẩn mực, những hệ thống tư tưởng đang chi phối cuộc sống của mỗi người. Đó là sự kêu gọi về quyền được sống một cuộc sống của riêng mình, theo cách mà chúng ta muốn, không phải theo những gì người khác mong đợi. Sự tự do này không chỉ đến từ việc làm những điều mà mình thích mà còn là sự dũng cảm từ chối những điều mà mình không đồng tình.



Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, mỗi con người đều có quyền tự do lựa chọn con đường đi riêng, thể hiện cái tôi và cá tính của mình. Những điều này không chỉ nằm trong phạm vi các lựa chọn nhỏ nhặt hằng ngày mà còn bao gồm cả những quyết định lớn lao về cách sống, cách nghĩ và cách thể hiện bản thân. Một trong những quan điểm sâu sắc mà tôi rất ấn tượng trong tác phẩm "Thiên Sứ" của Phạm Thị Hoài chính là lời khẳng định: "Tôi từ chối đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào, tôi từ chối bất kỳ bộ đồ đồng phục quá chật hay quá rộng nào." Câu nói này không chỉ mang đến một tuyên ngôn cá nhân mạnh mẽ mà còn phản ánh những suy nghĩ sâu sắc về tự do, sự độc lập và niềm tin vào giá trị cá nhân.
Thêm
61
0
0
Viết trả lời...
Biển sẽ không bao giờ lặng, chúng ta là những con người cô đơn trên bãi biển hôm ấy, lửng lơ, trôi dạt trong vô định. Từng đợt sóng ồ ạt xô vào bờ, làm ướt hết trái tim ta, rồi rút lại, và liên tục như thế. Qua rất nhiều lần bị vùi chôn trong đống sóng biển cảm xúc ấy, ta đã đánh mất đi sự rung cảm của mình đối với thế giới xung quanh. Thế nhưng, bạn à, bạn có biết rằng, vô cảm còn đáng sợ hơn buồn đau.

Cảm xúc là điểm yếu lớn nhất của con người, giá như tôi là người vô cảm, giá như tôi chỉ là hòn đá trôi dạt giữa xa khơi… Không ai có thể thấm thía nỗi đau này, họ ở ngoài cuộc, chỉ trỏ vào tôi và ra lệnh: “Mày không được buồn”, “Mày không được tiêu cực”. Thế nhưng, họ đâu hiểu rằng có những nỗi đau không thể ngưng lại nhờ mệnh lệnh. Những lời ra lệnh chỉ khiến họ thêm đau, thêm một lần trầy xước. Cảm giác khi đó thật tồi tệ, cảm giác như cả thế giới quay lưng lại với mình. Mình bơ vơ và nhỏ bé giữa cuộc đời này. Đây hoàn toàn không phải là cảm giác làm người lớn mà mình đã từng mơ. Nếu biết trước có cảnh này, mình ước mình sẽ mãi là một đứa trẻ.



Càng lớn lên, chống chọi với nỗi đau càng nhiều, mình càng nhận ra là, à, mình có thể ngồi giữa đống lửa này mà. Nó là cuộc chiến của riêng mình. Và giờ đây, mình bình thản ngắm nhìn những cảm xúc của mình đi qua như những đám mây trôi. Vô định. Nhưng mình không cố để thoát ra khỏi nó nữa. Những cảm xúc tiêu cực của mình cũng đẹp như những cảm xúc tích cực vậy, cũng muôn màu, cũng rực rỡ và cũng đáng để mình trân trọng. Mình cũng là con người, vui buồn đến với mình như một cái duyên. Mình không phải con robot để được lập trình sẵn sẽ luôn vui vẻ và mãi mãi vui vẻ. Mình đã từng rất ghét sự nhạy cảm của mình, ước rằng giá như mình không có cảm xúc. Mình từng nghĩ đến chuyện cắt tuyến lệ để không bao giờ khóc nữa, nhưng mình nhận ra nếu mình làm như vậy, mình đang làm tổn thương giọt nước mắt của mình.



Và khi mình trưởng thành, mình nhận ra, nếu hôm nay, mình chỉ có thể thở thôi cũng đủ rồi. Còn hơn là khi mình vô cảm.
Thêm
53
0
0
Viết trả lời...
Bố và con không hiểu nhau, không nói chuyện nhiều cùng nhau. Mỗi ngày chỉ nói qua nói lại vài câu hỏi han “Con ăn cơm chưa”, “Con có đi học không”. Con hỏi sao bố không giống những người bố mặc vest sang trọng khác. Bố cần mẫn, yên lặng, hàng ngày chở con đi học, đón con về nhà, nói dối con khi bị ốm để con không phải lo lắng. Đôi lúc, con trách bố quá vô tâm với con, hỏi sao bố không chịu gần gũi với con như mẹ. Con muốn nói chuyện với bố nhiều hơn, thấu hiểu bố nhiều hơn nhưng rồi thấy thật khó để mở lời.



Con trách bố không chịu hiểu con. Bố ở bên con hàng ngày, đưa con đi học, nhưng lại chẳng quan tâm con nghĩ gì, con làm gì. Bố chỉ quan tâm con ăn cơm chưa, đi học chưa, đóng tiền học bao nhiêu. Những lần con bất đồng quan điểm với mẹ, muốn bố đứng về phía con nhưng bố chỉ im lặng. Con trách sao bố chỉ quan tâm những người khác nghĩ gì về con mà lại không quan tâm con cảm thấy như thế nào. Đã có lúc, con bật khóc trong im lặng vì tủi thân, vì nghĩ rằng bố chẳng yêu con.



Ngày hôm ấy, con tình cờ xỏ chân vào đôi giày vải của bố. Đôi giày theo bố đi làm, được lau sạch khi bố đi dự đám cưới. Con vốn định mua cho bố một đôi giày mới nhưng bố không muốn, bố quen với những thứ cũ kỹ hơn. Con xỏ chân vào đôi giày sờn ấy, cảm nhận thử cảm giác của bố. Đôi giày to hơn chân con rất nhiều. Bố vẫn thường mang nó lộp cộp bước trên cầu thang mỗi sáng. Chỉ vài giây thôi, con cảm nhận được ít nhiều con người bố, thấy được phần nào những nỗi khổ của bố. Đôi giày ấy ngày ngày kiếm ra những đồng mồ hôi, cho con đóng tiền học, mua cho con những cái bánh vào ngày sinh nhật. Đôi giày ấy không mềm và dễ chịu như đôi giày búp bê của con, mỏng manh và cũ kỹ.



Con thấy mình nhỏ bé trong đôi giày vải ấy. Và con ước, con ước mình vẫn mãi là đứa bé năm ấy bố ôm vào lòng. Chẳng biết từ bao giờ, con lại giữ khoảng cách với bố như thế? Từ khi con bắt đầu lớn chăng… Con rời xa bố dần, không chịu chia sẻ để thấu hiểu bố mà chỉ trách sao bố không hiểu mình. Và con biết, bố cũng không mạnh mẽ. Bố cũng yếu đuối và mỏi mệt, đôi lúc bố cũng muốn từ bỏ. Nhưng vì con, vì mẹ, vì gia đình mình, bố phải gồng mình để không được khóc. Bố phải mạnh mẽ để mẹ con con dựa vào. Xã hội đã đánh mất quyền được khóc của người đàn ông, trong khi khóc là quyền cơ bản của con người. Nếu có một điều ước, con mong sao cho những gánh nặng trên vai bố nhẹ đi một chút, cho con được mua của bố một giờ đồng hồ, để bố được về nhà sớm ăn cơm cùng con.

Những lúc chông chênh nhất, nhìn mái tóc bố bạc dần, thấy gương mặt bố xám vệt thời gian, con lại có thêm một lý do để cố gắng.
Thêm
61
0
0
Viết trả lời...
Ngày còn bé, mình chỉ mong được lớn thật nhanh, để rời khỏi căn nhà nhỏ, để tung bay trên bầu trời của riêng mình. Mình nghĩ, hạnh phúc là những điều nằm ở phía xa khơi, gia đình chỉ là nơi bến bờ để mình trở về khi mỏi mệt. Nhưng mình nào có biết rằng, có những điều tưởng như bình thường, khi đi xa mới thấy hạnh phúc. Càng lớn lên, đi xa nhiều, mình càng thấy cuộc sống người lớn không huy hoàng như mình nghĩ, không phải cứ đi thì sẽ kiếm được nhiều tiền, kiếm được hạnh phúc. Điều mình nhớ thương nhất trong mỗi chuyến đi xa vẫn luôn là nhà, là gia đình với những bữa cơm cá kho nghi ngút khói. Tết này, ở nơi xa, mình nhớ…



Từ ngày ông đi, con vẫn chưa quen với cuộc sống vắng ông. Nhiều đêm choàng tỉnh, con vẫn mơ thấy ông hiện về trong giấc mơ con. Ông vẫn là ông của ngày nào, ngồi trên tấm phản gỗ, phe phẩy quạt, mắt nhìn xa xăm. Ông đi xa từ ngày con còn bé. Ngày ông mất, trời mưa tầm tã, bố mẹ khóc đỏ mắt, bà đứng không vững, chỉ có con vẫn ngây thơ chẳng biết gì đang diễn ra. Con chưa nhận thức được rằng, cả thế giới tuổi thơ của con đã ra đi. Con nhớ ông nhiều lắm, con nhớ con đã gào khóc gọi ông đến khản cổ. Bà ôm con vào lòng, vỗ về con trong bàn tay ấm áp. Bà dặn con phải ngoan thì ông mới về. Ngày nào, con cũng cố ngoan ngoãn, chờ một ngày ông sẽ về, sẽ dẫn con đi chơi. Nhưng theo năm tháng, nỗi buồn của con nguôi ngoai dần. Dường như con đã quên đi hình bóng ông trong tâm trí con, quên mất hình dáng bàn tay ông thế nào, quên giọng nói ông trầm ấm ra sao. Gần mười năm qua kể từ ngày ông đi, tết năm nay giữa chốn phồn hoa nặng hương khói, con nhớ về ông mà mắt cứ cay cay.



Từ ngày bà mất, con bắt đầu thấy sợ thời gian. Con sợ năm tháng sẽ đưa những người con yêu đi mất. Con đã tưởng bà sẽ ở bên con thật lâu, con tưởng bà sẽ chờ đến ngày con lấy chồng. “Để bà còn bế chắt chứ”. Thế mà, bà chẳng giữ nổi lời hứa với con. Bà mất giữa những ngày con lăn lộn trên thành phố, oằn mình trước bài vở và công việc. Trước những áp lực từ cấp trên, con nín lặng, nén nỗi đau vào trong, định rằng sáng sớm mai sẽ về với bà. Thế mà đêm ấy, cuộc gọi lúc 2 rưỡi sáng của bố làm tim con lạnh ngắt, con tưởng con đã ngất vào giây phút ấy. Vậy là ông bà đều bỏ con mà đi. Ông bà chẳng chịu giữ lời hứa với con. Tại sao ông bà dạy con phải ngoan ngoãn, đến khi con đã ngoan ngoãn rồi thì ông bà lại theo hương khói bay đi mất? Giữa phố thành, trong đêm đen, trong căn nhà trọ cô quạnh không ai bên cạnh, con gục đầu vào gối khóc sướt mướt. Ông bà đi mang theo cả tuổi thơ êm đềm của con đi. Nghĩa là từ nay con mất đi một phần ngây thơ.



Có những người ở bên cạnh ta, ta cứ chờ đợi mãi mới nói lên lời yêu. Đến khi muốn nói thì đã chẳng còn cơ hội, họ đã chẳng còn bên ta nữa rồi. Mình yêu ông bà nhiều lắm, nhưng mình vẫn cứ chần chừ, không dám nói yêu ông bà bao giờ, cũng chẳng dám choàng tay ôm lấy ông bà. Có lẽ là do cái tôi của mình cao quá. Mình tưởng mình còn nhiều thời gian lắm, vậy mà, hỡi ôi, mình nào biết có những năm tháng đầy nuối tiếc như thế ở trong đời…
Thêm
58
0
0
Viết trả lời...
Virgina Satir, một chuyên gia ở Mỹ từng chia sẻ rằng: “Chúng ta cần bốn cái ôm mỗi ngày để tồn tại, tám cái ôm mỗi ngày để nuôi dưỡng, mười hai cái ôm mỗi ngày để phát triển”. Chúng ta bất hạnh vì những đớn đau, thống khổ và sự vô tình của những kẻ máu lạnh, nhưng thế giới ban cho chúng ta quyền năng được chữa lành chính nỗi buồn của mình, đó là khi ta ôm người khác. Ôm ai đó không phải việc bắt buộc, không phải nghĩa vụ bạn phải trao đi khi người khác cần. Nhưng những cái ôm quan trọng với chính bạn, là việc bạn nên làm nó mỗi ngày để nuôi dưỡng chính mình.


Con người ta chỉ có một trái tim, nhưng khi chúng ta ôm người khác, chúng ta sẽ có hai trái tim. Hai trái tim ở bên trái và bên phải khiến chúng ta vừa biết đồng cảm vừa biết yêu thương. Hai trái tim là tín hiệu của tình người, là minh chứng cho việc chúng ta vẫn còn cảm xúc. Còn biết mở rộng vòng tay ôm lấy người khác là chúng ta còn biết yêu, biết ghét. Ôm một ai đó không chỉ diễn ra khi ta ôm người thương, ôm bố mẹ, ôm những người cùng thế giới với mình. Đó còn là khi chúng ta ôm lấy một đứa bé vùng cao co ro trong giá rét, khi ta nắm lấy bàn tay một bà cụ già. Nếu như con người thực sự có khoảng cách, cái ôm sẽ đưa chúng ta đến gần nhau hơn, xóa đi mọi giới hạn.

Con người ta không giỏi nói lời yêu, không phải lúc nào cũng đủ can đảm để nói rằng “Anh yêu em”, “Con yêu bố mẹ”. Chúng ta thể hiện cảm xúc qua những hành động không lời, đó là những cái ôm. Khi tôi quẫy quại trong nỗi thống khổ, trong những giọt nước mắt, tôi không nghĩ mình sẽ đủ bình tĩnh và bước đến ôm người khác một cách bình thường, bởi ma lực của cái ôm ấy thật đáng để vội vàng. Tôi ôm một người khác không có nghĩa là nỗi buồn của tôi biến đi, nỗi buồn của tôi cũng chẳng thể truyền sang một ai đó. Chỉ đơn giản là khi tôi ôm họ, tôi thấy mình được yêu thương, thấy mình không đơn độc trên cuộc chiến đời mình. Tôi ước mình được lang thang khắp chốn nhân gian ồn ã này, và khi quay về nhà thì được tan mềm trong những cái ôm ấm ngọt.

Hôm nay, bạn đã ôm ai chưa?
Thêm
59
0
0
Viết trả lời...
Đọc cuốn sách “Bức xúc không làm ta vô can” của Đặng Hoàng Giang, tôi rất ấn tượng với chương sách: văn hóa không phải lý do khiến Quốc gia thất bại.
Ở chương này, tác giả đề cập đến việc sự quan trọng của văn hóa không bị đứt gãy, cũng không phải là nguyên nhân khiến cho một quốc gia thất bại trước toàn cầu. Tác giả mong muốn nhìn thấy người dân Việt Nam có đủ hiểu biết và sự dẻo dai về văn hóa để chèo lái trên biển toàn cầu hóa, để trở nên những công dân toàn cầu mà không bị tha hương về văn hóa, bơ vơ về bản sắc. Trước những quan điểm trái chiều về việc chúng ta cần phải thoát khỏi những quan điểm cổ hủ xưa cũ để bắt đầu hình thành nên một nền văn hóa cho riêng mình, tác giả thể hiện rõ thái độ ngán ngẩm và đặt ra câu hỏi: liệu văn hóa có phải là lý do khiến Quốc gia thất bại?


Văn hóa hoàn toàn không phải là lý do khiến Quốc gia thất bại. Việt Nam chúng ta được hình thành từ nền tảng của văn hóa Trung Quốc, từ nền tảng của đạo Khổng tử. Đó là nền móng xây dựng nên văn hóa và 4000 năm văn hiến của người Việt Nam. Và sẽ ra sao nếu như chúng ta từ bỏ hoàn toàn nguồn gốc cốt lõi của mình để theo đuổi một nền văn hóa khác được xây dựng chỉ với tuổi thọ và chục năm?


Hơn nữa, Việt Nam chúng ta không chỉ muốn thoát khỏi tầm ảnh hưởng về kinh tế hay chính trị, mà còn muốn được khẳng định tiếng nói riêng của mình không trùng lặp với ai, bởi chúng ta là một, là riêng, là duy nhất. Rất nhiều tiếng nói yêu cầu Việt Nam thoát Trung Quốc về văn hóa, trở thành một quốc gia độc bản về bản sắc. Theo họ, cước từ văn hóa Trung Quốc, tức là cước từ gốc gác của văn hóa Việt, là điều cấp thiết để Việt Nam trở nên hùng mạnh và thịnh vượng. Nhưng chúng ta đâu chỉ phụ thuộc vào văn hóa Trung Quốc để trở nên vững mạnh hơn. Và cái chính đó là phải sửa cái ruột bên trong, chứ không phải chỉ cải cách bên ngoài, theo những hình thức bên ngoài vô giá trị.


Từ tưởng tượng một tình huống khác khi nghĩ đến việc thoát Trung, nếu các trường hợp chỉ thấy cái khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn" bằng “Hãy tin vào chính bạn" - một phương châm hoàn toàn Mỹ, thì liệu nặng dạy thêm, phong bì, biếu xén, lại chạy trốn chạy điểm có bỗng dưng biến mất hay không? Nếu như thoát Trung về văn hóa thì những tệ nạn trong xã hội ngày hôm nay có bị giảm đi hay không? Và nếu như chúng ta hoàn toàn theo Mỹ thì liệu đời sống của chúng ta có được cải thiện hay không? Trả lời được câu hỏi đó cũng là lúc ta khẳng định Văn hóa không phải là lý do khiến cho một quốc gia thất bại.
Thêm
50
0
0
Viết trả lời...
Xã hội của người trẻ hôm nay xoay vần trong những áp lực. Một phần những áp lực đó đến từ bản thân họ, gia đình và bạn bè. Như một phần khác cũng đến từ văn hóa thần tượng đang diễn ra một cách sôi động trong cuộc sống của người trẻ. Thật không khó để bắt gặp hình ảnh những ca sĩ, diễn viên, người mẫu trên mạng xã hội, và những ảnh hưởng của họ không hẳn là không tác động đến người trẻ. Họ khiến cho những người trẻ cảm thấy ngưỡng mộ, thần tượng và đôi khi là cuồng loạn trước thần tượng của mình. Văn hóa thần tượng thật ra không có gì xấu, thậm chí nó còn mang ý nghĩa tốt nếu như sự thần tượng của chúng ta mang lại tác động tích cực. Tuy nhiên người trẻ hôm nay lại không biết vận dụng những tác động tích cực của nó. Văn hóa thần tượng dân vị biến chất, khiến cho câu hỏi liệu hào quang có thật sự hào nhoáng đang trở nên bức thiết hơn đối với người trẻ.


Liệu hào quang có thật sự hào nhoáng? Hào quang thường đến từ những người nổi tiếng, ca sĩ diễn viên, những người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội. Họ được xã hội gắn cho những biệt danh về sự hào nhoáng, giỏi giang và gây được ấn tượng. Trong thế giới có mạng xã hội ngày nay, những người trẻ dần dần có cơ hội được tiếp xúc hơn với thần tượng của mình, nhìn thần tượng của mình ở khoảng cách gần hơn. Chúng ta có thể gặp gỡ Taylor Swift, Michael Jordan, Marilyn Monroe thông qua màn ảnh tựa như những người thân quen của mình, đó là tiếp xúc giữa thần tượng và người hâm mộ. Điều đó được gọi là para social, một từ ngữ được xem là từ ngữ quan trọng của năm 2025. Và những người thần tượng đó được gọi là những “người xa lạ gần gũi".


Tuy nhiên, Bi kịch đó là Hào quang không thật sự hào nhoáng. Đằng sau câu chuyện của người nổi tiếng là rất nhiều những bi kịch đằng sau, rất nhiều những con đường mà họ phải trải qua và gánh chịu khi đối mặt với mạng xã hội và văn hóa thần tượng. Đó là lúc người ta bàn tán về biệt thự của một ca sĩ nhiều hơn là giọng hát của cô ấy, bàn tán về cuộc ly hôn của một vận động viên hơn là về chương trình tập luyện của anh. Người nổi tiếng thường có cảm giác bị soi mói ở khoảng cách gần, mất đi quyền riêng tư, hoàn toàn bị xâm phạm và không có quyền được sống là chính mình. Khi là một người nổi tiếng, ăn cũng phải nghệ sĩ, ngủ cũng phải nghệ sĩ, uống nước cũng phải nghệ sĩ, những lời nói phải luôn đặt trong chuẩn mực để không bị xã hội lên án. Điều đó đồng nghĩa là, khi trở thành một nghệ sĩ, họ đã đánh mất đi quyền lực sống như một con người cơ bản của mình. Những biến động trong cuộc sống của họ thay đổi căn tính và những chuẩn mực của xã hội.


Danh vọng luôn quyến rũ con người như ánh sáng quyến rũ thiêu thân. Lao đầu vào thứ ánh sáng đó chưa chắc đã đem lại cho chúng ta Hào Quang, mà ngược lại chỉ biến chúng ta thành con thiêu thân. Thần tượng là xứng đáng, nhưng liệu có xứng đáng hay không khi chúng ta đánh mất phần người của mình để theo đuổi một bản sao khác của xã hội? Và câu hỏi hôm nay trong văn hóa thần tượng của người trẻ đó là liệu hào quang có thật sự hà
o nhoáng…
Thêm
48
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta đang sống trong một thời đại biến động điên đảo, những điều được mặc định là chân lý chưa chắc đã là sự thật, và thậm chí những điều mắt thấy tai nghe cũng không phải là chân lý. Đôi lúc, thời đại ép ta phải hoài nghi, trăn trở và luôn đặt câu hỏi trước vấn đề: liệu điều đó có đúng hay không. Đó là khi chúng ta cần phải suy nghĩ về vấn đề hậu sự thật.

Hậu sự thật, trong cuốn từ điển danh tiếng Oxford English dictionary đã định nghĩa: hậu sự thật là những tình huống mà những sự thật khách quan có ít ảnh hưởng đến việc hình thành quan điểm hơn là sự kêu gọi cảm xúc và những sự tin tưởng cá nhân. Vấn đề này nghiêm trọng đến mức được xem là từ ngữ của năm. Chỉ cần bị tác động bởi quan điểm của số đông, chúng ta dễ dàng bỏ qua mặt khách quan của sự việc, phớt lờ tính chính danh của vấn đề để đi theo quan điểm số đông.
Đôi khi, một con số, một thông tin không chính xác cũng có thể đánh lừa và dẫn dắt số đông, tạo ra những phán quyết số đông không thể nào kháng cự. Đó phần nào cũng là nguyên nhân của những cuộc biểu tình trên thế giới. Nguyên nhân xảy ra vấn đề hậu sự thật có thể là do tốc độ truyền tin sánh ngang với tốc độ ánh sáng trên mạng xã hội. Dưới lớp mặt nạ của mạng xã hội, con người có thể giấu danh tính để nêu liên quan điểm của mình mà không sợ bị phản bác. Nguyên nhân thứ hai là những tin tức thật giả hỗn độn, được tạo dựng với mục đích tiêu cực đã trở thành trọng điểm thu hút con người.

Thế giới cũng đồng thời tồn tại những trung tâm truyền tin mang khả năng dẫn dắt dư luận. Họ là những người có khả năng nắm bắt tâm lý số đông và biết cách chạm vào những vấn đề mà số đông quan tâm, chú ý. Chính số đông đã tạo ra giá trị của họ, và đến lượt mình họ lại dẫn dắt, định hướng ngược trở lại số đông.

Hậu sự thật có thể diễn ra ở tất cả các lĩnh vực như văn, giáo dục, giải trí, công nghệ, y tế cho đến cả những quan hệ ứng xử thông thường. Nó gây ra những khủng hoảng vô tiền khoáng hậu. Đã không còn là lúc để chúng ta tranh luận xem liệu khổ sự thật có tác động tiêu cực như thế nào, bây giờ là lúc chúng ta bắt tay vào để thay đổi nó, để xóa bỏ vấn đề hậu sự thật như một từ ngữ nghiêm trọng của năm.
Thêm
50
0
0
Viết trả lời...