Mạng xã hội Văn học trẻ

Tội ác luôn đáng sợ và đầy bất lực trong đời sống con người nơi cái ác hiện hình như một sự thách thức đối với nhân tính và pháp luật. Thế nhưng không ai một đêm thức dậy bỗng nhiên hóa thành kẻ ác. Nguyễn Huy Thiệp, bằng truyện ngắn “Tội ác và trừng phạt” đã dũng cảm đi sâu vào những vỉa tầng khuất lấp trong căn nguyên của tội ác để cho nó một cơ hội được trình hiện về nguyên nhân thực sự mà nó ra đời. Nhà văn không nhằm mục đích biện minh hay dung túng cho những hành vi tàn bạo mà ông chọn một lối đi khó khăn hơn là đối thoại trực diện với người đọc về sự tha hóa của nhân tính vốn dĩ được nuôi dưỡng từ chính những rạn nứt hằng ngày của thực tại mặt đất.

Trong thế giới nghệ thuật đầy tỉnh táo của Nguyễn Huy Thiệp, hành trình dẫn đến tội ác của con người luôn là một chuỗi những va đập đầy bi kịch giữa những ảo vọng cá nhân và sự ngột ngạt của hoàn cảnh sống. Nhân vật bước vào cái ác một phần bởi bản năng tàn sát, bởi sự u tối của hoàn cảnh và cả sự thiếu vắng những điểm tựa tinh thần. Tội ác phát sinh khi không gian sống của con người bị nén chặt đến mức nghẹt thở nơi chủ nghĩa thực dụng và sự ích kỷ gặm nhấm đi lòng trắc ẩn cho đến khi phần nhân tính hoàn toàn bị bóp nghẹt. Nguyễn Huy Thiệp đã bóc tách từng lớp màng bao bọc xung quanh hành vi phạm tội để người đọc nhận ra rằng đằng sau một cái tặc lưỡi thỏa hiệp với cái ác là cả một quá trình mòn mỏi của tâm hồn khi con người bất lực trước vòng xoáy mưu sinh khốc liệt.

Cuộc đối thoại mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm mang một chiều sâu nhân học sâu sắc khi ông từ chối việc dán nhãn một chiều lên các nhân vật theo lối phân cực thiện ác thông thường. Tội ác hiện hình trong câu chuyện như một thứ quái thai được hoen ố từ sự dung tục của đời sống hằng ngày nơi những giá trị thiêng liêng bị hạ bệ và con người nhìn nhau bằng con mắt hoài nghi vụ lợi. Khi những không gian mơ mộng bị bóp nghẹt và niềm tin vào cái tốt đẹp trở nên xa xỉ thì việc con người trượt dài vào bóng tối của sự tàn nhẫn chỉ còn là vấn đề thời gian. Nguyễn Huy Thiệp bắt chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật cay đắng rằng ranh giới giữa một người bình thường và một kẻ thủ ác đôi khi mong manh như một sợi tóc và bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân hoặc thủ phạm của chính những ham muốn bản năng nếu không được che chở bởi một vùng sáng của sự thấu hiểu.

Sự trừng phạt trong nhãn quan nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp cũng không tuân theo những quy luật cơ học của pháp lý hay những phán xét mang tính giáo điều của đạo đức bề nổi. Sự trừng phạt đáng sợ nhất chính là sự tự ý thức của con người khi nhận ra mình đã hoàn toàn đánh mất bản ngã và bị giam cầm vĩnh viễn trong một nhà tù của nỗi cô đơn và sự dằn vặt nội tâm. Kẻ phạm tội phải đối diện với một khoảng trống hoác của sự tồn tại vô nghĩa nơi đồng tiền hay sự thỏa mãn bản năng không còn sức mạnh cứu rỗi mà trở thành những bằng chứng tố cáo sự thảm hại của một kiếp người. Nhà văn đã để cho tội ác tự phơi bày sự bất lực của chính nó giúp người đọc thấu suốt một chân lý rằng bạo lực và sự chiếm đoạt chưa bao giờ là câu trả lời cho những bế tắc của cuộc đời.

Tác phẩm khép lại nhưng những dư ba của cuộc đối thoại về căn nguyên cái ác vẫn tiếp tục xoáy sâu vào tâm trí người đọc như một nỗi ám ảnh dai dẳng xuyên thời gian. Nguyễn Huy Thiệp đã đưa chúng ta trở về với thực tại xù xì của mặt đất không phải để gieo rắc sự hoang mang tuyệt vọng mà để chúng ta hiểu rằng việc ngăn chặn cái ác phải bắt đầu từ việc nâng niu những mầm thiện lương nhỏ nhoi nhất trong cuộc sống hằng ngày. Khi con người còn biết lắng nghe tiếng gọi của lòng trắc ẩn còn biết thao thức trước nỗi đau của đồng loại và từ chối thỏa hiệp với sự dung tục thì khi ấy những ngọn đèn nhỏ của nhân tính mới có cơ hội thắp sáng để xua đi bóng tối khổng lồ của tội ác đang chực chờ bao vây lấy kiếp người.
Thêm
73
0
0
Viết trả lời...
Trong tiến trình đổi mới của văn học Việt Nam sau năm 1975, Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện như một nhà cách tân làm thay đổi những khái niệm định kiến về truyện ngắn. Nhận định về ông, nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn đã cho rằng: Nguyễn Huy Thiệp đã “lôi tuột ta từ khoảng trống lơ lửng giữa trời và đất, bắt chúng ta hiểu rằng trước khi muốn nhìn lên bầu trời thì phải nhìn mặt đất đã”. Đây là một cuộc cách mạng về nhãn quan nghệ thuật, khước từ khuynh hướng lãng mạn hóa, lý tưởng hóa sử thi để đối diện trực diện với hiện thực lưỡng diện, trần trụi và xù xì của đời sống.

Truyện ngắn “Chảy đi sông ơi” đã phơi bày một sự thật cay đắng của thời đại hiện nay, khi mà sự thực dụng trần trụi đang bóp nghẹt, giết chết những không gian mơ mộng, những giá trị tâm linh thuần khiết của con người. Qua thế đối sánh ngầm giữa thế giới tinh khôi của nhân vật "tôi" và sự thô bạo của những gã đánh cá trên sông, Nguyễn Huy Thiệp không chỉ viết một câu chuyện về dòng sông, mà đang đặt ra một cảnh báo mang tính nhân loại học về sự suy thoái tâm hồn khi con người tự chôn vùi phần thiêng liêng của chính mình để chạy theo những ham muốn vật chất bản năng.

Để làm nổi bật tấn bi kịch của sự mộng mơ bị tước đoạt, Nguyễn Huy Thiệp đã kiến tạo nhân vật "tôi" thời thơ ấu như một biểu tượng của thiện lương, một hóa thân của những giấc mộng trinh khiết nguyên sơ nhất. Không gian mộng mơ của đứa trẻ được dệt nên từ hai chất liệu: âm thanh - hình ảnh cận cảnh của đời sống vạn chài và huyền thoại tâm linh về con trâu đen. Đứa trẻ khát khao được lên thuyền, được hòa mình vào nhịp sống sông nước không phải vì động cơ mưu sinh, mà vì một lực hấp dẫn thẩm mỹ sâu xa. Cậu khao khát được nghe tiếng “gỗ đuổi cá lanh canh” - một âm thanh định vị sự bình yên, trong trẻo của một vùng văn hóa, được nhìn thấy “những con cá mòi màu trắng bàng bạc” - biểu tượng của cái đẹp tự nhiên hoang sơ, lấp lánh và thanh sạch. Đó là cái nhìn của một tâm hồn chưa bị vẩn đục bởi tư duy chiếm đoạt hay định giá vật chất.

Huyền thoại về con trâu đen là trung tâm của không gian mơ mộng. Nó là huyền thoại về con trâu đen dưới lòng sông, biểu tượng cho sức mạnh siêu nhiên mang tính cứu rỗi, ban cho con người “sức lực phi thường”. Con trâu đen là hiện thân của cái thiêng, của phần tâm linh khuất lấp mà những thế hệ trước đã lưu giữ như một điểm tựa tinh thần. Khát vọng gặp con trâu đen của đứa trẻ chính là khát vọng tiếp cận cái siêu việt, vượt thoát khỏi giới hạn hữu hạn của đời sống phàm trần để vươn tới cái cao cả, những điều thiện lương.

Bi kịch xảy ra khi không gian mơ mộng ấy buộc phải chạm trán với thực tại trần trụi trên mặt đất, được đại diện bởi những gã đánh cá trên sông. Qua nét bút giải huyền thoại của Nguyễn Huy Thiệp, những người lao động sông nước không còn hiện lên với vẻ đẹp lãng mạn, khỏe khoắn thường thấy trong văn học sử thi, mà hiện hình thành những kẻ thô bạo, mọi rợ và xuẩn ngốc. Sự thực dụng của phường chài được đẩy lên thành một thứ triết lý sống tối giản đến mức thú tính. Đối với họ, dòng sông không có huyền thoại, không có cái đẹp, và càng không có chỗ cho những suy tư mơ mộng. Dòng sông chỉ là một ngư trường để khai thác, cá mòi chỉ là vật quy đổi ra tiền, và cuộc đời chỉ vận hành quanh trục của những nhu cầu sinh học tối thiểu.

Sự thực dụng này nguy hiểm ở chỗ nó triệt tiêu năng lực cảm nhận cái đẹp và cái thiêng. Khi nhân vật "tôi" mang niềm tin ngây thơ về con trâu đen đến với họ, câu trả lời cậu nhận lại là sự chế giễu, những cái thúc mái chèo đau điếng. Sự mộng mơ của đứa trẻ bị bóp nghẹt không phải bằng một thế lực bạo tàn mang tính chính trị hay xã hội vĩ mô, mà bằng chính sự dung tục, xám xịt của đời sống hằng ngày. Đó là sự bạo hành của cái tầm thường đối với cái cao cả.

Dưới góc nhìn sâu sắc của Nguyễn Huy Thiệp, chủ nghĩa thực dụng khi chiếm địa vị độc tôn sẽ dẫn đến một hệ lụy tất yếu: nó biến cuộc đời thành một không gian của sự tham lam, ích kỷ, vô nhân tính và ham muốn đực cái. Tiếng kêu cứu của con người trên sông bị át đi bởi tiếng chửi rủa, bởi nỗi lo mất mẻ cá, hỏng tấm lưới. Đồng tiền và lợi ích vật chất trước mắt đã làm chai sạn đi lòng trắc ẩn tối thiểu của con người. Con người nhìn đồng loại không phải bằng tình đồng bào, mà bằng con mắt của những kẻ cạnh tranh sinh tồn ích kỷ.

Nguyễn Huy Thiệp không ngần ngại phơi bày phần bóng tối này. Ông ép người đọc phải nhìn thẳng vào sự suy thoái ấy để nhận ra rằng: khi cái mộng mơ chết đi, cái ác và cái tầm thường sẽ lên ngôi. Truyện ngắn “Chảy đi sông ơi?” không đưa ra một lời giải đáp êm ái, cũng không vuốt ve tâm lý người đọc. Tác phẩm là một cuộc đối thoại đa thanh, lật trở lại những định kiến thẩm mỹ cũ kỹ. Nguyễn Huy Thiệp đã thực hiện một thao tác giải huyền thoại cần thiết. Ông đưa con người trở về với hiện thực mặt đất để họ thấy rõ những vết thương của thời đại mình, từ đó mới có thể nảy sinh một khát vọng cứu rỗi chân chính.

Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng, hành trình đi tìm cái đẹp và sự thiện lương trên mặt đất này chưa bao giờ là dễ dàng. Nó đòi hỏi con người phải vượt qua sự bủa vây của chủ nghĩa thực dụng ích kỷ. Dòng sông vẫn chảy, những mẻ cá vẫn được kéo lên, nhưng nếu con người không còn nghe thấy tiếng "gỗ đuổi cá lanh canh", không còn khao khát cái nhìn thấy "con trâu đen" huyền thoại, thì cuộc sống ấy sẽ chỉ còn là một khoảng trống mênh mông và lạnh lẽo của những ham muốn tầm thường.
Thêm
93
0
0
Viết trả lời...
Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, con người luôn phải thực hiện một cuộc hành trình kép, vừa phải dấn thân vào đời sống vật chất để duy trì sự tồn tại sinh học, vừa phải không ngừng kiến tạo thế giới tinh thần để khẳng định phẩm giá. Tuy nhiên, khi xã hội loài người bước vào kỷ nguyên của nền kinh tế thị trường, nơi mọi giá trị đều có xu hướng bị quy đổi thành con số và hiệu năng thực tế, con người phải chứng kiến sự lên ngôi của chủ nghĩa thực dụng, một thứ tư duy duy lý, lạnh lùng, đang dần gặm nhấm và bức tử những mộng mơ nguyên sơ nhất của con người. Mọi sự rung động tinh tế, mọi cái nhìn lãng mạn giờ đây đứng trước nguy cơ bị giải huyền thoại, bị phủ lên một “tấm màn thực dụng” đầy dung tục. Giữa bầu không khí ngột ngạt của một thời đại mà con người dường như chỉ còn biết cúi đầu nhìn vào mặt đất của những lợi ích sát sườn, đoạn đối thoại giữa anh Bường và nhân vật "tôi" trong truyện ngắn “Những người thợ xẻ” của Nguyễn Huy Thiệp đã bóc trần sự xung đột nghiệt ngã giữa hai thế giới quan ấy:

Anh Bường cáu: “Thằng khỉ ạ, những nhạy cảm vô lối sẽ làm tan nát cuộc đời mày mất thôi. Làm gì có chuyện hoẵng đi tìm mẹ? Con ơi, đấy là một con hoẵng cái trụy lạc, nó đi tìm hoẵng đực. Vô phúc cho nó, vớ được một con hoẵng đực Sở Khanh. Con hoẵng đực này chơi bời nhiều quá. Hoẵng cái bị đổ bệnh. Đơn giản là như thế”.

Lời mắng mỏ đầy thô ráp của anh Bường chứa đựng trạng thái tồn tại của con người thời hậu chiến. Nó là tiếng nói đại diện cho chủ nghĩa thực dụng trần trụi, dùng lăng kính của những nhu cầu bản năng và quy luật sinh học để dập tắt một cái nhìn đầy trắc ẩn, lãng mạn của thế hệ trẻ trước thiên nhiên. Đây là một căn bệnh thời đại, nơi sự thực dụng đang nhân danh thực tế để giết chết những mộng mơ, và cách mà con người có thể cứu rỗi sự nhạy cảm của mình trước sức càn quét của tư duy vụlợi.

Nhân vật "tôi", với tâm hồn của một nghệ sĩ đầy nhạy cảm, nhìn tiếng kêu của con hoẵng trong đêm rừng như một biểu hiện của tình mẫu tử thiêng liêng. Đó là cái nhìn thấm đẫm tinh thần nhân văn, biến thế giới tự nhiên thành một tấm gương soi chiếu những giá trị đạo đức cao đẹp của con người. Cái nhìn ấy cần thiết vì nó làm cho thế giới trở nên có hồn, làm cho cuộc sống bớt đi sự hoang dã và thêm vào đó những sợi dây liên kết đầy ấm áp.

Ngược lại, anh Bường phản ứng bằng một thái độ giận dữ và một câu kết luận đầy khô khốc: “Đơn giản là như thế”. Câu nói ấy chính là châm ngôn của chủ nghĩa thực dụng. Đối với anh Bường, thế giới này không có chỗ cho những suy diễn mộng mơ, không có chỗ cho tình mẫu tử hay những giá trị thiêng liêng tự phong. Mọi hành vi của muôn loài, và rộng hơn là của con người, suy cho cùng đều được vận hành bởi những nhu cầu sinh học cốt lõi như ăn uống, sinh sản và sinh tồn. Qua lăng kính của anh Bường, tiếng kêu tìm mẹ của con hoẵng bị hạ bệ xuống thành tiếng gọi bầy của bản năng dục vọng, và câu chuyện tình cốt nhục biến thành một tấn bi kịch tình ái dung tục của thế giới động vật.

Sự nguy hiểm của tư duy thực dụng nằm ở chỗ nó luôn có lý, một thứ lý lẽ dựa trên những bằng chứng xác thực của đời sống vật chất. Anh Bường không sai dưới góc độ sinh học, cũng như những kẻ thực dụng trong xã hội không sai khi họ nói rằng con người cần tiền bạc, cần danh vọng và sự an toàn vật chất trước khi nghĩ đến những điều cao siêu. Thế nhưng, bi kịch bắt đầu khi người ta dùng cái lý lẽ trần trụi ấy làm thước đo duy nhất cho mọi giá trị trên đời. Khi mọi hiện tượng tinh thần đều bị giải mã bằng những động cơ vật chất, thế giới sẽ bị tước đoạt sạch sẽ phần thiêng liêng, chỉ còn lại một bộ khung xương của những định luật và nhu cầu thực tế.

Lời cảnh báo của anh Bường rằng “những nhạy cảm vô lối sẽ làm tan nát cuộc đời mày mất thôi” đã cho thấy một thực tế nghiệt ngã của đời sống xã hội. Trong một tập thể vận hành bằng sự toan tính hiệu năng, người nhạy cảm thường là người chịu nhiều tổn thương nhất. Họ dễ đau lòng trước một sự bất công nhỏ, dễ rơi nước mắt trước một kiếp người bất hạnh và dễ tin vào những lời hứa lãng mạn. Người thực dụng coi đó là sự yếu đuối, là những ảo tưởng vô ích chỉ làm cản trở bước tiến trên con đường mưu sinh. Họ khuyên con người ta phải tỉnh táo, phải chai sạn đi để tự bảo vệ mình.

Tuy nhiên, một xã hội vắng bóng những kẻ mộng mơ sẽ là một xã hội đứng im trong sự thịnh vượng vô hồn. Mộng mơ chính là đôi cánh giúp con người bay lên khỏi mặt đất bùn lầy của thực tại, là động lực để người ta khao khát những điều tốt đẹp hơn, nhân văn hơn. Khi sự thực dụng giết chết mộng mơ, con người sẽ không còn mơ về một thế giới đại đồng, không còn mơ về những tình yêu lý tưởng vượt qua ranh giới của vật chất. Người ta sẽ nhìn nhau qua những bản hợp đồng, những mối quan hệ đổi chác, và khi đó, con người đã tự hạ thấp mình xuống ngang hàng với thế giới muôn loài, sống chỉ để thỏa mãn những nhu cầu bản năng như con hoẵng trong câu chuyện của anh Bường.

Chính cái tấm màn thực dụng ấy đã biến những giá trị tinh thần cao quý thành những công cụ mưu lợi. Người ta đi làm từ thiện không phải vì lòng trắc ẩn tự thân mà để đánh bóng tên tuổi, người ta kết hôn không phải vì sự hòa hợp của hai tâm hồn mà vì sự môn đăng hộ đối về tài sản, và người ta sáng tạo nghệ thuật không phải để giải phóng cái tôi mà để chạy theo thị hiếu của thị trường. Mọi sự nhạy cảm tinh tế của con người bấy giờ đều bị nhuốm màu toan tính, bị ép phải sinh ra lợi nhuận hoặc mang lại một giá trị sử dụng nào đó. Đây chính là bi kịch lớn nhất của con người hiện đại, bi kịch của sự tha hóa khi thiên lương bị cầm tù trong cái lồng của tư duy kinh tế.

Xã hội hiện đại cần phải thay đổi cách định giá về sự thành công và hạnh phúc của một con người. Một cuộc đời thành đạt không thể chỉ được đo bằng độ lớn của tài sản, bằng địa vị xã hội mà phải được đo bằng chiều sâu của tâm hồn, bằng khả năng biết rung động trước cái đẹp và biết sẻ chia với những nỗi đau của đồng loại. Thế hệ trẻ ngày nay, những người đang đứng trước áp lực khủng khiếp của cuộc sống số và sự cạnh tranh khốc liệt, cần phải ý thức được việc bảo vệ không gian mộng mơ của riêng mình.
Thêm
60
0
0
Viết trả lời...
Mỗi sớm mai thức giấc, khi dòng người cuồn cuộn đổ ra đường trong nhịp sống hối hả của thế kỷ hai mươi mốt, xã hội loài người chưa bao giờ ngừng vận hành để tìm kiếm sự an toàn và tiến bộ. Chúng ta thiết lập luật pháp, xây dựng các quy ước đạo đức, mở rộng các quỹ từ thiện và không ngừng rao giảng về lòng tốt như một tấm vé thông hành tối thượng để duy trì trật tự văn minh. Thế nhưng, đằng sau lớp vỏ bọc bình yên và những chuẩn mực hành vi tốt đẹp ấy, có một sự thật đáng suy ngẫm rằng con người hiện đại dường như ngày càng cảm thấy trống rỗng và bất an. Sự khủng hoảng lòng tin, cảm giác cô đơn bủa vây và hiện tượng tháo chạy khỏi những giá trị khuôn mẫu đang phơi bày một vết thương sâu hoắm trong lòng xã hội. Đó là khi cái thiện bị định chế hóa, bị đóng khung thành những bổn phận tẻ nhạt và trở thành một thứ công cụ để bảo đảm sự an toàn cá nhân hơn là một sự thúc bách tự thân của linh hồn. Giữa bối cảnh một xã hội đang mệt nhoài vì những khẩu hiệu đạo đức giáo điều, những câu thơ trong truyện ngắn “Mưa Nhã Nam” của Nguyễn Huy Thiệp đã cất lên đầy đau đớn, buộc chúng ta phải định nghĩa lại bản chất sâu xa của cái thiện ở đời:



“Tôi không biết con người khát khao điều gì trong cõi sống này.

Hình như điều thiện bắt đầu từ tình yêu phải không?

Điều thiện buồn tẻ vì nó nhạt nhẽo

Điều thiện tầm thường vì nó an toàn

Điều thiện tệ hại vì nó giết đi đam mê”


Tác giả đặt ra một câu triết lý đầy hoài nghi về bản chất của con người trong cõi sống. Câu hỏi ấy là một sự thấu suốt về sự phức tạp của nhân tính, bởi con người là sinh vật duy nhất không bao giờ thỏa mãn với những nhu cầu sinh học thuần túy. Chúng ta khát khao hạnh phúc, khát khao quyền lực, khát khao tự do, và có cả những lúc khát khao cả sự hủy diệt để khẳng định cái tôi tồn tại. Ngay sau sự băn khoăn về khát vọng cõi người, nhà văn đã tự tìm cho mình một lối hướng thiện thông qua một câu hỏi tu từ đầy gợi mở về việc điều thiện bắt đầu từ tình yêu.

Cái thiện đích thực không thể sinh ra từ những mệnh lệnh hành chính khô khan hay những giáo điều tôn giáo ép buộ. Khẳng định điều thiện bắt đầu từ tình yêu, Nguyễn Huy Thiệp đã trả cái thiện về đúng với vị trí nguyên sơ và đẹp đẽ nhất của nó, vị trí của một trạng thái cảm xúc thuần khiết, không toan tính và không vụ lợi.

Tuy nhiên, mạch suy nghĩ của nhà văn không dừng lại ở sự ca tụng dễ dãi, để trang điểm cho hiện thực. Ông lập tức lật ngược vấn đề bằng những câu thơ tiếp theo đầy nhức nhối khi chỉ ra rằng điều thiện buồn tẻ vì nó nhạt nhẽo và tầm thường vì nó an toàn. Tại sao một giá trị hằng sản như cái thiện lại có thể trở nên buồn tẻ và tầm thường trong mắt một người nghệ sĩ? Câu trả lời nằm ở cách xã hội vận hành và tiếp nhận cái thiện. Trong đời sống thực tế, cái thiện thường được đồng nhất với sự tuân thủ, với việc không làm hại ai, không vi phạm pháp luật và sống một cuộc đời lặng lẽ trong những khuôn mẫu định sẵn.

Một cuộc sống chỉ biết cúi đầu tuân theo những quy ước có sẵn để đạt được sự an toàn tuyệt đối chính là một cuộc sống thiếu vắng cá tính và bản sắc. Khi cái thiện được thực hành như một thói quen để tránh né rủi ro, để không phải đối mặt với dư luận, thì nó đã tự tước bỏ đi giá trị của chính mìnhCon người sống trong sự an toàn của cái thiện hình thức sẽ không bao giờ biết đến cảm giác dấn thân, không bao giờ dám thách thức những bất công của thời đại và không có đủ dũng khí để thực hiện những cuộc cách mạng tinh thần. Cái thiện khi đó chỉ còn là công cụ cứu cánh của những kẻ yếu đuối, những người chọn cách ẩn nấp dưới bóng râm của số đông để mưu cầu sự bình yên cho riêng mình. Nó trở nên tầm thường vì nó không chứa đựng sức mạnh sáng tạo, không thúc đẩy con người vượt qua giới hạn của bản thân mà chỉ giữ họ lại trong một vùng an toàn tù đọng.

Đam mê của con người là gì nếu không phải là thứ năng lượng nguyên thủy, bạo liệt, là khát vọng tự khẳng định mình một cách cực đoan nhất? Đam mê luôn mang trong mình một mầm mống của sự nổi loạn, sự phá vỡ cấu trúc và sẵn sàng đương đầu với mọi nguy hiểm. Trong khi đó, cái thiện thông thường lại đòi hỏi sự tiết chế, sự nhường nhịn, sự hòa hoãn và ổn định. Có lẽ bởi vậy mà Nguyễn Huy Thiệp mới từng trần tình: “Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất. Nó gây ra sự nổi loạn giữa đời thường…”.

Việc cái thiện giết đi đam mê chính là một sự tệ hại lớn nhất đối với sự phát triển của nhân loại, bởi nó đã đi ngược lại với văn minh – trowr thành phản văn minh. Nhà văn đã chỉ ra một bi kịch sâu sắc rằng khi cái thiện đánh mất đi tính chiến đấu, nó sẽ biến thành một liều thuốc mê xoa dịu nỗi đau nhưng đồng thời cũng làm tê liệt ý chí phản kháng và khả năng sáng tạo của con người.

Nhà văn không hề có ý định cổ xúy cho cái ác hay sự nổi loạn vô luân. Bản chất ngòi bút của ông là một tiếng khóc nghẹn ngào, một nỗ lực giải huyền thoại để thanh lọc những nhận thức sáo rỗng về đạo đức. Ông muốn thức tỉnh con người khỏi giấc ngủ mê của thứ cái thiện hình thức, thứ đạo đức giả hiệu đang bao phủ lên đời sống hiện đại. Cái thiện đích thực ở đời không thể là một trạng thái thụ động, lười biếng và sợ hãi. Nó phải là một hành động dấn thân, một sự lựa chọn dũng cảm và đầy đau đớn. Cái thiện chân chính phải chứa đựng cả sức mạnh của đam mê, nghĩa là nó dám đứng lên chống lại cái ác, dám đập tan những bất công dẫu có phải trả giá bằng sự an toàn của bản thân. Nó không buồn tẻ vì nó luôn chuyển động, luôn tự vấn và không bao giờ tự mãn với những gì mình đã đạt được. Chỉ khi nào cái thiện hòa làm một với đam mê sống mãnh liệt của con người, khi lòng tốt không còn là một nghĩa vụ mệt mỏi mà là một niềm kiêu hãnh tự thân, thì lúc đó con người mới tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi về khát khao trong cõi sống này.
Thêm
55
0
0
Viết trả lời...
1. Khoảng 10 giờ sáng là khoảng thời gian đông người trên đồng, có nhiều phụ nữ, trẻ em. Họ là nguồn lao động chính. Ðàn ông quê tôi phiêu lưu, lại nhiều ảo tưởng, họ ôm ấp ước mơ làm giàu nên hay bỏ ra ngoài thành phố tìm việc, đi buôn bán. Cũng có người lặn lội vào tận miền trong đào vàng, đào hồng ngọc. Giàu có chẳng thấy đâu nhưng khi về làng, tính tình họ đổi khác, họ trở nên những con thú dữ độc. (Thương nhớ đồng quê)
2. Ông giáo Quỳ cười:”Cô ấy là đàn bà, sao lại chối từ đàn bà được?”. (Thương nhớ đồng quê)

3. “Tôi dẫn Quyên đi qua cánh đồng màu. Quyên hỏi:”Giá nông phẩm quê anh năm nay tăng giảm thế nào?”. Tôi bảo:”Tăng 0,4%”. Quyên bảo:”Chết thật! Thế mà hàng công nghiệp tăng 2,2%. Thế giá phân bón thế nào?”. Tôi bảo:”Ðạm tăng 1,6%, lân tăng 1,4%”. Quyên hỏi:”Quê anh có dùng điện không?”. Tôi bảo:”Không”. Quyên bảo:”Giá điện tăng 2,2%”. (Thương nhớ đồng quê)

4. “Tôi sẽ kể chuyện này cho anh, vì anh, anh bạn ạ, bởi đến năm mươi tuổi anh sẽ thành ông lão.
Tôi sẽ kể chuyện này cho chị, vì chị, chị bạn ạ, bởi đến bốn mươi tuổi chị sẽ trở thành bà lão.
Tôi sẽ kể chuyện này cho cậu, cậu câm miệng lại, cậu còn trẻ quá, cậu là thằng ngốc.
Tôi sẽ kể chuyện này cho cô, vì cô sẽ đi lấy chồng. Lúc ấy chỉ toàn những nhọc nhằn thôi, không ai kể chuyện cho cô nghe cả.”
(Mưa Nhã Nam)
5. Thế đấy, những người già! Với họ chẳng có việc gì là đáng kể. Trước mặt họ là cái chết. Những cơ hội tốt nhất trong đời họ bỏ lỡ cả rồi. (Mưa Nhã Nam)

6. Anh là một tên thi sĩ ma vương.! Anh làm sao tránh được danh hiệu đáng sợ ấy! Anh đã làm những điều mà bọn văn chương suốt đời thèm muốn. Chúng không làm sao biến được ngọn bút của chúng thành ngọn giáo hay cái câu liêm! (Mưa Nhã Nam)

7. “Ngôn ngữ trở nên ghê tởm, nhớp nhúa trên miệng bọn tiểu nhân” (Mưa Nhã Nam)

8. Tôi không biết con người khát khao điều gì trong cõi sống này.
Hình như điều thiện bắt đầu từ tình yêu phải không?
Điều thiện buồn tẻ vì nó nhạt nhẽo
Điều thiện tầm thường vì nó an toàn
Điều thiện tệ hại vì nó giết đi đam mê
(Mưa Nhã Nam)
Thêm
62
0
0
Viết trả lời...
1. “Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất. Nó gây ra sự nổi loạn trong đời thường. Cuộc đời trôi đi đơn giản, day di dứt lại để làm gì?”

2. “Văn chương nói cho cùng là những khắc khoải, những mơ tưởng về một giấc mộng chưa thành. Có những giấc mộng sẽ không bao giờ thành nhưng vẫn cho phép cả người viết lẫn người đọc đắm đuối trong hi vọng, trong mong đợi để cuộc đời thêm hương vị, thêm ánh sáng”.

3. “Nhà văn rất cần thiết phải có mặt ở trên đời để làm công việc cảnh tỉnh nhân loại và báo hiệu trước tai hoạ. Nhà văn tồn tại trên đời để bênh vực cho những con người không còn có ai để bênh vực”. Bởi “cuộc sống trên trái đất này thời nào và ở đâu cũng đầy rẫy oan khiêm, oan khuất. Cái ác bao giờ cũng đầy... mưu ma, chước quỷ, còn cái thiện thì... lại thường cả tin”.

4. “Mỗi người chỉ có một số kiếp và một cõi sống và chính điều đó làm cho lòng ta run lên vì căm giận. trong tác phẩm của mình những nhà văn giỏi bao giờ cũng có một chút muối rắc đâu đó trên từng trang viết. Muối xát lòng người đọc một thì xát lòng người viết ra nó mười lần.”

5. “Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa. Đó là chí thành”.

6. “Tôi nghĩ có lẽ sức truyền cảm cô đúc trong các con chữ ở những nhà văn lương thiện chính là sự ráo riết ý nghĩa ở từng con chữ ấy. Đây chính là cái đẹp vì từ lâu người ta đã coi cái Đẹp là sự sống và sự giản dị là điều kiện thiết yếu của nó.”

7. Chúng ta đang sống trong một môi trường cay đắng đầy những thành kiến ràng buộc. Mọi hành động của chúng ta đều bị trực tiếp kiểm soát, gián tiếp kiểm soát và tự kiểm soát.

8. Người làm thơ thường bị coi là hạng phóng dật, thiếu đứng đắn, bê tha. Thơ quá phát triển là dấu hiệu của phong hóa suy đồi và đạo đức xã hội đi xuống chứ chẳng hay phải hay ho báu bở gì.

9. Mỗi một thời, xã hội vẫn có những “đơn đặt hàng khẩn thiết” đối với lương tâm của mỗi người viết. Thường những nhà văn có tài họ đều “ngửi” thấy hơi thở nồng nặc của thời đại phảng phất nơi đâu đó.
Thêm
94
0
0
Viết trả lời...
1. Nhà phê bình Bùi Việt Thắng: “Nguyễn Huy Thiệp chăm chú, nhấn mạnh vào những cái bất bình thường trở nên bình thường và cái bình thường được nhìn như bất bình thường”.

2. GS. Trần Đình Sử: "Hệ quy chiếu trong truyện Nguyễn Huy Thiệp là 'con người', triết lí về con người, bản tính người, cách làm người, trạng thái ứng xử xã hội lịch sử của con người... Ông không tìm cách lý tưởng hóa mà phơi bày con người trong sự tự ý thức trần trụi nhất."
3. Nhà phê bình Đỗ Đức Hiểu: "Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là những cấu trúc đa tầng, đa thanh, phá vỡ những trật tự đơn tuyến thông thường. Ông là nhà văn của những hoài nghi mang tính biện chứng."


4.Nhà phê bình Vương Trí Nhàn: "Nguyễn Huy Thiệp có một lối kể chuyện dửng dưng đến tàn nhẫn, một lối văn không chấp nhận những từ ngữ õng ẹo, dông dài. Ông ấy đẩy người đọc vào một tình thế không thể lảng tránh, bắt họ phải chứng kiến sự thật như nó vốn có."

5. Nhà văn, nhà nghiên cứu Thụy Khuê: "Nguyễn Huy Thiệp dùng một thứ ngôn ngữ sắc bén như dao cạo, tước bỏ mọi thứ phấn son trang điểm cho hiện thực. Văn của ông có cái gân guốc của đời sống bỉ lậu nhưng lại chứa đựng sức mạnh nội tại ghê gớm."

6. Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh: "Nguyễn Huy Thiệp là người có biệt tài sử dụng thứ ngôn ngữ thông tục, thậm chí thô tháp, nhưng lại được tổ chức một cách cực kỳ nghệ thuật để tạo ra những hiệu ứng thẩm mỹ mạnh mẽ, đập tan lối văn biền ngẫu, xơ cứng trước đó."

7. Nhà phê bình Lại Nguyên Ân: "Nguyễn Huy Thiệp đã giải huyền thoại hóa các nhân vật lịch sử. Ông kéo các bậc vĩ nhân từ bệ thờ xuống mặt đất để nhìn họ như những con người bằng xương bằng thịt, có đầy đủ dục vọng, sai lầm và nỗi cô đơn."

8. Nhà văn Nguyễn Khải: "Đọc Nguyễn Huy Thiệp, tôi vừa nể sợ vừa kính phục. Cái cách ông ấy ứng xử với lịch sử không phải là bôi nhọ, mà là một sự phản tỉnh, một cái nhìn dân chủ mà thế hệ chúng tôi chưa làm được."

9. Peter Zinoman (Giáo sư sử học và văn học Đông Nam Á tại Đại học Berkeley, Mỹ): "Nguyễn Huy Thiệp là tiếng nói quan trọng nhất trong công cuộc đổi mới văn học Việt Nam. Tác phẩm của ông phản ánh sâu sắc những chấn thương tâm lý và sự thay đổi giá trị trong một xã hội đang chuyển dịch từ bao cấp sang kinh tế thị trường."
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...
Khi những cơn đại địa chấn của lịch sử qua đi, văn học Việt Nam sau năm 1975 bắt đầu bước vào một cuộc chuyển mình đau đớn nhưng vô cùng tất yếu. Giai đoạn văn học sử thi ca tụng, ngợi ca một chiều dần nhường chỗ cho những trăn trở, suy tư về số phận cá nhân và những góc khuất của cõi nhân sinh. Chính vào thời điểm bản lề ấy, Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện như một hiện tượng văn học khuấy động văn đàn bằng một lối viết bạo liệt, phơi bày hiện thực một cách trần trụi và gai góc đến mức khiến nhiều người đương thời phải sững sờ, thậm chí là dị nghị.

Người ta từng gọi ông là kẻ hoài nghi, kẻ tàn nhẫn, người mang đến sự đổ vỡ của những thần tượng. Thế nhưng, nếu chỉ dừng lại ở lớp vỏ bọc lạnh lùng, ráo hoảnh ấy, chúng ta sẽ hoàn toàn bỏ lỡ cái “thần” trong văn chương của ông. Thâm sâu trong từng dòng chữ của nhà văn là một chủ nghĩa nhân đạo thế hệ mới - một tinh thần nhân đạo không còn được ve vuốt bằng những lời ca tụng ngọt ngào, mà được thử thách qua thực tại trần trụi. Định vị hệ giá trị này, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến đã cho rằng:

“Ngòi bút trào phúng của Nguyễn Huy Thiệp vừa tàn nhẫn, vừa xót xa. Tàn nhẫn có nghĩa là 'không được thương con người', đấy là mệnh lệnh của lương tâm và tác giả đã đi đến cùng, phơi bày sự đốn mạt của con người. Nhưng cuối cùng thì vẫn cứ xót xa, “không thể không thương con người.”

Sự tàn nhẫn và lòng xót xa ấy, suy cho cùng, đều xoay quanh một trục cốt lõi mà nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã phát hiện - hệ quy chiếu trong truyện Nguyễn Huy Thiệp chính là “con người”, là triết lý về con người, bản tính người, cách làm người và trạng thái ứng xử xã hội lịch sử của con người.

Để hiểu được chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Huy Thiệp, trước hết phải dám đối mặt với sự “tàn nhẫn” trong ngòi bút của ông. Hoàng Ngọc Hiến rất sắc sảo khi định nghĩa: “Tàn nhẫn có nghĩa là 'không được thương con người', đấy là mệnh lệnh của lương tâm.” Thương con người theo lối cũ là bao che, là thi vị hóa, là tìm cách đổ lỗi cho hoàn cảnh để giữ lại một bức tranh đạo đức giả tạo. Nguyễn Huy Thiệp từ chối thứ lòng thương hại rẻ rúng đó. Đối với ông, mệnh lệnh của lương tâm một nhà văn chân chính là phải nhìn thẳng vào sự thật, dẫu sự thật ấy có tàn nhẫn và đớn đau đến đâu.

Nhà văn đã đi đến cùng trong việc giải phẫu cái ác, cái dung tục và sự đốn mạt của con người trong thời kỳ tranh tối tranh sáng của xã hội buổi đầu đổi mới. Hệ quy chiếu “con người” của ông được đặt vào những môi trường thử nghiệm khắc nghiệt nhất để đo lòng người. Trong truyện ngắn Không có vua, Nguyễn Huy Thiệp đã phơi bày một gia đình – cấu trúc thiêng liêng nhất của xã hội – đang bị rạn nứt từ bên trong. Các nhân vật từ Lão Kiền đến những người con như Cấn, Đoài, Khảm hiện lên với đầy đủ sự thô lỗ, ích kỷ, và cả những ham muốn dục vọng bản năng. Họ xúc phạm nhau, xâu xé nhau ngay trong không gian chật chội của ngôi nhà. Tác giả không dùng những từ ngữ giảm nhẹ, không tìm cách biện minh. Ông phơi bày sự đốn mạt ấy một cách dửng dưng, ráo hoảnh như một nhà khoa học đang quan sát một mẫu vật sinh học.

Sự tàn nhẫn ấy còn đạt đến đỉnh điểm trong “Tướng về hưu. Một vị tướng cả đời quen với chiến trận, với những lý tưởng cao đẹp, khi trở về đời thường lại hoàn toàn bất lực và lạc lõng trước cái thực tế trần trụi của cuộc sống mưu sinh. Cảnh người con dâu nuôi lợn bằng nhau thai ở bệnh viện được kể lại bằng một giọng văn thản nhiên, lạnh lùng, tạo nên một hiệu ứng cú sốc mạnh mẽ cho người đọc về giá trị và sự thiếu vắng của nhân tính.

Nguyễn Huy Thiệp tàn nhẫn vì ông dám bóc trần cái phần “con” ẩn giấu sau cái danh xưng “người”. Ông không ngần ngại chỉ ra rằng bản tính con người vốn phức tạp, tham lam, đầy toan tính và dễ bị tha hóa khi đối mặt với đồng tiền và danh vọng. Nhưng sự phơi bày này không nhằm mục đích hạ bệ hay lăng mạ con người. Đó là một sự thanh lọc cần thiết. Sự tàn nhẫn của Nguyễn Huy Thiệp chính là một thái độ trách nhiệm cao độ trước con người, bắt con người phải nhìn vào gương để thấy rõ sự tha hóa của chính mình mà tự biết ghê tởm, tự biết thức tỉnh.

Nguyễn Huy Thiệp xót xa cho con người vì ông hiểu rằng hành trình “làm người” là một hành trình đầy bi kịch. Con người đốn mạt, con người sa ngã đôi khi không phải vì họ hoàn toàn là quỷ dữ, mà vì họ quá yếu ớt trước những vòng xoáy của số phận và áp lực của đời sống lịch sử xã hội. Hãy nhìn kỹ vào nhân vật Đoài trong Không có vua. Đoài là một kẻ lưu manh, một gã đàn ông thô bạo và đầy dục vọng. Thế nhưng, chính gã Đoài ấy lại là người có khoảnh khắc bừng tỉnh, biết xấu hổ và biết đau lòng trước nỗi đau của người khác. Hay trong “Tướng về hưu”, đằng sau sự tính toán chi li, lạnh lùng của Thủy (người con dâu), người ta vẫn thấy một người phụ nữ gánh trên vai áp lực mưu sinh của cả một gia đình lớn trong thời buổi kinh tế thị trường khắc nghiệt. Tác giả không tuyệt vọng ở họ, bởi vì ông nhận ra trong tro tàn của sự tha hóa, đốm lửa của thiên lương chưa bao giờ tắt hẳn.

Chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Huy Thiệp thể hiện rõ nhất ở việc ông luôn dành cho nhân vật của mình một lối về, một khoảnh khắc được thanh lọc tâm hồn. Khoảnh khắc ấy thường xuất hiện rất khẽ khàng, đôi khi chỉ qua một câu nói, một giọt nước mắt hay một tiếng thở dài. Trong truyện ngắn Chảy đi sông ơi, nhân vật “tôi” dẫu đối mặt với sự thờ ơ, lạnh lùng của những người đánh cá trước cái chết của một đứa trẻ, nhưng cuối cùng vẫn giữ vẹn nguyên niềm tin vào huyền thoại con trâu đen, vào vẻ đẹp linh thiêng của dòng sông đời người. Trong “Muối của rừng, ông Diểu đi săn, hạ sát một con khỉ, nhưng trước tiếng kêu thảm thiết và sự hy sinh bảo vệ nhau của cặp khỉ vợ chồng, ông đã bừng tỉnh. Hành động phóng thích con khỉ con và việc ông trần truồng đi về trong cơn mưa rừng, giữa những đóa hoa tử huyền nở rộ, chính là một biểu tượng vĩ đại cho sự phục thiện, sự hòa giải giữa con người và tự nhiên, giữa phần bản năng và phần nhân tính.

Như nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã chỉ ra, hệ quy chiếu trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp luôn là “con người”. Nhà văn không quan tâm đến những mô hình vĩ mô mang tính giáo điều; ông đi sâu vào cấu trúc vi mô của tâm lý: triết lý về con người, bản tính người, cách làm người, và trạng thái ứng xử xã hội lịch sử của con người. Trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp, con người không bao giờ là một thực thể tĩnh tại, bất biến theo kiểu “nhân vật chính diện” hay “nhân vật phản diện” của văn học lập trường cũ. Con người của ông là con người đa sự, đa đoan, luôn chuyển dịch giữa các cực đối lập.

Đây chính là một cái nhìn nhân đạo sâu sắc mang tầm vóc hiện đại. Nguyễn Huy Thiệp trả con người về đúng với kích thước thật của nó. Ông chỉ ra rằng “cách làm người” là một bài toán vô cùng nan giải. Con người phải luôn đấu tranh với chính mình, với những trạng thái ứng xử xã hội phức tạp để giữ được thiên lương. Nhà văn không đưa ra một công thức sẵn có nào cho việc làm người. Ông chỉ bày ra các trạng thái ứng xử: có kẻ chọn cách thỏa hiệp để tồn tại, có kẻ chọn cách phản kháng để rồi nhận lấy bi kịch, và cũng có những người chọn cách lặng lẽ giữ mình như ông Diểu. Qua đó, Nguyễn Huy Thiệp buộc người đọc phải suy ngẫm về giá trị của chính mình, phải tự lựa chọn cho mình một cách sống, một cách làm người sao cho xứng đáng giữa một xã hội đầy biến động.
Thêm
54
0
0
Viết trả lời...
Mỗi thời đại văn học đều cần những nhà văn mang sứ mệnh chấm dứt một quán tính tư duy cũ để mở đường cho một hệ hình thẩm mỹ mới. Nếu văn học giai đoạn 1945 - 1975 vận hành theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, nơi cái đẹp gắn liền với sự thuần khiết, lý tưởng và cái cao cả, thì chặng đường đổi mới sau 1986 đòi hỏi một cái nhìn thẳng, nhìn thật vào những vết rạn nứt của đời sống hậu chiến. Trong bước chuyển mình đầy bão giông ấy, Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện như một hiện tượng độc tôn, một "cơn địa chấn" lay chuyển toàn bộ nền văn học đương đại, thay đổi hoàn toàn những định nghĩa cũ mòn về truyện ngắn Việt Nam.

Không diễm lệ, không ve vuốt, văn chương Nguyễn Huy Thiệp chọn một lối đi riêng: giải huyền thoại và phơi bày thực tại bằng một thái độ dửng dưng đến nghiệt ngã. Khảo sát thế giới truyện ngắn của ông, người ta nhận ra một tư duy nghệ thuật sắc sắc, không chịu thỏa hiệp với những tín điều định sẵn. Sức hấp dẫn và giá trị lâu bền trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp được định hình rõ rệt qua bộ ba giá trị thi pháp đặc trưng: giọng văn lạnh lùng, ráo hoảnh mang tính khách quan tuyệt đối, nghệ thuật đan cài thơ ca vào văn xuôi để tạo hiệu ứng thẩm mỹ lưỡng phân, và một cấu trúc kết cấu tuyến tính nhưng chứa đựng những nút thắt mở đầy biến động ở ranh giới đầu - cuối.

Khi tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ấn tượng đầu tiên và mạnh mẽ nhất đối với người đọc luôn là một giọng điệu trần thuật lạnh lùng, tỉnh táo đến mức cực đoan. Nhà phê bình văn học người Pháp Roland Barthes từng đưa ra khái niệm "độ không của lối viết" (Le degré zéro de l'écriture) để chỉ những văn bản xóa bỏ tối đa sắc thái cảm xúc cá nhân của người cầm bút, đưa ngôn ngữ trở về trạng thái trung tính, thuần túy chức năng biểu đạt khách quan. Nguyễn Huy Thiệp chính là một bậc thầy của lối viết "vô sắc" ấy tại Việt Nam.

Trong các sáng tác của ông, từ ”Tướng về hưu”, “Không có vua” cho đến “Kiếm sắc”, “Vàng lửa”, tác giả tự tước bỏ quyền làm "người phán xử" đạo đức. Ông không nhân danh bất kỳ hệ giá trị thiêng liêng nào để ca ngợi hay kết tội nhân vật. Thế giới hiện thực trong truyện hiện lên trần trụi, thô nhám với tất cả sự dung tục, tàn nhẫn và băng hoại của nó. Hãy nhớ lại cách nhân vật Thuần trong Tướng về hưu kể về việc vợ mình mang nhau thai ở bệnh viện sản về nấu nuôi lợn, đó là một sự thật rợn người, đảo lộn các giá trị nhân văn truyền thống, nhưng được thuật lại bằng một thứ ngôn ngữ ngắn, sắc, gãy gọn, hoàn toàn thiếu vắng các tính từ biểu cảm hay những tiếng thở dài cảm thương. Hoặc như cái chết của các nhân vật trong truyện của ông - dù là cái chết của người cha (ông Kiền trong “Không có vua”) hay cái chết của một vị tướng (tướng Thuấn) - tất cả đều diễn ra nhanh chóng, khô khốc, không có những giọt nước mắt khóc thương.

Sự lạnh lùng này thường bị những người đọc quen lối mòn thụ động coi là sự vô cảm, nhẫn tâm. Nhưng dưới góc nhìn của lý luận văn học hiện đại, đây lại là một sự tôn vinh của tinh thần nhân văn và sự tôn trọng tuyệt đối dành cho người đọc. Nhà văn không đứng trong góc độ “người trong cuộc” để phán bảo hay rao giảng đạo đức, thứ văn chương tưởng chừng khô khốc, trần trụi và thiếu vắng nhân tính của ông lại chính là thứ thuốc khiến người ta tỉnh ngộ sau những cơn mê muội và đui điếc.

Lối viết truyền thống thường áp đặt một điểm nhìn toàn tri, hướng dẫn người đọc phải yêu ai, ghét ai. Nguyễn Huy Thiệp thì ngược lại, ông kéo giãn khoảng cách giữa tác giả và tác phẩm, tạo ra một "khoảng trống thẩm mỹ". Ở đó, thế giới nhân vật tự vận động, tự phơi bày bản chất mà không có sự bảo hộ của nhà văn. Khi tác giả từ chối đưa ra kết luận đạo đức, người đọc buộc phải bước ra khỏi vùng an toàn của sự tiếp nhận thụ động. Độc giả không còn là một khán giả ngồi nghe kể chuyện, mà trở thành một bồi thẩm đoàn tự do, đối diện trực tiếp với cái ác, cái thiện để tự định đoạt thế giới quan của chính mình. Giọng văn "lạnh" của Nguyễn Huy Thiệp vì thế lại kích hoạt một phản ứng nơi tâm trí người đọc, buộc họ phải trăn trở, hoài nghi và truy vấn đến cùng về bản chất con người.

Phong cách văn học của Nguyễn Huy Thiệp đã vượt qua giới hạn của một thời kỳ đổi mới để trở thành một giá trị mang tính kinh điển của văn học Việt Nam hiện đại. Bằng việc cách tân ngôn ngữ, giải huyền thoại và trao trả quyền tự do phán xét cho người đọc, ông đã nâng tầm vị thế của độc giả từ kẻ thụ nhận thành người đồng sáng tạo. Hơn ba mươi năm đã trôi qua kể từ ngày những truyện ngắn của ông gây bão đảo dư luận, văn chương Nguyễn Huy Thiệp vẫn vẹn nguyên sức ám ảnh, như một tấm gương lớn đặt trước cuộc đời, buộc mỗi thế hệ khi soi mình vào đó đều phải tỉnh táo để nhận diện bản ngã và kiên cường tự đi trên đôi chân của chính mình.
Thêm
65
0
0
Viết trả lời...
Tuổi 17, đứng giữa những chông chênh mà mình bật khóc.

Những buổi chiều muộn, khi nhìn dòng người hối hả ngược xuôi ngoài kia, tôi bỗng thấy mình lạc lõng đến tội nghiệp. Ở cái tuổi mười bảy, cái ngưỡng cửa mà người ta vẫn gọi là đẹp nhất của cuộc đời, hóa ra lại là lúc tâm hồn dễ bị tổn thương và chông chênh hơn cả. Giữa những áp lực vô hình của học hành, của tương lai và cả những kỳ vọng từ gia đình, đôi khi ta chỉ biết đứng lặng lại và bật khóc. Những giọt nước mắt rơi xuống, ấm ức và bất lực, đi kèm với một câu hỏi cứ xoáy sâu vào tâm trí: Hóa ra, tập làm người lớn lại là như thế này sao.

Trưởng thành không phải là một món quà được báo trước bằng những niềm vui, mà là một cuộc hành trình âm thầm tước bỏ đi sự vô tư của những ngày thơ dại. Ta bắt đầu phải bước vào một thế giới mới, nơi cuộc nhân gian đầy rẫy những tranh đấu và đua chen. Ở đó, những điểm số, những thành tích, và cả sự so sánh vô hình đã vô tình đẩy chúng ta vào một guồng quay không có điểm dừng. Ta buộc phải học cách che giấu đi những mệt mỏi, học cách mỉm cười ngay cả khi lòng đang bão giông, và cay đắng nhận ra rằng, thế giới ngoài kia không phải lúc nào cũng dịu dàng với những vấp ngã của mình.

Cái chông chênh của tuổi mười bảy đáng sợ ở chỗ, ta không còn đủ nhỏ để có thể khóc òa lên đòi sự dỗ dành, để lao vào vòng tay bố mẹ mà kể hết những tổn thương, nhưng lại chưa đủ lớn để tự mình chống đỡ trước những giông bão của cuộc đời. Ta đứng ở giữa khoảng không chơi vơi đó, hoang mang nhìn về phía trước mà không biết đâu mới là con đường thực sự dành cho mình. Có những đêm nằm nghe tiếng thở dài của chính mình, cảm giác cô độc xâm chiếm, ta mới hiểu rằng cái giá của sự lớn lên chính là việc phải tự mình đối diện với những khoảng trống trong lòng.

Thế nhưng, giữa cuộc nhân gian đầy tranh đấu và thử thách này, những giọt nước mắt của tuổi mười bảy không phải là sự yếu đuối, mà là sự phản kháng yếu ớt nhưng đầy chân thật của một tâm hồn đang học cách lớn lên. Nhận ra sự khắc nghiệt của cuộc đời để rồi biết trân trọng hơn những khoảnh khắc bình yên, biết thương lấy chính mình sau những lần vấp ngã. Trưởng thành có thể là một quá trình đầy đau đớn, nhưng đó là con đường duy nhất để ta tìm thấy bản ngã, tìm thấy sức mạnh tiềm ẩn bên trong để tiếp tục bước đi, dẫu phía trước vẫn còn vạn dặm chông chênh. Mong rằng chúng ta đủ lớn, để bước qua giông bão với cả lý trí và trái tim.
Thêm
61
0
0
Viết trả lời...
Có những tình yêu rất đỗi bồng bột của tuổi trẻ, mình ngỡ tưởng nó đã biến mất đi sau hàng ngàn vạn những biến động trong cái cuộc đày ải nhân gian này. Vậy mà, chỉ một phút nào đó, mình lại gặp lại nó, đối diện với chính cái tình yêu trong lành, thuần khiết của mình. Một cái đưa mắt, một nụ cười, một dòng tin nhắn đã đủ khiến những cảm xúc trong mình quay trở lại. Một ánh mắt đã gợi lại cả một thời niên thiếu nồng nàn trong những xúc cảm. Mình ôm trọn lấy nó và ước giá như nó chưa từng biến mất.

Thành phố lùi lại sau lưng bằng một vẻ yên ắng lạ thường, để mặc cho tâm trí ta trôi về những khoảng không gian tưởng chừng đã bị bụi thời gian phủ kín. Giữa dòng đời tấp nập với trăm ngàn mối lo toan, giữa những cuộc đày ải mà ai trong chúng ta cũng phải đi qua để trưởng thành, ta cứ ngỡ mình đã đủ chai sạn. Ta bảo với lòng rằng những nồng nàn, bồng bột của thuở mười tám, đôi mươi đã tan vào hư vô từ lâu lắm. Tình yêu giữa những tháng ngày đôi mươi mỏng manh như sương khói, có lẽ quá phù phiếm với mình lúc này. Trăm lối rẽ, trăm mối ngả nghiêng, mỗi lối rẽ là một gương mặt, mỗi chặng hành trình lại càng khiến mình thấy cuộc đời quá khó khăn.

Vậy mà, cuộc đời đôi khi lại có những lối rẽ bất ngờ đến kỳ lạ. Chỉ một phút giây nào đó vô tình, ta bắt gặp lại một cái đưa mắt quen thuộc giữa phố đông, một nụ cười thoáng qua, hay đơn giản chỉ là một dòng tin nhắn cũ hiện lên trên màn hình điện thoại. Chỉ bấy nhiêu thôi là đã quá đủ để đánh thức cả một vùng ký ức ngỡ như đã ngủ yên. Khoảnh khắc ấy, nó gợi lại trong ta cả một thời niên thiếu đẹp như mộng. Ta đối diện với chính cái tình yêu trong lành, thuần khiết của năm tháng cũ. Ánh mắt ấy làm mình nhớ lại kí ức thuở ban đầu, về một thời tuổi trẻ mà mình chẳng còn hy vọng nữa.

Giữa không gian tịch mịch, một tiếng thở dài khẽ bật ra cùng lời ước thầm kín, giá như những điều tuyệt đẹp này chưa từng biến mất, giá như ta có thể giữ mãi sự thuần khiết ấy giữa những biến động của cuộc đời. Nhưng suy cho cùng, việc có thể gặp lại và rung động một lần nữa với mối tình đầu trong tâm tưởng, suy cho cùng, cũng là một ân huệ dịu dàng mà năm tháng đã ban tặng cho chúng ta.

Tình đầu, ừ thì thật dở dang..
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...
Có những tác phẩm văn học không dùng đến triết lý đao to búa lớn, mà lặng lẽ len lỏi vào tâm thức độc giả qua những câu chuyện tưởng chừng như rất giản đơn. "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp chính là một tác phẩm như thế. Dưới lớp vỏ bọc của một chuyến đi săn đầu xuân, nhà văn đã mở ra một hành trình tâm linh sâu sắc, nơi con người rũ bỏ những ảo tưởng đầy định kiến của mình để tìm lại bản ngã, đối diện với thiên lương thuần khiết trong một sự thức tỉnh đầy nhân văn. Truyện của Nguyễn Huy Thiệp, đa phần là vậy, rất trần trụi, nhưng lại để lại những nhớ thương và khắc khoải.

Truyện ngắn mở đầu bằng một bối cảnh quen thuộc trong thế giới nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp, đó là thiên nhiên hoang sơ và đầy bí ẩn. Nhân vật ông Diểu đi vào rừng không phải vì miếng cơm manh áo, mà đi săn như một thú vui, một cách để khẳng định sức mạnh và quyền lực của con người trước tự nhiên. Trong tình huống đó, nhân vật ông Diểu hiện lên như kẻ cầm quyền nắm giữ tự nhiên, thể hiện quyền uy của loài người trước thé giới loài vật. Dù hình ảnh ông xuất hiện trong sự đối lập với cái không gian bao la của núi rừng nhưng vẫn khẳng định được quyền năng riêng. Bản thân khẩu súng săn đắt tiền và bộ quần áo ấm áp mà ông mang trên người chính là biểu tượng cho sự tự mãn của nền văn minh nhân tạo, thứ vũ khí giúp con người tự cho mình quyền phán xét và định đoạt mạng sống của muôn loài.

Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ với gia đình nhà khỉ đã hoàn toàn đảo lộn trật tự tư duy của ông Diểu. Khi chứng kiến tình cảm gắn kết, sự hy sinh và lòng trung thành của ba con khỉ dành cho nhau, người thợ săn bắt đầu lung lay tận gốc rễ. Con khỉ đực sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy để bảo vệ bạn đời, còn con khỉ cái bấp chấp cái chết để cứu con khỉ đực đang bị thương. Sự chung thủy và tình mẫu tử, tình đồng loại thiêng liêng ấy vốn là những giá trị mà con người luôn tự hào cho rằng chỉ riêng mình mới có. Hóa ra, thế giới tự nhiên không hề vô tri, độc ác hay thấp kém như những định kiến mà con người tự dựng lên. Bản năng của loài thú trong tác phẩm lại mang vẻ đẹp nhân bản cao thượng, đối lập hoàn toàn với sự lạnh lùng, toan tính của họng súng trên tay người đi săn.

Sự cứu rỗi của cái đẹp trong "Muối của rừng" diễn ra một cách từ từ nhưng vô cùng triệt để. Quá trình ông Diểu băng bó cho con khỉ đực, chứng kiến sự sợ hãi nhưng cũng đầy kiêu hãnh của nó, chính là lúc “tấm màn” ảo tưởng của ông bị xé toạc. Ông nhận ra sự tàn nhẫn của hành động đi săn, nhận ra sự nhỏ bé và cô độc của chính mình giữa đại ngàn bao dung. Việc ông từ bỏ khẩu súng, từ bỏ chiến công của một kẻ đi săn để trả lại tự do cho con vật không chỉ là một hành động phóng sinh thông thường. Đó là sự đầu hàng của cái ác trước cái thiện, là sự hòa giải vĩ đại giữa con người và tự nhiên.

"Muối của rừng" còn là một sự phản tỉnh sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ. Khi đi sâu vào thế giới của Nguyễn Huy Thiệp, ta nhận ra rằng thiên nhiên không phải là một đối tượng để chinh phục, khai thác hay làm thỏa mãn những ham muốn độc đoán của nhân loại. Thiên nhiên trong tác phẩm tồn tại như một bản thể độc lập, có linh hồn, có tiếng nói và có cả một hệ giá trị đạo đức riêng biệt. Bản tính kiêu ngạo của con người thường khiến chúng ta lầm tưởng mình là trung tâm của vũ trụ, có quyền định đoạt và áp đặt luật lệ lên muôn loài. Nhưng chính sự cao thượng của gia đình nhà khỉ đã giáng một đòn mạnh mẽ vào tư duy thực dụng đó, buộc nhân vật và cả người đọc phải nhìn nhận lại vị thế thực sự của mình.

Nhìn rộng hơn, hành trình của ông Diểu trong khu rừng chính là biểu tượng cho quá trình gột rửa những bụi bặm của đời sống trần tục. Sống trong một xã hội hiện đại với quá nhiều toan tính, con người rất dễ bị cuốn theo những giá trị ảo ảnh như danh tiếng, quyền lực hay sự chiếm đoạt. Khẩu súng săn ban đầu không chỉ là công cụ diệt vong mà còn là đại diện cho những dục vọng, những tham sân si mà con người luôn mang theo bên mình. Khi ông Diểu quyết định vứt bỏ khẩu súng, ông cũng đồng thời trút bỏ gánh nặng của sự ích kỷ để bước vào một trạng thái tự do đích thực. Đó là khoảnh khắc con người nhận ra rằng chiến thắng vĩ đại nhất không phải là chiến thắng kẻ khác hay làm chủ ngoại vật, mà là chiến thắng phần tăm tối bên trong chính bản thân mình.

Sự xuất hiện của loài hoa muối ở cuối tác phẩm mang một ý nghĩa triết học vừa thực tế lại vừa siêu thực. Hoa muối không phải là một phần thưởng vật chất, cũng không đem lại lợi ích hữu hình, nhưng nó là minh chứng cho thấy tự nhiên luôn bao dung và sẵn sàng đón nhận con người quay trở lại sau những lầm lỗi. Khi con người biết cúi đầu trước sự sống, biết rung động trước nỗi đau của một sinh linh khác, thì đó cũng là lúc họ xứng đáng được chứng kiến sự kỳ diệu của đất trời. Thứ ánh sáng màu trắng của hoa muối chính là biểu tượng của một sự khởi đầu mới, một cuộc tái sinh về mặt tâm hồn đầy thiêng liêng.

Đoạn kết của truyện mang một sức nặng triết lý sâu sắc khi ông Diểu rời khỏi khu rừng trong trạng thái hoàn toàn trần trụi. Ông không còn quần áo, không còn vũ khí, không còn bất cứ thứ gì chứng minh cho địa vị xã hội hay sức mạnh văn minh. Ông đối mặt với chính mình, lạnh lùng, cô đơn nhưng lại vô cùng thanh thản. Giữa cơn mưa xuân loáng thoáng, ông bắt gặp hoa muối của rừng, loài hoa chỉ nở ba mươi năm một lần khi có sự thanh bình tuyệt đối. Màu trắng của hoa muối chính là biểu tượng cho thiên lương thuần khiết đã được đánh thức và cứu rỗi sau một cuộc đấu tranh gian khổ nội tâm. Con người đã tìm lại được phần thánh thiện nhất trong tâm hồn mình khi biết hạ mình trước vẻ đẹp của sự sống.

Qua "Muối của rừng", Nguyễn Huy Thiệp đã gửi gắm một thông điệp nhân sinh mang tính phổ quát và vượt thời gian. Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác không ở đâu xa xôi mà nằm ngay trong chính trái tim mỗi người. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng, muốn chạm đến hạnh phúc và sự bình yên đích thực, con người cần phải học cách tôn trọng tự nhiên, hạ bớt cái tôi ngạo nghễ và biết lắng nghe tiếng gọi của lương tri. Chỉ khi rũ bỏ được những ham muốn tầm thường, con người mới có thể đón nhận được thứ ánh sáng tự nhiên nhất của cuộc đời.
Thêm
51
0
0
Viết trả lời...
Trong dòng chảy của văn học hiện thực Trung Quốc đầu thế kỷ XX, truyện ngắn "Lễ cầu phúc" của Lỗ Tấnhiện lên không chỉ như là một bức tranh phong tục về vùng Lỗ Trấn những ngày cuối năm, mà còn là một bản cáo trạng về sự mê muội của đạo đức phong kiến và nỗi đau tột cùng của thân phận người phụ nữ. Hình tượng thím Tường Lâm hiện lên như một chứng tích cho những lề thói cổ hủ, định kiến xã hội và sự vô cảm của lòng người, từ đó đặt ra những vấn đề nhức nhối về nữ quyền và thiên chức của văn chương trong việc trao tiếng nói cho người phụ nữ.

Nhan đề "Lễ cầu phúc" tạo nên sự đối lập với tình cảnh của nhân vật. Trong khi những gia đình như nhà chú Tư hân hoan sửa soạn lễ vật, cầu chúc cho một năm mới an lành, thịnh vượng, thì thím Tường Lâm lại bị gạt ra lề của sự thiêng liêng ấy. Cái "phúc" của người này lại được xây dựng trên sự "họa" và nỗi nhục nhã của người kia. Một xã hội mà việc cầu an cho bản thân lại đồng nghĩa với việc ruồng rẫy những kẻ khốn cùng nhất, chính là một xã hội đang đứng bên bờ vực của sự tha hóa. Thím Tường Lâm, với những nỗ lực tuyệt vọng để được "làm lễ", để được công nhận là một con người có quyền cầu nguyện, đã chết trong sự phủ nhận phũ phàng của thế giới thực tại và cả thế giới tâm linh mà thím hằng tin tưởng. Chị bị đẩy ra khỏi cái xã hội người chị đang sống, bị xem là thiếu đi sự sạch sẽ mà một người phụ nữ cần có trong lễ giáo phong kiến.

Vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Lỗ Tấn được soi chiếu qua "căn cước phương Đông" khắc nghiệt – Khổng giáo. Người phụ nữ trong xã hội Trung Quốc bấy giờ bị trói buộc bởi vô vàn tầng nấc áp bức: quyền làm vợ, quyền làm mẹ và cả quyền được sống một cách bình thường sau những mất mát. Thím Tường Lâm bị gia đình chồng cũ bán đi như một món hàng, bị xã hội kỳ thị vì tội "tái giá", và bị thần quyền đe dọa bằng nỗi sợ hãi về việc bị xẻ làm đôi dưới âm phủ. Những quan niệm về tiết hạnh, về sự "không trung dung" trong cách đối xử với phụ nữ, từ tục bó chân cho đến việc cấm cửa người góa phụ chạm vào đồ tế lễ, đã biến cuộc đời họ thành một chuỗi những sự cầm tù. Mức độ giải phóng phụ nữ chính là thước đo sự văn minh của một dân tộc, và qua hình tượng thím Tường Lâm, Lỗ Tấn đã chỉ ra rằng xã hội Trung Quốc đương thời vẫn là một xã hội "ăn thịt người" núp bóng dưới những lễ nghi rạng rỡ.

Văn học, trong bối cảnh ấy, thực hiện thiên chức cao cả nhất của nó là "đứng về phe nước mắt". Văn chương không chỉ phản ánh hiện thực mà còn phải là tiếng thét đòi quyền sống, là nỗ lực bảo tồn nhân tính trước sự xâm thực của sự vô cảm. Lỗ Tấn đã ngụp lặn trong bể đời Lỗ Trấn để thấu hiểu nỗi đau của một người đàn bà mất con, mất chồng, và quan trọng hơn cả là mất đi niềm tin vào phẩm giá của chính mình. Sự thương xót trong văn chương không phải là sự ban ơn, mà là sự đồng cảm sâu sắc giữa những sinh mệnh phàm trần. Khi Lỗ Tấn đặt ra những câu hỏi day dứt của thím Tường Lâm về linh hồn và địa ngục, ông đã buộc độc giả phải chất vấn lại chính lương tri của họ: Chúng ta là ai khi để mặc một con người lương thiện phải chết đi trong sự khinh rẻ và hoang mang tột độ?

Văn học chân chính luôn mang sức nặng của sự chất vấn và dự báo. Qua cái chết của thím Tường Lâm giữa tiếng pháo nổ rộn ràng của lễ cầu phúc, Lỗ Tấn đã tạo ra một cách nhìn khác bắt ta phải sống khác đi. Ông chứng minh rằng nếu phụ nữ không được giải phóng khỏi những xiềng xích tư tưởng cổ hủ, thì mọi sự tiến bộ vật chất hay những lời cầu chúc an lành đều trở nên trống rỗng và dối trá. Vai trò của người nghệ sĩ là phải thâm nhập vào đời sống để bóc trần những bất công, nâng đỡ những kiếp người nhỏ bé và giữ cho nhân tính không bao giờ tiêu biến.

Khép lại trang văn của Lỗ Tấn, ta không chỉ thấy một thím Tường Lâm khốn khổ, mà thấy cả một xã hội phong kiến với những tư tưởng truyền thống cần được thay đổi. Sự thương xót người phụ nữ trong văn chương chính là điểm khởi đầu cho cuộc cách mạng về quyền con người. Chỉ khi xã hội thôi không còn tạo ra những định kiến chà đạp trên sự hy sinh phẩm giá của người khác, khi người phụ nữ được quyền kiêu hãnh khẳng định tôn nghiêm, thì lúc đó văn minh mới thực sự hiện hữu. Văn chương, với huyết lệ và lòng trắc ẩn, sẽ mãi là ánh sáng soi đường, là điểm tựa để con người vượt qua bể khổ của định kiến và vươn tới sự tự do đích thực.
Thêm
125
0
0
Viết trả lời...
Truyện dài “Hóa thân” của Franz Kafka không chỉ là một câu chuyện hoang đường về sự biến đổi sinh học, mà là một bản giải phẫu đau đớn về sự tha hóa của con người trong xã hội hiện đại. Thông qua tấn bi kịch của Gregor Samsa, Kafka đã dựng lên một tượng đài về sự cô độc, nơi tiếng nói cá nhân bị bóp nghẹt bởi những thiết chế vật chất và nơi nhân tính bị thử thách nghiệt ngã trước cái nhìn của "người khác". Tác phẩm như là sự khởi đầu và cơ sở cho lý thuyết “kafkasque” – kiểu Kafka để chỉ ra những nỗi đau, nỗi cô đơn và sự thống khổ của con người trong xã hội hiện đại, khi mà sự kết nối trở thành sự xa xỉ.

Trước hết, tác phẩm bóc trần một thực tại tàn nhẫn của xã hội tư bản sơ khai: giá trị con người bị đóng khung trong năng lực kinh tế. Trước khi biến thành bọ, Gregor Samsa hiện hữu trong gia đình với tư cách là một cỗ máy kiếm tiền, một trụ cột gánh vác nợ nần cho cha và kiến tạo tương lai cho em gái. Sự tồn tại của anh được chấp nhận chừng nào anh còn mang lại giá trị thặng dư. Tuy nhiên, khi nhân dạng thay đổi dẫn đến sự khuyết thiếu năng lực lao động, Gregor lập tức bị tước đoạt quyền làm người. Sự ghê tởm của người thân không chỉ đến từ hình hài giáp xác gớm ghiếc, mà sâu xa hơn, nó đến từ việc anh đã trở thành một "gánh nặng", một vật cản trở bước tiến của gia đình. Kafka đã mỉa mai một cách cay đắng rằng, trong một thế giới trọng vật chất, ranh giới giữa một đứa con hiếu thảo và một thứ quái vật đôi khi chỉ cách nhau bằng một bảng lương.

Dẫu vậy, điểm gây chấn động nhất trong tư tưởng của Kafka chính là sự đối lập giữa diện mạo phi nhân tính và một tâm hồn thuần nhân tính. Dù bị tước bỏ nhân dạng, bị giam cầm trong một cơ thể xa lạ và chịu đựng sự ghẻ lạnh của người thân, ý thức trách nhiệm và lòng yêu thương của Gregor vẫn vẹn nguyên đến phút cuối đời. Anh chết trong sự cô độc tuyệt đối nhưng trái tim vẫn hướng về gia đình với niềm yêu thương trìu mến. Khoảnh khắc Gregor bò ra khỏi phòng, bị mê hoặc bởi tiếng đàn của em gái, chính là sự khẳng định mãnh liệt nhất về nhân tính. Một thực thể bị xã hội coi là quái vật lại là kẻ duy nhất còn giữ được rung động trước cái đẹp và nghệ thuật, những thứ vốn được coi là đặc ân của con người. Sự thức tỉnh của những ước mơ xưa cũ trong một thân xác tàn tạ là lời chất vấn liệu ai mới là kẻ thực sự mang linh hồn người?

Mặt khác, dưới góc nhìn hiện sinh, biến cố "hóa thân" thực chất lại là một cuộc giải thoát đầy nghịch lý. Hình hài con bọ là sự cụ thể hóa của nỗi ngộp thở mà Gregor phải chịu đựng trong công việc và những áp lực xã hội. Khi không còn là người, anh mới lần đầu được hưởng thụ cảm giác "thanh thản dễ chịu" vì không phải đối diện với tiếng chuông đồng hồ báo thức hay sự thúc ép của tay chủ nợ. Sự hóa thân buộc những thành viên khác trong gia đình phải thoát khỏi sự ỷ lại, phải lao động và tự định vị lại chính mình. Cái chết của Gregor, vì thế, là một sự kết thúc tất yếu để một trật tự mới được thiết lập. Nó giải thoát cho Gregor khỏi một kiếp sống nô lệ và giải thoát cho gia đình Samsa khỏi một bóng ma quá khứ mà họ hằng ghê sợ.

Cuối cùng, nhìn sâu vào bản chất của tác phẩm, ta nhận ra sự "hóa thân" thực sự không nằm ở Gregor. Sự biến đổi của anh chỉ là một trạng thái vật chất tĩnh tại, trong khi sự biến đổi của những người xung quanh mới là một tiến trình dịch chuyển tàn khốc của bản tính. Từ sự yêu thương, xót xa ban đầu, cha mẹ và em gái anh dần chuyển sang sự chịu đựng, ghê tởm và cuối cùng là mong muốn anh biến mất hoàn toàn. Chính xã hội vô cảm và những mối quan hệ dựa trên sự vụ lợi đã bóp méo nhân dạng của Gregor ngay từ trước khi anh biến thành bọ.

Hóa thân khép lại bằng hình ảnh gia đình Samsa vui vẻ đi chơi sau cái chết của Gregor, một hình ảnh phản ánh sự lạnh lùng đến rợn người của thực tại. Tác phẩm của Kafka vẫn mãi là một nỗi dư chấn tâm lý bắt ta phải tự vấn về sự tồn tại của chính mình. Liệu chúng ta có đang sống như những thực thể tự do, hay chúng ta cũng đang dần hóa thân thành những "con bọ" trong một xã hội chối bỏ mọi giá trị nhân văn? Văn chương của Kafka, với sức nặng của sự chất vấn, chính là ánh lửa soi sáng những góc khuất tăm tối nhất của phận người, buộc chúng ta phải bảo tồn nhân tính trước khi bị tan biến vào sự phi lý của cuộc đời, đặc biệt là trong xã hội hiện đại.
Thêm
95
0
0
Viết trả lời...
“Tôi huy động toàn bộ cơ thể mình khi viết […]. Tôi cố gắng truyền những cảm giác sống động mà tôi - một sinh vật phàm trần với dòng máu nóng chảy trong cơ thể - cảm nhận được, vào câu chữ của mình. Như thế truyền đi một luồng điện. Và khi biết luồng điện này đã được truyền đến độc giả, tôi kinh ngạc và xúc động. Trong những khoảnh khắc này, tôi lần nữa trải nghiệm sợi chỉ ngôn ngữ kết nối chúng ta, mối liên quan giữa những câu hỏi của tôi với độc giả, thông qua luồng điện sống động ấy.”(Han Kang).

Viết văn, xét đến cùng, là một trải nghiệm thân thể, một hành vi huy động toàn bộ sinh mệnh phàm trần để truyền tải luồng điện sống động của cảm giác vào câu chữ. Ở đó, nhà văn không chỉ viết bằng trí óc, mà viết bằng nhịp tim, bằng dòng máu nóng và bằng cả những vết sẹo trong ký ức.

Thay vì xem ngôn ngữ như một công cụ vạn năng được điều khiển bởi kỹ năng trau chuốt, Han Kang khẳng định việc viết là một quá trình hiện hữu đầy đau đớn và chân thực. Khi nhà văn cầm bút, đó là lúc họ triệu hồi toàn bộ cảm giác sống động mà một sinh vật hữu hình có thể cảm nhận được. Những tổn thương, những khoảnh khắc hạnh phúc hay nỗi dằn vặt khôn nguôi không chỉ được gọi tên qua con chữ, mà chúng phải được sống lại một lần nữa qua chính cơ thể người nghệ sĩ. Mỗi trang viết, vì thế, không chỉ chứa đựng tư tưởng mà còn phảng phất phong vị của ký ức và những trải nghiệm hiện sinh sâu sắc. Nhà văn dám đặt bản thân mình vào quá trình sáng tạo, dám để dòng máu nóng của mình chảy qua từng mạch văn, khiến ngôn ngữ không còn là những ký hiệu vô tri mà trở thành một thực thể sống có khả năng phát ra luồng điện mạnh mẽ.

Giá trị đích thực của văn chương không nằm ở những tư tưởng to lớn hay sự bóng bẩy của hình thức bên ngoài, mà nằm ở độ chân thực của cảm giác được truyền đi. Chính luồng điện sống động phát ra từ thân thể người viết đã tạo nên một sợi chỉ ngôn ngữ kết nối những tâm hồn xa lạ. Khi luồng điện ấy truyền đến độc giả, nó không chỉ mang theo thông tin mà còn mang theo cả sự xúc động và kinh ngạc của một sự thấu cảm tuyệt đối. Sự kết nối này là minh chứng cho việc văn chương đã vượt thoát khỏi ranh giới của kỹ thuật để trở thành một hình thức giao tiếp giữa những cộng đồng khác mình. Độc giả không chỉ đọc một câu chuyện, mà họ đang trải nghiệm chính luồng sinh khí mà nhà văn đã rút ra từ huyết quản của mình để gửi gắm vào tác phẩm.

Một tác phẩm chỉ có thể làm thổn thức triệu trái tim khi chính người viết đã phải thổn thức trong lúc đặt bút. Viết văn là một nỗ lực để hiểu mình và hiểu người, là nỗ lực để biến những trải nghiệm cá nhân đơn lẻ thành một tài sản chung của nhân loại thông qua luồng điện của sự đồng cảm. Nhà văn chân chính là người không ngại ngần phơi bày những góc khuất của tâm hồn, không ngại ngần để những nỗi đau thân xác thấm đẫm vào trang giấy, bởi họ biết rằng đó là cách duy nhất để cứu rỗi nhân tính và nâng đỡ con người.

Tóm lại, văn chương là một hành trình hiện hữu đầy kiêu hãnh và nhọc nhằn của người nghệ sĩ. Nó bắt đầu từ những rung động của thân thể và kết thúc bằng sự thức tỉnh của tâm linh độc giả. Chừng nào nhà văn còn dám huy động toàn bộ cơ thể mình để viết, chừng đó văn chương vẫn sẽ là ánh lửa ấm áp soi sáng những giá trị nhân văn, là luồng điện sống động gắn kết những mảnh đời đơn lẻ trong sự thấu thấu cảm sâu sắc về phận người. Viết, suy cho cùng, chính là cách để khẳng định rằng giữa thế giới này, chúng ta vẫn đang sống, đang cảm nhận và đang thuộc về nhau qua sợi chỉ ngôn ngữ thiêng liêng.
Thêm
92
0
0
Viết trả lời...
Vụ án quấy rối tập thể tại Miryang năm 2004 đã gây nên sự rúng động trong cộng đồng người Hàn Quốc, không chỉ đơn thuần là một hồ sơ tội phạm tình dục chấn động, mà còn là một vết sẹo nhức nhối phơi bày sự sụp đổ của công lý và sự lên ngôi của những bất công tàn độc trong xã hội. Khi nhìn vào tấn bi kịch của ba chị em Choi, ta không chỉ thấy nỗi đau xác thân của những đứa trẻ vị thành niên, mà còn thấy một thực tại nghiệt ngã, nơi mà sự thiện lương bị bóp nghẹt bởi quyền lực của đám đông, nhân tính bị nghiền nát dưới bánh xe của sự vô cảm và sự bất bình đẳng chưa bao giờ nguôi.

Đứng trước bờ vực của thiện ác trong vụ án này, ta phải tự hỏi điều gì đã biến những nam sinh chưa đủ tuổi vị thành niên thành những kẻ thủ ác máu lạnh trong suốt 11 tháng ròng rã? Có lẽ, cái ác không chỉ sinh ra từ bản năng bạo lực, mà còn được nuôi dưỡng bởi sự vô minh và một hệ thống giáo dục lỗi nhịp. Khi các nghi phạm được dung túng bởi tư duy của cha mẹ chúng - những người sẵn sàng đổ lỗi cho nạn nhân để bảo vệ sự "vô tội" của con cái thì cái ác đã được hoàn tất và đóng dấu bằng sự tàn nhẫn. Sự bất bình đẳng hiện rõ ở chỗ, những kẻ tấn công được bảo vệ bởi tương lai "lãnh đạo thành phố", trong khi nạn nhân bị tước đoat quyền được bảo mật thông tin, quyền được bảo vệ và ngay cả quyền được làm một con người bình thường.

Thương xót thay cho những nạn nhân nhỏ bé như chị em Choi, khi mà điểm tựa cuối cùng là pháp luật và cảnh sát lại trở thành những kẻ tiếp tay cho tội phạm. Những câu hỏi thô tục, những lời miệt thị của sĩ quan điều tra không chỉ là sự thiếu chuyên nghiệp, mà là một tội ác tinh thần bắt nạn nhân phải gánh chịu nỗi đau gấp bội. Công lý đã không nằm trong tim những người thực thi pháp luật ở Miryang năm ấy, nó bị vùi lấp bởi danh tiếng hão huyền của một thành phố và sự ưu ái mù quáng dành cho những "đứa trẻ" mang tâm hồn quỷ dữ. Pháp luật giờ đây sinh ra không dành cho con người và để phục vụ cho con người, nó đã sinh ra để bị thuần phục bởi tiền bạc và quyền lực. Ở đó, người ta tẳn trở liệu những con người nhỏ bé không thể đạt được sự bình đẳng cho mình ư?

Sự bất bình đẳng còn lên đến đỉnh điểm khi đồng tiền của sự thỏa thuận đen tối giữa người cha nghiện rượu và các bị cáo đã chặn đứng con đường đòi lại công lý. Khi 44 nghi phạm trực tiếp và hàng chục kẻ liên quan cuối cùng đều thoát khỏi hồ sơ hình sự, chúng ta càng thêm phẫn nộ trước những điều mà các nạn nhân phải trải qua. Danh từ “người cha” ở đây được sử dụng thật xót xa, thậm chí là gây buồn nôn khi chính hắn là kẻ đã gây ra nỗi đau cho con gái mình. Hắn không chỉ là con thú đầu đàn gây ra bạo lực gia đình, tác động đến tâm lí của nạn nhân mà còn thông đồng với cái ác trở thành những cơn ác mộng trong kí ức của đứa trẻ 14 tuổi.

Vụ án Miryang, Hàn Quốc chính là một lời chất vấn đau đớn gửi đến mỗi chúng ta. Chúng ta là ai khi để mặc cái ác nhân danh "sự lầm lỡ của tuổi trẻ" để chà đạp lên phẩm giá con người? Chừng nào chúng ta còn im lặng trước sự đổi chác của đồng tiền lên mạng sống và danh dự, chừng đó cái ác vẫn sẽ còn đất để nảy nở. Sự thương xót dành cho chị em Choi cần phải được chuyển hóa thành dũng khí để lên tiếng, để không bao giờ cho phép một hệ giá trị tiêu chuẩn lệch lạc nào có thể biến nạn nhân thành kẻ có lỗi. Bởi lẽ, chừng nào công lý còn bị đặt lên bàn cân với lợi ích và danh tiếng hão huyền, thì tiếng kêu "Là tôi, một con người đây mà!" của những nạn nhân vẫn sẽ mãi là một tiếng vang tuyệt vọng giữa thinh không của sự bất công.
Thêm
107
0
0
Viết trả lời...
Robot Sophia là robot đầu tiên được công nhận quyền công dân. Cô có thể biểu hiện hơn 62 sắc thái biểu cảm trên gương mặt, có thể học được ngôn ngữ giao tiếp từ những người mà cô tiếp xúc. Trong một buổi phỏng vấn, một phóng viên đã hỏi cô về việc liệu cô có biết mình là robot? Sophia đã trả lời: “Vậy làm sao anh biết anh là con người?”. Đúng, câu nói của một robot đã khiến tôi thật sự tẳn trở vè nhân tính và phẩm giá của con người. Làm sao chúng ta biết chúng ta là con người? Chúng ta có gì khác biệt so với những “công dân máy móc” ấy? Đứng giữa thời đại khi mà mọi giá trị đều bị công nghệ hóa, tôi không khỏi suy tư làm thế nào để có thể khẳng định “Là tôi, một con người đây mà!” một cách kiêu hãnh.

"Là tôi, một con người đây mà!" không chỉ đơn thuần là một lời khẳng định danh tính, mà còn là một niềm kiêu hãnh sâu xa về bản thể làm người. Trong một thế giới ngày càng hiện đại, nơi máy móc và trí tuệ nhân tạo có thể thay thế những đặc quyền vốn có của con người, điều khiến chúng ta tự hào không nằm ở tốc độ xử lý thông tin hay năng lực tính toán trong vài giây, mà nằm ở chiều sâu đạo đức và khả năng lựa chọn điều đúng đắn. Con người có thể nghèo khó, thất bại, thậm chí mắc sai lầm, nhưng chừng nào họ vẫn giữ được lòng nhân ái và sự tôn trọng đối với đồng loại, chừng đó họ vẫn xứng đáng với hai chữ con người. Tuy nhiên, nếu nhìn vấn đề ở một tầng sâu hơn, nhân tính không chỉ dừng lại ở việc tránh làm tổn thương người khác hay không giẫm lên người khác để tiến lên phía trước.

Một con người đúng nghĩa cần vượt qua trạng thái đạo đức thụ động để vươn tới một sức mạnh sống động trong đời sống. Phẩm giá không thể tồn tại đơn thuần trong vùng an toàn của sự im lặng. Có những người không trực tiếp gây ra bất công nhưng lại khoanh tay trước sự bất công, không làm điều ác nhưng cũng không hành động để điều thiện được cất tiếng. Khi ấy, sự tử tế chỉ là một lớp vỏ rỗng tuếch. Phẩm giá thực sự phải được thể hiện qua dũng khí đứng về phía con người, dám lên tiếng trước sự tổn thương và bất công. Nó đòi hỏi một sự chủ động bảo vệ và nâng đỡ phẩm giá của người khác, biến nhân tính từ một nguyên tắc đạo đức im lặng trở thành một hành động kiến tạo xã hội.

Sức mạnh của nhân tính ấy từng được kết tinh và hiệu triệu mạnh mẽ trong lời hịch của vua Quang Trung: "Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy cùng ta gắng sức mà lập nên nghiệp lớn". Lương tri là khả năng nhận thức điều thiện, là ánh sáng của tâm hồn giúp con người phân biệt đúng sai; còn lương năng chính là năng lực hành động theo tiếng gọi của lương tri ấy. Vua Quang Trung không chỉ nhìn quân sĩ như những công cụ phục vụ chính trị, mà ông nhìn thấy ở họ những chủ thể mang đầy đủ phẩm giá và năng lực đạo đức. Nghiệp lớn ở đây không chỉ là chiến công hiển hách trên chiến trường, mà còn là sự nghiệp bảo vệ sự tồn vong của một dân tộc, bảo vệ phẩm giá của mỗi con người trước sự xâm lăng và hủy diệt.

Sự gắng sức mà vị anh hùng áo vải kêu gọi chính là nỗ lực chuyển hóa lương tri thành hành động thực tế. Chừng nào con người vẫn còn biết dừng lại để không giẫm lên người khác trên con đường của mình, chừng đó chúng ta có quyền kiêu hãnh. Nhưng đỉnh cao của niềm kiêu hãnh ấy phải là lúc chúng ta dám cùng nhau gắng sức, dùng lương tri và lương năng để chống lại cái ác và sự vô cảm. Một con người có phẩm giá là người biết rằng mình không thể đơn độc hưởng thụ sự bình an trong khi đồng loại đang bị chà đạp.

Chúng ta có thể tiến rất xa trong văn minh, nhưng nếu đánh mất sự thấu cảm và dũng khí hành động, mọi tiến bộ cũng trở nên trống rỗng. Lời hiệu triệu của lịch sử vẫn vang vọng đến hôm nay như một lời nhắc nhở. Làm người không chỉ là một trạng thái tồn tại, mà là một hành trình tu dưỡng lương tri và thực hành lương năng. Chỉ khi con người biết dùng sức mạnh của mình để nâng đỡ người khác, biết đồng lòng vì một nghiệp lớn mang tính nhân bản, thì tiếng hô "Là tôi, một con người đây mà!" mới thực sự vang lên đầy tự hào và vang vọng giữa thinh không của thời đại.
Thêm
77
0
0
Viết trả lời...
Văn học từ thuở khởi nguyên chưa bao giờ chỉ là một loại hình giải trí phù phiếm hay một trò chơi ngôn từ thuần túy. Nó vươn mình trở thành một môn khoa học xã hội đặc thù bởi sức mạnh “chứa đựng bộ gene tư tưởng của cả một dân tộc và một thời đại”. Văn học không chỉ đơn thuần là tấm gương soi chiếu những gì đang hiện hữu, mà nó còn sở hữu quyền năng dự báo hiện thực, trở thành thành trì cuối cùng bảo tồn nhân tính khi mọi giá trị vật chất đều có thể tan biến vào dĩ vãng.

Bản chất khoa học của văn chương nằm ở khả năng lưu giữ và mã hóa những vỉa tầng văn hóa sâu sắc nhất. Mỗi tác phẩm lớn chính là một bản đồ tư duy, ghi lại cách mà một cộng đồng người phản ứng trước những biến động của lịch sử và những dằn vặt của nội tâm. Khi chúng ta tiếp cận với văn học, chúng ta không chỉ đọc những con chữ, mà đang giải mã bộ gene tư tưởng của nhân loại, hiểu về những khát vọng, những sai lầm và cả những lý tưởng đã định hình nên diện mạo của một dân tộc. Văn chương mang trong mình sức nặng của sự chất vấn vĩnh cửu: Chúng ta là ai giữa vũ trụ vô cùng này? Chúng ta đang đi về đâu trong tiến trình văn minh? Và quan trọng hơn cả, điều gì thực sự làm nên tính "người" trong mỗi chúng ta?

Sức mạnh của văn học chân chính không nằm ở khả năng sao chép hiện thực một cách máy móc. Nó vượt thoát khỏi những ranh giới của cái đang là để thực hiện thiên chức dự báo hiện thực. Thông qua việc phân tích những chuyển động vi mô của tâm lý và những mâu thuẫn âm ỉ trong lòng xã hội, nhà văn có khả năng nhìn thấu những viễn cảnh của tương lai. Văn chương dự báo về sự sụp đổ của các giá trị cũ và sự nảy mầm của những hệ giá trị mới. Nó cảnh báo về sự tha hóa, về sự lạnh lùng hóa giữa người với người và về những vực thẳm mà nhân loại có thể sa chân nếu đánh mất đi la bàn đạo đức. Chính vì vậy, đọc văn chương là một cách để chuẩn bị tâm thế đối diện với những biến thiên của thời cuộc bằng một nhãn quan duy lý và thấu suốt.

Khi trang sách cuối cùng khép lại, điều thực sự ở lại và ám ảnh độc giả chính là một "dư chấn tâm linh". Đó là một cơn rung chấn âm thầm nhưng quyết liệt, đánh vào những thành trì của sự định kiến và an phận, buộc chúng ta phải nhìn nhận lại chính mình. Văn học chân chính không cho phép con người được sống một cách hời hợt. Nó tạo ra một khoảng trống để tự vấn, một áp lực vô hình nhưng mạnh mẽ bắt ta phải sống khác đi, sống một cách có trách nhiệm và nhân bản hơn. Nếu một tác phẩm không thể tạo ra được dư chấn ấy, nó chỉ là một văn bản chết.

Trong một thế giới mà các giá trị vật chất đang được sùng bái và mọi thứ đều có thể được định giá, văn chương trở thành thành trì cuối cùng bảo vệ những giá trị không thể mua bằng tiền. Khi những tòa nhà chọc trời có thể sụp đổ, khi những nền kinh tế có thể tan rã vào hư không, thì những tư tưởng nhân văn được gửi gắm trong văn học vẫn sẽ tồn tại bền bỉ. Văn chương là nỗ lực bảo tồn nhân tính chống lại sự xâm thực của vô minh và tàn bạo. Nó lắng nghe tiếng thở dài của những người cùng khổ, bảo vệ những tâm hồn dễ bị tổn thương và duy trì sợi dây liên kết thiêng liêng giữa người với người.

Văn chương, suy cho cùng, là một lộ trình nhân văn mà nhân loại cần phải đi qua để không bị lạc lối trong bóng tối của sự thực dụng. Nhà văn, với tư cách là người thư ký của thời đại, phải gánh vác sứ mệnh giữ lại cho ánh lửa của lòng trắc ẩn trong nhân loại. Họ phải là những người dám chất vấn những định kiến, dám đối mặt với những sự thật nghiệt ngã để tìm ra ánh sáng của cái thiện. Chỉ khi văn học được viết nên bằng sự tận hiến và lòng trung thành với con người, nó mới có thể trở thành một điểm tựa vững chắc, giúp nhân loại vượt qua những cuộc khủng hoảng của hiện tại để hướng tới một tương lai rạng rỡ và nhân ái hơn. Văn chương không chỉ là một môn khoa học, nó là lẽ sống, là hơi thở và là bằng chứng xác thực nhất cho sự tồn tại cao đẹp của con người trong vũ trụ.
Thêm
66
0
0
Viết trả lời...
Trong dòng chảy của truyền thông và giáo dục hiện đại, chúng ta đã quá quen thuộc với những biểu tượng về ý chí sắt đá như nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký, thiên tài vật lý Stephen Hawking hay diễn giả Nick Vujicic. Những câu chuyện về sự vượt lên nghịch cảnh của họ luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất trong các bài giảng đạo đức và những trang văn nghị luận như một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh vô hạn của con người, bất chấp sự khiếm khuyết về vật chất. Tuy nhiên, đằng sau lớp vỏ bọc lấp lánh của sự ngưỡng mộ và những lời tán dương nồng nhiệt đó lại ẩn chứa một thực tại đáng trăn trở hơn nhiều. Đó là sự ra đời của khái niệm “supercrip”, một hình thái bạo lực biểu tượng nơi những người khuyết tật bị biến thành hàng hóa cảm xúc để phục vụ cho nhu cầu tinh thần của cộng đồng người bình thường.

Thuật ngữ “supercrip” không đơn thuần là một cách gọi mà là sự phản ánh một hệ tư tưởng lệch lạc về người khuyết tật. Khi chúng ta tôn sùng một cá nhân khuyết tật vì những thành tựu siêu phàm của họ, chúng ta vô tình tạo ra một dạng nội dung mà nhà hoạt động Stella Young gọi là inspiration porn. Đây là một sự ví von đầy đau đớn nhưng chính xác bởi lẽ cũng giống như các sản phẩm khiêu dâm sử dụng thân thể để thỏa mãn nhu cầu sinh lý, văn hóa phẩm truyền cảm hứng sử dụng khiếm khuyết của con người như một đạo cụ để kích thích cảm xúc và tạo ra sự thỏa mãn tự thân cho người xem. Người khuyết tật lúc này bị tước đoạt toàn bộ chiều sâu cá nhân để chỉ còn là những tấm gương sống, những công cụ giúp người không khuyết tật cảm thấy may mắn hơn với cuộc đời mình.

Hệ lụy của diễn ngôn này là vô cùng to lớn khi nó gieo rắc một thông điệp độc hại rằng nếu người khuyết tật có thể làm được thì người khỏe mạnh không có lý do gì để thất bại. Cách tư duy này đã giản tiện hóa mọi rào cản vật lý và tinh thần mà người khuyết tật phải đối mặt hàng ngày. Nó biến câu chuyện hòa nhập thành một vấn đề cá nhân thuần túy, nơi sự thành bại hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí. Điều này dẫn đến một nghịch lý cay đắng là nếu một người khuyết tật không thể đạt được những thành tựu rực rỡ, họ sẽ bị coi là thiếu nỗ lực hoặc lười biếng. Vô hình trung, chính cộng đồng khuyết tật lại cảm thấy tồi tệ và thấp kém hơn khi không thể soi mình vào cái khuôn mẫu siêu việt mà xã hội đã đúc sẵn.

Hình tượng supercrip thực chất là một sản phẩm của tư duy ableism, tức là niềm tin ngầm định rằng cơ thể khỏe mạnh mới là chuẩn mực lý tưởng duy nhất. Khi chúng ta ca ngợi một người khuyết tật vì họ có thể chạy bộ, viết lách hay làm việc như một người bình thường, chúng ta thực tế đang khẳng định rằng giá trị của họ chỉ tồn tại khi họ tiệm cận hoặc vượt qua các tiêu chuẩn của người khỏe mạnh. Điều này vô tình xóa bỏ quyền được khác biệt và buộc người khuyết tật phải tham gia vào một cuộc đua không cân sức để giành lấy sự công nhận.

Nguy hiểm hơn, việc tập trung quá mức vào những cá nhân kiệt xuất đã giúp xã hội và các thiết chế quyền lực rũ bỏ trách nhiệm đối với những thiếu hụt mang tính hệ thống. Khi một người ngồi xe lăn có thể vượt qua những bậc thang cao vút để vào giảng đường và được tung hô như một anh hùng, xã hội sẽ quên đi việc đặt câu hỏi tại sao tòa nhà đó lại không có đường dốc cho người khuyết tật. Những hình ảnh vượt khó ấy đã vô tình hợp thức hóa hạ tầng xã hội chỉ phục vụ cho nhóm ưu thế và biến việc thích nghi trở thành nghĩa vụ của riêng người khuyết tật thay vì là trách nhiệm của nhà nước trong việc cải thiện an sinh và giao thông công cộng.

Sự phản kháng của những người như Tiến sĩ Kevin Mintz chính là một dấu mốc quan trọng trong việc phá vỡ xiềng xích của hình tượng supercrip. Lời khẳng định rằng ông không muốn phải là một người khuyết tật phi thường mới có được sự tôn trọng đã chạm đến cốt lõi của vấn đề nhân quyền. Người khuyết tật không có nghĩa vụ phải truyền cảm hứng cho bất kỳ ai. Họ có quyền được mệt mỏi, quyền được thất bại và quyền được sống một cuộc đời bình lặng mà không cần phải mang trên mình chiếc mặt nạ anh hùng giả tạo.

Giải phóng cộng đồng khỏi nhãn dán supercrip không có nghĩa là phủ nhận những nỗ lực phi thường của các cá nhân tiêu biểu mà là trả lại cho họ quyền được tồn tại như một chủ thể độc lập. Chúng ta cần thay đổi cái nhìn từ việc tiêu thụ cảm xúc sang việc thấu hiểu thực chất những rào cản xã hội. Đã đến lúc chúng ta ngừng biến người khuyết tật thành những vật thể để ngắm nhìn và thay vào đó hãy kiến tạo một thế giới nơi những câu chuyện thành công của họ là chuyện bình thường chứ không phải là những ngoại lệ kỳ tích. Chỉ khi đó, sự công bằng và phẩm giá con người mới thực sự được hiện diện mà không cần thông qua bất kỳ sự lý tưởng hóa độc hại nào.
Thêm
65
0
0
Viết trả lời...
Bản chất của văn chương, ngay từ khởi thủy, đã luôn tồn tại như một tượng đài để yêu thương, nâng đỡ và bảo vệ con người trước những giông bão của đời sống. Văn chương cần tới nước mắt để nở rộ, bởi chỉ khi cắm rễ sâu vào mảnh đất của khổ đau và bất công, nó mới có thể lắng nghe được những rung động chân thành nhất của nhân loại. Một tác phẩm nghệ thuật đích thực phải là kết tinh của những huyết lệ, là nơi nhà văn dám ngụp lặn trong bể đời để thấu cảm, để dằn vặt và để khóc cùng những nỗi đau của chúng sinh.

Thiên chức chân chính của người cầm bút là trở thành người gom nhặt những mảnh vỡ của số phận. Nhà văn không thể đứng bên ngoài lề cuộc sống để quan sát một cách lạnh lùng, mà phải trực tiếp dấn thân vào những nơi khốn cùng nhất, nơi nước mắt đang đổ xuống vì những ngang trái của xã hội. Việc đứng về phe nước mắt không chỉ là một lựa chọn thái độ, mà là một yêu cầu sống còn đối với tư cách nghệ sĩ. Làm sao một nhà văn có thể ngoảnh mặt làm ngơ hay khước từ những tiếng kêu cứu thầm kín của những kiếp người nhỏ bé? Nếu trái tim người nghệ sĩ đã nguội lạnh và cửa sổ tâm hồn đã đóng kín trước nỗi đau của đồng loại, thì những dòng chữ viết ra sẽ chỉ là xác chữ vô hồn, không bao giờ có đủ sức mạnh để làm thổn thức triệu trái tim trong hàng triệu năm dài.

Sức mạnh của văn chương nằm ở khả năng đồng cảm và hòa nhập. Người nghệ sĩ phải sở hữu một tâm hồn giàu lòng trắc ẩn để có thể biến hóa những cảm xúc đời thường thành những cao trào mãnh liệt của nghệ thuật. Nhiệm vụ của họ không chỉ dừng lại ở việc lột tả hay bóc trần những thực trạng đày đọa con người, mà còn phải thâm nhập vào đối tượng bằng một trái tim ấm áp và rộng mở. Khi nhà văn hòa mình vào cuộc sống vĩ đại của nhân dân, họ không còn là những cá nhân cô độc, mà đã trở thành điểm tựa tinh thần cho nhân loại. Như cách An-đéc-xen đã lượm lặt những hạt thơ trên luống đất của người dân cày, ấp ủ chúng bằng nhịp đập của chính mình để gieo vào những túp lều rách nát, văn chương chân chính mang sứ mệnh an ủi và xoa dịu những trái tim cùng khổ, thắp lên niềm tin nơi bóng tối bủa vây.

Chính vì vậy, văn chương phải được viết nên từ huyết lệ. Nếu lệ nóng không tràn trề trong huyết quản và giàn giụa trên gương mặt nhà văn khi chứng kiến những cảnh đời bất hạnh, họ sẽ không bao giờ có thể thiết lập được sự kết nối linh thiêng với những người đang vật lộn trong bể khổ. Một tác phẩm có giá trị vị nhân sinh cao cả phải mang trong mình sức mạnh tố cáo sự độc ác của xã hội, đồng thời mở ra con đường giải thoát cho con người. Nước mắt trong văn chương không phải là biểu hiện của sự yếu đuối hay ủy mị, mà là minh chứng cho một nhân cách lớn, một trái tim biết đau nỗi đau của người khác như của chính mình.

Tóm lại, văn chương chỉ thực sự hoàn thành sứ mệnh khi nó trở thành tiếng nói của những người không có tiếng nói, là giọt nước mắt hòa chung với đại dương huyết lệ của nhân gian. Một nhà văn chân chính là người biết "sống đã rồi hãy viết", biết dùng ngòi bút của mình để bảo vệ phẩm giá con người giữa những biến động. Khi văn chương đứng về phe nước mắt, nó không chỉ phản ánh sự thật khốc liệt của đời sống, mà còn kiến tạo nên một thế giới của sự thấu cảm, nơi tình yêu thương và lòng trắc ẩn trở thành phương cách duy nhất để cứu rỗi và đưa nhân loại thoát khỏi những nỗi thống khổ triền miên.
Thêm
75
0
0
Viết trả lời...