Mạng xã hội Văn học trẻ

Có một câu chuyện rất thú vị được chép nguyên văn từ cuốn "Plato và con thú mỏ vịt bước vào quán bar..." như thế này:

Một bị cáo hầu tòa vì tội giết người. Các chứng cứ buộc tội anh ta trong vụ án đã rất rõ ràng nhưng không có xác chết. Kết thúc phần tranh biện của mình, vị luật sư bào chữa quyết định phải dùng mẹo. "Kính thưa quý bồi thẩm đoàn", ông ta nói, "Tôi có một điều ngạc nhiên dành cho tất cả các quý vị, trong vòng một phút, người bị cho rằng đã chết sẽ bước vào phòng xử án này".

Ông ta ngó ra cửa phòng xử án. Các vị hội thẩm sống suốt ham hở ngó ra. 1 phút trôi qua. Không có gì xảy ra. Cuối cùng luật sư nói: "Nói thật là tôi đã bị ra chuyện người chết sẽ bước vào. Nhưng tất cả quý vị đều nhìn ra cửa chờ. Vậy tôi có thể nói với các vị rằng trong vụ này có một nghi ngờ hợp lý, rằng có phải người đã bị giết hay không, do đó tôi phải yêu cầu các vị quay lại phán quyết người này vô tội".

Bồi thẩm đoàn giải lao để cân nhắc. Sau vài phút, họ trở lại và ra phán quyết "có tội". "Sao các vị có thể làm thế? Chắc chắn các vị đã nghi ngờ. Tôi thấy tất cả các vị đều nhìn chằm chằm ra cửa". Chủ tịch bồi thẩm đoàn trả lời: "Ồ, chúng tôi đã nhìn nhưng thân chủ của ông thì không".

Hãy thử nhìn lại cái mẹo mà vị luật sư sử dụng trong câu chuyện này, mẹo ấy rõ ràng tạo ra một hoài nghi cho tất cả những ai quan sát câu chuyện, đặc biệt là vị bồi thẩm đoàn. Khi tất cả đều cùng nhìn ra cửa, cùng tin rằng người bị cho là đã chết sẽ bước vào sau lời giới thiệu của vị luật sư thì có nghĩa là tất cả đều cùng hoài nghi: có chắc chắn nạn nhân đã bị giết hay không?

Thế nhưng, chính bằng sự quan sát và tư duy logic, hoài nghi trước giả thiết được vị luật sư đặt ra, các vị bồi thẩm đoàn đã phản bác giả thiết của vị luật sư một cách thuyết phục. Từ những sự kiện đụng chạm như thế mà bản chất của sự kiện dần được sáng tỏ. Khi những hoài nghi đối diện với hoài nghi, chúng ta sẽ thấy được những góc nhìn khác nhau về vấn đề, và khi đó là lúc chúng ta đặt câu hỏi liệu đâu mới là câu trả lời đúng.

Phải hoài nghi mới có thể tìm ra chân lý. Nếu không chúng ta sẽ dễ bị "hậu sự thật" và "sự thao túng tâm lý" đánh lừa.

- Các vị thần linh có thể sai sót không?
- Không. Vì họ là thần linh.
- Vậy khi hai vị thần tranh luận, sẽ có người đúng người sai phải không?
- Đúng rồi.
- Vậy tại sao lại bảo các vị thần không bao giờ sai?
Thêm
56
0
0
Viết trả lời...
Mùa thu là chất men ngọt dịu của tâm hồn thi nhân. Mùa thu cũng là mùa tình. Khác hẳn với mùa xuân, mùa thu mang sự xao xuyến của đất trời thả vào từng câu chữ. Thơ cũng là thu của lòng người, thu lại là thơ của đất trời. Trong bốn mùa, thơ ca thiên vị mùa thu hơn cả và mùa thu cũng ban tặng cho thi ca nhiều thi tứ hơn.


Xuân Diệu thường được mệnh danh là nhà thơ của mùa xuân, gắn với những Xuân Không Mùa, với những năm tháng tuổi trẻ trôi đi không trở lại. Thế nhưng như thế không có nghĩa là xuân diệu không dành một quan niệm riêng cho cái mùa của những bông cúc vàng ẩn dật này. Trong cảm quan của thi sĩ, thiên nhiên cũng như một giai nhân đầy nhan sắc. Thời kỳ rực rỡ hoàng kim là thuộc về mùa xuân, đến mùa thu cảnh vật đã bắt đầu bước vào mùa tàn phai. Nhưng đối với Xuân Diệu, thì ngay trong đội tàn phai giai nhân ấy vẫn cứ kiêu sa, lộng lẫy. Đang mùa thu tới có lẽ là thực phẩm được nảy sinh trực tiếp từ cảm quan ấy.


Đây mùa thu tới mang một cảm hứng rất Xuân Diệu, nghiêng về thời gian. Cũng như cái tên của nó, bài thơ đã chọn một thời điểm riêng để đến với mùa thu. Đó là thời khắc giao mùa, là khi vận vật chuyển giao giữa sắc hè nối giữa mùa thu và cuối cùng là chớm Đông. Chỉ cần làm một so sánh nhỏ với chùm thơ Thu của Nguyễn Khuyến sẽ thấy rõ hơn cảm ứng này của Xuân Diệu. Nhà thơ đi tìm kiếm những gì là đặc biệt nhất thì vẽ đến bức tranh Thu. Thơ của Xuân Diệu trừ lúc mùa thu từ phương xa về, đáp xuống xứ sở này nhẹ như bỗng, chiếm lấy toàn bộ thiên nhiên, cỏ cây.


Trong cái thế giới riêng của bài thơ, cảnh vật mang vẻ đìu hiu, xao xuyến nhưng không đánh mất đi sự sống của mình. Vạn vật trong sắc thu vẫn chuyển mình, lay động. Cây cỏ vẫn thướt tha, quyến rũ và khiến cho mùa thu vừa man mác buồn vừa mang một hình thái riêng. Có thể nói mùa thu trong đấy mùa thu tới là một sắc thu mang phong cách của Xuân Diệu. Tôi chưa từng được trực tiếp nhìn ngắm mùa thu thông qua cảnh vật. Mùa thu đến đối với tôi chỉ qua những lời nhận xét, những câu kể của những người xung quanh, rằng thu thì sẽ có hoa cúc, có heo may, có bầu trời dịu dàng và đằm thắm. Tôi đã từng tưởng tượng về mùa thu của riêng mình trong rất nhiều những bài thơ về mùa thu khác. Mùa thu trong mỗi sáng tác của các nhà thơ đều mang một hình thái rất riêng, đến thơ của Xuân Diệu lại càng là một hình thái rất đặc biệt. Xuân Diệu có tài làm cho những gì của mình biết không trùng lặp với ai. Ngay cả khi ông chọn đề tài mùa thu, một đề tài đã quá quen thuộc với các thi nhân, nhưng đố ai dám nói rằng mùa thu của Xuân Diệu quen thuộc và đã gặp ở đâu đó.
Thêm
56
0
0
Viết trả lời...
Tết năm nay lại về trên mái hiên của ông ở ngõ Hàng Bông, vẫn là những cái Tết quây quần sum họp nhưng năm nay chỉ khác là bà đã không còn ăn tết cùng con cháu.

Đây là năm đầu tiên ông ăn tết một mình. Cứ những ngày giáp Tết như thế này, tôi thấy ông thường ra ngoài từ sớm đi dạo chợ Tết. Mới từ những ngày 23, 24, trên những con phố nhỏ của ngõ hàng Bông đã tất bật sửa soạn đón Tết. Có một mùa tết rất nhỏ diễn ra trên con phố này. Dường như những con người của phố hàng Bông và những con người lao động tứ xứ đều chờ đợi năm hết Tết đến, chờ những bông đào hồng nở rộ, chờ những ngày mai vàng tươi chở vào từ Phương Nam. Những năm trước, ông bà tôi thường cùng nhau đi dạo chợ Tết. Nhưng năm nay ông chỉ có một mình. Nhìn dáng Ông gầy gò khoằm khoặm liêu xiêu trước gió, tôi chảy nước mắt, lo sợ một ngày ông cũng theo bà đi mất.

Chiều trời lại trở mưa. Mưa rả rích trên mái tôn của ngôi nhà cổ. Ông bắc chiếc ghế gỗ ra ngồi trước hiên, trầm lặng ngắm mưa rơi. Có lúc tôi đến ngồi cạnh ông mà ông cũng chẳng biết. Ông cười hiền bảo tôi:

- Mưa rơi là lộc trời đấy. Chắc năm nay bà vẫn còn ở đây ăn tết với ông.

Nói rồi ông đưa bàn tay gân guốc và nhăn nheo đón lấy một hạt mưa rơi trong tay, nâng niu nó như lộc xuân của trời. Mưa của năm nay rất khác với những năm trước. Những năm trước mưa to, gia đình tôi phải mặc áo mưa đi chơi tết. Năm nay Tết vắng bà, mưa dịu dàng, mưa rải rích, mưa quyến luyến và yêu thương tựa như hình ảnh bà đã ở lại bên chúng tôi.

Từ ngày bà theo mưa đi, bất cứ cơn mưa nào cũng gợi nhắc cho chúng tôi về bà. Mỗi lần mưa rơi hãy thấy bà đang ở lại bên tôi, đang xoa xoa bàn tay nóng ấm của ông, đang quàng khăn lên cổ cho tôi. Và tôi nhận ra rằng, những người xung quanh tôi dù ở bất cứ phương trời nào, trong bất cứ hình dáng nào cũng đều luôn ở bên cạnh chúng
ta.
Thêm
81
0
0
Viết trả lời...
[SIZE=5]Nhà thơ Mộc[/SIZE] Tâm đã từng nói: “Bạn tin quá nhiều vì bạn biết quá ít”. Nhận thức của chúng ta thường bị giới hạn bởi kinh nghiệm và kiến thức. Do vậy chúng ta luôn dễ dàng tin người khác và không có sự kiểm chứng thông tin.

Trong thế giới rộng lớn mà chúng ta đang sống, những điều kỳ diệu cùng tồn tại với những điều bình thường, những điều khả tri và bất khả tri đan xen vào nhau. Những điều bạn chưa từng thấy, chưa từng nghe ai chưa từng trải qua không có nghĩa là chúng không tồn tại, mà chỉ có thể là chúng tồn tại ở những góc khuất mà bạn chưa chạm tới.

Thế giới giống như một chiếc thùng chứa khổng lồ, bào chứa hàng nghìn khả năng và sự khác biệt. Nhiều cá tính riêng sẽ tạo nên một tập thể chung. Và rất nhiều cá tính riêng đó sẽ tạo nên sự giàu có, phong phú trong một tập thể chứ không phải là một gánh nặng. Sự tồn tại của nó trong xã hội không chỉ chứa đựng sự rộng lớn, mà còn đồng thời chứa đựng sự phức tạp. Những người mà chúng ta thường ngưỡng mộ nhất trên thế giới này điểm chung là họ đều luôn “đạt đến chính mình". Hãy thử nhìn mà xem, những người mà chúng ta ngưỡng mộ hầu hết đều mang một đặc điểm, sở trường hay thành tựu nào đó khiến cho chúng ta cảm thấy xúc động và ngưỡng mộ. Để chúng ta có thể trở thành một phiên bản hoàn hảo hơn của chính mình, chúng ta cần phải luôn mở rộng biên độ góc nhìn để nhìn thấy cuộc sống của những chiều kích khác nhau, không vội vàng đóng khuôn góc nhìn của mình trong những định kiến cổ kính.

Cho dù số phận của chúng ta có như thế nào đi chăng nữa, trái tim của chúng ta vẫn luôn cần được mở rộng. Thế giới không ngừng thay đổi, khoa học không ngừng phát triển đưa con người tới những tầng sống mới. Và thời đại thì luôn không chờ đợi con người, con người phải đuổi theo thời đại. Nếu như con người không có khả năng đuổi theo thời đại thì chắc chắn sẽ bị thời đại bỏ lại phía sau. Những ý tưởng mới, khái niệm mới và công nghệ mới xuất hiện không ngừng, tác động đến nhận thức và mở rộng tầm nhìn của chúng ta. Đã không còn là thời đại của việc trăn trở xem việc sử dụng công nghệ có còn đúng hay không, đây là thời đại mà chúng ta phải chấp nhận rằng chúng ta có thể sẽ bị công nghệ thay thế. Việc mở rộng góc nhìn đó khiến chúng ta hiểu được tầm quan trọng của việc tái khẳng định mình trong một xã hội đang ngày càng phát triển.

Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể tìm thấy được vị trí và hướng đi của riêng mình trong một thế giới luôn thay

[SIZE=5]đổi.[/SIZE]
Thêm
56
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta là những vận động viên trong cuộc hành trình chạy thoát khỏi những lời chỉ trích. Chẳng biết từ khi nào, chúng ta cứ chạy vòng vòng trong thế giới của người khác, đắm chìm trong những suy nghĩ và quan điểm rất cá nhân của họ để làm cho mình bị tổn thương. Chúng ta xấu tính và ích kỷ với chính bản thân mình. Một trong những điều bất công nhất mà ta đối xử với bản thân là quá quan tâm đến những nhận xét tiêu cực của người khác, rồi trở nên khắt khe và tự dày vò tâm hồn mình. Sự công kích hay chê bai khiến bạn cảm thấy mình thất bại, muốn trốn tránh cảm giác đau lòng và xấu hổ ấy, tránh lấy tất cả mọi thứ liên quan đến bản thân mình và thậm chí là dần từ bỏ chính mình.


Ta đã từng vô lo vô nghĩ về vẻ bề ngoài, cho đến khi nhận được những lời nhận xét không hay ho về vẻ ngoài của mình. Ta đã từng vô lo vô nghĩ, cho rằng cuộc đời sẽ thật hồn nhiên và mình cũng sẽ thật bao dung với cuộc đời. Thế nhưng càng trải nghiệm bạn sẽ càng nhận ra mọi thứ không đơn giản như thế. Dù biết rằng bản thân không sai, nhưng ta vẫn e dè, thu mình lại, không còn dám thể hiện bản thân mình nữa. Đó là lúc chúng ta đang chối bỏ một phần của cơ thể mình.


Rất nhiều lần những đánh giá tiêu cực khiến bạn tổn thương và nghi ngờ chính mình, thậm chí khiến bạn đánh mất niềm tin vào bản thân. Thế nhưng bạn vẫn không thể khước từ chuyên chế của nó, vẫn không ngừng chịu sự giày vò của nó. Thời gian đầu bạn cảm thấy rất ngạc nhiên, sau đó cảm thấy tồi tệ và thất vọng về bản thân. Những lời chê bai cứ chạy qua chạy lại trong đầu khiến bạn cảm thấy mất tự tin, đau lòng và khổ sở. Bạn cảm thấy mình không đáng sống, không có ý nghĩa gì trên cuộc đời này. Bạn dễ dàng bị ảnh hưởng bởi mọi lời lẽ mà người khác nhận xét về mình bởi vì bạn hoàn toàn thiếu niềm tin ở bản thân.


Bạn thường không quan tâm đến những lời khen ngợi tích cực về mình, cho rằng đó là những lời dối trá và nịnh nọt. Vậy tại sao bạn lại dễ dàng tin vào một lời chê bai trong khi bạn chưa hề kiểm chứng được tính đúng đắn của nó? Những nhận xét tích cực có thể nhẹ nhàng trôi qua như gió thoảng mây bay, nhưng một lời chỉ trích tiêu cực có thể ghi lại trong đầu chúng ta suốt nhiều ngày liền, khoá chặt tâm trí ta trong những lời nói tiêu cực. Nó khiến chúng ta không thể vực dậy và sống là chính mình. Phê bình là một hình thức đánh giá từ xã hội, nhưng con người luôn tin vào xã hội và những mối quan hệ xung quanh mình. Bởi vậy họ thực sự rất nhạy cảm trong những lời đánh giá. Dù bị phán xét trực tiếp hay gián tiếp, tâm lý của chúng ta cũng luôn bị ảnh hưởng, luôn phải tự soi chiếu lại bản thân để cân nhắc xem đánh giá đó có đúng hay không. Nhưng rồi chúng ta đã thực sự cân nhắc hay chưa, khi mà ta vẫn suy tư và trăn trở về bản thân không hoàn hảo của mình?
Thêm
47
0
0
Viết trả lời...
Thực sự thì tôi rất mệt.

Nhưng tôi lại không thể nói với ai về điều đó.

Trên đời này thực sự có những ngôn từ ngắn gọn mà chứa đầy gánh nặng, luôn đẩy người ta lên bục Anh Hùng. Đó là “đừng Khóc" và “cố lên". Mỗi ngày trên con đường của mình, chúng ta phải bước đi và ngẩng cao đầu. Dù cho có đớn đau và trầy xước, tao cũng phải học cách lừa đi cảm xúc của mình và bước tiếp không được dừng lại một phút giây nào. Phải chạy thật nhanh lên về phía trước, bởi vì ta tin rằng nếu như dừng lại thì sẽ chỉ nhận được những cái nhìn săm soi và thất vọng của xã hội.

Đôi khi chúng ta chỉ có thể giả vờ mỉm cười, giấu đi nước mắt và tiến về phía trước trong im lặng. Chẳng ai biết chúng ta đã trải qua những nỗi đau nào, đã bật khóc giữa đêm hay đã suy sụp đổ vỡ ra sao. Thứ mọi người thực sự nhìn thấy chỉ là chiếc mặt nạ cười. Không ai biết thực ra cả tôi và bạn đều không mạnh mẽ như vẻ bề ngoài. Nhưng đôi khi thật sự để từ bỏ mọi thứ lại không dễ.

Có những thời điểm chúng ta tin là càng quen biết nhiều, số lượng người quen biết càng đông đảo thì càng hạnh phúc và có lợi cho cuộc sống. Tuy nhiên chính những mối quan hệ đó đôi khi lại khiến chúng ta cảm thấy mệt mỏi, tù túng và bí bách. Có những mối quan hệ hời hợt chỉ tồn tại khi bạn đang trên đỉnh cao, lúc bạn gặp vấn đề khó khăn thì bọn họ sẽ biến mất, thậm chí là quay lại cười nhạo hoặc đâm dao vào bạn. Có những người luôn tỏ ra là bạn bè tốt, nhưng khi bạn vấp ngã, đó sẽ là cơ hội để họ cười nhạo và ném đá tới tấp để bạn không thể đứng dậy được nữa.

Bởi vì chỉ sống trong thế giới mà mình biết, nắm giữ những tiêu chuẩn của riêng mình và so đo với thế giới một cách đố kỵ, họ không tôn trọng bạn và cũng sẽ chẳng để cho bạn yên. Cảm xúc và lòng tự tôn của bạn sẽ dần bị phá hủy khi ở bên cạnh những người này. Bởi vậy một lối đi cho người trẻ trong thời đại xã hội mới, thành tích bị đặt nặng và sẵn sàng luôn có những người đè nén bạn xuống để trở nên giỏi giang hơn, bạn cần phải viết lựa chọn một nền văn hóa phù hợp với mình. Những mối quan hệ không xứng đáng đôi khi sẽ khiến cho bạn cảm thấy thật mệt mỏi. Vậy thì hãy tìm đến những người khiến cho bạn cảm giác được chữa lành, được an ủi, được yêu thương và có khả năng chia sẻ những câu chuyện sâu bên trong trái tim
mình.
Thêm
50
0
0
Viết trả lời...
Càng trưởng thành, mình nhận ra cuộc đời càng phức tạp hơn mình nghĩ. Mình đã tưởng rằng, chỉ cần mình yêu đời thì cuộc đời cũng sẽ đáp trả lại mình bằng tình yêu như thế. Nhưng mình nhận ra, cuộc sống phức tạp, thế giới người lớn cũng chìm sâu trong những chộn rộn, xích mích mà bản thân mình không thể hóa giải. Liệu mình có thể yêu cuộc đời một cách hồn hậu nhất không, yêu cuộc đời mà không phải trăn trở về việc mình sẽ trao đi tình yêu bao nhiêu và sẽ nhận lại gì.

Khi mình trưởng thành, mình nhận ra tình yêu của mình là thứ để người khác lợi dụng. Họ không thật lòng trân trọng tình cảm của mình, chị thấy rằng con bé này dễ lừa nhỉ. Và thế là họ có rẻ những tình cảm mà mình đã dành cho họ, dù trên vị trí của một người rất quan trọng đối với mình. Tình yêu đối với mình không đắt. Mình sẵn sàng hi sinh tất cả, làm tất cả mọi thứ tốt đẹp nhất để dành cho những người xung quanh, để họ cảm thấy mình luôn ở bên cạnh họ. Nhưng mình thấy buồn và thấy thất vọng trước những con người mà mình đã lựa chọn tin tưởng để gửi gắm. Mình không nghĩ rằng tình cảm của mình lại là thứ rẻ bèo để họ lợi dụng, chơi đùa trên những cảm xúc thật của mình. Sau này trưởng thành hơn, mình sẽ e ngại về việc có nên cho đi tình cảm hay không, việc yêu một ai đó cũng sẽ trở nên rụt rẻ hơn với mình. Khi đó tình cảm trao đi sẽ không thật lòng, sẽ phải cân đo đong đếm, sẽ phải nghĩ suy và trăn trở mình có nên trao đi hay không.

Khi mình trưởng thành, mình nhận ra đôi khi tình yêu của mình khiến cho người khác cảm thấy phiền toái. Mình luôn nghĩ rằng mọi sự trao đi đều có ý nghĩa và điều khiến cho người khác cảm thấy hạnh phúc. Nhưng có lẽ cách mình thể hiện tình cảm đã khiến cho họ cảm thấy phiền phức, thấy mình chỉ là một con bé đáng thương tích gieo đi những tình cảm chân thành. Họ dần dần xa cách mình hơn, né tránh mình mỗi khi mình muốn gần họ, chỉ vì mình thấy yêu họ rất nhiều. Họ có hiểu cho tình cảm của mình hay không, hay nghĩ rằng đó là thứ tình cảm phiền toái? Hai con người từng yêu thương nhau rồi cũng vì thế mà trở nên xa lạ hơn. Giữa mình và những con người đó chỉ là những mối quan hệ xã giao, không còn chút gắn kết nào chỉ vì hai chữ phiền toái. Và điều mà mình học được đó là không phải tình cảm nào trao đi cũng có ý nghĩa. Chúng ta không có quyền ép người khác phải nhận tình cảm, người khác cũng không có trách nhiệm phải nhận tình cảm đó một cách chân thành.

Khi mình lớn hơn, mình nhận ra mình phải trưởng thành hơn rất nhiều. Mình không thể yêu đời một cách hồn nhiên như thế này được nữa. Đúng như nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã từng nói: “đời này ai có thể hồn nhiên như mây trời? Phải đánh đổi và trả giá". Điều đó có nghĩa là vấn đề còn lại sau này của mình sẽ không thể nào ngây thơ được nữa. Mình không thể trao đi tình yêu một cách trong trắng, tự do, trao đi hết mình mà không ngần ngại sự nhận lại nữa. Mình cũng biết sống sâu sắc hơn, không còn ngây thơ và bé dại như ngày nào nữa. Cuộc sống này đang sống nhưng không dễ dàng cho những cư dân ngụp lặn trong lòng nó. Cuộc sống là thiên đường cho những kẻ biết hiểu nó chứ không phải là mù quáng tin vào nó để rồi mãi mãi ngây thơ sống trong những niềm tin cố hữu của mình. Từ ngày mai mình sẽ bắt đầu trở thành người lớn, sống một cuộc đời của người lớn, bắt đầu suy tư như người lớn, biết trăn trở và thấu hiểu nhiều hơn, không còn bé dại như thế này được mãi. Mình mong những cô bé cậu bé của tương lai sau này cũng hãy thật mạnh mẽ để đối đầu với thế giới, để nhận ra “Cuộc sống sinh ra không phải để sợ mà để hiểu” (Marie Curi
e).
Thêm
45
0
0
Viết trả lời...
Con người không thể sống mà thiếu đi một ước mơ. Ước mơ là ngọn lửa soi đường, là động lực để ta bước đi qua những ngày dài đầy thử thách. Bởi vậy, “Con người cần có mình một ước mơ. Nếu trong tim không có chốn dừng chân thì đi đến đâu cũng là lạc lối”. Đó như một lời nhắc nhở về giá trị cốt lõi của ước mơ trong cuộc sống, đặc biệt đối với những người trẻ đang đi tìm con đường cho chính mình.

Ước mơ không phải chỉ là một khát khao xa vời, mà là một điều gì đó có thể thực hiện được, là điểm dừng chân để ta có thể nhìn thấy con đường phía trước. Có thể, ước mơ của mỗi người khác nhau, nhưng chung quy lại, tất cả đều bắt nguồn từ một mong muốn vượt lên chính mình và sống một cuộc đời có ý nghĩa. Nếu không có ước mơ, ta sẽ chỉ sống theo cách mà người khác mong muốn, hoặc theo lối mòn mà xã hội đã vạch ra. Khi đó, cuộc sống chỉ còn là sự tồn tại mà không có mục đích, và một ngày nào đó ta sẽ nhận ra rằng mình đã lãng phí thời gian quý báu vào những điều vô nghĩa. Nhưng nếu có một ước mơ, dù là nhỏ bé hay lớn lao, ta sẽ có một hướng đi, một lý do để thức dậy mỗi sáng, để cố gắng, để không bao giờ từ bỏ.

Trong những lúc khó khăn, ước mơ chính là nguồn sức mạnh không thể thiếu. Con người ta không thể tránh khỏi những thử thách, những thất bại. Chắc hẳn không ít lần, ta cảm thấy mệt mỏi, chán nản và muốn buông xuôi tất cả. Nhưng chính trong những thời điểm đó, ước mơ lại là thứ kéo ta trở lại, là lý do khiến ta đứng lên sau mỗi lần vấp ngã. Những người thành công nhất trong xã hội cũng đã từng trải qua không ít thất bại, nhưng họ không bỏ cuộc, bởi họ biết rằng ước mơ của mình sẽ giúp họ vượt qua được tất cả. Một trong những ví dụ điển hình là Thomas Edison, người sáng chế ra bóng đèn điện. Ông đã thất bại hàng ngàn lần trước khi thành công, nhưng chính ước mơ mang lại ánh sáng cho cả thế giới đã tiếp thêm sức mạnh cho ông không từ bỏ. Nếu không có ước mơ ấy, có lẽ nhân loại sẽ vẫn phải sống trong bóng tối.

Vậy thì, tại sao lại có những người không có ước mơ, hoặc có nhưng lại không thể thực hiện được nó? Câu trả lời có lẽ nằm ở sự thiếu định hướng, thiếu niềm tin vào khả năng của bản thân. Nhiều người trong chúng ta, đặc biệt là giới trẻ, có thể cảm thấy mông lung trước những lựa chọn trong cuộc sống. Có thể ta cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi phải đưa ra quyết định quan trọng, hoặc đơn giản là ta không biết mình thật sự muốn gì. Khi không có ước mơ, ta dễ dàng bị cuốn vào guồng quay của cuộc sống mà không biết mình đang đi đâu, vì sao mình lại làm những việc mình đang làm. Chính sự thiếu mục đích ấy khiến con người dễ rơi vào trạng thái lạc lối, mệt mỏi, mất phương hướng. Một cuộc đời thiếu ước mơ là một cuộc đời dễ bị quên lãng, dễ bị nhấn chìm trong những ngày tháng vô vị.

Chúng ta thường nghe người ta bảo nhau “hãy sống hết mình”, nhưng sống hết mình là gì nếu không phải là sống với một ước mơ, một khát khao cháy bỏng? Một cuộc đời không có mục đích sẽ trôi qua một cách vô nghĩa, và chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được sức mạnh của chính mình. Còn nếu có ước mơ, dù là một điều gì đó nhỏ nhoi, ta sẽ có một lý do để không ngừng phấn đấu, một lý do để vượt qua những cám dỗ của cuộc sống. Như vậy, ước mơ không chỉ là điều giúp ta đi qua những ngày tháng khó khăn mà còn là điểm tựa vững chắc, là kim chỉ nam để chúng ta không bị lạc lối trên con đường dài của cuộc đời.

Mỗi người đều có quyền ước mơ, nhưng không phải ai cũng đủ dũng cảm để theo đuổi nó. Đôi khi, xã hội hay những người xung quanh có thể khiến ta cảm thấy nghi ngờ về chính mình, về ước mơ của mình. Nhưng đừng bao giờ quên rằng, ước mơ của mỗi người là sự phản ánh của bản thân họ, của những gì họ khao khát và mong muốn đạt được trong cuộc đời này. Dù có thể sẽ có lúc chúng ta cảm thấy đơn độc trong hành trình theo đuổi ước mơ, nhưng chính ước mơ sẽ là thứ đồng hành cùng ta, giúp ta tìm thấy động lực khi mọi thứ xung quanh dường như sụp đổ. Nếu một người không có ước mơ, họ sẽ như một chiếc thuyền không có la bàn, không biết phải đi về đâu.

Nó không chỉ là khát vọng, là mục tiêu mà còn là điểm tựa tinh thần giúp chúng ta vượt qua những giai đoạn khó khăn, bế tắc trong cuộc sống. Mỗi con người, dù trong hoàn cảnh nào, cũng cần có một lý tưởng, một mục tiêu sống để không rơi vào sự mông lung, lạc lối. Việc có ước mơ giúp con người cảm thấy mình có ý nghĩa, có một hướng đi rõ ràng. Không có ước mơ, con người sẽ dễ dàng bị cuốn vào vòng quay của cuộc sống mà không biết mình đang đi đâu và vì sao phải đi. Ước mơ không phải lúc nào cũng dễ dàng đạt được, và con đường đi đến ước mơ chắc chắn sẽ không bằng phẳng. Nhưng chính những gian nan đó lại tạo nên giá trị của ước mơ. Khi ta cố gắng hết mình để thực hiện điều gì đó, ta sẽ nhận ra rằng chính hành trình ấy mới là điều quan trọng nhất, chứ không phải là đích đến. Mỗi bước đi dù nhỏ bé, mỗi thất bại dù đau đớn, đều là những bài học quý giá giúp ta trưởng thành hơn.

Ước mơ không phải là điều gì đó xa vời mà là một phần trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Nó có thể là một công việc mà ta đam mê, một mục tiêu lớn lao mà ta mong muốn đạt được, hay đơn giản là một điều gì đó có thể mang lại niềm vui và hạnh phúc. Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ, vì đó chính là lý do khiến ta vẫn tiếp tục bước đi, dù cho đôi lúc con đường có vẻ mờ mịt. Hãy để ước mơ dẫn lối, để nó là nguồn động lực giúp ta vượt qua mọi thử thách, và hơn hết, để cuộc sống của ta luôn tràn đầy ý nghĩa. Hãy nhìn vào những câu chuyện thành công của những người nổi tiếng như Steve Jobs, Bill Gates hay những người hùng trong lịch sử. Họ đều có một ước mơ cháy bỏng, và chính ước mơ đó đã giúp họ vượt qua mọi gian khó, chiến thắng mọi thử thách. Steve Jobs, người sáng lập Apple, luôn nói rằng: "Bạn không thể liên kết các chấm trong cuộc đời cho đến khi bạn nhìn lại." Điều đó có nghĩa là, ông đã theo đuổi ước mơ sáng tạo và không từ bỏ khi gặp khó khăn, cho dù Apple đã phải trải qua nhiều lần thất bại. Chính vì sự kiên trì với ước mơ, ông đã đưa Apple trở thành một trong những công ty công nghệ hàng đầu thế giới.

Vì vậy, dù bạn là ai, dù đang ở đâu, hãy tìm cho mình một ước mơ và sống trọn vẹn với nó. Vì nếu trong tim không có chốn dừng chân, thì đi đến đâu cũng chỉ là lạc lối. Hãy để ước mơ là điểm tựa để bạn vững vàng đi tiếp trên con đường dài phía trước. Nếu không dám ước mơ, cuộc đời sẽ vì vậy mà không đáng sống. Chẳng ai đánh thuế giấc mơ, vì vậy chẳng ai ngăn cấm khi ta chìm đắm trong giấc mơ riêng của mình. Đời ngắn lắm, tuổi trẻ còn dài, hãy cứ đi và mơ...
Thêm
82
0
0
Viết trả lời...
Chủ đề chọn môn học xuất hiện giữa bố mẹ và tôi trong bữa cơm tối hôm nay. Bố khuyên tôi nên theo học môn toán để có nền tảng chắc chắn cho tương lai. Mẹ khuyên tôi nên chọn ngoại ngữ, xã hội bây giờ ai cũng cần tiếng anh cả, có ngoại ngữ sau này cũng dễ tìm việc hơn. Chủ đề này xuất hiện khiến tôi càng lúc càng băn khoăn trăn trở, bởi lẽ chưa có ai từng khuyên tôi rằng hãy đi theo con đường học văn.

Dù tôi đã từng thực chiến ở rất nhiều sân chơi môn Ngữ Văn, xem môn văn như là đam mê và nhiệt huyết của mình, nhưng dường như quyết định của tôi vẫn không được mọi người chấp thuận. Người lớn thường khuyên tôi rằng, theo văn làm gì, sau này khó có tương lai lắm. Những bạn trẻ đồng trang lứa với tôi bảo rằng, học văn khô khan lắm, bịa mấy chữ cũng thành văn. Đó là lúc tôi thấy mình cần phải khẳng định tiếng nói cá nhân, khẳng định niềm tin vào quan điểm của những người trẻ như tôi vào vai trò của môn ngữ văn trong xã hội hiện đại. Tôi luôn tin rằng xã hội càng hiện đại, con người càng cần xem việc học văn như một la bàn đạo đức dẫn đường chỉ lối.

Việc học văn góp phần định hình và phát triển nhân cách của con người. Khi con người được giáo dục trong môi trường nhân văn, con người cũng sẽ trở nên nhân văn. Vị trí của môn Ngữ Văn đứng ngang tầm với các môn học mang tính ứng dụng cao khác như toán, tiếng Anh, tin học… Việc văn học được xem như một môn học bắt buộc trên các trường học phổ thông là hoàn toàn có lý do. Việc này sẽ giúp chúng ta định hình được hệ ý thức và bản sắc cá nhân. Thông qua việc đọc hiểu, tiếp nhận và thấm sâu từng ý nghĩa của các tác phẩm trong sách giáo khoa, cùng với việc đọc thêm các tài liệu từ nhà trường, các học sinh có thể được rèn luyện đạo đức, hình thành lối sống và kỹ năng sống để không bị lạc lối trước xã hội hiện đại. Khi xã hội đòi hỏi con người phải trở nên nhân văn hơn, xã hội không thể bắt người trẻ chỉ được học các môn học nghiên cứu như toán học hay tin học. Môn văn là một nền tảng cần thiết cho bất kỳ học sinh nào để định hình ý thức hệ, nhân cách đạo đức của riêng mình.

Cũng như bất cứ môn học nào khác, nếu học sinh có nền tảng tốt, việc học văn cũng có thể đem lại những cơ hội việc làm tốt. Các học sinh trong các trường trung học phổ thông chuyên Văn được đào tạo chuyên sâu về kiến thức ngữ văn, kỹ năng xử lý đề bài và kỹ năng tư duy thuần thục. Do đó, các học sinh được các trường đào tạo chuyên văn thường có cơ hội rộng mở hơn trong tương lai trong các ngành nghề như sư phạm, ngoại giao, kinh tế… Ngay cả trong lĩnh vực kinh tế, một lĩnh vực liên quan nhiều đến toán học và tin học, nếu như học sinh không có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý tình huống và nhận diện vấn đề được rèn luyện từ trong môn Ngữ Văn thì học sinh đó sẽ không thể thành công với vai trò kinh doanh của mình. Xã hội luôn mở rộng cơ hội với những bạn trẻ biết đào sâu, biết tìm tòi. Và do đó, không chỉ có những học sinh học giỏi những môn học mang tính ứng dụng cao, những bạn trẻ học giỏi văn và biết cách vận dụng Ngữ văn vào cuộc sống cũng có khả năng tìm được những tiềm năng công việc t
ốt.
Thêm
44
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta nên hiểu “sống” ở đây theo nghĩa rộng. “Sống” không chỉ mang nghĩa sinh học, không chỉ là sự tồn tại. Hơn nữa, nói một cách chính xác, chúng ta đang nói đến “sống” là tổng hoà tất cả những hoạt động của con người với tư cách xã hội, là con người xã hội. Sự sống ấy gắn liền với những giá trị người vì chỉ con người mới có kết cấu xã hội. Con người không chỉ tồn tại mà còn “sống”, không chỉ có phần “con” mà còn mang tư cách “Người”.

Sự sống của muôn loài chỉ nhằm mục đích duy trì và phát triển nòi giống, sự tiến hoá, sự sống của con người còn là vì chính mình, vì những lí tưởng cao cả. Chúng ta có ý thức về bản thân, về lẽ sống, về giá trị cuộc đời của riêng mình. Nhưng nhất là chính ta hiểu rằng mình là một cá thể độc đáo duy nhất trong vũ trụ. Toàn nhân loại không có một con người thứ hai giống hệt ta. Vậy nếu như sự duy nhất ấy bị hoà tan đi thì ta còn ý nghĩa gì nữa?

Bất kể ai có ý thức sống đều muốn vươn lên những cái đẹp, cái thiện cao hơn, vươn lên trở thành Con Người viết hoa. Mỗi người có một lối sống khác nhau, tuỳ theo mơ ước, khát vọng của riêng mình. Cá nhân tôi cho rằng, sống đẹp là chưa đủ, con người cần phải sống “toả sáng”. Cố nhiên sống đẹp thì mới có thể “toả sáng” nhưng “toả sáng” còn là sự khẳng định mình, làm cho mình không bị quên lãng trong kí ức của mọi người. Trái ngược với sáng là tối. Cuộc đời như đêm tối thì không ai thấy, do vậy mà không ai nhớ. Con người không chỉ cần “đẹp” mà còn là “đẹp theo một cách riêng”.




Nói “toả sáng” là một cách diễn đạt rất giàu hình ảnh. Sự sống của ta có thể “toả sáng” được chắc chắn phải có những phẩm chất. Đó là những nét đẹp được cả cộng đồng thừa nhận và khuyến khích. Nói một cách cụ thể, trước khi muốn “toả sáng” thì phải “sống cho ra người”. Không thể là một nhân cách lệch lạc, một đạo đức khuyết, một trí tuệ không đầy đủ. Con người trước khi vươn tới cái đẹp, thì cần phải sống – như GS. Hoàng Ngọc Hiến nói – cho “hẳn hoi”. “Hẳn hoi” là một từ rất Việt, khó có thể tìm một từ nào trong ngôn ngữ khác có ý nghĩa thật gần với nó. Nhưng “hẳn hoi” không hề khó hiểu. Sống cho “hẳn hoi” chính là nền tảng cho sống “toả sáng”. Bản thân sống hẳn hoi cũng có ánh sáng của nó, đó là ánh sáng của cốt cách vững vàng, của một con người tuy không nổi trội nhưng “đẹp, đẹp hài hoà, đẹp cân xứng”. Có rất nhiều người không hiểu do vô tình hay cố ý mà không sống “hẳn hoi” được: kẻ thì quá đề cao vật chất, sống không biết đến sự di dưỡng tinh thần, người thì sống ảo tưởng, lấy điểm tựa siêu hình để bào chữa, cho rằng “nghèo” mới giữ đạo đức thanh cao được.

Nhưng “toả sáng” không phải chỉ là “hẳn hoi”. Muốn “toả sáng” được nhất định phải có một thế mạnh của riêng mình. Sở trường không thể làm nên toàn bộ giá trị của một người nhưng chính là yếu tố khẳng định giá trị của con người. Muốn “toả sáng” trước hết phải có tài năng. Tài năng có thể do bẩm sinh nhưng phần nhiều do rèn luyện mà có. Tài năng là khả năng làm những công việc đạt được hiệu quả cao, vượt lên trên mức trung bình, thậm chí vượt lên trên người khác. Mỗi người có một tài năng riêng, do vậy, tài năng chính là yếu tố khẳng định của mỗi người. Những chiếc huy chương ở các kì thế vận hội chính là sự khẳng định của tài năng, đó là “toả sáng”. Những thành tích, thành tựu cao không thể không có sự đóng góp của tài năng. Có người nói, trong điểm mười tuyệt đối thì tám điểm là của sự cố gắng, nỗ lực, chỉ có hai điểm thuộc về năng khiếu. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng xin bổ sung thêm, hai điểm của “năng khiếu” chính là điểm chín và điểm mười. Nếu không có tài năng thì dù có nỗ lực đến đâu cũng chỉ là tối đa điểm tám. Muốn có chín, có mười nhất thiết phải giỏi hơn người bằng cái tài. Trong một bài kiểm tra hay trong cuộc sống, người được điểm mười là người “toả sáng”, được nhớ đến!

Tuy thế, sống là toả sáng không chỉ là vượt trội, là “vĩ đại” trong khoảnh khắc. Muốn sự sống của mình thực sự toả sáng thì phải kiếm được điểm chín, điểm mười cho bài thi tốt nghiệp của cuộc đời. Nghĩa là điểm mười được “chấm” cho cả đời người. Khẳng định được tài năng của mình là toả sáng. Nhưng không phải chỉ mình ta mới có tài năng. Mà lịch sử lại thường chỉ ghi danh những người tài giỏi bậc nhất. Do đó, muốn thực sự “toả sáng”, cần phải đẩy tài năng của mình lên đỉnh cao nhất, luôn luôn phấn đấu vượt qua những người giỏi nhất. Để không chìm vào quên lãng, không thể không biến mình thành số một hoặc ít nhất là nỗ lực để biến mình thành số một.


Điều đánh dấu sự trưởng thành cũng như khẳng định chính xác nhất một tài năng chính là những thành tựu. Xét cho cùng thì lịch sử cũng chỉ đánh giá một tên tuổi dựa trên thành tựu. Những điều ta làm được sẽ quyết định rằng ta có “toả sáng” hay không. Cuộc sống thường khắc nghiệt nhất ở điều ấy. Cho dù ta nói rằng bản thân đã cố gắng hết mình, nhưng nếu kết quả là thất bại, anh vẫn là kẻ thất bại. Nếu chỉ ôm ấp tài năng của mình, ngồi tự hào về nó trong buồn ngủ thì vĩnh viễn không thể “toả sáng”. Để có được thành tựu lớn nhất của mình, con người cần phải hành động quyết liệt.

Sự “toả sáng” của một người suy cho cùng cũng là để nhân loại không lãng quên mình. Do đó, muốn thực sự “toả sáng” được, cần phải có những đóng góp vào cuộc đời chung. Sự sống về vật chất của ta sau sinh, lão, bệnh ắt sẽ đến tử. Cát bụi lại trở về với cát bụi. Con người chỉ có thể bất tử khi cuộc đời, sự nghiệp của mình ghim vào kí ức cộng đồng. Hơn thế nữa, khi con người chỉ đặt mục tiêu sống vì mình, chúng ta sẽ không bao giờ tạo ra được một thành quả to lớn. Muốn có thành tựu vĩ đại, phải hướng đến những lí tưởng phục vụ cho cuộc sống chung. Bên cạnh chất “cao cả” của lí tưởng, một mục tiêu lớn mới có khả năng thúc đẩy con người phát huy hết năng lực của mình, đạt được những thành tựu kì vĩ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ra đi từ bến Nhà Rồng không có mục đích nào khác ngoài lí tưởng giải phóng cho dân tộc. Tôi cho rằng, Bác đã thành công một nửa khi dám nghĩ, dám làm, dám đặt ra mục đích của một đời như vậy.

Có lẽ sẽ có nhiều người cho rằng, cuộc sống vốn đã đẹp, được sống, được tận hưởng thế giới đã là một điều may mắn và mãn nguyện. Nhưng trong chúng ta, bao nhiều người còn nhớ về cụ nội của mình? Và bao nhiêu người sẽ được chắt mình nhớ tới? Chỉ trong vài thế hệ, cả một cuộc đời đã chìm vào quên lãng. Cuộc đời tôi không thể như vậy!
(hsgqg)
Thêm
68
0
0
Viết trả lời...
Cuộc sống ngày càng phát triển, những công nghệ thông tin, những khoa học kĩ thuật ngày càng phổ rộng đến mọi tầng lớp thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ. Nhưng, không phải cuộc sống phát triển, con người cũng sẽ có những sự phát triển tương tự. Đặt ra trong bối cảnh hiện nay một hồi chuông báo động về thực trạng ứng xử đời thường, mà theo một du học sinh Nhật Bản từng gửi về văn hóa Việt có viết: “Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường”

Ta có thể tự bao biện cho mình nhiều lí do, nếu chúng ta mắc sai lầm về ứng xử văn hóa giữa con người với con người, như, vì cuộc sống quá tấp nập bồn bề, nên đôi khi ta không thể nào ứng xử được tốt vì quá bận rộn với cuộc sống của chính mình. Nhưng, dù có bao biện như thế nào, đó vẫn là một sự trốn tránh cho sai lầm của chính bản thân mình. Với du học sinh Nhật, câu nói vừa mang nhiều ý nghĩa, vừa là một lời khuyên nhủ như một hồi chuông cảnh tỉnh mỗi chúng ta bây giờ. Từ “tự hào” thể hiện một niềm tin thái độ hãnh diện về điều gì đó, Việt Nam ta có 4000 năm văn hiến, đó quả là một quá trình lịch sử lâu dài, bền bỉ và kiên cường, nói đến 4000 năm là nhắc đến quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài của toàn thể dân tộc, đó không những tự hào, mà còn là động lực, niềm tin chiến thắng, thái độ sống kiêu hãnh và quật cường, tạo nên một truyền thống yêu nước, một văn hóa lâu đời tốt đẹp của toàn thể dân tộc. Nhưng hai từ “xấu hổ” lại cho ta thấy một nghĩa khác, xấu hổ tức là hành vi hổ thẹn, lỗi lầm về một điều nào đó, hoặc là sự kém cỏi, hoặc là không xứng đáng. Vậy là “4000 năm văn hiến chỉ là một chương sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường” đã nhấn mạnh đến sự tương phản, nghịch lí và nhấn mạnh đến sự đối lập giữa truyền thống tốt đẹp, và hành vi đời thường. Vậy đấy, thông điệp của một du học sinh, sang học nước Nhật Bản, nơi nổi tiếng với những thiên tai khắc nghiệt, nhưng người dân vẫn vươn lên đấu tranh giành sự sống và kỉ luật cao độ. Người học sinh đó đã hiểu rằng, chúng ta cần phải giữ gìn truyền thống của mình trong thời buổi hiện đại ngày nay như thế nào, hãy thay đổi hành vi ứng xử không tốt của bản thân, đừng để điều đó khiến ta cảm thấy ân hận, tội lỗi về những thành tựu mà ta đạt được trong quá khứ, ta đã giữ gìn suốt 4000 năm, hãy để truyền thống đó hiện diện qua đời sống thường ngày. 4000 năm văn hiến không phải ở bất kì quốc gia nào cũng có, ta phải biết quý trọng và phát huy, không chỉ tự hào trong sử sách, hãy biết phát huy những điều đó trong cuộc sống đời thường. Hiện nay, có một số hành vi đạo đức con người đang cần cảnh báo, như truyền thống nhân đạo, thái độ vô cảm, thơ ơ trước số phận con người, chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, toan tính…

Câu nói trên như một bài học thức tỉnh, nhắc chúng ta hãy biết trân quý những giá trị quá khứ và phát huy để truyền thống ấy được giữ vững, và ta cũng hãy tôn trọng chính mình vì được là người dân Việt. Qua đó phê phán những ai vô cảm, sống ích kỉ, không biết trân trọng giá trị thực tại. Luôn có thái độ xem thường, vô văn hóa, và hành vi thô lỗ, kém cỏi trong cuộc sống. Tuy nhiên, không nên phiến diện, trong cuộc sống còn rất nhiều tấm gương đã nỗ lực bảo về truyền thống dân tộc, như những cuộc thi sắc đẹp, nhằm tôn vinh vẻ đẹp Việt Nam và nhân rộng lòng nhân ái, hay những trương trình lá lành đùm lá rách…
Thêm
64
0
0
Viết trả lời...
Thượng đế ban cho mỗi con người một đôi mắt để quan sát và cảm nhận cuộc đời, nhưng mỗi người lại có một cách nhìn cách cảm nhận riêng về sự việc trong cuộc sống theo những hướng khác nhau, câu chuyện “cách nhìn” đã để lại cho ta những suy ngẫm về cái nhìn nhận cũng như sự đánh giá mọi việc qua con người trong cuộc sống. Câu chuyện kể về hai xưởng sản xuất giày cùng phái người đến khảo sát thị trường ở Châu Phi. Ở đây người dân chẳng ai mang giày người thứ nhất biết vậy đành đáp máy bay về nước, người thứ hai cho rằng đây là một nơi đầy triển vọng vì chưa ai mang giày cả, và có thể khai thác thị trường. Qua câu chuyện ta thấy cách nhìn sự việc của con người khác nhau, người thứ nhất thật hạn hẹp bi quan, còn người thứ hai có cái nhìn bao quát hơn, tích cực hơn biết nhìn vào mặt lợi thế của sự việc chứ không nhìn vào mặt hạn chế của nó.

Trong câu chuyện trên nhân viên thứ nhất là đại diện cho người có cái nhìn thiển cận, bi quan nhìn sự việc ở mặt tiêu cực, nhân viên thứ hai là đại diện cho người có cái nhìn sự việc bao quát tích cực biết nhìn vào cái tích cực của nó câu chuyện. Ngắn gọn hàm súc nhưng đã để lại cho ta bài học sâu sắc trong cuộc sống, khi ta gặp một vấn đề gì đó ta hãy nhìn nhận vấn đề đó ở phương tiện bao quát, nhìn vào mặt tích cực tránh cái nhìn bi quan thiển cận, chỉ nhìn vào mặt tiêu cực của sự việc, như vậy chúng ta sẽ nắm bắt được cơ hội và đi đến thành công của cách dễ dàng hơn.

Cuộc sống là muôn màu muôn vẻ, trong cuộc sống chúng ta phải trải qua đối mặt với rất nhiều vấn đề đó là khó khăn thử thách, những sự bế tắc thất bại nỗi bất hạnh và cả niềm vui, cơ hội và sự thuận lợi những khó khăn thử thách trong cuộc sống sẽ làm cản trở ta đi đến thành công, sẽ làm khó ta, Thách thức ta. Vì vậy con người trước những biến chuyển phức tạp của cuộc đời, trước những vấn đề nan giải trong cuộc sống cần phải có một cách nhìn nhận sự việc thông minh, tích cực và đúng đắn, khi gặp những khó khăn thách thức bản thân ta hãy giữ cho mình sự lạc quan, không nản lòng, không chán chường. Sau đó chúng ta hãy suy nghĩ về vấn đề đó, nhìn vấn đề đó được cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Từ đây hãy nắm bắt lấy cái tích cực của vấn đề để có thể đưa ra sáng kiến giải quyết mọi việc một cách tốt hơn.

Người có cái nhìn lạc quan, biết nhìn mọi việc bằng sự bao quát để nhận ra được cái có thể trong cái không thể, cái ích lợi hơn trong cái có thể, những người như vậy sẽ luôn là người thành công trong cuộc sống. Dù có bất kỳ trở ngại nào cũng không làm khó được họ, người có cách nhìn tốt sẽ trở thành những người lạc quan yêu cuộc sống biết khai thác, nhìn nhận những điều tốt đẹp trong cuộc sống này. Bởi trên đời này không ai và không điều gì là hoàn hảo cả, mọi vấn đề đều có những mặt trái của nó khi ta biết nhìn tổng thể vào mọi mặt của nó, ta sẽ nắm bắt được cái có thể, tận dụng cái có thể có khả thi trong từng khó khăn. Ông cha ta đã có câu “Cái khó ló cái khôn”, đối với những người có cái nhìn tốt, biết nhìn vào những điều tích cực của sự việc thì dù khó khăn thế nào họ cũng sẽ tìm ra cho mình được ý tưởng mới, sự sáng tạo và tận dụng cơ hội để biết cái khó thành bàn đạp để mình có thêm kinh nghiệm, để bản thân mình được rèn luyện, biết tư duy suy ngẫm để tìm cách giải quyết.

Không những vậy, người luôn biết nhìn nhận mọi việc bằng con mắt lạc quan, tích cực sẽ giúp người đó thêm yêu đời, yêu cuộc sống hơn. Và những việc có khó khăn thử thách, gây trở ngại đến đâu nhưng người đó tìm được cách giải quyết cho mình thì đối với họ cuộc sống thật tươi đẹp, những trắc trở trong cuộc sống không làm khó được họ mà lại tiếp thêm động lực để họ sống tốt và sống ý nghĩa hơn.

Mới đây trên một trang báo mạng có viết về một ông chủ nhà hàng lớn nổi tiếng ở Đà Nẵng chia sẻ vì sao mình lại có được thành công nhưng hiện nay. Ông ấy nói rằng: “trước đây mình là một sinh viên học quản lý nhà hàng, sau khi ra trường ông ấy và một người bạn năng bằng cử nhân tốt nghiệp đại học và hồ sơ đi xin việc thì được một nhà hàng nhận vào làm phục vụ bàn, người bạn ấy không chấp nhận và đã bỏ việc, còn tôi tôi không nhìn vào thực tại tôi đang làm một công việc lương thấp mà tôi nhìn vào cái lợi ích của nó. Khi tôi làm phục vụ tôi học được cách quản lý, cách ứng xử cách xây dựng nhà hàng của từng người ở đây. Vì vậy mà tôi mới có được những kinh nghiệm thành công như ngày hôm nay”.

Người đàn ông ấy nhờ vào cách nhìn tích cực, lạc quan mà đã thành công trong cuộc sống, đó là điều thật đáng khen ngợi và học tập. Tuy nhiên trong cuộc sống vẫn còn những người có cái nhìn thiển cận, vội vàng đánh giá sự việc khi mới chỉ nhìn được một mặt của nó, dẫn đến suy nghĩ còn nhiều thiếu sót. Mặt khác lại có những người chỉ biết nhìn vào mặt tích cực quá nhiều thông tin trên cái bất lợi dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Qua câu chuyện “cách nhìn” ta rút ra được bài học quý giá, con người hãy luôn thông minh và suy nghĩ kỹ càng nhìn nhận mọi việc, mọi vấn đề từ đó biết nắm bắt lấy những cái tốt, cái có ích để tạo nên thành công cho bản thân trong cuộc sống. Chúng ta hãy rèn luyện cho mình tính lạc quan, kiên nhẫn, không vội vàng không bi quan khi nhìn nhận vào sự việc. Từ đó hãy nhìn cuộc sống bằng ánh mắt tích cực để thấy rằng cuộc sống thật đẹp thật ý nghĩa, câu chuyện cách nhìn đã để lại cho tôi những suy ngẫm sâu sắc giúp tôi thêm yêu cuộc sống và biết nhìn nhận cuộc đời bằng con mắt lạc quan và thông minh.
Thêm
55
0
0
Viết trả lời...
Khi chúng ta nhìn về phía trứơc, ta sẽ thấy những cái ngẫu nhiên. Nhìn lại phía sau thì những ngẫu nhiên ấy lại trở thành quy luật. Vì thế mà nhà lịch sử hầu như luôn luôn nhìn thấy quy luật và do đó anh ta không thể viết được cái lịch sử như nó đã không xảy ra. Thế nhưng trên thực tế , theo quan điểm này, thì lịch sử chỉ là một trong vô vàn con đường có thể đi. Một con đường đã đi đồng thời là một sự đánh mất các con đường khác. Chúng ta lúc nào cũng tìm được một cái gì và đồng thời đánh mất một cái gì. Mỗi bước ta đi tới đều là một sự đánh mất. Và thế là chính ở đây ta bắt gặp tính tất yếu của nghệ thuật.

Nghệ thuật cung cấp cho ta cuộc đi trên những con đường mà ta đã không trải qua, tức là những gì đã không xảy ra. Thế mà lịch sử của những điều không xảy ra lại là một lịch sử vĩ đại và rất quan trọng. Nghệ thuật bao giờ cũng là một khả năng thể nghiệm cái chưa bao giờ trải qua : trở về quá khứ, hành động lại và làm lại theo theo cách mới. Nghệ thuật là kinh nghiệm về những điều chưa xảy ra. Hay là kinh nghiệm về những cái có thể xảy ra.

Từ xưa, Aristote đã hiểu được mối liên hệ sâu sắc nhất của nghệ thuật với lĩnh vực của cái khả nhiên. Nhà văn, chẳng hạn, không bao giờ miêu tả toàn bộ nhân vật của mình. Thông thường, anh ta chỉ nắm bắt một vài chi tiết. Mọi người đều nhớ nhân vật Oneghin của Pushkin có chi tiết anh ta cắt tóc theo mốt mới nhất, nhưng kiểu tóc ấy như thế nào, màu tóc ra sao thì không thể biết, còn Pushkin thì không thấy những cái đó có ý nghĩa gì. Nhưng nếu chúng ta đưa Oneghin lên màn ảnh, thì bắt buộc phải hình dung hết các chi tiết đó và nhiều chi tiết khác nữa. Tức là cung cấp những điều không có ở tác phẩm của Pushkin để chuyển sự miêu tả bằng lời thành miêu tả bằng thị giác.

Trên màn ảnh nhân vật phải hoàn chỉnh hơn, vật thể hoá hơn, được thể hiện đầy đặn hơn. Và vấn đề không phải do mỗi người đọc có một quan niệm của mình về nhân vật tiểu thuyết, mà quan niệm ấy không phù hợp với đặc điểm của nhân vật màn ảnh. Hình tượng ngôn từ có tính hư ảo hơn. Nó sống trong ý thức người đọc như một nhân cách mở, chưa hoàn thành, chưa được thể hiện trọn vẹn. Nhân vật sống và chống lại sự vật thể hoá nó hoàn tòan, rốt ráo. Bản thân nhân vật sống như một khả năng, đúng hơn, như một búi khả năng. Có lẽ vì thế mà các đạo diễn của chúng ta dễ dàng đưa các tiêủ thuyết Mĩ lên màn ảnh, còn đạo diễn Mĩ lại dễ dàng đưa tiểu thuyết Nga lên màn bạc của họ, bởi vì ở đây không có những nhân vật mở, mà chỉ có các công thức văn học sáo mòn. Chúng ta biết cách nhìn của người Mĩ, còn họ cũng biết rất rõ cách nhìn của chúng ta.

Nghệ thuật thế kỉ XX với “tính chụp ảnh” của nó, với khát vọng về tính chính xác, dù điều đó rất lạ lùng, đều dẫn đến chỗ là càng mô phỏng thực tại thì càng nhiều tính ước lệ. Mô phỏng cuộc sống quá mức thì cũng khác biệt với cuộc sống quá mức. Nghệ thuật thế kỉ XX đã đạt được sự gần gủi với đời sống (nhờ khả năng kĩ thuật) đồng thời tạo ra sự khác biệt lớn. Do đó nghệ thuật càng hướng tới đời sống thì nó càng phải ước lệ nhiều hơn nữa.
Thêm
62
0
0
Viết trả lời...
Nhà phê bình Trần Đình Sử viết: Bản chất trò chơi của văn học nghệ thuật đã được thừa nhận hồn nhiên trong thực tế. Mỗi khi nói về văn nghệ người ta đều nói đến đọc cho vui, đọc giải trí, đọc cho đỡ buồn, văn học để giải sầu…Mà đây là một chức năng quan trọng của văn học nghệ thuật. Thế nhưng khi nêu thành lí thuyết thì vấn đề trò chơi luôn luôn bị phê phán là quan niệm không nghiêm túc về văn học nghệ thuật.


Từ thời cổ đại đến nay đã có nhiều định nghĩa về sự chơi từ các phương diện sinh lí, tâm lí, xã hội học, triết học, nhưng tất cả đều chưa đầy đủ, còn phiến diện. Thời cổ đại Aristote nêu thuyết bản năng “bắt chước”, một thứ chơi, bắt chước đem lại nhận thức, niềm vui. Ông không xem xét đầy đủ tất cả mọi trò chơi. Giải thích bằng bản năng là chưa giải thích gì cả. Triết gia Anh H. Spencer cho rằng chơi là phát tiết tinh lực thừa, có tác dụng luyện tập sự khéo léo các hoạt động, ở trẻ thơ rèn luyện các năng lực thấp, còn trong mĩ học là luyện các năng lực cao. Nhà tâm lí hoc Đức W. Wund cho trò chơi là con đẻ của lao động, trong trò chơi đều có các nguyên mẫu của hình thức lao động nghiêm túc. Như vậy trò chơi có sau lao động.


Thời Khai sáng chơi là khái niệm khẳng định chủ thể. I. Kant là người đầu tiên nêu vấn đề nghệ thuật như là trò chơi tự do, khẳng định tính chất trò chơi trong cảm thụ thẩm mĩ và nghệ thuật. Sự khẳng định chủ thể chơi tự do gắn với tư tưởng nhân văn coi coi người chủ thể là trung tâm của xã hội. F. Schiller xem trò chơi là sự hưởng thụ bằng cách thể hiện tinh lực thừa không phụ thuộc vào nhu cầu bên ngoài. Trong chơi sự xung động cảm tính và xung động lí tính hoà hợp làm một, làm cho nhân cách phát triển hài hoà. Chơi khẳng định bản chất của con người. Hai tác giả này qua quan niệm chơi khẳng định tinh thần chủ thể là tuyệt đối, là sự giải phóng về quan niệm chủ thể trong nghệ thuật gắn với sự khẳng định vị trí trung tâm của con người của chủ nghĩa nhân văn. Kant hiểu chơi tự do nghĩa là hành vi tâm lí của chủ thể thẩm mĩ.


Ngoài các điểm giống và khác nhau giữa nghệ thuật và trò chơi như trên, khái niệm nghệ thuật như một hoạt động trò chơi, có đặc điểm riêng của nó. Trò chơi là yếu tố đặc trưng của sáng tạo nghệ thuật. Chơi là một hoạt động tự do, không bắt buộc. Trò chơi về cơ bản là hoạt động vô tư, có tính chất ngẫu hứng, bất ngờ, tính nghịch lý, chống lại sự tự động, máy móc của cuộc sống xung quanh và sự kiểm soát quá mức của nó. Trò chơi thường thực hiện các chức năng rèn luyện các khả năng cần thiết để thực hiện một vấn đề nghiêm túc, là các bài tập về khả năng tự chủ. Chẳng hạn cách nhận xét đánh giá một hành vi của nhân vật hay của cả một nhân vật là một bài tập đối với một con người. Sự lựa chọn thẩm mĩ, thị hiếu, thích hay không thích cũng là một trò chơi hữu ích. Một khía cạnh quan trọng khác của nhu cầu trò chơi là nó bù đắp cho con người những gì mà nó không tìm thấy trong cuộc sống thực. Qua văn học, nghệ thuật con người được bù đắp đủ thứ mà mình trong thực tế không bao giờ trải qua.
Thêm
50
0
0
Viết trả lời...
“Đất nước đã hòa bình nhưng đâu đó vẫn có tiếng xung phong” là một câu nói đầy ẩn dụ và gợi cảm xúc sâu sắc của tác giả trong tác phẩm Di tích chiến tranh. Câu nói này không chỉ phản ánh sự đối lập giữa một đất nước đã trải qua chiến tranh và những di chứng đau thương mà còn thể hiện những vấn đề chưa được giải quyết hoàn toàn, dù hòa bình đã được thiết lập. Một khi chiến tranh đi qua, những cái còn lại không chỉ là những vết thương về thể xác mà còn là những vết thương tâm hồn, những ký ức đau thương vẫn tiếp tục vang vọng. Câu nói này không chỉ phản ánh những sự thật của lịch sử mà còn thể hiện những trăn trở về những con người vẫn tiếp tục phải chiến đấu, không phải với kẻ thù ngoài biên giới mà với chính những vết thương của quá khứ. Một đất nước đã từng trải qua chiến tranh, về những con người đã hy sinh trong cuộc chiến, về sự hòa bình được tái lập, nhưng những hậu quả chiến tranh vẫn còn ảnh hưởng, tiếp tục đeo bám xã hội. Và hơn hết, ta cũng phải tìm hiểu về sự hy sinh, về những người tiếp tục cống hiến và chiến đấu với những nỗi đau của riêng mình để xây dựng lại đất nước.

Khi chiến tranh kết thúc, đất nước ta đã đạt được hòa bình, nhưng điều đó không có nghĩa là chiến tranh không để lại những dấu vết. Những tiếng súng không còn vang lên trên các chiến trường, nhưng hậu quả của nó thì vẫn còn đọng lại trong tâm trí, trong trái tim của những người đã và đang sống sót qua chiến tranh. Đó là những người lính, những bà mẹ mất con, những gia đình mất mát và những vùng đất đầy di tích chiến tranh. Một trong những minh chứng rõ rệt là những di tích chiến tranh vẫn còn hiện diện khắp nơi trên mảnh đất Việt Nam. Những khu mộ chiến sĩ, những cây cầu, những ngôi làng bị tàn phá, và đặc biệt là những người còn sống sót sau chiến tranh với những thương tật nặng nề. Mỗi di tích là một chứng tích của thời gian, là minh chứng cho những hy sinh không thể đong đếm được trong cuộc chiến tranh. Và đôi khi, những tiếng xung phong vẫn văng vẳng trong tâm trí của những người đã từng trực tiếp tham gia chiến đấu.

Dù chiến tranh đã qua đi, nhưng những ký ức về những lần xung phong, những trận đánh ác liệt vẫn không thể phai mờ trong ký ức của những người đã trải qua. Đất nước hòa bình, nhưng bóng dáng chiến tranh vẫn có mặt trong từng góc phố, từng con người. Những âm thanh ấy không chỉ là tiếng xung phong của những người lính mà còn là tiếng gọi của quá khứ, của những đau thương mà dân tộc phải gánh chịu.
Mặc dù đất nước đã hòa bình, nhưng những đau thương và mất mát của chiến tranh không phải dễ dàng mà xóa nhòa. Những người lính trở về sau chiến tranh mang trong mình những vết thương khó có thể chữa lành. Vết thương không chỉ là thể xác mà còn là tâm hồn. Họ vẫn phải đối mặt với những cơn ác mộng, với nỗi sợ hãi về những gì đã trải qua. Những nỗi đau ấy không chỉ có trong các gia đình chiến sĩ mà còn có mặt trong mỗi cuộc đời người dân Việt Nam.


Sự hy sinh của những người lính trong chiến tranh là một điều vô cùng cao cả, nhưng cũng là điều quá đau thương. Họ đã phải đối mặt với cái chết, với nỗi đau mất mát để bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, khi chiến tranh kết thúc, họ không phải trở về với một cuộc sống bình yên như mong đợi. Nhiều người phải sống với những di chứng chiến tranh, như thương tật, tàn phế, hoặc chịu đựng những nỗi đau về mặt tinh thần. Câu nói “đâu đó vẫn có tiếng xung phong” có thể hiểu là sự tiếp tục cống hiến của những người lính, sự hy sinh vẫn không dứt, dù cho chiến tranh đã kết thúc. Mỗi khi nhìn vào những di tích chiến tranh, người ta không thể không cảm nhận được một nỗi buồn và sự tiếc nuối khôn nguôi về những tổn thất, những mất mát trong quá khứ.

Dù đất nước đã hòa bình và chiến tranh đã qua đi, những người sống sót sau chiến tranh vẫn phải đối mặt với quá khứ. Quá khứ đó không chỉ là những ký ức về trận đánh, về những người đồng đội đã hy sinh mà còn là những nỗi đau tâm hồn không dễ dàng lành lặn. Những di tích chiến tranh không phải là những mốc thời gian đã qua, mà là những chứng tích nhắc nhở chúng ta về những gì đã mất, những gì chúng ta cần phải gìn giữ. Những tiếng xung phong mà câu nói nhắc đến chính là những con người luôn phải đương đầu với chính mình, với những ký ức đau buồn của chiến tranh. Có thể họ không còn cầm súng nữa, nhưng họ vẫn tiếp tục đấu tranh trong cuộc sống hàng ngày. Họ tiếp tục làm việc, tiếp tục xây dựng đất nước, tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của xã hội, mặc dù những vết thương xưa không dễ dàng lành lại. Họ không cho phép mình bỏ cuộc, dù cho những vết thương trong tâm hồn vẫn còn.

"Đất nước đã hòa bình nhưng đâu đó vẫn có tiếng xung phong" không chỉ là câu nói phản ánh sự đối lập giữa hòa bình và chiến tranh, mà còn là một lời nhắc nhở về những người đã hy sinh vì đất nước và những di chứng của chiến tranh mà chúng ta cần phải đối mặt. Mặc dù chiến tranh đã qua đi, nhưng những mất mát và hy sinh vẫn còn in dấu trong tâm trí của những người lính và nhân dân. Những tiếng xung phong vẫn văng vẳng, không chỉ trong quá khứ mà còn trong cuộc sống hiện tại, như một lời nhắc nhở chúng ta về nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng một tương lai tươi sáng hơn. Để không làm mất đi ý nghĩa của những hy sinh ấy, mỗi người chúng ta cần phải sống đúng với những giá trị mà các thế hệ đi trước đã để lại, tiếp tục xây dựng đất nước bằng lòng yêu nước, sự hy sinh và tinh thần đoàn kết. Chỉ khi đó, tiếng xung phong mới thực sự trở thành những âm thanh vang vọng của niềm tự hào, chứ không phải là sự tiếc nuối, đau buồn.
Thêm
45
0
0
Viết trả lời...
Tôi đã từng tin rằng, rồi thời gian cũng sẽ chữa lành mọi vết thương. Chuyện buồn hôm trước rồi cũng chỉ là chuyện cười hôm nay. Những câu chuyện buồn hóa ra cũng sẽ chẳng giết được ta như ta nghĩ. Theo dòng thời gian, những nỗi đau đớn rồi cũng bị thời gian xóa mờ, đổi thay. Ta đau đớn của ngày nào cũng chỉ là ta của quá khứ.

Tôi đã từng tin như thế. Tin rằng rồi một ngày nào đó, khi đủ xa một nỗi buồn, ta sẽ có thể mỉm cười nhắc lại nó như một câu chuyện cũ. Tin rằng những tổn thương từng khiến ta tưởng như gục ngã rồi cũng sẽ trở nên nhỏ bé, nhạt nhòa theo năm tháng. Niềm tin ấy không phải vô cớ, bởi thực tế cho thấy rất nhiều nỗi đau đã không còn khiến ta day dứt như lúc ban đầu. Thời gian, bằng cách nào đó, đã làm dịu đi cảm xúc, làm mờ những ký ức sắc nhọn, khiến con người đủ bình tĩnh để tiếp tục sống. Nhưng chính từ niềm tin tưởng giản đơn ấy, ta cũng cần suy ngẫm sâu hơn: phải chăng thời gian tự nó có khả năng chữa lành, hay sự chữa lành ấy đến từ chính cách con người đi qua thời gian?

Quả thật, không thể phủ nhận sức mạnh âm thầm của thời gian đối với những tổn thương tinh thần. Khi một biến cố xảy ra, nỗi đau thường hiện hữu rõ ràng, dữ dội, chiếm trọn tâm trí con người. Nhưng theo dòng thời gian, cảm xúc ấy dần lắng xuống. Ta không còn khóc nhiều như trước, không còn đau nhói mỗi khi ký ức chợt ùa về. Những chuyện buồn hôm qua, đến hôm nay đôi khi chỉ còn đủ sức gợi nên một nụ cười chua chát. Thời gian giúp ta tạo ra khoảng cách cần thiết giữa bản thân hiện tại và cái tôi đau khổ của quá khứ. Nhờ khoảng cách ấy, ta có thể nhìn lại mọi chuyện một cách tỉnh táo hơn, bớt cảm tính hơn. Những nỗi đau từng tưởng chừng không thể vượt qua hóa ra cũng không giết chết được ta như ta từng lo sợ. Chính sự trôi đi không ngừng của thời gian đã khiến con người nhận ra rằng mình mạnh mẽ hơn những gì bản thân từng nghĩ.

Tuy nhiên, nếu nói thời gian tự thân chữa lành mọi vết thương thì có lẽ đó là một nhận định chưa trọn vẹn. Có những nỗi đau không biến mất, mà chỉ ngủ yên. Có những tổn thương tưởng như đã lành, nhưng chỉ cần một tác động nhỏ cũng đủ khiến chúng rỉ máu trở lại. Thời gian không xóa đi ký ức, nó chỉ làm ký ức bớt sắc cạnh. Điều quyết định sự chữa lành không nằm hoàn toàn ở thời gian, mà nằm ở cách con người đối diện với nỗi đau trong suốt quãng thời gian ấy. Có người chọn né tránh, chôn giấu cảm xúc, để mặc vết thương khô lại trên bề mặt nhưng bên trong vẫn âm ỉ. Có người dũng cảm đối diện, chấp nhận đau, học cách thấu hiểu chính mình, từ đó từng bước chuyển hóa tổn thương thành trải nghiệm sống. Cùng một khoảng thời gian trôi qua, nhưng kết quả chữa lành ở mỗi người lại khác nhau.

Thực chất, thời gian chỉ là bối cảnh, còn con người mới là chủ thể của sự chữa lành. Khi ta học được cách buông bỏ những gì không còn thuộc về mình, khi ta ngừng tự trách bản thân vì những điều đã qua, khi ta cho phép mình yếu đuối rồi đứng dậy, thì vết thương mới thật sự có cơ hội khép lại. Lúc ấy, nỗi đau của ngày nào đúng là chỉ còn thuộc về “ta của quá khứ”. Nó không biến mất hoàn toàn, nhưng không còn quyền chi phối hiện tại. Ta có thể nhớ mà không còn đau, nhắc lại mà không còn oán giận. Đó không phải là sự quên lãng, mà là sự trưởng thành. Thời gian khi ấy không đóng vai trò người chữa bệnh, mà là người bạn đồng hành, chứng kiến quá trình con người tự chữa lành chính mình.

Vì vậy, quay trở lại câu hỏi ban đầu: liệu thời gian có thật sự chữa lành được vết thương không? Câu trả lời có lẽ nằm ở sự kết hợp giữa thời gian và nội lực con người. Thời gian cho ta cơ hội, cho ta khoảng lặng, cho ta đủ xa để nhìn lại. Nhưng chính ta mới là người quyết định có bước qua nỗi đau hay không. Nếu chỉ chờ đợi thời gian trôi qua mà không đối diện, vết thương có thể không còn đau nhói, nhưng cũng chẳng bao giờ thật sự lành. Còn khi ta biết sống trọn vẹn với hiện tại, biết học hỏi từ quá khứ, thì thời gian sẽ trở thành minh chứng cho sự hồi sinh. Khi ấy, ta hiểu rằng mình không bị định nghĩa bởi những vết thương đã qua, mà được định hình bởi cách mình vượt qua chúng.







Thêm
45
0
0
Viết trả lời...
Mùa xuân trên thành phố, dù có những bộn bề của cuộc sống đô thị, vẫn giữ nguyên vẹn được những nét đẹp đặc trưng của Tết cổ truyền, và có lẽ, trong những ngày này, không khí xuân ở nơi đây còn có sự hòa quyện tinh tế giữa vẻ hiện đại của thành phố với những giá trị truyền thống lâu đời của dân tộc. Tết ở đâu cũng đều là những tín hiệu đẹp của mùa xuân. Cứ mỗi độ Tết đến xuân về, giữa bộn bề phố thị, người ta vẫn dễ dàng cảm nhận được những tín hiệu của mùa xuân đang tràn ngập không gian, len lỏi vào từng ngõ phố, ngõ hẻm, làm ấm lòng những ai sống giữa guồng quay hối hả của đời sống đô thị. Tết ở thành phố, tuy không ồn ào, nhưng lại có một sức hút khó cưỡng, mang lại cảm giác bình yên và xao xuyến như chính những chiều cuối năm đầm ấm ở quê hương.

Những ngày cuối tháng Chạp, phố phường đã bắt đầu rộn ràng không khí Tết. Dọc các tuyến phố lớn, những chậu hoa mai vàng, đào hồng được bày bán rực rỡ. Những sắc màu của mùa xuân như len lỏi vào từng con đường, phủ lên mặt phố một lớp màu sắc tươi mới, ấm áp. Đào, mai, quất với những chùm quả xanh, vàng treo lủng lẳng lại làm người ta nhớ về những ngày Tết ở thôn quê, nơi mà mỗi gia đình đều có một chậu hoa để đặt trong nhà, với hy vọng năm mới sẽ mang lại nhiều may mắn, tài lộc. Tuy nhiên, không khí Tết ở thành phố lại có một nét riêng biệt, không giống như những làng quê tĩnh lặng. Các con đường, ngôi nhà ở thành phố đều được trang trí với ánh đèn nhấp nháy, những băng rôn, khẩu hiệu mừng xuân, tạo nên một không gian lung linh, đầy sức sống.

Các cửa hàng, chợ Tết trên các con phố lớn đều ngập tràn những món đặc sản ngày Tết. Những gánh hàng bán bánh chưng, bánh tét, mứt Tết, trà, rượu, hay những món ăn đặc trưng của ngày Tết như xôi, giò chả... đều trở thành những tín hiệu của mùa xuân đang về. Người ta nói nhiều về những cái tết trên quê hương, về khoảnh khắc sum vầy mà rất lâu mới có được, nhưng người ta không biết rằng tết trên phố thị lại đẹp theo một cách riêng. Chỉ cần nơi đâu có nhà, có nhau thì đều là tết.

Ở một góc phố nào đó, dù bận rộn, người dân vẫn không quên dành thời gian dừng chân bên những quầy bán hoa, ngắm nhìn những sắc hoa tươi thắm của mùa xuân, rồi chọn cho mình một chậu hoa đẹp nhất để mang về trang trí nhà cửa, báo hiệu một năm mới ấm áp, an lành. Những bà nội trợ nở nụ cười rạng rỡ khi mua được những món đồ ưng ý. Những đứa trẻ tay xách nách mang những món quà Tết được cha mẹ mua cho, ánh mắt ngập tràn sự háo hức. Dù ở thành phố, mọi người vẫn giữ được những thói quen, những nét đẹp ngày Tết rất riêng. Cảm giác ấy như một phần không thể thiếu trong văn hóa Tết của người dân Việt Nam. Mới 28 29 tết, tôi đã đưa mắt mỉm cười nhìn theo những cô bé, cậu bé xúng xính trong bộ áo dài mới, lòng bồi hồi nhớ lại mình năm xưa.

Tết ở thành phố không thiếu những tiếng cười đùa vui vẻ, những niềm hân hoan chờ đón năm mới. Trong không khí xuân ấy, những ngôi nhà, dù là căn hộ chung cư hay những ngôi nhà phố, đều được trang hoàng bằng những vật dụng trang trí đặc trưng của Tết. Những cây nêu, những cặp câu đối đỏ được dán lên cửa, những bức tranh tết với hình ảnh chim muông, hoa lá, cảnh quan làng quê đón xuân... tất cả tạo nên một không gian đẹp đẽ, đầy sự tôn kính với những giá trị truyền thống của dân tộc. Nhưng chính sự nhộn nhịp của thành phố lại mang đến cho Tết một vẻ đẹp khác biệt. Dù không phải là một vùng đất yên bình, tĩnh lặng như những làng quê, thành phố vẫn có thể tạo ra được một mùa Tết trọn vẹn, đậm đà hương sắc của mùa xuân.

Tuy nhiên, những nét đẹp của mùa xuân trên thành phố cũng không thiếu những điều khiến người ta đôi lúc phải nhớ về những ngày Tết ở quê nhà. Mùa xuân ở thành phố đôi khi có phần vội vã hơn, không gian không có được sự yên bình, thanh thản như trong những ngày Tết ở thôn quê. Những chiếc xe cộ vẫn nối đuôi nhau chạy, những con phố vẫn đông đúc, vội vã, và không khí Tết đôi khi không lắng đọng được trọn vẹn như ta muốn. Nhưng chính những người dân nơi đây, với những câu chuyện vui vẻ, những cặp mắt ánh lên niềm vui đón xuân, cũng đủ làm ấm lòng những ai đang xa quê. Mùa xuân trên thành phố không hẳn thiếu vắng sự ấm áp, mà đôi khi chỉ cần sự tĩnh lặng trong lòng mỗi người, mùa xuân ấy sẽ tự nhiên tìm về. Cái Tết ở thành phố không chỉ là niềm vui của những người đang ở lại, mà còn là niềm nhớ nhung của những ai đang sống xa quê, là sự kết nối giữa những con người không phân biệt nơi đâu, quê hương nào.

Mùa xuân ở thành phố, dù có những khác biệt so với Tết ở làng quê, vẫn giữ nguyên những nét đặc sắc của Tết cổ truyền. Trong lòng mỗi người, dù ở đâu, mùa xuân luôn mang một ý nghĩa thiêng liêng, là lúc để mọi người quây quần bên nhau, để nhớ về nguồn cội, về những giá trị truyền thống. Mùa xuân trên thành phố, vì thế, dù có những nhịp sống hối hả, vẫn mang lại những khoảnh khắc yên bình, những cảm xúc dịu dàng, là nguồn động viên lớn lao cho mọi người trong những ngày đầu năm mới. Chắc chắn, mùa xuân ấy sẽ luôn có những ký ức, những hình ảnh đẹp đẽ để mỗi người mang theo trong suốt cuộc đời.
Thêm
57
0
0
Viết trả lời...
Không phải là do thời gian trôi đi quá nhanh, mà chỉ là do mình quá vô tình...

Chắc cũng lâu lắm rồi, hôm nay mình mới ăn cơm cùng bố. Cũng chẳng phải lý do gì to tát, chỉ là khác thời điểm học, khác thời gian làm, khó có thể dung hòa để cùng nhau ăn một bữa cơm. Hôm nay, chỉ có bố và mình ngồi ăn cơm. Cũng lâu lắm, mình không nhìn kĩ gương mặt bố như vậy. Và mình thấy bố thay đổi đi rất nhiều.

Bố không còn là gương mặt trẻ trung, hiền lành của ngày nào nữa. Gương mặt bố bị thời gian bào mòn, vết thời gian xám lại thành những vết sẹo và vết nhăn. Hóa ra, mình đã quá vô tâm với những người xung quanh mình. Mình sống bên cạnh họ nhưng lại chẳng hề nhìn kĩ vào gương mặt họ, để thấy họ thay đổi đi nhiều lắm, thấy bố mẹ mình vất vả lắm.

Mình không cố gắng nhìn vào gương mặt bố mẹ vì sợ cái nhìn của họ sẽ khiến mình đau đáu. Bố ngồi đó, trầm lặng và từng miếng cơm vội vã để chuẩn bị cho ca làm đêm, còn mình thì thong dong thư thả. Gía như con có thể mua của bố mẹ một giờ đồng hồ. Một giờ đồng hồ để gia đình mình ăn cơm cùng nhau, không phải chờ người ăn trước người ăn sau. Mọi người cùng nhau ăn cơm, cùng nhau trò chuyện, nhìn thấy nhau mỗi ngày. Bữa cơm nào cũng chỉ là bát cơm chan canh rau cải, ăn với miếng trứng bùi và nồi thịt kho của mẹ mà sao khiến mình nhớ nhung đến thế. Đôi khi xa nhà, ăn một bữa cơm khách, mình cũng thường so sánh với bữa cơm của mẹ. Và mình nhận ra, vẫn là món ăn ấy, nhưng kể cả một người mẹ khác nấu cho mình ăn cũng chẳng thể khiến mình xúc động nhiều đến thế. Mình lo sợ một ngày, nếu bố mẹ không còn nữa, ai sẽ nấu cho mình những bữa cơm?

Trong tiếng Anh có một thành ngữ "Put yourself in someone's shoes". Thành ngữ này có nghĩa là đặt chân mình vào đôi giày của người khác, hay chính xác hơn là đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để thấu hiểu. Tôi nhận ra chưa bao giờ tôi đặt chân mình vào đôi giày của bố mẹ. Cảm giác khi đó, bàn chân nhỏ bé của tôi sẽ ướm thử vào đôi giày cỡ lớn của họ, cho tôi thấy được mình nhỏ bé giữa tình yêu bao la của cha mẹ. Đôi lúc, tôi dặn mình hãy đặt chân mình vào đôi giày của người khác, để một lần thấu hiểu họ, để biết họ đã đớn đau, mỏi mệt như thế nào.

Và tôi mong rằng, giữa nhân gian rộng lớn, ta biết đặt chân mình vào đôi giày của chính mình. Vì không ai dạy ta cách tha thứ cho mình nên ta thường giận mình rất lâu.
Thêm
49
0
0
Viết trả lời...
Trong cuốn nhật ký “nghìn năm sáng như lửa” ghi lại hành trình chống Mỹ cứu nước của quân dân ta, Đặng Thùy Trâm viết “Cuộc sống vô cùng anh dũng, vô cùng gian nan, chết chóc hi sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm.” Tuổi trẻ hôm nay chưa một lần phải chứng kiến nỗi đau đó, khi bao huân chương cũng chẳng thể làm lành đi nỗi mất mát trong tim. Bởi vậy, chúng ta cần thể hiện sâu sắc lòng yêu nước của mình. Tuy nhiên, tình yêu Tổ quốc không chỉ được thể hiện trong thời kỳ chiến tranh, mà là trong mọi thời đại, hoàn cảnh.

Lòng yêu nước là tình cảm cao cả, thiêng liêng của mỗi người giành cho quê hương đất nước. Nó là tình yêu, sự trân trọng, biết ơn với thế hệ đi trước đồng thời là sự nỗ lực dựng xây đất nước giàu đẹp hơn. Đôi khi, tình yêu đó không thể hiện ở những hành động lớn lao mà biểu hiện trong những gì đơn giản nhất. Chỉ cần biết tự hào về Tổ quốc, biết trân trọng những di sản văn hóa còn ở lại, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt,... đã đủ để ta thể hiện được điều đó.

Quả thật, chiến tranh là một phần cần để thể hiện tình yêu nước. Trong thời kỳ kháng chiến, từ già trẻ gái trai đều một lòng hướng về Tổ quốc. Bao thanh niên trai tráng lần lượt từ giã gia đình, quê hương ra đi cứu nước. Tình yêu với đất nước của họ thể hiện lặng lẽ nhưng để lại nhiều xót xa nhất. Ta nhớ đến những chàng trai “Cà phê chưa uống/ Còn mê thả diều” (Nguyễn Khoa Điềm) nhưng vẫn một lòng ra đi vì sự nghiệp chung như Tô Vĩnh Diện, Trần Văn Ơn, Lý Tự Trọng,... Người ta nói người phụ nữ yếu đuối nhưng đâu thấy những cô gái như Võ Thị Sáu, Trần Thị Lý, Lê Thị Hồng Gấm,.. xông pha trên mặt trận. Dường như trong chiến tranh, mọi giới hạn về tuổi tác, giới tính không còn quan trọng mà chỉ có tình yêu Tổ quốc còn sáng mãi. Khi đất nước rơi vào chiến tranh, bao người mẹ đã nén nỗi đau gửi những người con mình yêu thương nhất ra chiến trường. Để rồi cả quãng đời sau này, họ sống trong nỗi nhớ thương con đã diết nhưng chưa một lần hối hận về lựa chọn của mình. (Dẫn chứng). Như vậy, tình yêu nước được thể hiện rất rõ ràng và mãnh liệt trong thời kì chiến tranh.

Tuy nhiên, chiến tranh không phải hoàn cảnh duy nhất để thể hiện điều đó. Tình yêu luôn được thể hiện trong mọi thời kỳ, trong mọi giai đoạn và bất cứ ai cũng có thể thể hiện được điều này. Trước hết, tình yêu đã được nung nấu từ thời cha ông ta dựng nước và giữ nước. Chính tình yêu đã thôi thúc cha ông ta dựng nên một Việt Nam với tiếng nói riêng, bản sắc văn hoá riêng không trộn lẫn, để ta được tự hào “ta là một, là riêng, là duy nhất”. Mỗi quốc gia đều là một màu sắc riêng trên bản đồ thế giới và Việt Nam cũng là một màu sắc rực rỡ trên đó. Chúng ta tự hào bởi cha ông đã dựng xây được tiếng mẹ đẻ thân thương, riêng biệt không trộn lẫn với bất kỳ ngôn ngữ nào. Dù đến bất cứ quốc gia nào, ta vẫn thấy được nền văn hoá truyền thống đất nước mình thật độc đáo, khác biệt. Tất cả là nhờ tâm huyết dựng xây và phát triển của cha ông ta.

Tiếp đó, tình yêu nước cũng cần được thể hiện trong thời đại hoà bình. Nếu như lòng yêu nước không được thể hiện trọn vẹn trong giai đoạn này, Việt Nam sẽ mãi mãi là một quốc gia kém phát triển, đánh mất đi trang sử hào hùng gìn giữ qua ngàn năm. Chỉ bằng cách thể hiện tình yêu nước, chúng ta mới có thể từng bước cải thiện những điểm yếu, đưa đất nước đi lên “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Ngày nay, bao bạn trẻ đang thay thế hệ đi trước viết tiếp câu chuyện hoà bình bằng những cống hiến sáng tạo, áp dụng công nghệ mới trong phát triển đời sống. Các đơn vị lãnh đạo đang thực hiện nghiêm minh trách nhiệm của mình trong việc quản lý bộ máy nhà nước, lãnh đạo nhân dân. Tình yêu đôi khi đòi hỏi chúng ta phải biết hành động thiết thực để mỗi giây phút VN ta tồn tại đều mang lại ý nghĩa, không riêng gì trong chiến tranh.
Trong hoàn cảnh hoạn nạn, tình yêu Tổ quốc cũng một lần nữa được bộc lộ. Dù ở nơi nào, chúng ta đều là con một nhà. Bởi vậy, như lời cha ông đã dạy “Anh em như thể tay chân”, phải biết yêu thương, giúp đỡ nhau dù cho hoạn nạn. Việc thể hiện tình yêu với những người xung quanh mình cũng là cách thể hiện tình yêu với đất nước. Nó tạo động lực thôi thúc mỗi người biết vượt qua khó khăn, thử thách để lan tỏa đến cộng đồng. Khi cơn bão Yagi đổ bộ miền Bắc nước ta, mỗi chúng ta đều không khỏi ấm lòng khi bao người dân từ mọi miền gửi những món quà cứu trợ cho đồng bào miền lũ. Những căn nhà đổ nát, tan hoang của người dân làng Nủ cũng được dựng nên bởi tình người, cao cả hơn chính là tình đất nước.

Cuối cùng, tình yêu nước luôn cần được thể hiện mọi lúc, mọi nơi như một bản năng của mỗi người Việt. Không phải trong những hoàn cảnh lớn chúng ta mới thể hiện tình yêu của mình. Những hành động nhỏ bé, tưởng như không được để ý đến nối tiếp nhau sẽ tạo nên những hành động lớn, có sức mạnh lan tỏa rộng rãi. Chỉ đơn giản là khi ta biết bảo vệ môi trường sống xung quanh, biết yêu thương với những mảnh đời khó khăn hơn mình, biết gìn giữ những di sản văn hóa còn ở lại, ta đã thể hiện được tình yêu của mình với đất nước.

Do đó, lòng yêu nước không đơn giản chỉ cần thể hiện trong chiến tranh, mà là ở mọi thời điểm, hoàn cảnh. Những người chưa có tình yêu nước là những người chưa nhận thức rõ về vẻ đẹp đất nước mình, chưa thấu hiểu những nỗi khổ đau mà những thế hệ đi trước phải chịu đựng và đáng bị lên án.
.
Tình yêu nước là trách nhiệm, bổn phận và là quyền của mỗi người. Trong bất cứ thời điểm nào, chúng ta vẫn cần giữ cho mình tình yêu, lòng tự tôn dân tộc. Chỉ khi nào tình yêu nước còn tồn tại thì dân tộc đó mới có thể tồn tại.
Thêm
51
0
0
Viết trả lời...
Năm 2025 được nhiều người gọi là năm thanh lọc – không phải theo nghĩa huyền bí, mà là một trạng thái tinh thần của thời đại. Sau những biến động liên tiếp của thế giới, của xã hội và cả đời sống cá nhân, con người dường như buộc phải chậm lại để nhìn thẳng vào chính mình. Thanh lọc ở đây là quá trình gạn bỏ những điều không còn phù hợp: những mối quan hệ độc hại, những kỳ vọng sai lệch, những giá trị được tiếp nhận một cách vô thức. Với người trẻ, năm 2025 không chỉ là một cột mốc thời gian, mà là một lời nhắc nhở: nếu không thay đổi cách sống và cách nghĩ, chúng ta sẽ tiếp tục bị cuốn đi trong sự mệt mỏi kéo dài, dù thế giới có bước sang bao nhiêu năm mới.

Thanh lọc trước hết là đối diện với chính bản thân mình, điều mà người trẻ ngày nay thường né tránh. Trong guồng quay nhanh của mạng xã hội và áp lực thành công, nhiều người trẻ quen với việc trình diễn một phiên bản “ổn” của bản thân, trong khi bên trong là hoang mang, lo âu và kiệt sức. Năm thanh lọc buộc người trẻ phải tự hỏi: mình đang sống vì điều gì, hay chỉ đang cố đáp ứng mong đợi của người khác? Cơ hội lớn nhất của năm 2025 nằm ở chỗ: người trẻ có thể dừng lại, chấp nhận sự không hoàn hảo, và học cách lắng nghe những tổn thương bị che giấu bấy lâu. Nhưng đó cũng là thách thức không nhỏ, bởi nhìn thẳng vào nỗi yếu đuối của mình đòi hỏi nhiều dũng khí hơn là việc tiếp tục bận rộn để quên đi nó.

Trong bối cảnh xã hội liên tục biến động, cơ hội cho người trẻ không nằm ở sự bứt phá hào nhoáng, mà ở khả năng thích nghi sâu sắc và bền bỉ. Năm 2025 mở ra những cánh cửa mới về tư duy nghề nghiệp, về cách định nghĩa thành công và hạnh phúc. Người trẻ không còn bị giới hạn trong một con đường duy nhất, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với sự bấp bênh và cạnh tranh gay gắt hơn bao giờ hết. Thanh lọc lúc này đồng nghĩa với việc lựa chọn: chọn điều gì là cốt lõi, điều gì chỉ là hào nhoáng nhất thời. Nếu không đủ tỉnh táo, người trẻ rất dễ rơi vào trạng thái mất phương hướng, so sánh bản thân với người khác và tự phủ nhận giá trị của chính mình.

Thách thức lớn nhất của năm thanh lọc chính là sự cô đơn tinh thần. Khi những lớp vỏ xã hội dần được bóc tách, người trẻ có thể cảm thấy trống rỗng, mất chỗ dựa quen thuộc. Những mối quan hệ từng tồn tại vì thói quen có thể tan rã, những niềm tin cũ có thể sụp đổ. Nhưng cũng chính trong khoảng trống đó, người trẻ có cơ hội xây dựng lại nền tảng tinh thần vững chắc hơn. Thanh lọc không phải là mất mát vô nghĩa, mà là sự đánh đổi cần thiết để trưởng thành. Ai dám ở lại với chính mình trong giai đoạn khó khăn này sẽ có khả năng bước sang năm mới với một nội lực mạnh mẽ hơn, hiểu rõ mình là ai và mình thực sự cần điều gì.

Cuối cùng, năm 2025 – năm thanh lọc – không hứa hẹn sự dễ dàng, nhưng mang đến một cơ hội hiếm có để người trẻ tái sinh về mặt tinh thần. Đó là năm của việc sống chậm hơn nhưng sâu hơn, chọn lọc hơn trong các mối quan hệ, và trung thực hơn với cảm xúc của chính mình. Nếu người trẻ dám buông bỏ những áp lực không thuộc về mình, dám chấp nhận quá trình chữa lành thay vì vội vã chạy theo thành tựu, thì năm thanh lọc sẽ trở thành nền móng cho một tương lai vững vàng hơn. Một năm mới thực sự không bắt đầu từ thời gian, mà bắt đầu từ sự thay đổi trong nhận thức. Và năm 2025, với tất cả những cơ hội và thách thức, chính là lời mời gọi người trẻ bước vào hành trình đó một cách tỉnh táo và can đảm.
Thêm
51
0
0
Viết trả lời...