Mạng xã hội Văn học trẻ

Cuộc sống hiện đại ngày nay mở ra nhiều cơ hội để con người tự do lựa chọn con đường đi riêng, thể hiện cái tôi và cá tính của mình. Xã hội càng sống dưới những áp lực, luật lệ và nỗi đau, con người càng cần khẳng định bản sắc văn hóa riêng của mình, để trở thành một phiên bản độc nhất không hòa lẫn. Đó là khi tôi rất ấn tượng với quan điểm của Phạm Thị Hoài trong tác phẩm "Thiên Sứ": "Tôi từ chối đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào, tôi từ chối bất kỳ bộ đồ đồng phục quá chật hay quá rộng nào." Lời giãi bày ấy không chỉ mang đến một tuyên ngôn cá nhân mạnh mẽ mà còn phản ánh những suy nghĩ sâu sắc về tự do, sự độc lập và niềm tin vào giá trị cá nhân.

Lời từ chối “đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào” khiến tôi nghĩ đến sự bức bối của một con người trước những định kiến, những chuẩn mực xã hội. Phạm Thị Hoài, qua lời nói này, không chỉ muốn nói về sự phản kháng đối với những giá trị bị gắn nhãn mà còn thể hiện quan điểm về việc không muốn bị giới hạn bởi những chuẩn mực xã hội áp đặt. Trong xã hội hiện đại, đôi khi chúng ta bị đẩy vào những “khuôn khổ” mà không biết mình có thực sự thuộc về nó hay không. “Từ chối bị gắn nhãn, đóng mác” nghĩa là từ chối bị đồng hóa, từ khước việc tự xóa mờ đi dấu ấn riêng của mình. Chúng ta đang gọi những vấn đề trong đời sống người trẻ hôm nay gắn với hai từ “thế hệ”. Như vậy nghĩa là, một vấn đề của một cá nhân, một cộng đồng cũng bị quy về vấn đề của một thế hệ.

Cùng với lời từ chối thế hệ, tác giả cũng khẳng định việc từ chối “những bộ đồng phục quá chật hay quá rộng”. Bộ đồng phục ở đây không chỉ là trang phục vật lý, mà chính là những khuôn mẫu, những chuẩn mực xã hội, những quy tắc hành xử mà đôi khi chúng ta phải tuân theo. Những bộ đồng phục quá chật khiến chúng ta cảm thấy bó buộc, mất tự do, không thể cử động thoải mái theo ý muốn. Còn những bộ đồng phục quá rộng lại khiến chúng ta lạc lõng, thiếu định hướng và không thể hiện được bản thân. Cả hai đều là những điều không thể tồn tại trong một cuộc sống đích thực, nơi mà mỗi người đều có quyền chọn lựa và sống theo cách của riêng mình. Với hình ảnh bộ đồng phục, Phạm Thị Hoài khéo léo phản ánh một thông điệp rằng, trong xã hội, mỗi người cần có không gian để phát triển, không thể sống trong một cái khuôn đã được chuẩn bị sẵn. Sự tự do không phải là sự bừa bãi, nhưng cũng không thể là sự bó hẹp, gò ép. Một bộ đồ vừa vặn là khi nó vừa khít với người mặc, không chật đến mức làm ta khó thở, cũng không rộng đến mức ta không thể cảm nhận được chính mình. Tương tự, mỗi người phải biết chọn cho mình những giá trị, những lý tưởng mà mình cảm thấy đúng đắn, để từ đó phát triển và sống trọn vẹn với con người thật của mình.


Những điều mà Phạm Thị Hoài thể hiện trong tác phẩm "Thiên Sứ" chính là sự đấu tranh cho tự do cá nhân trong một xã hội đầy rẫy những ràng buộc, những áp lực từ thế hệ này đến thế hệ khác, từ gia đình, xã hội đến môi trường làm việc. Trong một thế giới mà sự đồng nhất đôi khi được đề cao, lời nói của tác giả như một lời nhắc nhở về việc tôn trọng sự khác biệt và khẳng định quyền tự do lựa chọn con đường riêng của mỗi cá nhân. Chúng ta không phải là những bản sao, và xã hội không nên bắt buộc tất cả phải tuân theo một mô hình chung. Điều này có thể hiểu như một sự phản kháng mạnh mẽ trước những chuẩn mực, những hệ thống tư tưởng đang chi phối cuộc sống của mỗi người. Đó là sự kêu gọi về quyền được sống một cuộc sống của riêng mình, theo cách mà chúng ta muốn, không phải theo những gì người khác mong đợi. Sự tự do này không chỉ đến từ việc làm những điều mà mình thích mà còn là sự dũng cảm từ chối những điều mà mình không đồng tình.



Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, mỗi con người đều có quyền tự do lựa chọn con đường đi riêng, thể hiện cái tôi và cá tính của mình. Những điều này không chỉ nằm trong phạm vi các lựa chọn nhỏ nhặt hằng ngày mà còn bao gồm cả những quyết định lớn lao về cách sống, cách nghĩ và cách thể hiện bản thân. Một trong những quan điểm sâu sắc mà tôi rất ấn tượng trong tác phẩm "Thiên Sứ" của Phạm Thị Hoài chính là lời khẳng định: "Tôi từ chối đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào, tôi từ chối bất kỳ bộ đồ đồng phục quá chật hay quá rộng nào." Câu nói này không chỉ mang đến một tuyên ngôn cá nhân mạnh mẽ mà còn phản ánh những suy nghĩ sâu sắc về tự do, sự độc lập và niềm tin vào giá trị cá nhân.
Thêm
63
0
0
Viết trả lời...
Biển sẽ không bao giờ lặng, chúng ta là những con người cô đơn trên bãi biển hôm ấy, lửng lơ, trôi dạt trong vô định. Từng đợt sóng ồ ạt xô vào bờ, làm ướt hết trái tim ta, rồi rút lại, và liên tục như thế. Qua rất nhiều lần bị vùi chôn trong đống sóng biển cảm xúc ấy, ta đã đánh mất đi sự rung cảm của mình đối với thế giới xung quanh. Thế nhưng, bạn à, bạn có biết rằng, vô cảm còn đáng sợ hơn buồn đau.

Cảm xúc là điểm yếu lớn nhất của con người, giá như tôi là người vô cảm, giá như tôi chỉ là hòn đá trôi dạt giữa xa khơi… Không ai có thể thấm thía nỗi đau này, họ ở ngoài cuộc, chỉ trỏ vào tôi và ra lệnh: “Mày không được buồn”, “Mày không được tiêu cực”. Thế nhưng, họ đâu hiểu rằng có những nỗi đau không thể ngưng lại nhờ mệnh lệnh. Những lời ra lệnh chỉ khiến họ thêm đau, thêm một lần trầy xước. Cảm giác khi đó thật tồi tệ, cảm giác như cả thế giới quay lưng lại với mình. Mình bơ vơ và nhỏ bé giữa cuộc đời này. Đây hoàn toàn không phải là cảm giác làm người lớn mà mình đã từng mơ. Nếu biết trước có cảnh này, mình ước mình sẽ mãi là một đứa trẻ.



Càng lớn lên, chống chọi với nỗi đau càng nhiều, mình càng nhận ra là, à, mình có thể ngồi giữa đống lửa này mà. Nó là cuộc chiến của riêng mình. Và giờ đây, mình bình thản ngắm nhìn những cảm xúc của mình đi qua như những đám mây trôi. Vô định. Nhưng mình không cố để thoát ra khỏi nó nữa. Những cảm xúc tiêu cực của mình cũng đẹp như những cảm xúc tích cực vậy, cũng muôn màu, cũng rực rỡ và cũng đáng để mình trân trọng. Mình cũng là con người, vui buồn đến với mình như một cái duyên. Mình không phải con robot để được lập trình sẵn sẽ luôn vui vẻ và mãi mãi vui vẻ. Mình đã từng rất ghét sự nhạy cảm của mình, ước rằng giá như mình không có cảm xúc. Mình từng nghĩ đến chuyện cắt tuyến lệ để không bao giờ khóc nữa, nhưng mình nhận ra nếu mình làm như vậy, mình đang làm tổn thương giọt nước mắt của mình.



Và khi mình trưởng thành, mình nhận ra, nếu hôm nay, mình chỉ có thể thở thôi cũng đủ rồi. Còn hơn là khi mình vô cảm.
Thêm
63
0
0
Viết trả lời...
Bố và con không hiểu nhau, không nói chuyện nhiều cùng nhau. Mỗi ngày chỉ nói qua nói lại vài câu hỏi han “Con ăn cơm chưa”, “Con có đi học không”. Con hỏi sao bố không giống những người bố mặc vest sang trọng khác. Bố cần mẫn, yên lặng, hàng ngày chở con đi học, đón con về nhà, nói dối con khi bị ốm để con không phải lo lắng. Đôi lúc, con trách bố quá vô tâm với con, hỏi sao bố không chịu gần gũi với con như mẹ. Con muốn nói chuyện với bố nhiều hơn, thấu hiểu bố nhiều hơn nhưng rồi thấy thật khó để mở lời.



Con trách bố không chịu hiểu con. Bố ở bên con hàng ngày, đưa con đi học, nhưng lại chẳng quan tâm con nghĩ gì, con làm gì. Bố chỉ quan tâm con ăn cơm chưa, đi học chưa, đóng tiền học bao nhiêu. Những lần con bất đồng quan điểm với mẹ, muốn bố đứng về phía con nhưng bố chỉ im lặng. Con trách sao bố chỉ quan tâm những người khác nghĩ gì về con mà lại không quan tâm con cảm thấy như thế nào. Đã có lúc, con bật khóc trong im lặng vì tủi thân, vì nghĩ rằng bố chẳng yêu con.



Ngày hôm ấy, con tình cờ xỏ chân vào đôi giày vải của bố. Đôi giày theo bố đi làm, được lau sạch khi bố đi dự đám cưới. Con vốn định mua cho bố một đôi giày mới nhưng bố không muốn, bố quen với những thứ cũ kỹ hơn. Con xỏ chân vào đôi giày sờn ấy, cảm nhận thử cảm giác của bố. Đôi giày to hơn chân con rất nhiều. Bố vẫn thường mang nó lộp cộp bước trên cầu thang mỗi sáng. Chỉ vài giây thôi, con cảm nhận được ít nhiều con người bố, thấy được phần nào những nỗi khổ của bố. Đôi giày ấy ngày ngày kiếm ra những đồng mồ hôi, cho con đóng tiền học, mua cho con những cái bánh vào ngày sinh nhật. Đôi giày ấy không mềm và dễ chịu như đôi giày búp bê của con, mỏng manh và cũ kỹ.



Con thấy mình nhỏ bé trong đôi giày vải ấy. Và con ước, con ước mình vẫn mãi là đứa bé năm ấy bố ôm vào lòng. Chẳng biết từ bao giờ, con lại giữ khoảng cách với bố như thế? Từ khi con bắt đầu lớn chăng… Con rời xa bố dần, không chịu chia sẻ để thấu hiểu bố mà chỉ trách sao bố không hiểu mình. Và con biết, bố cũng không mạnh mẽ. Bố cũng yếu đuối và mỏi mệt, đôi lúc bố cũng muốn từ bỏ. Nhưng vì con, vì mẹ, vì gia đình mình, bố phải gồng mình để không được khóc. Bố phải mạnh mẽ để mẹ con con dựa vào. Xã hội đã đánh mất quyền được khóc của người đàn ông, trong khi khóc là quyền cơ bản của con người. Nếu có một điều ước, con mong sao cho những gánh nặng trên vai bố nhẹ đi một chút, cho con được mua của bố một giờ đồng hồ, để bố được về nhà sớm ăn cơm cùng con.

Những lúc chông chênh nhất, nhìn mái tóc bố bạc dần, thấy gương mặt bố xám vệt thời gian, con lại có thêm một lý do để cố gắng.
Thêm
72
0
0
Viết trả lời...
Ngày còn bé, mình chỉ mong được lớn thật nhanh, để rời khỏi căn nhà nhỏ, để tung bay trên bầu trời của riêng mình. Mình nghĩ, hạnh phúc là những điều nằm ở phía xa khơi, gia đình chỉ là nơi bến bờ để mình trở về khi mỏi mệt. Nhưng mình nào có biết rằng, có những điều tưởng như bình thường, khi đi xa mới thấy hạnh phúc. Càng lớn lên, đi xa nhiều, mình càng thấy cuộc sống người lớn không huy hoàng như mình nghĩ, không phải cứ đi thì sẽ kiếm được nhiều tiền, kiếm được hạnh phúc. Điều mình nhớ thương nhất trong mỗi chuyến đi xa vẫn luôn là nhà, là gia đình với những bữa cơm cá kho nghi ngút khói. Tết này, ở nơi xa, mình nhớ…



Từ ngày ông đi, con vẫn chưa quen với cuộc sống vắng ông. Nhiều đêm choàng tỉnh, con vẫn mơ thấy ông hiện về trong giấc mơ con. Ông vẫn là ông của ngày nào, ngồi trên tấm phản gỗ, phe phẩy quạt, mắt nhìn xa xăm. Ông đi xa từ ngày con còn bé. Ngày ông mất, trời mưa tầm tã, bố mẹ khóc đỏ mắt, bà đứng không vững, chỉ có con vẫn ngây thơ chẳng biết gì đang diễn ra. Con chưa nhận thức được rằng, cả thế giới tuổi thơ của con đã ra đi. Con nhớ ông nhiều lắm, con nhớ con đã gào khóc gọi ông đến khản cổ. Bà ôm con vào lòng, vỗ về con trong bàn tay ấm áp. Bà dặn con phải ngoan thì ông mới về. Ngày nào, con cũng cố ngoan ngoãn, chờ một ngày ông sẽ về, sẽ dẫn con đi chơi. Nhưng theo năm tháng, nỗi buồn của con nguôi ngoai dần. Dường như con đã quên đi hình bóng ông trong tâm trí con, quên mất hình dáng bàn tay ông thế nào, quên giọng nói ông trầm ấm ra sao. Gần mười năm qua kể từ ngày ông đi, tết năm nay giữa chốn phồn hoa nặng hương khói, con nhớ về ông mà mắt cứ cay cay.



Từ ngày bà mất, con bắt đầu thấy sợ thời gian. Con sợ năm tháng sẽ đưa những người con yêu đi mất. Con đã tưởng bà sẽ ở bên con thật lâu, con tưởng bà sẽ chờ đến ngày con lấy chồng. “Để bà còn bế chắt chứ”. Thế mà, bà chẳng giữ nổi lời hứa với con. Bà mất giữa những ngày con lăn lộn trên thành phố, oằn mình trước bài vở và công việc. Trước những áp lực từ cấp trên, con nín lặng, nén nỗi đau vào trong, định rằng sáng sớm mai sẽ về với bà. Thế mà đêm ấy, cuộc gọi lúc 2 rưỡi sáng của bố làm tim con lạnh ngắt, con tưởng con đã ngất vào giây phút ấy. Vậy là ông bà đều bỏ con mà đi. Ông bà chẳng chịu giữ lời hứa với con. Tại sao ông bà dạy con phải ngoan ngoãn, đến khi con đã ngoan ngoãn rồi thì ông bà lại theo hương khói bay đi mất? Giữa phố thành, trong đêm đen, trong căn nhà trọ cô quạnh không ai bên cạnh, con gục đầu vào gối khóc sướt mướt. Ông bà đi mang theo cả tuổi thơ êm đềm của con đi. Nghĩa là từ nay con mất đi một phần ngây thơ.



Có những người ở bên cạnh ta, ta cứ chờ đợi mãi mới nói lên lời yêu. Đến khi muốn nói thì đã chẳng còn cơ hội, họ đã chẳng còn bên ta nữa rồi. Mình yêu ông bà nhiều lắm, nhưng mình vẫn cứ chần chừ, không dám nói yêu ông bà bao giờ, cũng chẳng dám choàng tay ôm lấy ông bà. Có lẽ là do cái tôi của mình cao quá. Mình tưởng mình còn nhiều thời gian lắm, vậy mà, hỡi ôi, mình nào biết có những năm tháng đầy nuối tiếc như thế ở trong đời…
Thêm
65
0
0
Viết trả lời...
Virgina Satir, một chuyên gia ở Mỹ từng chia sẻ rằng: “Chúng ta cần bốn cái ôm mỗi ngày để tồn tại, tám cái ôm mỗi ngày để nuôi dưỡng, mười hai cái ôm mỗi ngày để phát triển”. Chúng ta bất hạnh vì những đớn đau, thống khổ và sự vô tình của những kẻ máu lạnh, nhưng thế giới ban cho chúng ta quyền năng được chữa lành chính nỗi buồn của mình, đó là khi ta ôm người khác. Ôm ai đó không phải việc bắt buộc, không phải nghĩa vụ bạn phải trao đi khi người khác cần. Nhưng những cái ôm quan trọng với chính bạn, là việc bạn nên làm nó mỗi ngày để nuôi dưỡng chính mình.


Con người ta chỉ có một trái tim, nhưng khi chúng ta ôm người khác, chúng ta sẽ có hai trái tim. Hai trái tim ở bên trái và bên phải khiến chúng ta vừa biết đồng cảm vừa biết yêu thương. Hai trái tim là tín hiệu của tình người, là minh chứng cho việc chúng ta vẫn còn cảm xúc. Còn biết mở rộng vòng tay ôm lấy người khác là chúng ta còn biết yêu, biết ghét. Ôm một ai đó không chỉ diễn ra khi ta ôm người thương, ôm bố mẹ, ôm những người cùng thế giới với mình. Đó còn là khi chúng ta ôm lấy một đứa bé vùng cao co ro trong giá rét, khi ta nắm lấy bàn tay một bà cụ già. Nếu như con người thực sự có khoảng cách, cái ôm sẽ đưa chúng ta đến gần nhau hơn, xóa đi mọi giới hạn.

Con người ta không giỏi nói lời yêu, không phải lúc nào cũng đủ can đảm để nói rằng “Anh yêu em”, “Con yêu bố mẹ”. Chúng ta thể hiện cảm xúc qua những hành động không lời, đó là những cái ôm. Khi tôi quẫy quại trong nỗi thống khổ, trong những giọt nước mắt, tôi không nghĩ mình sẽ đủ bình tĩnh và bước đến ôm người khác một cách bình thường, bởi ma lực của cái ôm ấy thật đáng để vội vàng. Tôi ôm một người khác không có nghĩa là nỗi buồn của tôi biến đi, nỗi buồn của tôi cũng chẳng thể truyền sang một ai đó. Chỉ đơn giản là khi tôi ôm họ, tôi thấy mình được yêu thương, thấy mình không đơn độc trên cuộc chiến đời mình. Tôi ước mình được lang thang khắp chốn nhân gian ồn ã này, và khi quay về nhà thì được tan mềm trong những cái ôm ấm ngọt.

Hôm nay, bạn đã ôm ai chưa?
Thêm
70
0
0
Viết trả lời...
Đọc cuốn sách “Bức xúc không làm ta vô can” của Đặng Hoàng Giang, tôi rất ấn tượng với chương sách: văn hóa không phải lý do khiến Quốc gia thất bại.
Ở chương này, tác giả đề cập đến việc sự quan trọng của văn hóa không bị đứt gãy, cũng không phải là nguyên nhân khiến cho một quốc gia thất bại trước toàn cầu. Tác giả mong muốn nhìn thấy người dân Việt Nam có đủ hiểu biết và sự dẻo dai về văn hóa để chèo lái trên biển toàn cầu hóa, để trở nên những công dân toàn cầu mà không bị tha hương về văn hóa, bơ vơ về bản sắc. Trước những quan điểm trái chiều về việc chúng ta cần phải thoát khỏi những quan điểm cổ hủ xưa cũ để bắt đầu hình thành nên một nền văn hóa cho riêng mình, tác giả thể hiện rõ thái độ ngán ngẩm và đặt ra câu hỏi: liệu văn hóa có phải là lý do khiến Quốc gia thất bại?


Văn hóa hoàn toàn không phải là lý do khiến Quốc gia thất bại. Việt Nam chúng ta được hình thành từ nền tảng của văn hóa Trung Quốc, từ nền tảng của đạo Khổng tử. Đó là nền móng xây dựng nên văn hóa và 4000 năm văn hiến của người Việt Nam. Và sẽ ra sao nếu như chúng ta từ bỏ hoàn toàn nguồn gốc cốt lõi của mình để theo đuổi một nền văn hóa khác được xây dựng chỉ với tuổi thọ và chục năm?


Hơn nữa, Việt Nam chúng ta không chỉ muốn thoát khỏi tầm ảnh hưởng về kinh tế hay chính trị, mà còn muốn được khẳng định tiếng nói riêng của mình không trùng lặp với ai, bởi chúng ta là một, là riêng, là duy nhất. Rất nhiều tiếng nói yêu cầu Việt Nam thoát Trung Quốc về văn hóa, trở thành một quốc gia độc bản về bản sắc. Theo họ, cước từ văn hóa Trung Quốc, tức là cước từ gốc gác của văn hóa Việt, là điều cấp thiết để Việt Nam trở nên hùng mạnh và thịnh vượng. Nhưng chúng ta đâu chỉ phụ thuộc vào văn hóa Trung Quốc để trở nên vững mạnh hơn. Và cái chính đó là phải sửa cái ruột bên trong, chứ không phải chỉ cải cách bên ngoài, theo những hình thức bên ngoài vô giá trị.


Từ tưởng tượng một tình huống khác khi nghĩ đến việc thoát Trung, nếu các trường hợp chỉ thấy cái khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn" bằng “Hãy tin vào chính bạn" - một phương châm hoàn toàn Mỹ, thì liệu nặng dạy thêm, phong bì, biếu xén, lại chạy trốn chạy điểm có bỗng dưng biến mất hay không? Nếu như thoát Trung về văn hóa thì những tệ nạn trong xã hội ngày hôm nay có bị giảm đi hay không? Và nếu như chúng ta hoàn toàn theo Mỹ thì liệu đời sống của chúng ta có được cải thiện hay không? Trả lời được câu hỏi đó cũng là lúc ta khẳng định Văn hóa không phải là lý do khiến cho một quốc gia thất bại.
Thêm
61
0
0
Viết trả lời...
Xã hội của người trẻ hôm nay xoay vần trong những áp lực. Một phần những áp lực đó đến từ bản thân họ, gia đình và bạn bè. Như một phần khác cũng đến từ văn hóa thần tượng đang diễn ra một cách sôi động trong cuộc sống của người trẻ. Thật không khó để bắt gặp hình ảnh những ca sĩ, diễn viên, người mẫu trên mạng xã hội, và những ảnh hưởng của họ không hẳn là không tác động đến người trẻ. Họ khiến cho những người trẻ cảm thấy ngưỡng mộ, thần tượng và đôi khi là cuồng loạn trước thần tượng của mình. Văn hóa thần tượng thật ra không có gì xấu, thậm chí nó còn mang ý nghĩa tốt nếu như sự thần tượng của chúng ta mang lại tác động tích cực. Tuy nhiên người trẻ hôm nay lại không biết vận dụng những tác động tích cực của nó. Văn hóa thần tượng dân vị biến chất, khiến cho câu hỏi liệu hào quang có thật sự hào nhoáng đang trở nên bức thiết hơn đối với người trẻ.


Liệu hào quang có thật sự hào nhoáng? Hào quang thường đến từ những người nổi tiếng, ca sĩ diễn viên, những người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội. Họ được xã hội gắn cho những biệt danh về sự hào nhoáng, giỏi giang và gây được ấn tượng. Trong thế giới có mạng xã hội ngày nay, những người trẻ dần dần có cơ hội được tiếp xúc hơn với thần tượng của mình, nhìn thần tượng của mình ở khoảng cách gần hơn. Chúng ta có thể gặp gỡ Taylor Swift, Michael Jordan, Marilyn Monroe thông qua màn ảnh tựa như những người thân quen của mình, đó là tiếp xúc giữa thần tượng và người hâm mộ. Điều đó được gọi là para social, một từ ngữ được xem là từ ngữ quan trọng của năm 2025. Và những người thần tượng đó được gọi là những “người xa lạ gần gũi".


Tuy nhiên, Bi kịch đó là Hào quang không thật sự hào nhoáng. Đằng sau câu chuyện của người nổi tiếng là rất nhiều những bi kịch đằng sau, rất nhiều những con đường mà họ phải trải qua và gánh chịu khi đối mặt với mạng xã hội và văn hóa thần tượng. Đó là lúc người ta bàn tán về biệt thự của một ca sĩ nhiều hơn là giọng hát của cô ấy, bàn tán về cuộc ly hôn của một vận động viên hơn là về chương trình tập luyện của anh. Người nổi tiếng thường có cảm giác bị soi mói ở khoảng cách gần, mất đi quyền riêng tư, hoàn toàn bị xâm phạm và không có quyền được sống là chính mình. Khi là một người nổi tiếng, ăn cũng phải nghệ sĩ, ngủ cũng phải nghệ sĩ, uống nước cũng phải nghệ sĩ, những lời nói phải luôn đặt trong chuẩn mực để không bị xã hội lên án. Điều đó đồng nghĩa là, khi trở thành một nghệ sĩ, họ đã đánh mất đi quyền lực sống như một con người cơ bản của mình. Những biến động trong cuộc sống của họ thay đổi căn tính và những chuẩn mực của xã hội.


Danh vọng luôn quyến rũ con người như ánh sáng quyến rũ thiêu thân. Lao đầu vào thứ ánh sáng đó chưa chắc đã đem lại cho chúng ta Hào Quang, mà ngược lại chỉ biến chúng ta thành con thiêu thân. Thần tượng là xứng đáng, nhưng liệu có xứng đáng hay không khi chúng ta đánh mất phần người của mình để theo đuổi một bản sao khác của xã hội? Và câu hỏi hôm nay trong văn hóa thần tượng của người trẻ đó là liệu hào quang có thật sự hà
o nhoáng…
Thêm
58
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta đang sống trong một thời đại biến động điên đảo, những điều được mặc định là chân lý chưa chắc đã là sự thật, và thậm chí những điều mắt thấy tai nghe cũng không phải là chân lý. Đôi lúc, thời đại ép ta phải hoài nghi, trăn trở và luôn đặt câu hỏi trước vấn đề: liệu điều đó có đúng hay không. Đó là khi chúng ta cần phải suy nghĩ về vấn đề hậu sự thật.

Hậu sự thật, trong cuốn từ điển danh tiếng Oxford English dictionary đã định nghĩa: hậu sự thật là những tình huống mà những sự thật khách quan có ít ảnh hưởng đến việc hình thành quan điểm hơn là sự kêu gọi cảm xúc và những sự tin tưởng cá nhân. Vấn đề này nghiêm trọng đến mức được xem là từ ngữ của năm. Chỉ cần bị tác động bởi quan điểm của số đông, chúng ta dễ dàng bỏ qua mặt khách quan của sự việc, phớt lờ tính chính danh của vấn đề để đi theo quan điểm số đông.
Đôi khi, một con số, một thông tin không chính xác cũng có thể đánh lừa và dẫn dắt số đông, tạo ra những phán quyết số đông không thể nào kháng cự. Đó phần nào cũng là nguyên nhân của những cuộc biểu tình trên thế giới. Nguyên nhân xảy ra vấn đề hậu sự thật có thể là do tốc độ truyền tin sánh ngang với tốc độ ánh sáng trên mạng xã hội. Dưới lớp mặt nạ của mạng xã hội, con người có thể giấu danh tính để nêu liên quan điểm của mình mà không sợ bị phản bác. Nguyên nhân thứ hai là những tin tức thật giả hỗn độn, được tạo dựng với mục đích tiêu cực đã trở thành trọng điểm thu hút con người.

Thế giới cũng đồng thời tồn tại những trung tâm truyền tin mang khả năng dẫn dắt dư luận. Họ là những người có khả năng nắm bắt tâm lý số đông và biết cách chạm vào những vấn đề mà số đông quan tâm, chú ý. Chính số đông đã tạo ra giá trị của họ, và đến lượt mình họ lại dẫn dắt, định hướng ngược trở lại số đông.

Hậu sự thật có thể diễn ra ở tất cả các lĩnh vực như văn, giáo dục, giải trí, công nghệ, y tế cho đến cả những quan hệ ứng xử thông thường. Nó gây ra những khủng hoảng vô tiền khoáng hậu. Đã không còn là lúc để chúng ta tranh luận xem liệu khổ sự thật có tác động tiêu cực như thế nào, bây giờ là lúc chúng ta bắt tay vào để thay đổi nó, để xóa bỏ vấn đề hậu sự thật như một từ ngữ nghiêm trọng của năm.
Thêm
59
0
0
Viết trả lời...
Có một câu chuyện rất thú vị được chép nguyên văn từ cuốn "Plato và con thú mỏ vịt bước vào quán bar..." như thế này:

Một bị cáo hầu tòa vì tội giết người. Các chứng cứ buộc tội anh ta trong vụ án đã rất rõ ràng nhưng không có xác chết. Kết thúc phần tranh biện của mình, vị luật sư bào chữa quyết định phải dùng mẹo. "Kính thưa quý bồi thẩm đoàn", ông ta nói, "Tôi có một điều ngạc nhiên dành cho tất cả các quý vị, trong vòng một phút, người bị cho rằng đã chết sẽ bước vào phòng xử án này".

Ông ta ngó ra cửa phòng xử án. Các vị hội thẩm sống suốt ham hở ngó ra. 1 phút trôi qua. Không có gì xảy ra. Cuối cùng luật sư nói: "Nói thật là tôi đã bị ra chuyện người chết sẽ bước vào. Nhưng tất cả quý vị đều nhìn ra cửa chờ. Vậy tôi có thể nói với các vị rằng trong vụ này có một nghi ngờ hợp lý, rằng có phải người đã bị giết hay không, do đó tôi phải yêu cầu các vị quay lại phán quyết người này vô tội".

Bồi thẩm đoàn giải lao để cân nhắc. Sau vài phút, họ trở lại và ra phán quyết "có tội". "Sao các vị có thể làm thế? Chắc chắn các vị đã nghi ngờ. Tôi thấy tất cả các vị đều nhìn chằm chằm ra cửa". Chủ tịch bồi thẩm đoàn trả lời: "Ồ, chúng tôi đã nhìn nhưng thân chủ của ông thì không".

Hãy thử nhìn lại cái mẹo mà vị luật sư sử dụng trong câu chuyện này, mẹo ấy rõ ràng tạo ra một hoài nghi cho tất cả những ai quan sát câu chuyện, đặc biệt là vị bồi thẩm đoàn. Khi tất cả đều cùng nhìn ra cửa, cùng tin rằng người bị cho là đã chết sẽ bước vào sau lời giới thiệu của vị luật sư thì có nghĩa là tất cả đều cùng hoài nghi: có chắc chắn nạn nhân đã bị giết hay không?

Thế nhưng, chính bằng sự quan sát và tư duy logic, hoài nghi trước giả thiết được vị luật sư đặt ra, các vị bồi thẩm đoàn đã phản bác giả thiết của vị luật sư một cách thuyết phục. Từ những sự kiện đụng chạm như thế mà bản chất của sự kiện dần được sáng tỏ. Khi những hoài nghi đối diện với hoài nghi, chúng ta sẽ thấy được những góc nhìn khác nhau về vấn đề, và khi đó là lúc chúng ta đặt câu hỏi liệu đâu mới là câu trả lời đúng.

Phải hoài nghi mới có thể tìm ra chân lý. Nếu không chúng ta sẽ dễ bị "hậu sự thật" và "sự thao túng tâm lý" đánh lừa.

- Các vị thần linh có thể sai sót không?
- Không. Vì họ là thần linh.
- Vậy khi hai vị thần tranh luận, sẽ có người đúng người sai phải không?
- Đúng rồi.
- Vậy tại sao lại bảo các vị thần không bao giờ sai?
Thêm
62
0
0
Viết trả lời...
Mùa thu là chất men ngọt dịu của tâm hồn thi nhân. Mùa thu cũng là mùa tình. Khác hẳn với mùa xuân, mùa thu mang sự xao xuyến của đất trời thả vào từng câu chữ. Thơ cũng là thu của lòng người, thu lại là thơ của đất trời. Trong bốn mùa, thơ ca thiên vị mùa thu hơn cả và mùa thu cũng ban tặng cho thi ca nhiều thi tứ hơn.


Xuân Diệu thường được mệnh danh là nhà thơ của mùa xuân, gắn với những Xuân Không Mùa, với những năm tháng tuổi trẻ trôi đi không trở lại. Thế nhưng như thế không có nghĩa là xuân diệu không dành một quan niệm riêng cho cái mùa của những bông cúc vàng ẩn dật này. Trong cảm quan của thi sĩ, thiên nhiên cũng như một giai nhân đầy nhan sắc. Thời kỳ rực rỡ hoàng kim là thuộc về mùa xuân, đến mùa thu cảnh vật đã bắt đầu bước vào mùa tàn phai. Nhưng đối với Xuân Diệu, thì ngay trong đội tàn phai giai nhân ấy vẫn cứ kiêu sa, lộng lẫy. Đang mùa thu tới có lẽ là thực phẩm được nảy sinh trực tiếp từ cảm quan ấy.


Đây mùa thu tới mang một cảm hứng rất Xuân Diệu, nghiêng về thời gian. Cũng như cái tên của nó, bài thơ đã chọn một thời điểm riêng để đến với mùa thu. Đó là thời khắc giao mùa, là khi vận vật chuyển giao giữa sắc hè nối giữa mùa thu và cuối cùng là chớm Đông. Chỉ cần làm một so sánh nhỏ với chùm thơ Thu của Nguyễn Khuyến sẽ thấy rõ hơn cảm ứng này của Xuân Diệu. Nhà thơ đi tìm kiếm những gì là đặc biệt nhất thì vẽ đến bức tranh Thu. Thơ của Xuân Diệu trừ lúc mùa thu từ phương xa về, đáp xuống xứ sở này nhẹ như bỗng, chiếm lấy toàn bộ thiên nhiên, cỏ cây.


Trong cái thế giới riêng của bài thơ, cảnh vật mang vẻ đìu hiu, xao xuyến nhưng không đánh mất đi sự sống của mình. Vạn vật trong sắc thu vẫn chuyển mình, lay động. Cây cỏ vẫn thướt tha, quyến rũ và khiến cho mùa thu vừa man mác buồn vừa mang một hình thái riêng. Có thể nói mùa thu trong đấy mùa thu tới là một sắc thu mang phong cách của Xuân Diệu. Tôi chưa từng được trực tiếp nhìn ngắm mùa thu thông qua cảnh vật. Mùa thu đến đối với tôi chỉ qua những lời nhận xét, những câu kể của những người xung quanh, rằng thu thì sẽ có hoa cúc, có heo may, có bầu trời dịu dàng và đằm thắm. Tôi đã từng tưởng tượng về mùa thu của riêng mình trong rất nhiều những bài thơ về mùa thu khác. Mùa thu trong mỗi sáng tác của các nhà thơ đều mang một hình thái rất riêng, đến thơ của Xuân Diệu lại càng là một hình thái rất đặc biệt. Xuân Diệu có tài làm cho những gì của mình biết không trùng lặp với ai. Ngay cả khi ông chọn đề tài mùa thu, một đề tài đã quá quen thuộc với các thi nhân, nhưng đố ai dám nói rằng mùa thu của Xuân Diệu quen thuộc và đã gặp ở đâu đó.
Thêm
61
0
0
Viết trả lời...
Tết năm nay lại về trên mái hiên của ông ở ngõ Hàng Bông, vẫn là những cái Tết quây quần sum họp nhưng năm nay chỉ khác là bà đã không còn ăn tết cùng con cháu.

Đây là năm đầu tiên ông ăn tết một mình. Cứ những ngày giáp Tết như thế này, tôi thấy ông thường ra ngoài từ sớm đi dạo chợ Tết. Mới từ những ngày 23, 24, trên những con phố nhỏ của ngõ hàng Bông đã tất bật sửa soạn đón Tết. Có một mùa tết rất nhỏ diễn ra trên con phố này. Dường như những con người của phố hàng Bông và những con người lao động tứ xứ đều chờ đợi năm hết Tết đến, chờ những bông đào hồng nở rộ, chờ những ngày mai vàng tươi chở vào từ Phương Nam. Những năm trước, ông bà tôi thường cùng nhau đi dạo chợ Tết. Nhưng năm nay ông chỉ có một mình. Nhìn dáng Ông gầy gò khoằm khoặm liêu xiêu trước gió, tôi chảy nước mắt, lo sợ một ngày ông cũng theo bà đi mất.

Chiều trời lại trở mưa. Mưa rả rích trên mái tôn của ngôi nhà cổ. Ông bắc chiếc ghế gỗ ra ngồi trước hiên, trầm lặng ngắm mưa rơi. Có lúc tôi đến ngồi cạnh ông mà ông cũng chẳng biết. Ông cười hiền bảo tôi:

- Mưa rơi là lộc trời đấy. Chắc năm nay bà vẫn còn ở đây ăn tết với ông.

Nói rồi ông đưa bàn tay gân guốc và nhăn nheo đón lấy một hạt mưa rơi trong tay, nâng niu nó như lộc xuân của trời. Mưa của năm nay rất khác với những năm trước. Những năm trước mưa to, gia đình tôi phải mặc áo mưa đi chơi tết. Năm nay Tết vắng bà, mưa dịu dàng, mưa rải rích, mưa quyến luyến và yêu thương tựa như hình ảnh bà đã ở lại bên chúng tôi.

Từ ngày bà theo mưa đi, bất cứ cơn mưa nào cũng gợi nhắc cho chúng tôi về bà. Mỗi lần mưa rơi hãy thấy bà đang ở lại bên tôi, đang xoa xoa bàn tay nóng ấm của ông, đang quàng khăn lên cổ cho tôi. Và tôi nhận ra rằng, những người xung quanh tôi dù ở bất cứ phương trời nào, trong bất cứ hình dáng nào cũng đều luôn ở bên cạnh chúng
ta.
Thêm
94
0
0
Viết trả lời...
[SIZE=5]Nhà thơ Mộc[/SIZE] Tâm đã từng nói: “Bạn tin quá nhiều vì bạn biết quá ít”. Nhận thức của chúng ta thường bị giới hạn bởi kinh nghiệm và kiến thức. Do vậy chúng ta luôn dễ dàng tin người khác và không có sự kiểm chứng thông tin.

Trong thế giới rộng lớn mà chúng ta đang sống, những điều kỳ diệu cùng tồn tại với những điều bình thường, những điều khả tri và bất khả tri đan xen vào nhau. Những điều bạn chưa từng thấy, chưa từng nghe ai chưa từng trải qua không có nghĩa là chúng không tồn tại, mà chỉ có thể là chúng tồn tại ở những góc khuất mà bạn chưa chạm tới.

Thế giới giống như một chiếc thùng chứa khổng lồ, bào chứa hàng nghìn khả năng và sự khác biệt. Nhiều cá tính riêng sẽ tạo nên một tập thể chung. Và rất nhiều cá tính riêng đó sẽ tạo nên sự giàu có, phong phú trong một tập thể chứ không phải là một gánh nặng. Sự tồn tại của nó trong xã hội không chỉ chứa đựng sự rộng lớn, mà còn đồng thời chứa đựng sự phức tạp. Những người mà chúng ta thường ngưỡng mộ nhất trên thế giới này điểm chung là họ đều luôn “đạt đến chính mình". Hãy thử nhìn mà xem, những người mà chúng ta ngưỡng mộ hầu hết đều mang một đặc điểm, sở trường hay thành tựu nào đó khiến cho chúng ta cảm thấy xúc động và ngưỡng mộ. Để chúng ta có thể trở thành một phiên bản hoàn hảo hơn của chính mình, chúng ta cần phải luôn mở rộng biên độ góc nhìn để nhìn thấy cuộc sống của những chiều kích khác nhau, không vội vàng đóng khuôn góc nhìn của mình trong những định kiến cổ kính.

Cho dù số phận của chúng ta có như thế nào đi chăng nữa, trái tim của chúng ta vẫn luôn cần được mở rộng. Thế giới không ngừng thay đổi, khoa học không ngừng phát triển đưa con người tới những tầng sống mới. Và thời đại thì luôn không chờ đợi con người, con người phải đuổi theo thời đại. Nếu như con người không có khả năng đuổi theo thời đại thì chắc chắn sẽ bị thời đại bỏ lại phía sau. Những ý tưởng mới, khái niệm mới và công nghệ mới xuất hiện không ngừng, tác động đến nhận thức và mở rộng tầm nhìn của chúng ta. Đã không còn là thời đại của việc trăn trở xem việc sử dụng công nghệ có còn đúng hay không, đây là thời đại mà chúng ta phải chấp nhận rằng chúng ta có thể sẽ bị công nghệ thay thế. Việc mở rộng góc nhìn đó khiến chúng ta hiểu được tầm quan trọng của việc tái khẳng định mình trong một xã hội đang ngày càng phát triển.

Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể tìm thấy được vị trí và hướng đi của riêng mình trong một thế giới luôn thay

[SIZE=5]đổi.[/SIZE]
Thêm
62
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta là những vận động viên trong cuộc hành trình chạy thoát khỏi những lời chỉ trích. Chẳng biết từ khi nào, chúng ta cứ chạy vòng vòng trong thế giới của người khác, đắm chìm trong những suy nghĩ và quan điểm rất cá nhân của họ để làm cho mình bị tổn thương. Chúng ta xấu tính và ích kỷ với chính bản thân mình. Một trong những điều bất công nhất mà ta đối xử với bản thân là quá quan tâm đến những nhận xét tiêu cực của người khác, rồi trở nên khắt khe và tự dày vò tâm hồn mình. Sự công kích hay chê bai khiến bạn cảm thấy mình thất bại, muốn trốn tránh cảm giác đau lòng và xấu hổ ấy, tránh lấy tất cả mọi thứ liên quan đến bản thân mình và thậm chí là dần từ bỏ chính mình.


Ta đã từng vô lo vô nghĩ về vẻ bề ngoài, cho đến khi nhận được những lời nhận xét không hay ho về vẻ ngoài của mình. Ta đã từng vô lo vô nghĩ, cho rằng cuộc đời sẽ thật hồn nhiên và mình cũng sẽ thật bao dung với cuộc đời. Thế nhưng càng trải nghiệm bạn sẽ càng nhận ra mọi thứ không đơn giản như thế. Dù biết rằng bản thân không sai, nhưng ta vẫn e dè, thu mình lại, không còn dám thể hiện bản thân mình nữa. Đó là lúc chúng ta đang chối bỏ một phần của cơ thể mình.


Rất nhiều lần những đánh giá tiêu cực khiến bạn tổn thương và nghi ngờ chính mình, thậm chí khiến bạn đánh mất niềm tin vào bản thân. Thế nhưng bạn vẫn không thể khước từ chuyên chế của nó, vẫn không ngừng chịu sự giày vò của nó. Thời gian đầu bạn cảm thấy rất ngạc nhiên, sau đó cảm thấy tồi tệ và thất vọng về bản thân. Những lời chê bai cứ chạy qua chạy lại trong đầu khiến bạn cảm thấy mất tự tin, đau lòng và khổ sở. Bạn cảm thấy mình không đáng sống, không có ý nghĩa gì trên cuộc đời này. Bạn dễ dàng bị ảnh hưởng bởi mọi lời lẽ mà người khác nhận xét về mình bởi vì bạn hoàn toàn thiếu niềm tin ở bản thân.


Bạn thường không quan tâm đến những lời khen ngợi tích cực về mình, cho rằng đó là những lời dối trá và nịnh nọt. Vậy tại sao bạn lại dễ dàng tin vào một lời chê bai trong khi bạn chưa hề kiểm chứng được tính đúng đắn của nó? Những nhận xét tích cực có thể nhẹ nhàng trôi qua như gió thoảng mây bay, nhưng một lời chỉ trích tiêu cực có thể ghi lại trong đầu chúng ta suốt nhiều ngày liền, khoá chặt tâm trí ta trong những lời nói tiêu cực. Nó khiến chúng ta không thể vực dậy và sống là chính mình. Phê bình là một hình thức đánh giá từ xã hội, nhưng con người luôn tin vào xã hội và những mối quan hệ xung quanh mình. Bởi vậy họ thực sự rất nhạy cảm trong những lời đánh giá. Dù bị phán xét trực tiếp hay gián tiếp, tâm lý của chúng ta cũng luôn bị ảnh hưởng, luôn phải tự soi chiếu lại bản thân để cân nhắc xem đánh giá đó có đúng hay không. Nhưng rồi chúng ta đã thực sự cân nhắc hay chưa, khi mà ta vẫn suy tư và trăn trở về bản thân không hoàn hảo của mình?
Thêm
53
0
0
Viết trả lời...
Thực sự thì tôi rất mệt.

Nhưng tôi lại không thể nói với ai về điều đó.

Trên đời này thực sự có những ngôn từ ngắn gọn mà chứa đầy gánh nặng, luôn đẩy người ta lên bục Anh Hùng. Đó là “đừng Khóc" và “cố lên". Mỗi ngày trên con đường của mình, chúng ta phải bước đi và ngẩng cao đầu. Dù cho có đớn đau và trầy xước, tao cũng phải học cách lừa đi cảm xúc của mình và bước tiếp không được dừng lại một phút giây nào. Phải chạy thật nhanh lên về phía trước, bởi vì ta tin rằng nếu như dừng lại thì sẽ chỉ nhận được những cái nhìn săm soi và thất vọng của xã hội.

Đôi khi chúng ta chỉ có thể giả vờ mỉm cười, giấu đi nước mắt và tiến về phía trước trong im lặng. Chẳng ai biết chúng ta đã trải qua những nỗi đau nào, đã bật khóc giữa đêm hay đã suy sụp đổ vỡ ra sao. Thứ mọi người thực sự nhìn thấy chỉ là chiếc mặt nạ cười. Không ai biết thực ra cả tôi và bạn đều không mạnh mẽ như vẻ bề ngoài. Nhưng đôi khi thật sự để từ bỏ mọi thứ lại không dễ.

Có những thời điểm chúng ta tin là càng quen biết nhiều, số lượng người quen biết càng đông đảo thì càng hạnh phúc và có lợi cho cuộc sống. Tuy nhiên chính những mối quan hệ đó đôi khi lại khiến chúng ta cảm thấy mệt mỏi, tù túng và bí bách. Có những mối quan hệ hời hợt chỉ tồn tại khi bạn đang trên đỉnh cao, lúc bạn gặp vấn đề khó khăn thì bọn họ sẽ biến mất, thậm chí là quay lại cười nhạo hoặc đâm dao vào bạn. Có những người luôn tỏ ra là bạn bè tốt, nhưng khi bạn vấp ngã, đó sẽ là cơ hội để họ cười nhạo và ném đá tới tấp để bạn không thể đứng dậy được nữa.

Bởi vì chỉ sống trong thế giới mà mình biết, nắm giữ những tiêu chuẩn của riêng mình và so đo với thế giới một cách đố kỵ, họ không tôn trọng bạn và cũng sẽ chẳng để cho bạn yên. Cảm xúc và lòng tự tôn của bạn sẽ dần bị phá hủy khi ở bên cạnh những người này. Bởi vậy một lối đi cho người trẻ trong thời đại xã hội mới, thành tích bị đặt nặng và sẵn sàng luôn có những người đè nén bạn xuống để trở nên giỏi giang hơn, bạn cần phải viết lựa chọn một nền văn hóa phù hợp với mình. Những mối quan hệ không xứng đáng đôi khi sẽ khiến cho bạn cảm thấy thật mệt mỏi. Vậy thì hãy tìm đến những người khiến cho bạn cảm giác được chữa lành, được an ủi, được yêu thương và có khả năng chia sẻ những câu chuyện sâu bên trong trái tim
mình.
Thêm
57
0
0
Viết trả lời...
Càng trưởng thành, mình nhận ra cuộc đời càng phức tạp hơn mình nghĩ. Mình đã tưởng rằng, chỉ cần mình yêu đời thì cuộc đời cũng sẽ đáp trả lại mình bằng tình yêu như thế. Nhưng mình nhận ra, cuộc sống phức tạp, thế giới người lớn cũng chìm sâu trong những chộn rộn, xích mích mà bản thân mình không thể hóa giải. Liệu mình có thể yêu cuộc đời một cách hồn hậu nhất không, yêu cuộc đời mà không phải trăn trở về việc mình sẽ trao đi tình yêu bao nhiêu và sẽ nhận lại gì.

Khi mình trưởng thành, mình nhận ra tình yêu của mình là thứ để người khác lợi dụng. Họ không thật lòng trân trọng tình cảm của mình, chị thấy rằng con bé này dễ lừa nhỉ. Và thế là họ có rẻ những tình cảm mà mình đã dành cho họ, dù trên vị trí của một người rất quan trọng đối với mình. Tình yêu đối với mình không đắt. Mình sẵn sàng hi sinh tất cả, làm tất cả mọi thứ tốt đẹp nhất để dành cho những người xung quanh, để họ cảm thấy mình luôn ở bên cạnh họ. Nhưng mình thấy buồn và thấy thất vọng trước những con người mà mình đã lựa chọn tin tưởng để gửi gắm. Mình không nghĩ rằng tình cảm của mình lại là thứ rẻ bèo để họ lợi dụng, chơi đùa trên những cảm xúc thật của mình. Sau này trưởng thành hơn, mình sẽ e ngại về việc có nên cho đi tình cảm hay không, việc yêu một ai đó cũng sẽ trở nên rụt rẻ hơn với mình. Khi đó tình cảm trao đi sẽ không thật lòng, sẽ phải cân đo đong đếm, sẽ phải nghĩ suy và trăn trở mình có nên trao đi hay không.

Khi mình trưởng thành, mình nhận ra đôi khi tình yêu của mình khiến cho người khác cảm thấy phiền toái. Mình luôn nghĩ rằng mọi sự trao đi đều có ý nghĩa và điều khiến cho người khác cảm thấy hạnh phúc. Nhưng có lẽ cách mình thể hiện tình cảm đã khiến cho họ cảm thấy phiền phức, thấy mình chỉ là một con bé đáng thương tích gieo đi những tình cảm chân thành. Họ dần dần xa cách mình hơn, né tránh mình mỗi khi mình muốn gần họ, chỉ vì mình thấy yêu họ rất nhiều. Họ có hiểu cho tình cảm của mình hay không, hay nghĩ rằng đó là thứ tình cảm phiền toái? Hai con người từng yêu thương nhau rồi cũng vì thế mà trở nên xa lạ hơn. Giữa mình và những con người đó chỉ là những mối quan hệ xã giao, không còn chút gắn kết nào chỉ vì hai chữ phiền toái. Và điều mà mình học được đó là không phải tình cảm nào trao đi cũng có ý nghĩa. Chúng ta không có quyền ép người khác phải nhận tình cảm, người khác cũng không có trách nhiệm phải nhận tình cảm đó một cách chân thành.

Khi mình lớn hơn, mình nhận ra mình phải trưởng thành hơn rất nhiều. Mình không thể yêu đời một cách hồn nhiên như thế này được nữa. Đúng như nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã từng nói: “đời này ai có thể hồn nhiên như mây trời? Phải đánh đổi và trả giá". Điều đó có nghĩa là vấn đề còn lại sau này của mình sẽ không thể nào ngây thơ được nữa. Mình không thể trao đi tình yêu một cách trong trắng, tự do, trao đi hết mình mà không ngần ngại sự nhận lại nữa. Mình cũng biết sống sâu sắc hơn, không còn ngây thơ và bé dại như ngày nào nữa. Cuộc sống này đang sống nhưng không dễ dàng cho những cư dân ngụp lặn trong lòng nó. Cuộc sống là thiên đường cho những kẻ biết hiểu nó chứ không phải là mù quáng tin vào nó để rồi mãi mãi ngây thơ sống trong những niềm tin cố hữu của mình. Từ ngày mai mình sẽ bắt đầu trở thành người lớn, sống một cuộc đời của người lớn, bắt đầu suy tư như người lớn, biết trăn trở và thấu hiểu nhiều hơn, không còn bé dại như thế này được mãi. Mình mong những cô bé cậu bé của tương lai sau này cũng hãy thật mạnh mẽ để đối đầu với thế giới, để nhận ra “Cuộc sống sinh ra không phải để sợ mà để hiểu” (Marie Curi
e).
Thêm
53
0
0
Viết trả lời...
Con người không thể sống mà thiếu đi một ước mơ. Ước mơ là ngọn lửa soi đường, là động lực để ta bước đi qua những ngày dài đầy thử thách. Bởi vậy, “Con người cần có mình một ước mơ. Nếu trong tim không có chốn dừng chân thì đi đến đâu cũng là lạc lối”. Đó như một lời nhắc nhở về giá trị cốt lõi của ước mơ trong cuộc sống, đặc biệt đối với những người trẻ đang đi tìm con đường cho chính mình.

Ước mơ không phải chỉ là một khát khao xa vời, mà là một điều gì đó có thể thực hiện được, là điểm dừng chân để ta có thể nhìn thấy con đường phía trước. Có thể, ước mơ của mỗi người khác nhau, nhưng chung quy lại, tất cả đều bắt nguồn từ một mong muốn vượt lên chính mình và sống một cuộc đời có ý nghĩa. Nếu không có ước mơ, ta sẽ chỉ sống theo cách mà người khác mong muốn, hoặc theo lối mòn mà xã hội đã vạch ra. Khi đó, cuộc sống chỉ còn là sự tồn tại mà không có mục đích, và một ngày nào đó ta sẽ nhận ra rằng mình đã lãng phí thời gian quý báu vào những điều vô nghĩa. Nhưng nếu có một ước mơ, dù là nhỏ bé hay lớn lao, ta sẽ có một hướng đi, một lý do để thức dậy mỗi sáng, để cố gắng, để không bao giờ từ bỏ.

Trong những lúc khó khăn, ước mơ chính là nguồn sức mạnh không thể thiếu. Con người ta không thể tránh khỏi những thử thách, những thất bại. Chắc hẳn không ít lần, ta cảm thấy mệt mỏi, chán nản và muốn buông xuôi tất cả. Nhưng chính trong những thời điểm đó, ước mơ lại là thứ kéo ta trở lại, là lý do khiến ta đứng lên sau mỗi lần vấp ngã. Những người thành công nhất trong xã hội cũng đã từng trải qua không ít thất bại, nhưng họ không bỏ cuộc, bởi họ biết rằng ước mơ của mình sẽ giúp họ vượt qua được tất cả. Một trong những ví dụ điển hình là Thomas Edison, người sáng chế ra bóng đèn điện. Ông đã thất bại hàng ngàn lần trước khi thành công, nhưng chính ước mơ mang lại ánh sáng cho cả thế giới đã tiếp thêm sức mạnh cho ông không từ bỏ. Nếu không có ước mơ ấy, có lẽ nhân loại sẽ vẫn phải sống trong bóng tối.

Vậy thì, tại sao lại có những người không có ước mơ, hoặc có nhưng lại không thể thực hiện được nó? Câu trả lời có lẽ nằm ở sự thiếu định hướng, thiếu niềm tin vào khả năng của bản thân. Nhiều người trong chúng ta, đặc biệt là giới trẻ, có thể cảm thấy mông lung trước những lựa chọn trong cuộc sống. Có thể ta cảm thấy lo lắng, sợ hãi khi phải đưa ra quyết định quan trọng, hoặc đơn giản là ta không biết mình thật sự muốn gì. Khi không có ước mơ, ta dễ dàng bị cuốn vào guồng quay của cuộc sống mà không biết mình đang đi đâu, vì sao mình lại làm những việc mình đang làm. Chính sự thiếu mục đích ấy khiến con người dễ rơi vào trạng thái lạc lối, mệt mỏi, mất phương hướng. Một cuộc đời thiếu ước mơ là một cuộc đời dễ bị quên lãng, dễ bị nhấn chìm trong những ngày tháng vô vị.

Chúng ta thường nghe người ta bảo nhau “hãy sống hết mình”, nhưng sống hết mình là gì nếu không phải là sống với một ước mơ, một khát khao cháy bỏng? Một cuộc đời không có mục đích sẽ trôi qua một cách vô nghĩa, và chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được sức mạnh của chính mình. Còn nếu có ước mơ, dù là một điều gì đó nhỏ nhoi, ta sẽ có một lý do để không ngừng phấn đấu, một lý do để vượt qua những cám dỗ của cuộc sống. Như vậy, ước mơ không chỉ là điều giúp ta đi qua những ngày tháng khó khăn mà còn là điểm tựa vững chắc, là kim chỉ nam để chúng ta không bị lạc lối trên con đường dài của cuộc đời.

Mỗi người đều có quyền ước mơ, nhưng không phải ai cũng đủ dũng cảm để theo đuổi nó. Đôi khi, xã hội hay những người xung quanh có thể khiến ta cảm thấy nghi ngờ về chính mình, về ước mơ của mình. Nhưng đừng bao giờ quên rằng, ước mơ của mỗi người là sự phản ánh của bản thân họ, của những gì họ khao khát và mong muốn đạt được trong cuộc đời này. Dù có thể sẽ có lúc chúng ta cảm thấy đơn độc trong hành trình theo đuổi ước mơ, nhưng chính ước mơ sẽ là thứ đồng hành cùng ta, giúp ta tìm thấy động lực khi mọi thứ xung quanh dường như sụp đổ. Nếu một người không có ước mơ, họ sẽ như một chiếc thuyền không có la bàn, không biết phải đi về đâu.

Nó không chỉ là khát vọng, là mục tiêu mà còn là điểm tựa tinh thần giúp chúng ta vượt qua những giai đoạn khó khăn, bế tắc trong cuộc sống. Mỗi con người, dù trong hoàn cảnh nào, cũng cần có một lý tưởng, một mục tiêu sống để không rơi vào sự mông lung, lạc lối. Việc có ước mơ giúp con người cảm thấy mình có ý nghĩa, có một hướng đi rõ ràng. Không có ước mơ, con người sẽ dễ dàng bị cuốn vào vòng quay của cuộc sống mà không biết mình đang đi đâu và vì sao phải đi. Ước mơ không phải lúc nào cũng dễ dàng đạt được, và con đường đi đến ước mơ chắc chắn sẽ không bằng phẳng. Nhưng chính những gian nan đó lại tạo nên giá trị của ước mơ. Khi ta cố gắng hết mình để thực hiện điều gì đó, ta sẽ nhận ra rằng chính hành trình ấy mới là điều quan trọng nhất, chứ không phải là đích đến. Mỗi bước đi dù nhỏ bé, mỗi thất bại dù đau đớn, đều là những bài học quý giá giúp ta trưởng thành hơn.

Ước mơ không phải là điều gì đó xa vời mà là một phần trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Nó có thể là một công việc mà ta đam mê, một mục tiêu lớn lao mà ta mong muốn đạt được, hay đơn giản là một điều gì đó có thể mang lại niềm vui và hạnh phúc. Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ, vì đó chính là lý do khiến ta vẫn tiếp tục bước đi, dù cho đôi lúc con đường có vẻ mờ mịt. Hãy để ước mơ dẫn lối, để nó là nguồn động lực giúp ta vượt qua mọi thử thách, và hơn hết, để cuộc sống của ta luôn tràn đầy ý nghĩa. Hãy nhìn vào những câu chuyện thành công của những người nổi tiếng như Steve Jobs, Bill Gates hay những người hùng trong lịch sử. Họ đều có một ước mơ cháy bỏng, và chính ước mơ đó đã giúp họ vượt qua mọi gian khó, chiến thắng mọi thử thách. Steve Jobs, người sáng lập Apple, luôn nói rằng: "Bạn không thể liên kết các chấm trong cuộc đời cho đến khi bạn nhìn lại." Điều đó có nghĩa là, ông đã theo đuổi ước mơ sáng tạo và không từ bỏ khi gặp khó khăn, cho dù Apple đã phải trải qua nhiều lần thất bại. Chính vì sự kiên trì với ước mơ, ông đã đưa Apple trở thành một trong những công ty công nghệ hàng đầu thế giới.

Vì vậy, dù bạn là ai, dù đang ở đâu, hãy tìm cho mình một ước mơ và sống trọn vẹn với nó. Vì nếu trong tim không có chốn dừng chân, thì đi đến đâu cũng chỉ là lạc lối. Hãy để ước mơ là điểm tựa để bạn vững vàng đi tiếp trên con đường dài phía trước. Nếu không dám ước mơ, cuộc đời sẽ vì vậy mà không đáng sống. Chẳng ai đánh thuế giấc mơ, vì vậy chẳng ai ngăn cấm khi ta chìm đắm trong giấc mơ riêng của mình. Đời ngắn lắm, tuổi trẻ còn dài, hãy cứ đi và mơ...
Thêm
125
0
0
Viết trả lời...
Chủ đề chọn môn học xuất hiện giữa bố mẹ và tôi trong bữa cơm tối hôm nay. Bố khuyên tôi nên theo học môn toán để có nền tảng chắc chắn cho tương lai. Mẹ khuyên tôi nên chọn ngoại ngữ, xã hội bây giờ ai cũng cần tiếng anh cả, có ngoại ngữ sau này cũng dễ tìm việc hơn. Chủ đề này xuất hiện khiến tôi càng lúc càng băn khoăn trăn trở, bởi lẽ chưa có ai từng khuyên tôi rằng hãy đi theo con đường học văn.

Dù tôi đã từng thực chiến ở rất nhiều sân chơi môn Ngữ Văn, xem môn văn như là đam mê và nhiệt huyết của mình, nhưng dường như quyết định của tôi vẫn không được mọi người chấp thuận. Người lớn thường khuyên tôi rằng, theo văn làm gì, sau này khó có tương lai lắm. Những bạn trẻ đồng trang lứa với tôi bảo rằng, học văn khô khan lắm, bịa mấy chữ cũng thành văn. Đó là lúc tôi thấy mình cần phải khẳng định tiếng nói cá nhân, khẳng định niềm tin vào quan điểm của những người trẻ như tôi vào vai trò của môn ngữ văn trong xã hội hiện đại. Tôi luôn tin rằng xã hội càng hiện đại, con người càng cần xem việc học văn như một la bàn đạo đức dẫn đường chỉ lối.

Việc học văn góp phần định hình và phát triển nhân cách của con người. Khi con người được giáo dục trong môi trường nhân văn, con người cũng sẽ trở nên nhân văn. Vị trí của môn Ngữ Văn đứng ngang tầm với các môn học mang tính ứng dụng cao khác như toán, tiếng Anh, tin học… Việc văn học được xem như một môn học bắt buộc trên các trường học phổ thông là hoàn toàn có lý do. Việc này sẽ giúp chúng ta định hình được hệ ý thức và bản sắc cá nhân. Thông qua việc đọc hiểu, tiếp nhận và thấm sâu từng ý nghĩa của các tác phẩm trong sách giáo khoa, cùng với việc đọc thêm các tài liệu từ nhà trường, các học sinh có thể được rèn luyện đạo đức, hình thành lối sống và kỹ năng sống để không bị lạc lối trước xã hội hiện đại. Khi xã hội đòi hỏi con người phải trở nên nhân văn hơn, xã hội không thể bắt người trẻ chỉ được học các môn học nghiên cứu như toán học hay tin học. Môn văn là một nền tảng cần thiết cho bất kỳ học sinh nào để định hình ý thức hệ, nhân cách đạo đức của riêng mình.

Cũng như bất cứ môn học nào khác, nếu học sinh có nền tảng tốt, việc học văn cũng có thể đem lại những cơ hội việc làm tốt. Các học sinh trong các trường trung học phổ thông chuyên Văn được đào tạo chuyên sâu về kiến thức ngữ văn, kỹ năng xử lý đề bài và kỹ năng tư duy thuần thục. Do đó, các học sinh được các trường đào tạo chuyên văn thường có cơ hội rộng mở hơn trong tương lai trong các ngành nghề như sư phạm, ngoại giao, kinh tế… Ngay cả trong lĩnh vực kinh tế, một lĩnh vực liên quan nhiều đến toán học và tin học, nếu như học sinh không có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý tình huống và nhận diện vấn đề được rèn luyện từ trong môn Ngữ Văn thì học sinh đó sẽ không thể thành công với vai trò kinh doanh của mình. Xã hội luôn mở rộng cơ hội với những bạn trẻ biết đào sâu, biết tìm tòi. Và do đó, không chỉ có những học sinh học giỏi những môn học mang tính ứng dụng cao, những bạn trẻ học giỏi văn và biết cách vận dụng Ngữ văn vào cuộc sống cũng có khả năng tìm được những tiềm năng công việc t
ốt.
Thêm
52
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta nên hiểu “sống” ở đây theo nghĩa rộng. “Sống” không chỉ mang nghĩa sinh học, không chỉ là sự tồn tại. Hơn nữa, nói một cách chính xác, chúng ta đang nói đến “sống” là tổng hoà tất cả những hoạt động của con người với tư cách xã hội, là con người xã hội. Sự sống ấy gắn liền với những giá trị người vì chỉ con người mới có kết cấu xã hội. Con người không chỉ tồn tại mà còn “sống”, không chỉ có phần “con” mà còn mang tư cách “Người”.

Sự sống của muôn loài chỉ nhằm mục đích duy trì và phát triển nòi giống, sự tiến hoá, sự sống của con người còn là vì chính mình, vì những lí tưởng cao cả. Chúng ta có ý thức về bản thân, về lẽ sống, về giá trị cuộc đời của riêng mình. Nhưng nhất là chính ta hiểu rằng mình là một cá thể độc đáo duy nhất trong vũ trụ. Toàn nhân loại không có một con người thứ hai giống hệt ta. Vậy nếu như sự duy nhất ấy bị hoà tan đi thì ta còn ý nghĩa gì nữa?

Bất kể ai có ý thức sống đều muốn vươn lên những cái đẹp, cái thiện cao hơn, vươn lên trở thành Con Người viết hoa. Mỗi người có một lối sống khác nhau, tuỳ theo mơ ước, khát vọng của riêng mình. Cá nhân tôi cho rằng, sống đẹp là chưa đủ, con người cần phải sống “toả sáng”. Cố nhiên sống đẹp thì mới có thể “toả sáng” nhưng “toả sáng” còn là sự khẳng định mình, làm cho mình không bị quên lãng trong kí ức của mọi người. Trái ngược với sáng là tối. Cuộc đời như đêm tối thì không ai thấy, do vậy mà không ai nhớ. Con người không chỉ cần “đẹp” mà còn là “đẹp theo một cách riêng”.




Nói “toả sáng” là một cách diễn đạt rất giàu hình ảnh. Sự sống của ta có thể “toả sáng” được chắc chắn phải có những phẩm chất. Đó là những nét đẹp được cả cộng đồng thừa nhận và khuyến khích. Nói một cách cụ thể, trước khi muốn “toả sáng” thì phải “sống cho ra người”. Không thể là một nhân cách lệch lạc, một đạo đức khuyết, một trí tuệ không đầy đủ. Con người trước khi vươn tới cái đẹp, thì cần phải sống – như GS. Hoàng Ngọc Hiến nói – cho “hẳn hoi”. “Hẳn hoi” là một từ rất Việt, khó có thể tìm một từ nào trong ngôn ngữ khác có ý nghĩa thật gần với nó. Nhưng “hẳn hoi” không hề khó hiểu. Sống cho “hẳn hoi” chính là nền tảng cho sống “toả sáng”. Bản thân sống hẳn hoi cũng có ánh sáng của nó, đó là ánh sáng của cốt cách vững vàng, của một con người tuy không nổi trội nhưng “đẹp, đẹp hài hoà, đẹp cân xứng”. Có rất nhiều người không hiểu do vô tình hay cố ý mà không sống “hẳn hoi” được: kẻ thì quá đề cao vật chất, sống không biết đến sự di dưỡng tinh thần, người thì sống ảo tưởng, lấy điểm tựa siêu hình để bào chữa, cho rằng “nghèo” mới giữ đạo đức thanh cao được.

Nhưng “toả sáng” không phải chỉ là “hẳn hoi”. Muốn “toả sáng” được nhất định phải có một thế mạnh của riêng mình. Sở trường không thể làm nên toàn bộ giá trị của một người nhưng chính là yếu tố khẳng định giá trị của con người. Muốn “toả sáng” trước hết phải có tài năng. Tài năng có thể do bẩm sinh nhưng phần nhiều do rèn luyện mà có. Tài năng là khả năng làm những công việc đạt được hiệu quả cao, vượt lên trên mức trung bình, thậm chí vượt lên trên người khác. Mỗi người có một tài năng riêng, do vậy, tài năng chính là yếu tố khẳng định của mỗi người. Những chiếc huy chương ở các kì thế vận hội chính là sự khẳng định của tài năng, đó là “toả sáng”. Những thành tích, thành tựu cao không thể không có sự đóng góp của tài năng. Có người nói, trong điểm mười tuyệt đối thì tám điểm là của sự cố gắng, nỗ lực, chỉ có hai điểm thuộc về năng khiếu. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng xin bổ sung thêm, hai điểm của “năng khiếu” chính là điểm chín và điểm mười. Nếu không có tài năng thì dù có nỗ lực đến đâu cũng chỉ là tối đa điểm tám. Muốn có chín, có mười nhất thiết phải giỏi hơn người bằng cái tài. Trong một bài kiểm tra hay trong cuộc sống, người được điểm mười là người “toả sáng”, được nhớ đến!

Tuy thế, sống là toả sáng không chỉ là vượt trội, là “vĩ đại” trong khoảnh khắc. Muốn sự sống của mình thực sự toả sáng thì phải kiếm được điểm chín, điểm mười cho bài thi tốt nghiệp của cuộc đời. Nghĩa là điểm mười được “chấm” cho cả đời người. Khẳng định được tài năng của mình là toả sáng. Nhưng không phải chỉ mình ta mới có tài năng. Mà lịch sử lại thường chỉ ghi danh những người tài giỏi bậc nhất. Do đó, muốn thực sự “toả sáng”, cần phải đẩy tài năng của mình lên đỉnh cao nhất, luôn luôn phấn đấu vượt qua những người giỏi nhất. Để không chìm vào quên lãng, không thể không biến mình thành số một hoặc ít nhất là nỗ lực để biến mình thành số một.


Điều đánh dấu sự trưởng thành cũng như khẳng định chính xác nhất một tài năng chính là những thành tựu. Xét cho cùng thì lịch sử cũng chỉ đánh giá một tên tuổi dựa trên thành tựu. Những điều ta làm được sẽ quyết định rằng ta có “toả sáng” hay không. Cuộc sống thường khắc nghiệt nhất ở điều ấy. Cho dù ta nói rằng bản thân đã cố gắng hết mình, nhưng nếu kết quả là thất bại, anh vẫn là kẻ thất bại. Nếu chỉ ôm ấp tài năng của mình, ngồi tự hào về nó trong buồn ngủ thì vĩnh viễn không thể “toả sáng”. Để có được thành tựu lớn nhất của mình, con người cần phải hành động quyết liệt.

Sự “toả sáng” của một người suy cho cùng cũng là để nhân loại không lãng quên mình. Do đó, muốn thực sự “toả sáng” được, cần phải có những đóng góp vào cuộc đời chung. Sự sống về vật chất của ta sau sinh, lão, bệnh ắt sẽ đến tử. Cát bụi lại trở về với cát bụi. Con người chỉ có thể bất tử khi cuộc đời, sự nghiệp của mình ghim vào kí ức cộng đồng. Hơn thế nữa, khi con người chỉ đặt mục tiêu sống vì mình, chúng ta sẽ không bao giờ tạo ra được một thành quả to lớn. Muốn có thành tựu vĩ đại, phải hướng đến những lí tưởng phục vụ cho cuộc sống chung. Bên cạnh chất “cao cả” của lí tưởng, một mục tiêu lớn mới có khả năng thúc đẩy con người phát huy hết năng lực của mình, đạt được những thành tựu kì vĩ. Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ra đi từ bến Nhà Rồng không có mục đích nào khác ngoài lí tưởng giải phóng cho dân tộc. Tôi cho rằng, Bác đã thành công một nửa khi dám nghĩ, dám làm, dám đặt ra mục đích của một đời như vậy.

Có lẽ sẽ có nhiều người cho rằng, cuộc sống vốn đã đẹp, được sống, được tận hưởng thế giới đã là một điều may mắn và mãn nguyện. Nhưng trong chúng ta, bao nhiều người còn nhớ về cụ nội của mình? Và bao nhiêu người sẽ được chắt mình nhớ tới? Chỉ trong vài thế hệ, cả một cuộc đời đã chìm vào quên lãng. Cuộc đời tôi không thể như vậy!
(hsgqg)
Thêm
112
0
0
Viết trả lời...
Cuộc sống ngày càng phát triển, những công nghệ thông tin, những khoa học kĩ thuật ngày càng phổ rộng đến mọi tầng lớp thế hệ, đặc biệt là thế hệ trẻ. Nhưng, không phải cuộc sống phát triển, con người cũng sẽ có những sự phát triển tương tự. Đặt ra trong bối cảnh hiện nay một hồi chuông báo động về thực trạng ứng xử đời thường, mà theo một du học sinh Nhật Bản từng gửi về văn hóa Việt có viết: “Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường”

Ta có thể tự bao biện cho mình nhiều lí do, nếu chúng ta mắc sai lầm về ứng xử văn hóa giữa con người với con người, như, vì cuộc sống quá tấp nập bồn bề, nên đôi khi ta không thể nào ứng xử được tốt vì quá bận rộn với cuộc sống của chính mình. Nhưng, dù có bao biện như thế nào, đó vẫn là một sự trốn tránh cho sai lầm của chính bản thân mình. Với du học sinh Nhật, câu nói vừa mang nhiều ý nghĩa, vừa là một lời khuyên nhủ như một hồi chuông cảnh tỉnh mỗi chúng ta bây giờ. Từ “tự hào” thể hiện một niềm tin thái độ hãnh diện về điều gì đó, Việt Nam ta có 4000 năm văn hiến, đó quả là một quá trình lịch sử lâu dài, bền bỉ và kiên cường, nói đến 4000 năm là nhắc đến quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài của toàn thể dân tộc, đó không những tự hào, mà còn là động lực, niềm tin chiến thắng, thái độ sống kiêu hãnh và quật cường, tạo nên một truyền thống yêu nước, một văn hóa lâu đời tốt đẹp của toàn thể dân tộc. Nhưng hai từ “xấu hổ” lại cho ta thấy một nghĩa khác, xấu hổ tức là hành vi hổ thẹn, lỗi lầm về một điều nào đó, hoặc là sự kém cỏi, hoặc là không xứng đáng. Vậy là “4000 năm văn hiến chỉ là một chương sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường” đã nhấn mạnh đến sự tương phản, nghịch lí và nhấn mạnh đến sự đối lập giữa truyền thống tốt đẹp, và hành vi đời thường. Vậy đấy, thông điệp của một du học sinh, sang học nước Nhật Bản, nơi nổi tiếng với những thiên tai khắc nghiệt, nhưng người dân vẫn vươn lên đấu tranh giành sự sống và kỉ luật cao độ. Người học sinh đó đã hiểu rằng, chúng ta cần phải giữ gìn truyền thống của mình trong thời buổi hiện đại ngày nay như thế nào, hãy thay đổi hành vi ứng xử không tốt của bản thân, đừng để điều đó khiến ta cảm thấy ân hận, tội lỗi về những thành tựu mà ta đạt được trong quá khứ, ta đã giữ gìn suốt 4000 năm, hãy để truyền thống đó hiện diện qua đời sống thường ngày. 4000 năm văn hiến không phải ở bất kì quốc gia nào cũng có, ta phải biết quý trọng và phát huy, không chỉ tự hào trong sử sách, hãy biết phát huy những điều đó trong cuộc sống đời thường. Hiện nay, có một số hành vi đạo đức con người đang cần cảnh báo, như truyền thống nhân đạo, thái độ vô cảm, thơ ơ trước số phận con người, chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, toan tính…

Câu nói trên như một bài học thức tỉnh, nhắc chúng ta hãy biết trân quý những giá trị quá khứ và phát huy để truyền thống ấy được giữ vững, và ta cũng hãy tôn trọng chính mình vì được là người dân Việt. Qua đó phê phán những ai vô cảm, sống ích kỉ, không biết trân trọng giá trị thực tại. Luôn có thái độ xem thường, vô văn hóa, và hành vi thô lỗ, kém cỏi trong cuộc sống. Tuy nhiên, không nên phiến diện, trong cuộc sống còn rất nhiều tấm gương đã nỗ lực bảo về truyền thống dân tộc, như những cuộc thi sắc đẹp, nhằm tôn vinh vẻ đẹp Việt Nam và nhân rộng lòng nhân ái, hay những trương trình lá lành đùm lá rách…
Thêm
108
0
0
Viết trả lời...
Thượng đế ban cho mỗi con người một đôi mắt để quan sát và cảm nhận cuộc đời, nhưng mỗi người lại có một cách nhìn cách cảm nhận riêng về sự việc trong cuộc sống theo những hướng khác nhau, câu chuyện “cách nhìn” đã để lại cho ta những suy ngẫm về cái nhìn nhận cũng như sự đánh giá mọi việc qua con người trong cuộc sống. Câu chuyện kể về hai xưởng sản xuất giày cùng phái người đến khảo sát thị trường ở Châu Phi. Ở đây người dân chẳng ai mang giày người thứ nhất biết vậy đành đáp máy bay về nước, người thứ hai cho rằng đây là một nơi đầy triển vọng vì chưa ai mang giày cả, và có thể khai thác thị trường. Qua câu chuyện ta thấy cách nhìn sự việc của con người khác nhau, người thứ nhất thật hạn hẹp bi quan, còn người thứ hai có cái nhìn bao quát hơn, tích cực hơn biết nhìn vào mặt lợi thế của sự việc chứ không nhìn vào mặt hạn chế của nó.

Trong câu chuyện trên nhân viên thứ nhất là đại diện cho người có cái nhìn thiển cận, bi quan nhìn sự việc ở mặt tiêu cực, nhân viên thứ hai là đại diện cho người có cái nhìn sự việc bao quát tích cực biết nhìn vào cái tích cực của nó câu chuyện. Ngắn gọn hàm súc nhưng đã để lại cho ta bài học sâu sắc trong cuộc sống, khi ta gặp một vấn đề gì đó ta hãy nhìn nhận vấn đề đó ở phương tiện bao quát, nhìn vào mặt tích cực tránh cái nhìn bi quan thiển cận, chỉ nhìn vào mặt tiêu cực của sự việc, như vậy chúng ta sẽ nắm bắt được cơ hội và đi đến thành công của cách dễ dàng hơn.

Cuộc sống là muôn màu muôn vẻ, trong cuộc sống chúng ta phải trải qua đối mặt với rất nhiều vấn đề đó là khó khăn thử thách, những sự bế tắc thất bại nỗi bất hạnh và cả niềm vui, cơ hội và sự thuận lợi những khó khăn thử thách trong cuộc sống sẽ làm cản trở ta đi đến thành công, sẽ làm khó ta, Thách thức ta. Vì vậy con người trước những biến chuyển phức tạp của cuộc đời, trước những vấn đề nan giải trong cuộc sống cần phải có một cách nhìn nhận sự việc thông minh, tích cực và đúng đắn, khi gặp những khó khăn thách thức bản thân ta hãy giữ cho mình sự lạc quan, không nản lòng, không chán chường. Sau đó chúng ta hãy suy nghĩ về vấn đề đó, nhìn vấn đề đó được cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Từ đây hãy nắm bắt lấy cái tích cực của vấn đề để có thể đưa ra sáng kiến giải quyết mọi việc một cách tốt hơn.

Người có cái nhìn lạc quan, biết nhìn mọi việc bằng sự bao quát để nhận ra được cái có thể trong cái không thể, cái ích lợi hơn trong cái có thể, những người như vậy sẽ luôn là người thành công trong cuộc sống. Dù có bất kỳ trở ngại nào cũng không làm khó được họ, người có cách nhìn tốt sẽ trở thành những người lạc quan yêu cuộc sống biết khai thác, nhìn nhận những điều tốt đẹp trong cuộc sống này. Bởi trên đời này không ai và không điều gì là hoàn hảo cả, mọi vấn đề đều có những mặt trái của nó khi ta biết nhìn tổng thể vào mọi mặt của nó, ta sẽ nắm bắt được cái có thể, tận dụng cái có thể có khả thi trong từng khó khăn. Ông cha ta đã có câu “Cái khó ló cái khôn”, đối với những người có cái nhìn tốt, biết nhìn vào những điều tích cực của sự việc thì dù khó khăn thế nào họ cũng sẽ tìm ra cho mình được ý tưởng mới, sự sáng tạo và tận dụng cơ hội để biết cái khó thành bàn đạp để mình có thêm kinh nghiệm, để bản thân mình được rèn luyện, biết tư duy suy ngẫm để tìm cách giải quyết.

Không những vậy, người luôn biết nhìn nhận mọi việc bằng con mắt lạc quan, tích cực sẽ giúp người đó thêm yêu đời, yêu cuộc sống hơn. Và những việc có khó khăn thử thách, gây trở ngại đến đâu nhưng người đó tìm được cách giải quyết cho mình thì đối với họ cuộc sống thật tươi đẹp, những trắc trở trong cuộc sống không làm khó được họ mà lại tiếp thêm động lực để họ sống tốt và sống ý nghĩa hơn.

Mới đây trên một trang báo mạng có viết về một ông chủ nhà hàng lớn nổi tiếng ở Đà Nẵng chia sẻ vì sao mình lại có được thành công nhưng hiện nay. Ông ấy nói rằng: “trước đây mình là một sinh viên học quản lý nhà hàng, sau khi ra trường ông ấy và một người bạn năng bằng cử nhân tốt nghiệp đại học và hồ sơ đi xin việc thì được một nhà hàng nhận vào làm phục vụ bàn, người bạn ấy không chấp nhận và đã bỏ việc, còn tôi tôi không nhìn vào thực tại tôi đang làm một công việc lương thấp mà tôi nhìn vào cái lợi ích của nó. Khi tôi làm phục vụ tôi học được cách quản lý, cách ứng xử cách xây dựng nhà hàng của từng người ở đây. Vì vậy mà tôi mới có được những kinh nghiệm thành công như ngày hôm nay”.

Người đàn ông ấy nhờ vào cách nhìn tích cực, lạc quan mà đã thành công trong cuộc sống, đó là điều thật đáng khen ngợi và học tập. Tuy nhiên trong cuộc sống vẫn còn những người có cái nhìn thiển cận, vội vàng đánh giá sự việc khi mới chỉ nhìn được một mặt của nó, dẫn đến suy nghĩ còn nhiều thiếu sót. Mặt khác lại có những người chỉ biết nhìn vào mặt tích cực quá nhiều thông tin trên cái bất lợi dẫn đến những hậu quả khôn lường.

Qua câu chuyện “cách nhìn” ta rút ra được bài học quý giá, con người hãy luôn thông minh và suy nghĩ kỹ càng nhìn nhận mọi việc, mọi vấn đề từ đó biết nắm bắt lấy những cái tốt, cái có ích để tạo nên thành công cho bản thân trong cuộc sống. Chúng ta hãy rèn luyện cho mình tính lạc quan, kiên nhẫn, không vội vàng không bi quan khi nhìn nhận vào sự việc. Từ đó hãy nhìn cuộc sống bằng ánh mắt tích cực để thấy rằng cuộc sống thật đẹp thật ý nghĩa, câu chuyện cách nhìn đã để lại cho tôi những suy ngẫm sâu sắc giúp tôi thêm yêu cuộc sống và biết nhìn nhận cuộc đời bằng con mắt lạc quan và thông minh.
Thêm
81
0
0
Viết trả lời...