Mạng xã hội Văn học trẻ

1975 - 2025 đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong buổi hội nghị, chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang thiều đã trăn trở rằng vật cản lớn nhất cản trở nhà văn tạo ra những sáng tác để đời là chính nhà văn. Ông luôn suy tư rằng các nhà văn chưa dám bước ra khỏi vùng an toàn của chính mình, suy nghĩ sâu hơn để tạo ra những kiệt tác. Sau năm 1975, đất nước bước vào giai đoạn hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước. Các nhà văn có điều kiện được sáng tác trong một môi trường công khai, tuy nhiên Việt Nam vẫn chưa có những sáng tác để đời và chạm tay tới văn học thế giới. Trong khi các nền văn học lớn của thế giới vẫn đang ngày đêm chạy đua để đem lại những sáng tác có ý nghĩa đối với bạn đọc, Việt Nam vẫn đang lưng chừng giữa rất nhiều ranh giới, chính bởi vì các nhà văn chưa dám bước ra khỏi phòng an toàn của chính mình.

Một số nhà văn Việt Nam của chúng ta trong giai đoạn hiện đại đã tạo được dấu ấn với người đọc. Sáng tác đó chị mang tầm ảnh hưởng trong quốc gia, chưa thực sự tạo được vị trí trên địa đồ thế giới. Nhìn đi cũng cần nhìn lại, văn học của chúng ta vẫn là một nền văn học nhỏ bé trong nền văn học với các quốc gia trên thế giới.

Sự nhìn nhận lại văn học hôm qua và văn học hôm nay chính là cách để chúng ta tìm ra nguyên nhân của mọi sự việc, từ đó đưa ra góc nhìn và cách xử lý vấn đề hợp lý. Nếu không chủ động nhìn lại, chúng ta có ngày hôm nay vẫn sẽ chỉ là ta của ngày hôm trước, và ta còn ngày mai cũng chỉ là ta của ngày hôm nay. Nếu như khách nhà văn không chủ động bước ra khỏi giới hạn, không chủ động chạm sâu tới những vấn đề sâu sắc của xã hội, không dám giao tiếp với chính mình để chạm tay và nhân loại, thì Việt Nam của chúng ta sẽ không thể có được những sáng tác chạm tới quốc tế. Và theo như lời nhà văn Nguyễn Quang Thiều: “50 năm sau sẽ là cuộc tổng kết của những nỗi buồ
n".
Thêm
94
0
0
Viết trả lời...
Trong hệ thống các bộ môn nghệ thuật, văn học giữ một vị trí đặc biệt bởi đối tượng phản ánh của nó vừa quen thuộc lại vừa có chiều sâu khó nắm bắt. Nếu mỹ thuật dùng đường nét và màu sắc để ghi lại hình ảnh của thế giới, âm nhạc gửi gắm cảm xúc qua âm thanh, thì văn học lại sử dụng ngôn từ - phương tiện tư duy trừu tượng nhưng đồng thời giàu sức gợi - để tái hiện đời sống. Việc nhận diện đặc trưng đối tượng của văn học do đó trở thành vấn đề cốt lõi trong nghiên cứu lý luận. Có thể nói: đối tượng của văn học chính là con người trong tính toàn vẹn xã hội, lịch sử, tâm lý, được phản ánh bằng hư cấu nghệ thuật chứ không sao chép nguyên trạng. Xung quanh hạt nhân này là nhiều tầng ý nghĩa mà ta cần phân tích sâu.

Thứ nhất, đối tượng của văn học là đời sống con người. Không một tác phẩm văn học nào tồn tại ngoài phạm vi đời sống, cho dù đó là truyện cổ tích với các phép màu hay tiểu thuyết giả tưởng với những thế giới xa lạ. Bản chất của văn học vẫn là khám phá, diễn đạt và lý giải con người: con người hành động, con người suy nghĩ, con người mơ ước, con người đau khổ và hạnh phúc. Nhà văn không phản ánh “cuộc sống” như một mớ sự kiện, mà phản ánh những quan hệ sống - quan hệ giữa người với người, giữa người với cộng đồng, giữa người với tự nhiên và chính bản thân mình. Ở điểm này, văn học bộc lộ thiên chức nhân văn sâu sắc: nó hướng đến những vấn đề của con người, vì con người và cho con người.

Thứ hai, đối tượng của văn học được nắm bắt thông qua lăng kính tư tưởng và cảm xúc của chủ thể sáng tạo. Khác với khoa học tìm kiếm cái phổ quát khách quan, văn học quan tâm đến cái chủ quan, cái được cảm nhận, nhưng lại có khả năng gây đồng cảm sâu rộng. Nhà văn quan sát đời sống không bằng đôi mắt “máy ảnh” lạnh lùng, mà bằng trái tim, kinh nghiệm, vốn văn hoá và sự nhạy cảm cá nhân. Nhờ vậy, đối tượng văn học dù quen thuộc, như những mối quan hệ gia đình, sự nghèo đói, khát vọng tự do, vẫn luôn hiện lên mới mẻ qua từng phong cách. Chẳng hạn, cùng viết về số phận người lao động, Nam Cao soi chiếu bằng triết lý nhân đạo sắc lạnh, còn Thạch Lam tiếp cận bằng rung cảm dịu dàng. Điều ấy cho thấy đối tượng của văn học luôn được “nhân hoá”: nó không tồn tại ngoài cảm hứng thẩm mỹ của người viết.

Thứ ba, đối tượng của văn học là đời sống đã được hư cấu, nghĩa là được tổ chức lại bằng tưởng tượng nghệ thuật. Đây là điểm phân biệt cơ bản giữa văn học và các ghi chép lịch sử hay báo chí. Văn học có nhiệm vụ diễn đạt cái “thật” nhưng không lệ thuộc vào sự thật cụ thể. Hư cấu cho phép nhà văn tái cấu trúc hiện thực theo các quy luật nghệ thuật, tạo ra những nhân vật mang tính khái quát, những tình huống giàu sức gợi, những không gian, thời gian có khả năng biểu đạt ý nghĩa vượt khỏi sự kiện đời thường. Chính nhờ hư cấu, đối tượng của văn học mở rộng vô hạn, nó có thể đi vào những miền sâu kín của ý thức và vô thức, có thể bước vào tương lai hay trở lại quá khứ hàng nghìn năm, có thể phóng chiếu những khả thể mà hiện thực chưa từng có.

Thứ tư, đối tượng của văn học không chỉ là con người cá nhân mà còn là con người trong quan hệ cộng đồng và trong bối cảnh lịch sử, văn hoá. Một nhân vật văn học, dù được xây dựng bằng tưởng tượng, vẫn mang dấu ấn của hoàn cảnh xã hội nơi nhân vật tồn tại. Chính vì vậy, văn học trở thành tấm gương phản chiếu những biến thiên lịch sử và những giá trị văn hoá của dân tộc. Đọc “Truyện Kiều”, ta không chỉ gặp chuyện tình của Thúy Kiều mà còn thấy cả một xã hội phong kiến nhiều bất công; đọc “Nỗi buồn chiến tranh”, ta không chỉ thấy tâm hồn Kiên mà còn cảm nhận những vết thương còn rỉ máu của một thế hệ. Ở đây, ta thấy đối tượng của văn học có tính hệ thống: con người được xem xét như một chỉnh thể gắn bó với môi trường xã hội, lịch sử cụ thể.

Thứ năm, đối tượng của văn học mang giá trị biểu tượng và phổ quát hoá. Một tác phẩm lớn bao giờ cũng vượt khỏi những khuôn khổ của thời đại để chạm vào giá trị phổ quát. Khi Nam Cao viết về Chí Phèo, ông không chỉ kể chuyện một nông dân bị tha hoá trong xã hội phong kiến mà còn đặt ra vấn đề muôn thuở: con người bị tước đoạt quyền làm người thì sẽ phản ứng ra sao? Khi Nguyễn Minh Châu xây dựng nhân vật Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa”, ông không chỉ đề cập đến nhận thức nghề nghiệp của nghệ sĩ mà còn đặt câu hỏi về sự phức tạp của đời sống, rằng cái đẹp của nghệ thuật không bao giờ đủ để hiểu đầy đủ một số phận người. Vì vậy, đối tượng của văn học luôn vượt thoát khỏi các chi tiết cụ thể để trở thành những vấn đề nhân sinh có thể lay động bất kỳ ai.

Thứ sáu, đối tượng của văn học vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tính khách quan thể hiện ở chỗ văn học phải phản ánh những quy luật, bản chất, chiều sâu thực tiễn. Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị không chỉ là sản phẩm của cảm xúc tuỳ hứng mà phải chạm đến những chân lý đời sống. Tuy nhiên, tính khách quan ấy luôn được biểu đạt qua cái nhìn chủ quan của nghệ sĩ. Chính sự giao thoa này làm nên tính độc đáo của văn học, nó nói những điều mang nghĩa chân lý, nhưng bằng ngôn ngữ của cảm xúc và cá tính sáng tạo.

Cuối cùng, đối tượng của văn học được tiếp nhận không chỉ qua nội dung mà còn qua hình thức ngôn từ nghệ thuật. Ngôn từ không chỉ là công cụ chuyển tải ý nghĩa, mà còn là chất liệu thẩm mỹ tạo nên hình ảnh, nhịp điệu và cảm xúc. Do đó, đối tượng của văn học bao gồm cả thế giới hình tượng lẫn thế giới ngôn từ – hai lớp tồn tại gắn quyện vào nhau. Một nhà văn giỏi không chỉ có cái nhìn sắc sảo về đời sống mà còn phải có năng lực tổ chức ngôn từ thành cấu trúc nghệ thuật. Văn học vì vậy vừa phản ánh cuộc sống, vừa sáng tạo ra một thế giới mới thông qua kết cấu ngôn từ.

“Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm và tâm điểm của nó là con người" (Nguyễn Minh Châu). Lấy con người làm đối tượng, văn chương có một điểm tựa nhìn ra thế giới. Phản ánh hình tượng con người cũng là cách văn chương đối diện với những khía cạnh gai góc nhất của thế giới, vỗ về và x
oa dịu thế giới.
Thêm
85
0
0
Viết trả lời...
Kẻ mạnh mới có quyền thay đổi, đừng là con sâu cái kiến mà chỉ tay năm ngón, phán xét đại bàng trên đỉnh cao.

Nếu bạn là một con đại bàng dài cánh trên trời cao, có tốc độ, sức mạnh và năng lực, bạn có thể đạt tới những đỉnh cao mới, trải nghiệm những trí thức mới và mở mang tầm mắt trước một biển trời mới. Góc nhìn mà một con đại bàng nhìn thấy sẽ khác với những gì mà con ếch ngồi nơi đáy giếng nhìn thấy. Khi bạn đã xác lập được vị trí của mình là đại bàng, bạn sẽ không bao giờ về để ý đến sự phán xét từ tầm nhìn thấp bé của con sâu, cái kiến chỉ biết muôn đời lầm lỗi trên mặt đất, với tầm nhìn hạn hẹp.

Nhưng ngược lại, nếu như bạn là con sâu cái kiến, sống cuộc đời trong những định kiến chật hẹp, không có vị trí, không có tầm nhìn, thậm chí không có khả năng lực, thì bạn hoàn toàn không có quyền để phán xét hay đánh giá người khác. Nhìn từ góc độ này, có lẽ sẽ không công bằng với những con người nhỏ bé, không có điều kiện và khả năng đi xa, được học hỏi và tiếp thu với nhiều thứ mới mẻ. Không giỏi giang, không có đãi ngộ tốt là lỗi của họ hay sao? Không xét về hoàn cảnh bởi chúng ta hoàn toàn không có khả năng lựa chọn nơi mình sống và nơi mình sinh ra, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể chọn cách sống cho mình. Không cần thiết phải đi xa, vùng trời mới mới có thể gọi là trải nghiệm. Nay thứ những thứ giản dị, gần gũi nhất với ta thôi, chỉ cần ta sống hết mình với nó đã là rộng mở lắm rồi. Nhiều người cả đời bôn ba khắp nơi xa, đến khi trở về lại chỉ khao khát những thứ nhỏ bé bình thường, những thứ mà cả cuộc đời họ đã bỏ qua vì những thứ lớn lao chắn ngang tầm mắt. Trái tim chúng ta chia thành hai nửa, nửa muốn bôn ba, nửa muốn quay trở về nhà.

Chúng ta sống trên đời nên bình thản đối mặt với mọi thứ, kiên định trước mọi khó khăn và gập ghềnh. Luôn giữ vững tinh thần mạnh mẽ như vậy, chúng ta sẽ càng rèn luyện được bản lĩnh kiên cường, tâm trí cẩn trọng và thay đổi được cả thái độ đối với cuộc đời. Chỉ có kẻ mạnh mới làm chủ được vận mệnh của mình, không để người khác bị ảnh hưởng hay phải quyết định thay cho số phận của chúng ta. Vậy thì hãy một lần biến mình thành kẻ mạnh, mở rộng tư tưởng đón nhận những điều mới và không ngừng học hỏi để làm đầy bản thân. Một khi bạn thực sự đánh giá đúng giá trị của mình, bạn sẽ thấy rằng cuộc sống đơn giản và công bằng hơn rất nhiều. Mỗi người chỉ có một đời để sống. Sống theo sở thích của mình, làm điều mình thích, yêu người mình yêu, một đời vậy là đủ.

Kẻ mạnh mới có quyền thay đổi, đừng là con dâu cái kiến mà chỉ tay năm ngón, phán xét đại bàng trên đỉnh cao. Vậy hãy một lần biến mình thành
kẻ mạnh.
Thêm
79
0
0
Viết trả lời...
Văn chương muôn đời là gì kia chứ, nếu như không phải là “làm cho những gì tốt đẹp nhất trên đời trở thành bất tử" (Shelly). Tình yêu chắc chắn là thứ tình cảm mỹ lệ nhất của loài người, hóa giải những hận thù, tôn vinh tính thiện và lòng người, làm cho con người ta biết cười biết khóc. Vậy tại sao văn chương cần có tình?

Vì cuộc sống có tình. Văn chương từ cổ chí kim luôn là “hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng" (Hoài Thanh). Tình yêu làm gì giản đơn, nếu giản đơn, nó không mang nhiều cung bậc từ đớn đau đến thù hận như thế. Tình yêu rất khó để định nghĩa bằng một danh từ cụ thể, khi chỉ là một cảm giác yêu rất vu vơ và khó diễn tả. Vì cuộc sống có tình, chúng ta là con người có đầy đủ lương tri và lương năng, chúng ta có trái tim ấm áp và đôi mắt để dẫn đường cho trái tim. Bởi vậy, khi cuộc sống có tình, văn chương không thể trơ mặt trước những cảm xúc của con người. Văn chương và là ngọn đuốc dẫn đường, dẫn lối cho những cảm xúc dẫu nhỏ bé nhất của con người, để cảm xúc đó được thăng hoa và thể hiện một cách trực diện nhất.

Vì con người có tình. “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi" (K.Marx). Kể cả tình yêu ấy có là lớn lao hay chỉ là sự hèn nhát, dù có sự hòa điệu giữa hai trái tim hay không, con người vẫn luôn có tình. Dù chúng ta đứng giữa ranh giới của sự vô minh và siêu nhiên, giữa ranh giới ấy vẫn luôn tồn tại tình và những cảm xúc của con người. Ngay cả thằng Chí Phèo chỉ biết rạch mặt ăn vạ ấy thực chất cũng chỉ vì cái tình quá mãnh liệt, tha hóa trước xã hội thực dân mà hóa thành con quỷ dữ để thể hiện cái tình của mình. Con người có tình và luôn khao khát tìm được tình yêu bên trong chính mình, bên trong đồng loại mình và cả bên trong những tác phẩm. Người nghệ sĩ lớn là người nghệ sĩ biết lắng nghe tiếng nói của con tim và thể hiện những tiếng nói ấy một cách tinh tế bên trong những trang viết của mình.

Vì văn chương cần có tình. Viết về tình như một sự cứu cánh, sự cứu chuộc khỏi những mai một, chai lì đang gặm nhấm thế hệ bận rộn, khỏi những im lặng của người lớn ít nói, khỏi những kẻ máu lạnh vô tình. Tình yêu, đánh thức chúng ta bằng cảm thức từ trái tim, không ồn ào nhưng ngược lại có thể cảm hoá sâu sắc trái tim con người. Nếu như văn chương không viết bởi tình và vì tình thì nó cũng chỉ là sản phẩm của trí tuệ nhân tạo, của những thiết bị AI đang tràn lan trong cuộc sống hiện đại - ngày ngày sản xuất ra như một cái máy nhưng hoàn toàn không có “tình". Văn chương viết về tình có khả năng tác động đến tâm trí của chúng ta sâu hơn là khi nhà văn đầu tác phẩm hoàn toàn bằng ý thức tỉnh táo từ cái đầu. Nghệ thuật cần có lý trí nhưng quan trọng hơn cả là cần có ý tình về trái tim người nghệ sĩ để dẫn dắt trái tim ngườ
i đọc.
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...
Nhà em cách bốn quả đồi
Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng
Nhà em xa cách quá chừng
Em van anh đấy, anh đừng thương em.

Đọc thơ Nguyễn Bính, đâu đây ta thấy âm hưởng của ca dao dân tộc vọng về trong từng câu chữ. Nguyễn Bính là gương mặt thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, nhưng ông lại là người “quen” nhất bởi những sáng tác đậm màu dân tộc, gắn liền với hàng cau liên phòng, với hàng trầu, cô gái dệt lụa. Điệu âm ca dao dường như đã trở thành thi liệu và nguồn cảm hứng bất tận để Nguyễn Bính níu giữ tất cả chân quê bên trong mình dành cho những con người chân quê. Bởi vậy, tình yêu trong ông cũng mộc mạc, thanh bình và đẫm hương đồng quê. Mối tình day dứt ấy đã đọng mật trong tiếng thơ “Xa cách” được Nguyễn Bính viết năm 1938.

Trong thi phẩm “Xa cách”, người ta nhận ra được ít nhiều sự hòa hợp của cái tôi trữ tình thơ Mới kết hợp cùng hồn quê. Phong cách thơ Nguyễn Bính bộc lộ rõ nét, gần gũi với ca dao dân tộc đến mức gợi cho người đọc cảm giác như đang đọc ca dao. Bài thơ là nỗi lòng trăn trở, khát khao đầy suy tư về tình yêu của cô gái quê. Trong nỗi lòng ấy vừa khao khát nắm giữ được tình yêu, vừa đau đớn nhận ra khoảng cách chia lìa giữa cô và chính người mình yêu.

Tiếng thơ gợi người đọc liên tưởng tới bài ca dao quen thuộc:
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Thất bát sống cũng lội
Tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua

Yếu tố “thơ Mới” của “Xa cách” là cách nói ngược đầy hàm ý. Cô gái tâm sự, giãi bày cho người yêu về khoảng cách khó hàn gắn giữa hai người, không đơn thuần là khoảng cách địa lí mà còn là khoảng cách về vị trí trong xã hội vốn chưa nhiều công bằng với người phụ nữ. Hình ảnh “quả đồi”, “ngọn suối”, “cánh rừng” vốn đã gợi ra một khoảng cách xa xôi, cách trở, khó vượt qua về mặt địa lý, không còn đơn thuần là “cách có một thôi đê” như trong bài thơ “Mưa xuân”. Khoảng cách đó đã vậy còn bị nhân lên gấp ba bốn lần bởi các lượng từ “bốn”, “ba”, “đôi”. Đó thực sự là một khoảng không gian “xa cách quá chừng” ngăn cách cặp đôi trẻ tỏ bày tình yêu nhau. Thế nhưng, có một điều là khoảng cách cách trở xa xôi ấy càng lúc càng được rút ngắn lại bởi lời của người con gái. Từ “bốn" trở về “ba" rồi lại quay về “hai".

Tuy con đường đến nhà người con gái vẫn còn xa xôi nhưng dường như đã được rút ngắn lại theo sự vận động giảm dần của số lượng không gian. Sự xa xôi giờ đây được đo đếm bởi số lượng của các sự vật thiên nhiên. Hình ảnh thiên nhiên giờ đây trở thành vách ngăn, khoảng cách ngăn giữa người con trai và người con gái. Cô gái, trong lời nói thì tỏ bày nỗi đớn đau khi phải sống xa người mình yêu, nhưng thực chất trong thâm tâm lại khao khát rút ngắn khoảng cách ấy lại để được sát gần người mình yêu. Cũng nói chuyện cách trở sơn khê, ca dao tình nhân về lối nói thuận theo chiều tăng tiến, còn ở đây Nguyễn Bính lại ngã về núi nói nghịch theo đà lui giảm. Cuối cùng tất cả những xa xôi cách trở ấy lại biến thành “quá chừng". Thì ra đây không phải tổng số những cách trở, mà là cấp số lùi của những ngăn trở.

Đây là lời nói ý nhị, gửi gắm bao tâm tình của người con gái, chẳng biết trong lòng chàng trai kia có hiểu được hay không? Tuy bốn quả đồi nhưng chỉ có ba ngọn suối, xu chỉ còn có đôi cánh rừng thôi. Từ “đôi" nghe như thật ít ỏi chả đáng kể gì. Chị phải dòng thơ em đã diễn tả được cái rắc rối của một cô gái bốn chân quê nhưng lần đầu khao khát ái tình. Vừa băn khoăn mà thắm thiết, ái ngại mà đầy khích lệ chối từ mà không nguôi gắn bó, tuyệt vọng mà khắc khoải hi vọng. Đó là một nỗi khổ sở rất thơ Mới. Đó là một khao khát trữ tình rất phụ nữ, rất chân quê, mộc mạc và đúng với tinh thần Nguyễn Bính.

Hồn thơ Nguyễn Bính là sự đồng thời theo một kiểu nào đó của hồn quê với khối tình lỡ đầy uẩn khúc. Sự hòa quy này đã làm cho nỗi tủi hờn phổ biến trong ca dao dân gian than thân tổ chức nhập vào mỗi tủi sầu hiện đại, hóa thân đầy da diết trong tiếng thơ “Xa c
ách" của Nguyễn Bính.
Thêm
116
0
0
Viết trả lời...
Mùa thu là mùa tình. Dường như, mùa thu luôn có vẻ ưu ái với thi nhân hơn hẳn. Và thi nhân cũng xem mùa thu như một thi liệu sáng tác nổi bật hơn hẳn. Mùa thu, không có vẻ tươi non mơn mởn như mùa xuân, không có vẻ rạo rực náo nức như ngày hè, cũng chẳng ảm đạm tiêu sầu như mùa đông, mùa thu chỉ là mùa thu với những sắc riêng của nó. Những rung động khe khẽ và xao xuyến của mùa thu đã thổi lồng lộng trong những trang thơ của Lưu Trọng Lư, động mật lại tạo nên thi phẩm “Tiếng thu".

Các thi sĩ thơ mới ít nhìn thiên nhiên bằng cái nhìn chiêm nghiệm. Bằng mối liên hệ tương ứng vi diệu giữa tâm hồn cá nhân và tâm hồn tạo vật, họ đã khám phá ra sự sống bí mật đầy xôn xao trong lòng thiên nhiên. Bên trong mỗi tạo vật là cả một thế giới riêng vừa mơ hồ vừa hiển hiện mà người ta chỉ nắm bắt được bằng thi cảm. Nó là cái của mình xôn xao của lá hoa, là tiếng thở dài rạo rực của nhị phấn, là tiếng ngân của những làn ánh sáng… thế giới Thơ mới là vạn vật lên men say, là tạo vật ở trạng thái thăng hoa. Bởi vậy mà sự xôn xao đã trở thành điệu hồn riêng của thơ mới. Có lần Xuân Diệu đã lắng nghe mùa thu và nhận ra thứ tiếng riêng của nó. Và bản thân Lưu Trọng Lư cũng đã nghe thấy những điệu Huyền lạc bay khắp thôn. Đó là thứ âm thanh huyền diệu, tối lên trong lòng tạo vật. Đó cũng chính là dư âm của “Tiếng thu".

“Tiếng thu" không phải là một âm thanh riêng rẽ nào, cũng không phải là một tập hợp giản đơn nôm na của nỗi thổn thức trong đất trời, trong lòng người. Đó là cả một bản hòa âm vừa mơ hồ vừa hiển hiện của bao nỗi xôn xao trong lòng tạo vật đang hòa điệu với nỗi xôn xao trong lòng thi nhân.

Cái tiếng “lá thu kêu xào xạc" của Lưu Trọng Lư là sự cộng âm, đồng vọng của cả lá thu và hồn thi nhân trong đó. Có lẽ bởi sự cộng hưởng ấy mà bản hòa âm Mùa Thu đã tìm thấy cho mình một bản hòa âm ngôn từ để cất lên. Tiếng Thu đã được ký thác và một cấu trúc ngôn từ chứa chan tính nhạc. Âm điệu riêng của “Tiếng thu" là chân dung của thi phẩm, là một trình thể chặt chẽ và nhuần nhuyễn. Vật liệu của bài thơ trở nên thật quyến rũ nhờ hệ thống tạo âm, dụng vần hòa quyện vào nhau.

Nghe “Tiếng thu” xào xạc, ta chợt nhớ đến “Những phố dài xao xác hơi may” của Nguyễn Đình Thi về sau này. "Xao xác” và "xào xạc” là một nốt nhạc được chơi ở hai cung bậc khác nhau. Tuy nhiên xét về âm vần, hai từ này lại gợi ra những cảm xúc và khung cảnh khác nhau. Nếu "xao xác” Đăng và cao gọi được tiếng lá quét mình trên đường phố thì "xào xạc” lại chồng và buồn gợi lên vẻ âm u và huyền bí của rừng già. Từ sự thổn thức, nhà thơ đi đến sự rạo rực trong lòng người cô phụ. Đó chỉ là những xúc cảm xa xôi hơi thoảng, nhưng tiếng xào xạc gần gũi như thế lẽ nào cô gái ấy lại không nghe thấy? Câu hỏi tu từ “Em không nghe rừng thu?” gợi lên một điệu trầm buồn, xốn xang trong lòng người và lòng tin nhân khi đi tìm sự đồng điệu.

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng Thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

Phải chăng Lưu Trọng Lư chính là chú nai ngơ ngác kia, bởi cái nghiêng tai ngơ ngác đề thi sĩ của nó. Nó ngơ ngác vì không nghe ra hay vì Tiếng Thu quá đỗi lạ lùng. Trong đôi tai của nó chỉ có mỗi Tiếng Thu kêu xào xạc thôi, mà đằng sau tiếng xào xạc kia là biết bao rạo rực, thổn thức của đất trời. Chỉ có một tín hiệu duy nhất là tiếng “xào xạc", nhưng âm thanh của lá rừng đã gửi lên cả một bản giao hưởng vô hình của những nỗi xôn xao huyền bí. Y như thiên nhiên tạo vật này cũng mang trong lòng nỗi mù mơ của những kẻ đam mê và khát vọng của thời đại thơ mới. Hoặc cũng có thể nói chính Lưu Trọng Lư đã đem lỗi mù mờ của những đam mê và khát vọng ấy và tạo vật để nó trở thành “Tiếng thu"? Bài thơ cứ như vậy mà khép lại, nhưng đâu đó, ở một góc trong tâm hồn độc giả, những rung động khe khẽ và xôn xao của mùa thu vẫ
n còn lung lay mãi.
Thêm
74
0
0
Viết trả lời...
Thơ mới là giàn giao hưởng hưởng đa điệu sầu, trong đó nổi lên ba mối sầu chính là sầu nhân thế, sầu thân thế, sầu thời thế. Chúng đan xen và chuyển giao lẫn nhau. Nổi bật trong những tiếng thơ của phong trào thơ mới, “Ông đồ" hiện lên như một sự nuối tiếc, khắc khoải và khao khát níu giữ vẻ đẹp truyền thống của Nho học, của những giá trị văn hóa thiêng liêng suốt nghìn đời nay.
“Ông đồ" có sự đan dệt của ba yếu tố tự sự, trữ tình và kịch. Tính tự sự thể hiện trong việc tái hiện câu chuyện về ông đồ - hiện thân đại diện cho trí thức trung đại, biểu tượng của nền Hán học. Xen lẫn trong câu chuyện nhuốm màu bi kịch ấy là những tâm tư, khắc khoải và trở trăn của Vũ Đình Liên. Nói “Ông đồ" có yếu tố kịch là nói đến xung đột, nói đến việc trình bày xung đột theo từng lớp, từng xen, có yếu tố sân khấu. Tạo nên thân phận Ông đồ là một xung đột mà người ta thường thấy ở những cơn biến thiên của lịch sử: xung đột giữa giá trị và thời thế. Về điểm này, có hai thái độ đối với quá khứ là giã từ vui vẻ và níu giữ ngậm ngùi. Chúng xuất phát từ những giá trị khác nhau. Nếu những cái từ ngự trị nay trở thành phản giá trị, lỗi thời, lố bịch thì nay bị thời thế ngoảnh mặt, âu đó cũng là hài kịch. Còn với những giá trị cao quý, nay bị thử thế quay lưng, xung đột ấy chính là bi kịch. Người ta cố níu giữ mà không thể, nhìn nó chìm vào dĩ vãng mà bất lực, vô vọng. Thực tại phũ phàng đã thẳng tay ném những giá trị cao quý kia vào quá khứ.
Hình tượng ông đồ tiêu biểu cho trí thức trung đại. Họ là hiện thân của nền Hán học, của những giá trị văn hóa thiêng liêng đã tồn tại suốt nghìn đời nay. Bỗng chốc, xã hội thay đổi, kéo theo đó chính là xung đột nhóm mồm bi kịch tạo nên thân phận đáng thương của một lớp người - bị thời thế lạnh lùng phế bỏ. Bản chất bi kịch này quyết định đến điểm cảm xúc hoài niệm với bao buồn thương xen lẫn sự xót xa trong toàn thị phẩm. Hình tượng Ông đồ thường gắn liền với con chữ, với đạo Thánh Hiền, với những giá trị cao quý thiêng liêng của học thức. Nhưng đồng thời hình tượng ông đồ cũng biểu trưng cho những giá trị cốt lõi bị thời thế đổi thay, phế truất.
Xung đột đối lập giữa giá trị và thời thế đã chi phối toàn bộ cảnh trí của bài thơ. Nó khiến bài thơ mang dáng dấp của một hoạt cảnh sân khấu. Đó là lý do khiến cho bài thơ “Ông đồ” mang màu sắc của kịch, chính xác hơn là bi kịch. Ba cảnh chính tiếp nối trong bài thơ chính là ba phân cảnh của vở kịch “Ông đồ”. Cảnh đầu tiên là cảnh huy hoàng của thời thịnh, khi nho học còn trở thành những giá trị văn hóa cốt lõi trong văn hóa. Cảnh thứ hai là cảnh ảm đạm của thời suy. Và cảnh cuối cùng kết thúc lại là cảnh tiêu sơ đến mức trống không của thời tàn. Ba lớp kịch của tấn bi kịch “Ông đồ" vận động từ đắt khách, đến ế ẩm, rồi mất hút.
Tấn bi kịch đau thương ấy không chỉ là câu chuyện về một thân phận nhỏ bé, cá biệt, đó còn là câu chuyện của cả một lớp người. Bất cứ người nào rồi cũng sẽ có lúc trải qua cái tâm trạng của ông đồ: tâm trạng của kẻ thất thế, hết thời. Ai cũng có thời của mình. Thời ấy qua đi, thời mới đến sẽ phế bỏ chúng ta. Hình tượng ông đồ còn là hiện thân của một lớp người gắn với thời đại hán học, gắn với văn hóa Hán đã vĩnh viễn chìm vào quá vãng. Đồng thời, hình tượng ông đồ cũng gợi nhắc ta về những giá trị thân thuộc và thiêng liêng mà giờ đây đã bị thời gian ngoảnh m
ặt.
Thêm
78
0
0
Viết trả lời...
“Sáng tác là đối thoại”..
Quá trình sáng tác là quá trình khi tác giả được đặt ở vị trí trung tâm, hoàn toàn có khả năng quyết định tác phẩm của mình. Khi tác phẩm hoàn thiện và được đưa đến tay người đọc, một học thuyết được đề ra mang ý nghĩa phủ nhận sự tồn tại của tác giả sau quá trình sáng tác: học thuyết “Cái chết của tác giả". Học thuyết này chỉ ra rằng khi tác phẩm được đưa vào quá trình quê cùng của khâu sáng tạo, đó là tiếp nhận, thì người quyết định sự thành công của tác phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào độc giả. Khi đó, tác giả thực sự là người bất lực trên chính những trang viết của mình, không có khả năng quyết định số phận của chính những gì mình viết. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, người nghệ sĩ không hoàn toàn bất lực. Quá trình tiếp nhận của người đọc tạo cơ hội cho nhà văn được đối thoại, được chiêm nghiệm, phản tỉnh, phản tư và tìm kiếm sự đồng cảm. Đó là lý do mà “Sáng tác là đối thoại”..
Sáng tác là một quá trình kép trong đó đối thoại và hồi đáp mang giá trị trung tâm. Bản chất của quá trình viết là động lực để nhà văn được giao tiếp bằng cảm tính với độc giả. Đối thoại là sự giao tiếp, trao đổi thông tin. Trong văn học, đó là sự đối đáp, mâu thuẫn giữa các luồng ý kiến để tìm ra chân lý.
Đôi khi, phải đối thoại đến mức mâu thuẫn mới có thể tìm ra được chân lý. Có mâu thuẫn mới có phát triển. Giữa rất nhiều luồng tư tưởng không có một định nghĩa chính xác, mọi lý lẽ đưa ra chỉ là tương đối, chính xác trong một góc nhìn cụ thể. Khi lăng kính cảm quan xoay theo một chiều khác, vấn đề cũng thay đổi theo một góc độ khác hơn. Sinh thời, Angghen cho rằng “Hãy hoài nghi tất cả". Bản chất của câu nói này khuyên chúng ta luôn cần trong trạng thái hoài nghi, đặt câu hỏi, không ngừng suy tư, phản tỉnh trước những điều được xem là chân lý. Quan điểm của Angghen có phần tương đồng với quan điểm của nhà triết học Aristole: “Tôi chỉ biết một điều là tôi không biết gì cả". Chính vì "không biết gì cả” nên mới cần " hoài nghi tất cả”, đặt câu hỏi và không ngừng trả lời chúng. Tuy nhiên, một quan điểm khác cùng được đặt lên bàn cân so sánh chính là quan điểm của K. Marx: "Thà phải thức suốt đêm để tìm câu trả lời còn hơn”. Lí luận của Marx có phần đề cao quá trình tìm kiếm sự thật thay vì phải ôm mối hoài nghi. Giữa quan điểm của Angghen và K.Marx không thể khẳng định được quan điểm nào là đúng đắn. Hai quan điểm chỉ mang tính chất hỗ trợ, bổ sung cho nhau - đó là tính đối thoại.
Đối thoại là một phương thức thể hiện quan trọng góp phần làm nên chiều sâu tư tưởng và sức sống của tác phẩm. Hiểu theo nghĩa rộng, đối thoại không chỉ là cuộc trò chuyện trực tiếp giữa các nhân vật, mà còn là sự va chạm, giao thoa giữa những điểm nhìn, quan niệm, tư tưởng và hệ giá trị khác nhau trong cùng một chỉnh thể nghệ thuật. Văn học vốn phản ánh con người trong tính đa dạng và phức tạp, bởi vậy sự đối thoại là điều không thể thiếu, giúp tác phẩm mở ra nhiều tầng nghĩa và khơi gợi suy tư nơi người đọc. Chính nhờ đối thoại, văn học trở thành không gian dân chủ của tiếng nói, nơi những khát vọng, băn khoăn, giằng xé hay ước mơ đều được cất lên một cách chân thực, sinh động.
Sự đối thoại trong văn học thể hiện trước hết qua đối thoại giữa các nhân vật. Đây là lớp biểu hiện dễ nhận thấy nhất, giúp bộc lộ tính cách, tâm lý và mối quan hệ giữa con người trong tác phẩm. Chẳng hạn, các cuộc trò chuyện trong truyện ngắn, tiểu thuyết thường mang theo xung đột nội tại, mâu thuẫn xã hội hoặc nỗi niềm cá nhân. Qua đối thoại, nhân vật hiện lên sống động, có hơi thở, có suy nghĩ, chứ không chỉ là những hình bóng khô cứng. Đối thoại, vì vậy, tạo nên tính kịch, khiến câu chuyện hấp dẫn và giàu kịch tính.
Thứ hai, đối thoại còn thể hiện như cuộc đối thoại giữa các hệ tư tưởng hoặc quan điểm sống. Trong nhiều tác phẩm lớn, người đọc có thể nhận thấy sự đan xen và va chạm giữa lối sống cũ và mới, giữa truyền thống và hiện đại, giữa thiện và ác, giữa quyền lực và thân phận con người. Đây là hình thức đối thoại ở tầng sâu, thường không hiện ra trực tiếp dưới dạng lời thoại, mà ẩn trong cách xây dựng tình huống, hình tượng, biểu tượng và kết cấu tác phẩm. Sự đối thoại ấy giúp tác phẩm trở thành nơi tranh biện thẩm mỹ về những vấn đề lớn của thời đại, tạo ra chiều sâu triết lí và sức sống lâu bền. Trước khi thơ Mới hoàn toàn thay thế thơ cũ, nhiều quan điểm của các nhà thơ phái cũ đã đả kích trực diện vào các nhà thơ phái mới, cho rằng thơ Mới “vẩn vẩn lại vơ vơ", vì không làm được thơ vần nên phải sử dụng thể thơ tự do. Tuy nhiên, sau nhiều đấu tranh giữa mâu thuẫn, thơ Mới dần phát triển và làm thay đổi tư tưởng của trường thơ cũ.
Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm còn thể hiện đối thoại giữa tác giả và người đọc, dù cuộc đối thoại này diễn ra một cách gián tiếp. Thông qua giọng điệu trần thuật, những khoảng trống nghệ thuật hoặc cách kết thúc mở, nhà văn đặt người đọc vào vị trí đồng sáng tạo, buộc họ suy tư, đặt câu hỏi, tự hoàn thiện ý nghĩa mà văn bản gợi ra. Đây là biểu hiện của tinh thần nghệ thuật hiện đại, tôn trọng sự đa dạng của cảm nhận cá nhân.
Cuối cùng, có thể thấy rõ đối thoại giữa tác phẩm với các giá trị văn hóa – lịch sử, hay rộng hơn là với kho tàng văn học trước đó. Nhiều tác giả sử dụng các yếu tố liên văn bản, mô típ quen thuộc hoặc hình ảnh biểu tượng truyền thống để tạo nên cuộc trò chuyện giữa cái mới và cái cũ. Điều này khiến tác phẩm trở thành một phần trong dòng chảy liên tục của văn hóa, vừa gắn bó với truyền thống, vừa tạo ra sắc thái riêng đ
ộc đáo.
Thêm
98
0
0
Viết trả lời...
Thời gian cuối năm dần đến, trong khao khát đón chờ năm mới, con người cần nhìn lại để tiến xa hơn.

Sâu xa hơn, hành trình ấy không chỉ là bước chuyển của thời gian mà còn là hành trình bền bỉ tự khám phá, nhìn nhận chính mình. Theo thời gian, con người thay đổi. Sự hiện diện của chúng ta hôm nay đã hoàn toàn khác với chúng ta hôm qua. Tuy nhiên, để bước xa hơn trên con đường ấy, chúng ta không chỉ cần nỗ lực tiến về phía trước mà còn cần dừng lại, ngoảnh nhìn về những gì đã đi qua. Sự nhìn lại không phải là một hành động hoài niệm hay tiếc nuối quá khứ, mà là cơ hội để con người hiểu rõ hơn về bản thân, nhận diện những hạn chế, ghi nhận những giá trị đã tạo nên mình hôm nay và từ đó vững tin bước tiếp. Bởi lẽ, chỉ khi thấu suốt chặng đường đã qua, con người mới đủ sáng suốt để đi đến những chân trời mới, xa và bền vững hơn.

Trước hết, nhìn lại không chỉ là sự tổng kết quá trình đã trải qua mà còn là sự nghiệm về những thay đổi của bản thân qua dòng chảy thời gian. Biết bình thản nhìn lại giúp con người nhận ra những sai lầm đã từng vấp phải để tự tin đối diện với tương lai. Năm 2025 xuất hiện một khái niệm “năm thanh lọc” để chỉ sự thanh tẩy, phơi bày bộ mặt thật của mỗi cá nhân. Thanh lọc là một quy luật tự nhiên, cũng là biểu hiện của quá trình tự nhìn lại. Điều khiến con người trở nên trưởng thành không phải là việc họ chưa từng sai, mà là họ dám đối diện với những sai lầm đã mắc và rút ra bài học từ đó. Chính việc dám nhìn lại giúp con người trưởng thành từng ngày, tránh được cái vòng luẩn quẩn của sai lầm lặp lại. Nếu không nhìn lại, con người sẽ mãi dậm chân tại chỗ, hoặc tệ hơn là đi lệch hướng mà không hề hay biết.

Không chỉ để nhận lỗi, việc nhìn lại còn là cách để con người biết trân trọng những gì mình đã làm được và nuôi dưỡng động lực để tiếp tục phấn đấu. Trên hành trình nỗ lực, đôi khi ta chỉ nhìn vào mục tiêu phía trước mà quên mất rằng mình đã đi được bao xa. Khi dừng lại và nhìn lại, mỗi người sẽ nhận ra rằng mình đã vượt qua nhiều khó khăn hơn mình từng nghĩ, đã mạnh mẽ hơn, kiên trì hơn, và đã có những thành quả xứng đáng tự hào. Những điều ấy, dù nhỏ bé, cũng đủ trở thành nguồn cổ vũ để con người tiếp tục kiên trì. Nhiều người chỉ chăm chăm nhìn vào những thiếu sót mà quên gật đầu với chính mình về những thành công đã đạt. Một chút tự ghi nhận không khiến ta tự mãn, mà ngược lại giúp ta có thêm tinh thần để tiếp tục hành trình.

Ngoài ra, nhìn lại còn giúp con người điều chỉnh hướng đi để phù hợp hơn với mục tiêu thật sự của bản thân. Cuộc sống thay đổi từng ngày, con người cũng thay đổi từng giai đoạn. Những điều mà ta từng xem là quan trọng có thể không còn phù hợp khi cuộc sống đổi thay. Chính việc nhìn lại giúp ta hiểu rõ mình đang đi đúng hướng hay đã lệch khỏi điều mình thật sự mong muốn. Nếu không nhìn lại, con người có thể cứ tiếp tục bước đi trong vô thức và đánh mất cơ hội sống đúng với giá trị của chính mình.

Hơn nữa, nhìn lại giúp mỗi cá nhân xây dựng bản lĩnh và sự khiêm nhường. Khi nhìn lại những chặng đường đã qua, con người hiểu rằng mình không thể đi xa chỉ bằng nỗ lực cá nhân. Đằng sau mỗi thành công là sự giúp đỡ, ủng hộ của gia đình, bạn bè, thầy cô, đồng nghiệp… Chính sự nhận ra ấy khiến con người trân trọng những mối quan hệ và sống biết ơn hơn. Sự biết ơn và khiêm tốn là hai yếu tố quan trọng tạo nên nhân cách đẹp, đồng thời giúp con người giữ chân mình trên mặt đất dù bước chân có thể chạm đến những đỉnh cao.

Tuy nhiên, nhìn lại không có nghĩa là dừng lại quá lâu trong quá khứ, đắm chìm trong những tiếc nuối hay đau buồn. Việc nhìn lại chỉ có ý nghĩa khi con người dùng nó như một tấm gương để phản chiếu bản thân, chứ không phải như một sợi dây trói buộc, kìm hãm khao khát cá nhân. Người biết nhìn lại đúng cách là người học từ quá khứ, trân trọng hiện tại và hướng tới tương lai. Đó mới chính là bản lĩnh của người không ngừng tiến lên.

Con người càng muốn tiến xa hơn thì càng nhất định phải biết nhìn lại chặng đường đã qua. Nhìn lại để rút kinh nghiệm từ sai lầm, để ghi nhận thành quả, để điều chỉnh hướng đi, và để sống trọn vẹn với lòng biết ơn. Cuộc đời là một hành trình dài, và mỗi bước tiến vững vàng đều cần sự soi sáng của quá khứ. Chỉ khi hiểu mình đã đi như thế nào, ta mới biết sẽ đi tiếp ra sao. Vì thế, hãy dành cho mình những khoảnh khắc lắng lại, để nhìn lại thật sâu, rồi bước tiếp thật xa.

Năm mới đến, nhìn lại mình trong năm cũ, mỉm cười hạnh phúc vì sự nhìn lại. Đó cũng là một dạng thức của sự trưởng thành.
Thêm
84
0
0
Viết trả lời...
Theo dòng chảy lịch sử văn học, hình tượng người phụ nữ đã trở thành một trường diễn ngôn vừa quen thuộc vừa phức tạp, nơi giao thoa giữa quyền lực xã hội, những chuẩn mực văn hóa và khát vọng cá nhân. Qua từng thời kỳ, văn học không chỉ phản ánh vị thế của người phụ nữ trong cấu trúc xã hội mà còn tái định hình cách họ được nhìn nhận, được kể lại và được cất tiếng nói. Theo từng bước dịch chuyển ở thời gian, vị trí, tầm vóc cùng những tâm tư cá nhân của người phụ nữ được khắc họa theo chiều dài biến động lịch sử. Bởi vậy, khi khảo sát các tác phẩm thuộc những bối cảnh khác nhau, ta dễ dàng nhận ra sự vận động không ngừng của diễn ngôn về hình tượng người phụ nữ: từ hình ảnh cam chịu, khuất lấp bên lề đến hình tượng chủ thể ý thức, biết chất vấn, phản biện và phản kháng. Chính sự chuyển dịch này cho thấy người phụ nữ có thể được hiện diện bằng tiếng nói của chính mình, dám phản kháng và đấu tranh cho nhân quyền của mình.

Người phụ nữ dù xuất hiện trong bất kỳ giai đoạn nào đều phải đối mặt với nhiều tầng áp lực xã hội: những chuẩn mực đạo đức khắt khe, những thiết chế gia đình – lễ giáo ràng buộc và những quan niệm cố hữu về giới đã lâu đời. Chính hoàn cảnh bị giới hạn quyền tự do, quyền lựa chọn và quyền lên tiếng khiến nhu cầu được sống đúng với bản ngã trở thành một khao khát mãnh liệt bên trong họ. Phản kháng, trong trường hợp ấy, không chỉ là hành động chống lại áp bức từ bên ngoài mà còn là nỗ lực tự giải phóng tâm hồn, tự khẳng định sự tồn tại có giá trị của mình. Văn học, với khả năng chạm sâu vào những vùng xúc cảm kín đáo, đã giúp người phụ nữ bộc lộ tiếng nói tiềm ẩn ấy: tiếng nói muốn yêu thương theo ý mình, muốn mơ ước, muốn bước ra khỏi bóng tối của sự cam chịu để trở thành chủ thể tự quyết. Vì vậy, khao khát được sống và được phản kháng của người phụ nữ là điều phi thường, đồng thời là quy luật tự nhiên của một con người bị dồn nén, hướng về tự do, phẩm giá và quyền được là chính mình. Chính sự trỗi dậy của ý thức đó đã tạo nên những hình tượng phụ nữ giàu sức sống và sức bật trong văn học, làm nổi bật quá trình tự thức tỉnh và đổi mới diễn ngôn về nữ giới qua các thời kỳ.

Trong Truyện Kiều, ý thức phản kháng xã hội của Thúy Kiều không chỉ thể hiện ở những hành động quyết liệt mà còn bộc lộ sâu sắc qua những lựa chọn đầy đau đớn nhưng giàu chủ ý của nàng. Kiều ý thức rất rõ về thân phận mong manh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, nơi “tài mệnh tương đố” và số phận nữ nhi bị chi phối bởi quyền lực đồng tiền, lễ giáo và thế lực nam quyền. Tuy vậy, chính trong hoàn cảnh bị dồn ép đến tận cùng, Kiều lại hiện lên như một con người không cam chịu. Việc nàng chủ động bán mình chuộc cha là hành động phản kháng đầu tiên - phản kháng không phải bằng chống đối bề ngoài, mà bằng sự lựa chọn vượt qua khuôn mẫu truyền thống: người phụ nữ dám hi sinh bản thân để giữ trọn đạo hiếu, đồng thời tự quyết định lấy số phận trong tay mình. Sau đó, dù bị vùi dập trong lầu xanh hay rơi vào tay bọn buôn người, Kiều vẫn luôn tìm cách khẳng định phẩm giá, chống lại sự tha hóa bằng nghị lực tinh thần mạnh mẽ. Nàng kiên quyết chống lại Tú Bà khi bị ép tiếp khách, quyết liệt tự vẫn để bảo vệ danh dự, và sau này dám cùng Từ Hải bước vào con đường báo ân báo oán - một hành vi thể hiện ý thức làm chủ cuộc đời hiếm thấy ở người phụ nữ thời phong kiến. Theo lề thói phong kiến, hình ảnh người đàn ông gắn liền với sự chủ động, quyết liệt. Hành động băng rừng khuya tìm Kim Trọng để kết duyên trong đêm trăng đã bước đầu cho thấy ý thức tự quyết định, phản kháng xã hội của Kiều. Tất cả những điều đó cho thấy Thúy Kiều không phải mẫu nhân vật cam chịu, mà là hình tượng phụ nữ mang ý thức phản kháng sâu sắc: phản kháng những bất công, phản kháng số phận và phản kháng sự áp đặt của xã hội phong kiến.

Thơ chữ Nôm của Hồ Xuân Hương được đánh giá là bản diễn ngôn đầu tiên về ý thức tự chủ của người phụ nữ. Trước hết, Hồ Xuân Hương dùng ngôn ngữ dân gian, hình ảnh đời thường và lối nói lửng gợi mở để phơi bày những bất công mà người phụ nữ phải chịu: bị xem như đối tượng phục tùng, bị ràng buộc bởi lễ giáo và bị tước đoạt quyền sống theo ý muốn. Trong bài “Bánh trôi nước”, hình tượng “rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” không chỉ cho thấy thân phận lênh đênh mà còn là lời tố cáo xã hội đã nhào nặn số phận phụ nữ theo ý mình. Ẩn sau đó là tiếng nói khẳng định phẩm giá. “Tấm lòng son” như một tuyên ngôn rằng dù bị xô đẩy, người phụ nữ vẫn giữ trọn giá trị và bản lĩnh. Ở “Tự tình 2”, nỗi cô đơn của người phụ nữ bị bỏ rơi trong lề thói hôn nhân cũng chuyển hóa thành tiếng oán trách lễ giáo: nhịp thơ dồn dập, những động từ mạnh như “đập vỡ” thể hiện khát vọng phá tung sự giam hãm vô hình. Đặc biệt, trong các bài thơ mang màu sắc trào phúng (“Đèo Ba Dội”, “Quả mít”, Cái quạt…), nữ sĩ sử dụng lối nói nhịu đầy ẩn dụ để chế giễu quan niệm khắt khe về trinh tiết, đồng thời đặt người phụ nữ vào vị trí chủ thể của ham muốn, của tiếng cười và của quyền được tận hưởng cuộc sống. Qua hệ thống hình tượng và giọng điệu độc đáo ấy, Hồ Xuân Hương đã xây dựng diễn ngôn phản kháng mạnh mẽ, cho thấy người phụ nữ không cam chịu số phận mà dám đối thoại, dám chất vấn và dám khẳng định bản ngã giữa xã hội phong kiến bất công.

Trong “Trà hoa nữ” (La Dame aux Camélias) của Alexandre Dumas, ý thức phản kháng của người phụ nữ được thể hiện sâu sắc qua hình tượng Marguerite Gautier - người kỹ nữ mang trái tim cao đẹp nhưng bị xã hội đương thời phủ định. Trước hết, sự phản kháng của Marguerite bắt đầu từ khát vọng sống đúng với tình yêu và nhân phẩm. Dù bị gán cho thân phận bị khinh miệt, nàng vẫn dám tin vào tình yêu thuần khiết dành cho Armand, dám mơ đến một cuộc đời khác, nơi người phụ nữ không bị đánh giá chỉ qua quá khứ hay địa vị xã hội. Việc quyết tâm rời bỏ lối sống xa hoa, từ chối những mối quan hệ vụ lợi để sống cùng Armand chính là hành vi tự khẳng định quyền lựa chọn hạnh phúc—một hành động đầy tính phản kháng với định kiến nam quyền và tầng lớp thượng lưu coi phụ nữ như món đồ tiêu khiển. Nàng lựa chọn hi sinh, nhưng không khuất phục: nàng chọn cách chịu đựng nỗi đau để bảo toàn thứ tình yêu mà xã hội không thể hiểu nổi. Chính hành động quyết định vận mệnh của bản thân thay vì để người đời phán xét, là minh chứng cho bản lĩnh phản kháng của người phụ nữ.

Trong bối cảnh diễn ngôn về người phụ nữ ngày càng được tôn vinh, vấn đề ý thức phản kháng của người phụ nữ trở thành một vấn đề đáng quan tâm. Phản kháng không chỉ được biểu hiện bằng hành động bứt phá khỏi những ràng buộc hữu hình mà còn hình thành từ sự tự nhận thức về bản thân, về quyền được sống, được yêu, được khẳng định giá trị, được giải phóng vẻ đẹp cá nhân.
Thêm
93
0
0
Viết trả lời...
“Hiện tại có thể giúp quá khứ không? Người sống có thể cứu người chết không?... Thông qua sự chạm trán dai dẳng với những khía cạnh đen tối nhất của nhân loại, tôi cảm thấy những tàn dư của niềm tin vào con người - vốn đã gãy đổ từ lâu trong tôi - nay vỡ vụn hoàn toàn” (Han Kang)

Chính trong khoảnh khắc tuyệt vọng của người nghệ sĩ phải trực giết đối đầu với cái ác, thứ bạo lực mà con người đang gieo rắc, đày đọa lẫn nhau, Han Kang đã biến mình thành kẻ bi quan trong nỗi đau của con người. Câu hỏi “Hiện tại có thể giúp quá khứ không? Người sống có thể cứu người chết không?” đã luôn trăn trở, giày vò và ám ảnh bà. Ranh giới dẫn niềm tin mong manh trong Han Kang đã dần vỡ vụn và đổ sập. Nhưng tôi là một mầm cây luôn tin vào nước và mặt trời, bởi niềm tin vào con người không hẳn là bi quan và đứt gãy.

Hiện tại có thể giúp quá khứ không? Quá khứ là thứ dĩ vãng đã trôi đi trong ký ức của con người và mãi mãi không thể trở lại. Nếu muốn níu giữ quá khứ chỉ còn cách hồi ức, hoài tưởng về những kỷ niệm đã cũ. Như vậy thì sợi dây giữa quá khứ và hiện tại không hề có điểm chung và con người hoàn toàn bất lực trước những sai lầm trong quá khứ. Tuy nhiên hiện tại vẫn có thể giúp quá khứ. Nếu một đứa trẻ từng chịu chấn thương tâm hồn, nó sẽ dùng cả cuộc đời để ấp iu, dỗ dành những vết thương đã lành miệng. Hiện tại là thứ chúng ta có thể thay đổi, là thứ chúng ta đang nắm trong bàn tay, bởi vậy chúng ta có thể dùng nó để thay đổi quá khứ. Cho dù không hẳn là thay đổi nhưng cũng có thể phần nào xóa mờ đi những ký ức buồn, học cách tự chữa lành những thương tổn. Hiện tại mở ra cơ hội để ta được sửa chữa những lỗi lầm trong quá khứ, cứu rỗi ta khỏi những đớn đau dằn vặt. Sau quá khứ, hiện tại như đoạn kết của bộ phim tuổi trẻ, cho phép ta được nhìn lại những năm tháng đã qua một cách bình thản.

Người sống có thể cứu người chết không? Câu hỏi này thật khó trả lời, bởi người chết rồi cũng là cát bụi. Tay ai giữ được bụi đời? Nhưng người chết luôn tồn tại trong kí ức của người sống, chỉ khi nào người sông quên đi thì người chết mới hóa thành cát bụi bay đi mãi mãi. Như vậy, người sống là hiện tại, người chết là quá khứ. Khi hiện tại cứu được quá khứ nghĩa là người sống có thể cứu được người chết. Điều tối thượng là người sống còn lưu giữ những kí ức về người đã đi qua, cho họ không gian được tưởng nhớ bên trong kí ức của mình. Có thể nói, người chết chưa bao giờ chết, họ vẫn sống trong kí ức của người ở lại. Bất cứ sinh linh nào ra đi cũng đều thật đáng thương, cho dù họ chỉ tồn tại mà không sống. Một mạng người ra đi cũng là khi một ngôi sao bay về với bầu trời. Mà ngôi sao nào bay lên thì cũng để lại dưới mặt đất những nỗi đau.
Thêm
124
0
0
Viết trả lời...
Nghệ sĩ nhân dân Tự Long từng nói: “đừng nói là giới trẻ ngày hôm nay không yêu truyền thống. Họ yêu nhiều lắm, yêu mãnh liệt lắm. Nhưng cách thể hiện của họ không giống như cha anh mình ngày xưa. Họ đã biết tiếp nhận những giá trị tinh hoa ở những dân tộc khác”. Người trẻ Việt Nam hôm nay chưa từng quên đi lịch sử dân tộc, vẫn luôn tồn tại dòng máu đỏ và trái tim vàng bên trong mỗi người như dáng hình lá cờ tổ quốc. Nhưng người trẻ hôm nay không thể hiện tình yêu bằng việc cầm súng vượt đèo như cha ông ta ngày xưa. Bởi vậy, Chu Lai từng có lần tâm sự: “Tình yêu mỗi thời một khác nhưng bao giờ cũng có một mẫu số chung. Cũng giống như lòng yêu nước của chúng tôi ngày xưa là vượt Trường Sơn còn lòng yêu nước của tuổi trẻ bây giờ sẽ khác nhưng mẫu số chung vẫn là như vậy”.

Việt Nam là một đất nước giàu truyền thống yêu nước. “Tình yêu” là sự yêu thương, tôn trọng, khao khát được hi sinh vì người mình yêu trên ý thức tự nguyện. Tình yêu ở đây chỉ tình yêu với đất nước, quê hương và dân tộc. Mẫu số chung là một kết quả hoặc mục đích hướng đến giống nhau. Có thể nói, “lòng yêu nước vượt Trường Sơn" là tình yêu nước thời chiến khi tình yêu được thể hiện trong việc sẵn sàng hi sinh, chiến đấu dẹp tan quân thù, bảo vệ nền hòa bình dân tộc. “Tuổi trẻ" là độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời con người, khi con người còn đủ trí tuệ, sức mạnh, lòng nhiệt huyết để sống và rực rỡ. Quan điểm của Chu Lai khẳng định bất kỳ thế hệ nào cũng đều mang nặng trong lòng tình yêu sâu đậm với tổ quốc. Dù cách thể hiện có khác nhau nhưng thời nào cũng hướng đến một mẫu số chung như vậy.

Người Việt Nam hôm nay luôn có lý do để giữ vững lòng yêu nước. Để có được thời bình hạnh phúc như ngày hôm nay phải trải qua một chu trình dài dựng nước và giữ nước. Trong chu trình đó, nhân dân Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều hiểm nguy, thách thức lớn: chuyển giao văn hoá, chuyển đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội hiện đại, chiến tranh. Bao người anh hùng đã ngã xuống để hôm nay đất nước đỏ thắm trong màu cờ tự do. Yêu nước là thể hiện lòng biết ơn, sự kế thừa và khao khát được sự xây đất nước phát triển của người trẻ. Không tiếp thu nền văn hóa nước mình thì sẽ không có khả năng tiếp thu thêm bất cứ nền văn hóa nào khác trên thế giới. Đó là lý do người trẻ hôm nay phải gắng gồng để bảo vệ tổ quốc, giữ giấy đất nước thêm giàu đẹp. Nếu không có lòng yêu nước thì mai sau sẽ phải dùng máu để đòi lại.

Tình yêu nước giữa thời chiến và thời bình luôn có sự khác biệt nhau. Tình yêu nước trong thời chiến là cầm súng để hi sinh, để chiến đấu. Những người anh hùng trong những cuộc chiến đều là những người nông dân, anh sinh viên tuổi đời còn trẻ, “cà phê chưa uống/ còn mê thả diều”. Nhưng chỉ cần tổ quốc gọi tên, anh sẵn sàng hy sinh chiến đấu để bảo vệ đất mẹ quê hương mình. Trong thời chiến, tư tưởng đào ngũ bị xem là sự hèn nhát và xúc phạm tột độ đến danh dự của con người Việt Nam. Do đó, tình yêu thời chiến gắn liền với bom đạn, hy sinh và cả những tượng đài Anh Hùng. Chúng ta không được phép quên những con người đã ngã xuống cho ngày hôm nay đứng lên như chị Võ Thị Sáu, anh Lý Tự Trọng, anh Kim Đồng, Anh Tô Vĩnh Diện,... Ngược lại với đó, tình yêu thời bình không phải là cầm súng chiến đấu mà là cầm bút để học tập, để đem trí khôn của bản thân cọ xát với Trí khôn nhân loại, đưa dân tộc sánh bước với các cường quốc năm châu như lời bác Hồ đã dặn. Biết sống hết mình, sống là chính mình là bổn phận của người trẻ trong xã hội ngày nay. Trong tư tưởng của hai thời kỳ khác nhau đã chứng kiến được hai mạch cảm xúc khác nhau.

Dù khác nhau như thế nào thì mỗi số chung mà dân tộc ta hướng đến ở mọi thời vẫn là bảo vệ và dựng xây tổ quốc. Chúng ta đã trải qua 4000 năm vất vả và gian lao để dựng nước và giữ nước. Do đó chúng ta không có bất cứ lý do nào để đánh mất tổ quốc vào tay quân giặc. Ngày hôm nay, khi đất nước đã Hòa Bình, chúng ta phải giữ gìn những gì đã được bảo vệ và tiếp tục dựng xây để trao truyền đất nước cho thế hệ mai sau. Người trẻ hôm nay biết ơn thế hệ đi trước và thế hệ đi trước trở thành hình mẫu cho thế hệ hôm nay. Giữa hai thế hệ luôn có sự kế thừa và bổ sung cho nhau. Trong bất kỳ giai đoạn nào, nhân dân Việt Nam đều khao khát được chiến đấu anh dũng, sẵn sàng đánh đổi tất cả để ngày mai Tổ quốc sáng lên trong bình minh.

Người Việt Nam chúng ta, dù theo cách nào, cũng cần phải luôn góp phần dựng xây Tổ quốc. Chúng ta cần có trách nhiệm, ý thức vè vai trò cá nhân của mình. Không phải vì chúng ta nhỏ bé giữa xã hội rộng lớn mà buông bỏ trách nhiệm của mình, phải luôn cố gắng tận hiến tận lực. Từ sự kế thừa những giá trị truyền thống của cha ông, người trẻ cần biết phát huy và sáng tạo theo một cách riêng. Chiến tranh không đáng sợ, chỉ sợ người trẻ quên mất đất nước.
Thêm
121
0
0
Viết trả lời...
“Một trong những cái Khổ của người hiện đại,
Chúng ta cầm lấy điều khiển tivi xa và chuyển kênh tivi liên tục.
Có rất nhiều kênh,
Nhưng chẳng có chương trình nào khiến ta muốn dừng lại để xem cả.
A! Quá nhiều sự lựa chọn cũng làm cho con người ta không hạnh phúc […]”
(Trích “Bước chậm lại giữa thế gian vội vã”, Hae Min)

Xã hội hiện đại ngày càng rộng mở với những nhu cầu cá nhân của con người, chúng ta có quyền được lựa chọn những điều tốt đẹp nhất cho bản thân mình. Tuy nhiên, đôi khi quá nhiều sự lựa chọn lại vô tình tạo nên một mê cung khiến ta quay cuồng trong những quyết định. Như vậy, quá nhiều sự lựa chọn đâu thể khiến ta hạnh phúc?

Sự lựa chọn là những phương án khác nhau được tạo ra để con người chọn lựa và tìm ra quyết định hợp lý nhất. Mỗi người đều có quyền được đưa ra lựa chọn. Sự lựa chọn trong cuộc sống mà chúng ta thường phải đối mặt có thể là lựa chọn nơi sống, nơi làm việc, lựa chọn mối quan hệ, chọn hướng đi. Cuộc đời luôn phải chọn lấy một hướng đi cho riêng mình. Đôi khi, chúng ta luôn cần nhiều sự lựa chọn để quyết định đưa ra được khách quan hơn. Tuy nhiên, chính việc bùng nổ lựa chọn đó lại khiến chúng ta thêm rối bời và không đạt được hạnh phúc.

Kì thực, có nhiều lựa chọn chưa bao giờ là niềm hạnh phúc của con người. Chúng ta chỉ hạnh phúc khi mình được lựa chọn và quyết định cuộc đời mình. Giữa rất nhiều lối đi của cuộc sống, ta chọn cho mình một hướng đi để phát triển và thúc đẩy tiềm năng của bản thân. Đó là lý do mà cuộc đời này tồn tại những người thầy cô giáo, bác sĩ, doanh nhân, công nhân, thợ sửa chữa. Không có sự lựa chọn nào là cao quý và đáng giá hơn lựa chọn nào. Tuy nhiên, có nhiều lựa chọn đâu phải là niềm hạnh phúc của chúng ta? Chúng ta chỉ hạnh phúc khi quyết định mình đưa ra đúng đắn, đem lại kết quả tốt.

Quá nhiều lựa chọn sẽ khiến con người luôn trong trạng thái bị phân tâm, không thể tập trung vào quyết định. Nhiều lựa chọn sẽ dẫn đến nhiều hướng đi, mà chẳng có một ai biết trước được hướng đi nào là phù hợp nhất. Khi bị phân tâm và lo lắng, chúng ta không thể giữ được bình tĩnh. Đôi khi, quá nhiều lựa chọn khiến chúng ta ỷ lại vào tương lai theo quan niệm “Cứ đến đâu thì hay đến đó". Chúng ta bị ảnh hưởng quá nhiều bởi văn hoá phương Đông, cho rằng số phận đã được định trước và không ai có thể thay đổi nó. Trong tiểu thuyết “Nhà giả kim", Paulo Coelho có viết “Không cần thiết phải trốn chạy vận mệnh của mình - vì sẽ chẳng thể nào thoát được". Vận mệnh của chúng ta đã được định sẵn, nhưng quyết định hoàn toàn phụ thuộc vào chúng ta.

Vấn đề được đặt ra không phải là sức phân tâm của những lựa chọn, vấn đề là ở con người. Đứng trước mê cung đó, người có đủ can đảm để bước qua là người thực sự đã sống đúng là chính mình. Lựa chọn cũng giống như khó khăn trong đời, càng bước qua mạnh mẽ thì càng trưởng thành. Chúng ta có quyền, tại sao phải khước từ quyền được chọn lựa? Đặng Lê Nguyên Vũ - người sáng lập thương hiệu cà phê Trung Nguyên đã từng đứng trước những lựa chọn khó khăn của cuộc đời mình. Ông đậu Đại học Y và vốn dĩ có thể trở thành bác sĩ để giúp đỡ những người bệnh ốm như cha ông. Tuy nhiên, ông đã chọn một lối đi mới - từ bỏ tấm bằng Đại học Y để tiếp cận thị trường cà phê Việt Nam. Nhờ sự lựa chọn của cậu sinh viên trẻ ngày ấy mà hôm nay chúng ta tự hào có được một trong số những loại cà phê ngon nhất thế giới.

Quá nhiều sự lựa chọn không làm ta hạnh phúc. Nhưng ta cần phải luôn làm chủ cuộc đời mình. Phải luôn biết mình là ai và mình cần gì. Nếu hôm nay ta chập chững giữa rất nhiều lựa chọn và chìm vào hố sâu đó, sẽ có một người quyết định thay ta. Mà ta thì không thể đánh rơi vận mệnh của mình vào tay người khác.
Thêm
301
0
0
Viết trả lời...
Một vĩ nhân, một kỳ tài, người ta không gói vào trong một câu hay một chữ. Vì rằng, muốn gói được con người như thế thì ít nhất phải cắt xén con người đi rất nhiều” - Nguyễn Đức Bính, Người Cổ Nguyệt, chuyện Xuân Hương, tạp chí Văn nghệ số 10 - 1962

"Vĩ nhân hay kỳ tài" được xem là những con người có sức ảnh hưởng mạnh mẽ về nhân cách và trí tuệ, được xem là thần tượng và hình mẫu của rất nhiều người. Họ thường được gắn trong quy chuẩn về sự hoàn hảo, được tôn vinh như một con người vĩ đại. Tuy nhiên, ngay cả những con người như họ cũng không thể "gói vào trong một câu hay một chữ". Bởi lẽ, hoàn hảo chưa phải là đặc tính duy nhất nói lên con người họ, không có khả năng khẳng định rằng họ không có điểm yếu. Nếu muốn làm điều đó thì phải "cắt xén con người đi rất nhiều", phải lược bỏ đi những góc khuất bên trong họ, và do đó không có điểm nhìn để đánh giá toàn diện một con người. Nguyễn Đức Bính, trên hành trình khai vấn người trẻ, đã khẳng định chắc chắn vào giá trị riêng của mỗi người, khẳng định tất cả chúng ta đều có vết xước và khiếm khuyết. Ngay cả bậc vĩ nhân cũng chưa từng được nhìn nhận là hoàn hảo.

Thế giới tồn tại vĩ nhân hay kì tài thực chất là do những đóng góp hoặc phát minh họ đem lại cho cuộc sống. Tuy nhiên, phát minh đó chỉ mang tầm ảnh hưởng trong một hay nhiều lĩnh vực. Vượt ra ngoài lĩnh vực đó, họ không được đánh giá cao bởi tài năng hay khả năng nghiên cứu, truyền cảm hứng. Ngay cả những nhà bác học vĩ đại như Isaac Newton hay Abert Einstein cũng chỉ được xem là vĩ nhân trong lĩnh vực vật lý, khoa học,... Nếu như đặt họ trong góc nhìn ở lĩnh vực văn học nghệ thuật, họ cũng chỉ là một bản thể giống như tất cả chúng ta. Điều đó cho thấy được không phải là họ hoàn hảo, mà là do tâm lý của con người đang quá thần tượng một cách mù quáng và không nhìn nhận lại bản thân mình. Nếu so sánh bản thân trong một lĩnh vực khác như văn học, nghệ thuật hay thể thao, chẳng phải chúng ta sẽ giỏi giang hơn những nhà bác học ấy hay sao?
Đánh giá một con người là vĩ nhân, kì tài hay kẻ đần độn phụ thuộc rất nhiều vào góc nhìn của chúng ta. Đánh giá con người qua cảm xúc yêu ghét và lý tính nhất thời sẽ khiến sự đánh giá trở nên chủ quan. Nếu nhìn nhận bất kỳ ai theo hướng đó, ta đang để chính cảm xúc của ta đánh lừa và dắt mũi. Điều quan trọng nhất đó chính là giữ “cái đầu lạnh", luôn trong trạng thái nguyên sơ của tâm hồn để sự đánh giá được khách quan nhất. Sự đánh giá một chiều không chỉ khiến chúng ta đánh mất đi một mối quan hệ mà còn khiến người khác thêm tự ti về khả năng của mình. Chúng ta đều là phì thủy, có thể ếm bùa hoặc giải bùa cho người khác.

Thế giới tồn tại vĩ nhân nhưng điều quan trọng là chúng ta nhận thức được mình bất toàn, hiểu được mình là một bản thể không hoàn hảo trong một quần thể không hoàn hảo chẳng kém. Hiểu được điều đó nghĩa là ta đang tiến dần đến tri thức nhân loại, hiểu mình, hiểu người. Cái nhìn của chúng ta ở đó sẽ trở nên toàn diện, ngắm nhìn được không gian toàn cảnh của thế giới. Biết mình bất toàn, con người càng có lý do để cố gắng. Nếu thấy mình đủ hoàn hảo, họ sẽ đi chậm lại rồi cuối cùng dừng bước. Nhà bác học Isaac Newton thường có thói quen làm việc đến khuya. Một đêm, con trai ông hỏi ông: “Sao cha đã là nhà bác học mà vẫn còn học làm gì?". Ông nhìn con, đáp lời: “Bác học không có nghĩa là ngừng học".

Sự hoàn hảo là ánh sáng nhiệm màu phù du nhất mà chúng ta theo đuổi trên cuộc đời này. Mọi sự hoàn hảo đều là tương đối. Dù con người có cố gắng đến như thế nào, họ cũng phải khẳng định: mình không hoàn hảo, mình đầy tổn thương và vết xước. Không ai có khả năng đánh giá sự hoàn hảo trong bất kỳ chiều kích nào, mỗi người có một nhân sinh quan và cách nhìn thế giới khác nhau. Bóng tối với người này là cơn ác mộng và nỗi sợ không thể vượt qua, nhưng với người khác lại là không gian an ủi, di dưỡng tâm hồn. Vậy là đâu có bất kỳ quy chuẩn nào cho sự hoàn hảo. Sự hoàn hảo, điều đó khiến chúng ta thấy cứng nhắc và trở thành xiềng xích ngăn cấm con người được là chính mình. Chỉ khi ta bất toàn, ta còn nhiều khiếm khuyết, ta mới thấy mình còn lý do để sống, để thay đổi.
Thêm
97
0
0
Viết trả lời...
"Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?"
300 năm trước, Nguyễn Du đã khóc thay cho phận nàng Tiểu Thanh bạc mệnh, cũng chính là khóc thay cho phận mình. Ông Nguyễn Quốc có được sự giao cảm giữa mình và tha nhân ở 300 năm sau. Như một sự dự báo trước, 300 năm sau, cả thế giới khóc Nguyễn Du với truyện Kiều. Người Việt Nam không ai không từng nghe qua tuyệt tác của Nguyễn Du, nhưng khi Kiều đã trở thành nền văn hóa thì không phải ai cũng biết đến.
1. Ngâm Kiều
Ngâm Kiều thể hiện vẻ đẹp văn học mang bản sắc Việt Nam và nghệ thuật truyền thống của đất nước. Ngâm Kiều và các thể hiện tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du ở nhiều tầng bậc cảm xúc khác nhau, làm nổi bật lên giá trị văn học của kiệt tác văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, ngâm Kiều cùng các kỹ thuật, giai điệu là một nét đặc sắc trong văn hóa diễn xướng Việt Nam. Từ xưa, người Việt Nam ta đã có lối sinh hoạt ngâm Kiều trong cuộc sống, trong sinh hoạt, trong lao động. Rất nhiều người Việt Nam ta đã thuộc lòng những câu Kiều như một niềm tự hào về văn hóa, văn nghệ của dân tộc.

2. Lẩy Kiều
Lẩy Kiều là một hình thức văn hóa đặc sắc trong đời sống tinh thần của người Việt, thiên về khả năng trí tuệ, ứng đối và biểu cảm ngôn ngữ. Dựa trên truyện Kiều với hơn 3.200 câu thơ lục bát, người ta chọn ra một vài câu thơ phù hợp để biểu đạt tâm trạng, nhận xét thế sự hoặc đối đáp trong văn chương. Lẩy Kiều đòi hỏi người sử dụng phải hiểu sâu truyện Kiều và có khả năng vận dụng linh hoạt những câu thơ trong những tình huống giao tiếp cụ thể. Đôi khi, lẩy Kiều được xem như cách tôn vinh bản sắc văn hóa riêng của dân tộc ta. Trong những bài phát biểu tại các hội nghị ở Việt Nam, các tổng thống Mỹ cũng lựa chọn lấy Kiều để thể hiện những cảm nhận cá nhân đồng thời bày tỏ tình yêu với kiệt tác văn học của Việt Nam ta.

3. Vịnh Kiều
Vịnh Kiều trong buổi đầu, chỉ là một lối tiêu khiển bằng văn chương của tầng lớp nho sĩ trí thức. Nhưng theo thời gian, vĩnh cửu dân trở thành một phần trong văn hóa Kiều. Vịnh Kiều là lấy nội dung truyện Kiều, lấy cảnh, lấy người trong truyện kiều làm đề tài sáng tác. Từ sự kế thừa những giá trị tư tưởng trong áng văn của Nguyễn Du, rất nhiều các tác phẩm văn học ra đời. Trong các tác phẩm của hậu thế, các quan điểm về Kiều hoàn toàn khác biệt nhau, tùy theo sự trải nghiệm và văn hóa sống. Mỗi tầng lớp nhân dân lại đưa ra một cách nhìn khác nhau về Kiều, nhưng suy cho cùng tất cả đều là sự kế thừa những tinh hoa của một nền văn học mang bản sắc riêng của dân tộc.

4. Bói Kiều
Bói Kiều là một hình thức xem bói dân gian của người Việt, dựa vào việc mở ngẫu nhiên một cặp câu thơ trong truyện Kiều để giải đáp những băn khoăn và dự đoán vận mệnh trong tương lai. Đây là một thú vui văn hóa truyền thống, thường diễn ra vào dịp đầu năm, với mong muốn tìm kiếm lời khuyên, chiêm nghiệm và hướng đi trong một năm mới khởi sắc. Bói Kiều không phải là mê tín dị đoan mà là một nét đẹp trong văn hóa tâm linh của người Việt Nam, mang giá trị về tín ngưỡng và tư tưởng của dân tộc. Tùy theo tâm thế của riêng mỗi người mà cách bói Kiều trở nên phức tạp hơn. Chỉ cần một quyển truyện Kiều, một câu khấn và một tấm lòng thành tâm, người Việt có thể kết nối với quá khứ, tìm ra hướng đi cho vận mệnh tương lai.

Ngoài ra, người ta còn bình Kiều, ru con bằng thơ Kiều, ví hát về truyện Kiều, đố Kiều, giảng Kiều, phỏng Kiều mà hát dặm, hát ả đào. Tất cả đã tạo nên văn hóa Kiều đặc sắc trong đời sống tinh thần của người Việt.
Thêm
100
0
0
Viết trả lời...
Hòa bình đối với bạn là gì?

Hòa bình liệu có phải thứ được sinh ra ngay khi bạn vừa có mặt trên cuộc đời này, trong vòng tay cha, trong bầu ngực nóng của mẹ, trong tiếng ru thơm hương trầu của bà? Không, hòa bình có được không phải dễ. Phía sau khung cảnh bình yên của đời thường
là cả câu chuyện đau thương phía sau. Hoà bình Hôm nay có được là nhờ sự hi sinh của cả một thế hệ đau thương và điêu tàn.

Buổi sáng trời thu ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Bản tuyên ngôn như một lời khẳng định viết bằng máu của hàng triệu nhân dân Việt Nam về Hòa Bình mà chúng ta có được. Nhân dân ta quyết hy sinh bằng máu thịt, đánh đổi sinh mạng tất cả vì tổ quốc thân yêu. Hàng trăm triệu dân quân Việt Nam đã lấy thân mình dựng nên tượng đài Tổ quốc hôm nay. Hoà bình do vậy mà cũng chỉ là “thứ cây mọc lên từ máu thịt anh em mình” (Nỗi buồn chiến tranh).

Hòa Bình hôm nay có được là do sự hi sinh kiên cường, bất khuất của hàng bao thế hệ từ già trẻ gái trai. Chiến sĩ Việt Nam hầu hết đều là những người trẻ còn đang nắm mình trong đam mê, hi vọng, còn khao khát một nụ hôn đầu với một mối tình lãng mạn. Nhưng phát súng quân thù đã giật họ dậy khỏi hiện thực, biến những chàng trai trẻ trở thành trò chơi cho số phận. giữa trận mạc, những phút yếu lòng, họ chỉ đánh gác lại tất cả để tập trung hướng về một mục tiêu quan trọng nhất: đền nỗi nước trả thù nhà. Nhưng họ cũng là con người, cũng có lúc ủy mị, hèn nhát và đa đoan. Chút ủy mị ấy như dấu chấm hết cuối cùng cho cuộc đời tươi nguyên của họ. Cầu nguyện cho linh hồn người lính được an nghỉ, đất nước đã đứng lên từ ngày các anh chọn ngã xuống.

Hoà Bình hôm nay có được là nhờ sự hy sinh của hậu phương. Đất nước hoà bình nhưng thứ trở về bên mẹ, bên vợ chỉ còn là tấm giấy bao tử. Vẫn cái tên ấy, nhưng giờ đây anh lính chỉ còn là cái xác ngã xuống dưới đạn thù. Viên đạn dù xuyên qua trái tim bên nào cũng đều là xuyên qua trái tim người mẹ. Người mẹ hậu phương có đứa con đi lính luôn chết hai lần, một lần khi tiễn con đi, một lần khi nhận tấm giấy báo tử con trở về. Để con đi, mẹ sợ khi trở về con chỉ là một nắm tàn tro. Nhưng giữ con ở lại thì đất nước hóa tro tàn.

Hoà mình hôm nay có được là nhờ những di tích chiến tranh. Nỗi đau của thời chiến hiện nguyên hình sau khi bom đạn đã ngừng rơi. Đất Nước đã Hòa Bình nhưng đâu đó vẫn còn tiếng xung phong. Những âm thanh điên đảo trong trận mạc, tiếng bom rơi, máu chảy và cái chết đã khiến bao người lính không còn đủ minh mẫn. Ngày đất nước hòa bình cũng là lúc họ sống trong những di chứng của thời loạn, giày vò mình trong những nỗi đau không thể giải thoát. Cơn đau chiến tranh ám ảnh họ, để đến họ cho đến tận khi họ chết. Đau đớn hơn nữa là khi hôm nay thế hệ trẻ đã lãng quên đi một thế hệ đau thương cúi xuống vì hòa bình dân tộc. Một thế hệ kiên cường giờ đây phải lụi cụi ăn mày dĩ vãng, sống trong thiếu thốn chỉ vì xã hội đang lãng quên họ đầy tàn nhẫn. Một thế quay lưng lại với lịch sử sẽ không có quá khứ và cũng không có tương lai.

Chiến tranh không đáng sợ, chỉ sợ người trẻ quên mất đất nước.
Thêm
89
0
0
Viết trả lời...
Bên trong mỗi chúng ta bất cứ khi nào đều tồn tại một phần quê do sự ảnh hưởng từ nền văn minh, văn hóa. Tuy nhiên, trải qua giai đoạn toàn cầu hóa tiến tới hội nhập, các nền văn hóa bị giao thoa, dẫn tới việc bản sắc quê nhà bị lãng quên. Nguyễn Bính, một nhà thơ lạ mà quen, đã từng bước đánh thức hồn Việt trong lòng người đọc. Đúng như nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã viết “Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta”.

Nguyễn Bính có những chất liệu thì cá riêng tạo nên hình ảnh thơ ca cho riêng mình. Quê hương trong Nguyễn Bính là quê hương của rất nhiều con người Việt Nam, nhưng được ông tái hiện dưới một thế giới quan riêng. Hồn quê trong thơ Nguyễn Bính biểu hiện trong cảnh vật và hồn người. Đọc thơ chỉ cần thấy mưa xuân, cánh bướm, giàn trầu không, hàng cau liên phòng, cô lái đò, cô hàng xóm - rất dễ để nhận ra đó là tín hiệu thơ ông. Nguyễn Bính gọi dậy hồn quê trong tâm thế hoài cổ, chỉ có quá khứ là vàng son rực rỡ, còn hiện tại đã bị nhuộm màu công nghiệp thị thành. Có thể nói, nhà thơ là người luôn cố níu giữ chất quê mộc mạc, bình dị, những cảm xúc đã phai mờ bên trong mỗi con người hiện đại.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay

Quê hương trong mắt Nguyễn Bính luôn mang một hình sắc riêng. Giọng thơ Nguyễn Bính phảng phất theo từng cơn “mưa xuân phơi phới bay”. Hình ảnh mưa xuân là chất liệu thi ca ưa thích của ông. Mưa Xuân ở làng quê là một thứ mưa xao xuyến gieo rắc nhớ thương trong lòng người. Đứa con đi xa chỉ mong ngày tết được quay trở về quê nhà, được ngửa bàn tay hứng những làn mưa chấm li ti ấy. Nhưng liệu có phải cũng chính là mưa ấy lại cuốn trôi đi tất cả hồn quê, hồn người mà Nguyễn Bính đang cố níu giữ? Chèo từ lâu đã là một nét đẹp văn hóa trong nghệ thuật diễn xướng Việt Nam, nhưng theo thời, nét đẹp văn hóa dân gian ấy bị phai mờ, quên lãng. Nguyễn Bính trong tâm thế hoài cổ vẫn dẫn dụ người ta về với chèo, với những nét đẹp văn hóa dân gian thân thuộc nhất. Sự tinh tế trong nghệ thuật dẫn dắt của Nguyễn Bính cho ta hiểu được giá trị trường tồn của chèo. Chèo là bản sắc văn hóa Việt Nam, là cầu nối gắn kết giữa anh và em, thôn anh và thôn em trong một điệu hát vấn vương cảm xúc.

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Nắng mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Hồn quê Nguyễn Bính thể hiện ngay trong cả tình yêu với cô gái làng bên. Tình quê trong ông không chỉ là tình cảm giữa con trai với người con gái, đó là nâng lên và tình cảm giữa hai thôn làng. Tình yêu quá họ là sự kết tinh giữa hai làng với nhau. Nguyễn Bính đem sợi chỉ đỏ nối liền hai con người xa lạ lại gần nhau, vô tình kết nối mối giao hảo giữa làng anh - làng em. Tình yêu của họ là thứ tình cảm của thời ông bà ta, dịu dàng mà e ấp. Mối tình đơn phương của chàng trai không dám bộc lộ trực tiếp với người mình yêu. Nguyễn Bính có lối viết ví von mang đậm hồn quê trong văn học dân gian. Người ta khao khát được quay trở lại mảnh đất quê mình, để được chứng kiến “Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau”.

Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ
Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi

Truyền thống sống nghĩa tình, nhân ái đã trở thành khuôn vàng thước ngọc trong lối sống của người dân Việt xưa. Xã hội hiện đại phát triển cũng kéo theo những rào cản, vách ngăn cho mối quan hệ giữa người với người. Viết về người quê, tình quê là cách Nguyễn Bính níu giữ những phần nhà quê còn đang le lói bên trong mỗi con người. Muối mặn gừng cay, dây trầu là đầu câu chuyện đã trở thành những quan niệm xưa trong tư tưởng người Việt. Kĩ thuật sáng tác của Nguyễn Bính có khả năng khơi dậy những phần hồn quê đã đánh mất bên trong mỗi con người.

Nhà phê bình Văn học Hoài Thanh đã từng viết: “Nhà thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta. Ta bỗng thấy vườn cau, bụi chuối, là hoàn cảnh tự nhiên của ta, và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta”. Hơn 80 năm một giọng thơ Nguyễn Bính, hơn 80 năm hồn quê Việt Nam được lưu giữ bên trong những trang thơ nghĩa tình.
Thêm
132
0
0
Viết trả lời...
1. “Họ nhìn thấy máu đổ, thấy những thây người ngã xuống, rách toác, óc vỡ, ruột đùn ra như ruột lợn, những ống xương thòi thụt nham nhở, trắng hếu… Họ nghe thấy tiếng thét, tiếng hộc, tiếng rên la và cả tiếng rú khoái trá man dại…”

2. “Dường như nghe thấu được những tiếng nói vang ra từ lồng ngực ngột ngạt ấy, đôi mắt mù mịt của bảo khẽ nhắm lại một chút rồi liền đó lại mở ra và.. không bao giờ nhắm lại nữa! Người chiến sĩ ấy đã chết thật sự, mang theo vào lòng đất cả cái cán đạn màu xanh để yên lòng đồng đội”.

3. “Thà đến viên mình ngay đi còn hơn ngày nào cũng chờ đợi một kết cục không tài nào tránh thoát, như một định mệnh đã an bài rồi”.

4. “Vả lại, thiên hạ bây giờ ở tuổi bác, không ai mặc đồ lính như thế. Chỉ có dân cựu trào hay dân ở ngoài kia vào đây làm ăn sinh sống mới mặc vậy thôi. Cháu nói thiệt, dòm tội lắm! Vận đồ quân phục mà tội ư?”

5. “Ở giây phút cuối cùng, cậu ta đã âm thầm tự nhét đất, nhét cỏ vào đầy cổ họng mình đến tắc thở để cho tiếng ho thứ hai khỏi phụt ra kéo theo cái chết của bạn bè!”

6. “Nhân cách đã xuống tới đáy rồi, có gồng lên thì vẫn là đáy mà thôi”.

7. “Trái tim khổ đau, tan rã nhưng chưa được chết để phải chứng kiến cái biến đi của toàn thể. Trái tim chết hai lần”.

8. “Ngày xưa oánh nhau vỡ mặt, bây giờ không oánh nữa thì là bạn, bạn sòng phẳng, đến nhà sẽ được tiếp đón cẩn thận, nhưng dù muốn hay không, mi cũng phải nhớ rằng ngày xưa mi là thằng bại trận”.
Thêm
92
0
0
Viết trả lời...
1. “Họ nhìn thấy máu đổ, thấy những thây người ngã xuống, rách toác, óc vỡ, ruột đùn ra như ruột lợn, những ống xương thòi thụt nham nhở, trắng hếu… Họ nghe thấy tiếng thét, tiếng hộc, tiếng rên la và cả tiếng rú khoái trá man dại…”

2. “Dường như nghe thấu được những tiếng nói vang ra từ lồng ngực ngột ngạt ấy, đôi mắt mù mịt của bảo khẽ nhắm lại một chút rồi liền đó lại mở ra và.. không bao giờ nhắm lại nữa! Người chiến sĩ ấy đã chết thật sự, mang theo vào lòng đất cả cái cán đạn màu xanh để yên lòng đồng đội”.

3. “Thà đến viên mình ngay đi còn hơn ngày nào cũng chờ đợi một kết cục không tài nào tránh thoát, như một định mệnh đã an bài rồi”.

4. “Vả lại, thiên hạ bây giờ ở tuổi bác, không ai mặc đồ lính như thế. Chỉ có dân cựu trào hay dân ở ngoài kia vào đây làm ăn sinh sống mới mặc vậy thôi. Cháu nói thiệt, dòm tội lắm! Vận đồ quân phục mà tội ư?”

5. “Ở giây phút cuối cùng, cậu ta đã âm thầm tự nhét đất, nhét cỏ vào đầy cổ họng mình đến tắc thở để cho tiếng ho thứ hai khỏi phụt ra kéo theo cái chết của bạn bè!”

6. “Nhân cách đã xuống tới đáy rồi, có gồng lên thì vẫn là đáy mà thôi”.

7. “Trái tim khổ đau, tan rã nhưng chưa được chết để phải chứng kiến cái biến đi của toàn thể. Trái tim chết hai lần”.

8. “Ngày xưa oánh nhau vỡ mặt, bây giờ không oánh nữa thì là bạn, bạn sòng phẳng, đến nhà sẽ được tiếp đón cẩn thận, nhưng dù muốn hay không, mi cũng phải nhớ rằng ngày xưa mi là thằng bại trận”.
Thêm
90
0
0
Viết trả lời...
1. “Thì ra một khi đã già, đã đánh tuột hết lượng sinh khí ra phía sau đuôi, người ta đâm dở chứng ưa than thân trách phận, ưa đục khoét ngược vào hang hố trong mình”.

2. “Một lớp người xa lạ ở đâu đến hay vừa mới nhớn nhao lên đã nghiễm nhiên thay thế họ rồi”.

3. “Có lẽ giống như tôi, con bé không uống được nhưng phải cố mà uống. đây là trận đánh giành giật chỗ đứng, đây là yếu tố tiên quyết để tạo nên tư cách của một nhân viên nhà hàng, nôn mửa cũng phải móc họng ra mà uống, chết cũng phải uống”.

4. “Và cái bóng buốt kia biết đâu lại chả hết sức tội tình, dấu hiệu chân tình của một đứa con gái nhà lành phải lao vào bụi bặm để quậy quả kiếm ăn, để nuôi em, nuôi mẹ”

5. “19 bồng gạo đổi lấy một mạng người 19 tuổi! Đau quá! Vô nghĩa quá! Nhưng dẫu sao cũng còn đổi lại được. Trong những cánh rừng và trên những dòng sông này, còn biết bao những cái chết ngớ ngẩn, hoàn toàn vô nghĩa khác mà phải chịu”.

6. “Ít nhất trên hai lần, xã ủy, huyện ủy bảo cô viết đơn vào Đảng nhưng cô đều lắc đầu, Đảng điếc gì, cô nói. Vào rồi cứ phải làm ra vẻ đứng đắn, đạo mạo, cáu cũng cáu giả, buồn cũng buồn giả, ngứa ngáy chân tay lắm, tôi hứa sẽ không thua kém một đứa Đảng nào hết”.
Thêm
120
0
0
Viết trả lời...