Mạng xã hội Văn học trẻ

Khi chúng ta nhìn về phía trứơc, ta sẽ thấy những cái ngẫu nhiên. Nhìn lại phía sau thì những ngẫu nhiên ấy lại trở thành quy luật. Vì thế mà nhà lịch sử hầu như luôn luôn nhìn thấy quy luật và do đó anh ta không thể viết được cái lịch sử như nó đã không xảy ra. Thế nhưng trên thực tế , theo quan điểm này, thì lịch sử chỉ là một trong vô vàn con đường có thể đi. Một con đường đã đi đồng thời là một sự đánh mất các con đường khác. Chúng ta lúc nào cũng tìm được một cái gì và đồng thời đánh mất một cái gì. Mỗi bước ta đi tới đều là một sự đánh mất. Và thế là chính ở đây ta bắt gặp tính tất yếu của nghệ thuật.

Nghệ thuật cung cấp cho ta cuộc đi trên những con đường mà ta đã không trải qua, tức là những gì đã không xảy ra. Thế mà lịch sử của những điều không xảy ra lại là một lịch sử vĩ đại và rất quan trọng. Nghệ thuật bao giờ cũng là một khả năng thể nghiệm cái chưa bao giờ trải qua : trở về quá khứ, hành động lại và làm lại theo theo cách mới. Nghệ thuật là kinh nghiệm về những điều chưa xảy ra. Hay là kinh nghiệm về những cái có thể xảy ra.

Từ xưa, Aristote đã hiểu được mối liên hệ sâu sắc nhất của nghệ thuật với lĩnh vực của cái khả nhiên. Nhà văn, chẳng hạn, không bao giờ miêu tả toàn bộ nhân vật của mình. Thông thường, anh ta chỉ nắm bắt một vài chi tiết. Mọi người đều nhớ nhân vật Oneghin của Pushkin có chi tiết anh ta cắt tóc theo mốt mới nhất, nhưng kiểu tóc ấy như thế nào, màu tóc ra sao thì không thể biết, còn Pushkin thì không thấy những cái đó có ý nghĩa gì. Nhưng nếu chúng ta đưa Oneghin lên màn ảnh, thì bắt buộc phải hình dung hết các chi tiết đó và nhiều chi tiết khác nữa. Tức là cung cấp những điều không có ở tác phẩm của Pushkin để chuyển sự miêu tả bằng lời thành miêu tả bằng thị giác.

Trên màn ảnh nhân vật phải hoàn chỉnh hơn, vật thể hoá hơn, được thể hiện đầy đặn hơn. Và vấn đề không phải do mỗi người đọc có một quan niệm của mình về nhân vật tiểu thuyết, mà quan niệm ấy không phù hợp với đặc điểm của nhân vật màn ảnh. Hình tượng ngôn từ có tính hư ảo hơn. Nó sống trong ý thức người đọc như một nhân cách mở, chưa hoàn thành, chưa được thể hiện trọn vẹn. Nhân vật sống và chống lại sự vật thể hoá nó hoàn tòan, rốt ráo. Bản thân nhân vật sống như một khả năng, đúng hơn, như một búi khả năng. Có lẽ vì thế mà các đạo diễn của chúng ta dễ dàng đưa các tiêủ thuyết Mĩ lên màn ảnh, còn đạo diễn Mĩ lại dễ dàng đưa tiểu thuyết Nga lên màn bạc của họ, bởi vì ở đây không có những nhân vật mở, mà chỉ có các công thức văn học sáo mòn. Chúng ta biết cách nhìn của người Mĩ, còn họ cũng biết rất rõ cách nhìn của chúng ta.

Nghệ thuật thế kỉ XX với “tính chụp ảnh” của nó, với khát vọng về tính chính xác, dù điều đó rất lạ lùng, đều dẫn đến chỗ là càng mô phỏng thực tại thì càng nhiều tính ước lệ. Mô phỏng cuộc sống quá mức thì cũng khác biệt với cuộc sống quá mức. Nghệ thuật thế kỉ XX đã đạt được sự gần gủi với đời sống (nhờ khả năng kĩ thuật) đồng thời tạo ra sự khác biệt lớn. Do đó nghệ thuật càng hướng tới đời sống thì nó càng phải ước lệ nhiều hơn nữa.
Thêm
81
0
0
Viết trả lời...
Nhà phê bình Trần Đình Sử viết: Bản chất trò chơi của văn học nghệ thuật đã được thừa nhận hồn nhiên trong thực tế. Mỗi khi nói về văn nghệ người ta đều nói đến đọc cho vui, đọc giải trí, đọc cho đỡ buồn, văn học để giải sầu…Mà đây là một chức năng quan trọng của văn học nghệ thuật. Thế nhưng khi nêu thành lí thuyết thì vấn đề trò chơi luôn luôn bị phê phán là quan niệm không nghiêm túc về văn học nghệ thuật.


Từ thời cổ đại đến nay đã có nhiều định nghĩa về sự chơi từ các phương diện sinh lí, tâm lí, xã hội học, triết học, nhưng tất cả đều chưa đầy đủ, còn phiến diện. Thời cổ đại Aristote nêu thuyết bản năng “bắt chước”, một thứ chơi, bắt chước đem lại nhận thức, niềm vui. Ông không xem xét đầy đủ tất cả mọi trò chơi. Giải thích bằng bản năng là chưa giải thích gì cả. Triết gia Anh H. Spencer cho rằng chơi là phát tiết tinh lực thừa, có tác dụng luyện tập sự khéo léo các hoạt động, ở trẻ thơ rèn luyện các năng lực thấp, còn trong mĩ học là luyện các năng lực cao. Nhà tâm lí hoc Đức W. Wund cho trò chơi là con đẻ của lao động, trong trò chơi đều có các nguyên mẫu của hình thức lao động nghiêm túc. Như vậy trò chơi có sau lao động.


Thời Khai sáng chơi là khái niệm khẳng định chủ thể. I. Kant là người đầu tiên nêu vấn đề nghệ thuật như là trò chơi tự do, khẳng định tính chất trò chơi trong cảm thụ thẩm mĩ và nghệ thuật. Sự khẳng định chủ thể chơi tự do gắn với tư tưởng nhân văn coi coi người chủ thể là trung tâm của xã hội. F. Schiller xem trò chơi là sự hưởng thụ bằng cách thể hiện tinh lực thừa không phụ thuộc vào nhu cầu bên ngoài. Trong chơi sự xung động cảm tính và xung động lí tính hoà hợp làm một, làm cho nhân cách phát triển hài hoà. Chơi khẳng định bản chất của con người. Hai tác giả này qua quan niệm chơi khẳng định tinh thần chủ thể là tuyệt đối, là sự giải phóng về quan niệm chủ thể trong nghệ thuật gắn với sự khẳng định vị trí trung tâm của con người của chủ nghĩa nhân văn. Kant hiểu chơi tự do nghĩa là hành vi tâm lí của chủ thể thẩm mĩ.


Ngoài các điểm giống và khác nhau giữa nghệ thuật và trò chơi như trên, khái niệm nghệ thuật như một hoạt động trò chơi, có đặc điểm riêng của nó. Trò chơi là yếu tố đặc trưng của sáng tạo nghệ thuật. Chơi là một hoạt động tự do, không bắt buộc. Trò chơi về cơ bản là hoạt động vô tư, có tính chất ngẫu hứng, bất ngờ, tính nghịch lý, chống lại sự tự động, máy móc của cuộc sống xung quanh và sự kiểm soát quá mức của nó. Trò chơi thường thực hiện các chức năng rèn luyện các khả năng cần thiết để thực hiện một vấn đề nghiêm túc, là các bài tập về khả năng tự chủ. Chẳng hạn cách nhận xét đánh giá một hành vi của nhân vật hay của cả một nhân vật là một bài tập đối với một con người. Sự lựa chọn thẩm mĩ, thị hiếu, thích hay không thích cũng là một trò chơi hữu ích. Một khía cạnh quan trọng khác của nhu cầu trò chơi là nó bù đắp cho con người những gì mà nó không tìm thấy trong cuộc sống thực. Qua văn học, nghệ thuật con người được bù đắp đủ thứ mà mình trong thực tế không bao giờ trải qua.
Thêm
131
0
0
Viết trả lời...
“Đất nước đã hòa bình nhưng đâu đó vẫn có tiếng xung phong” là một câu nói đầy ẩn dụ và gợi cảm xúc sâu sắc của tác giả trong tác phẩm Di tích chiến tranh. Câu nói này không chỉ phản ánh sự đối lập giữa một đất nước đã trải qua chiến tranh và những di chứng đau thương mà còn thể hiện những vấn đề chưa được giải quyết hoàn toàn, dù hòa bình đã được thiết lập. Một khi chiến tranh đi qua, những cái còn lại không chỉ là những vết thương về thể xác mà còn là những vết thương tâm hồn, những ký ức đau thương vẫn tiếp tục vang vọng. Câu nói này không chỉ phản ánh những sự thật của lịch sử mà còn thể hiện những trăn trở về những con người vẫn tiếp tục phải chiến đấu, không phải với kẻ thù ngoài biên giới mà với chính những vết thương của quá khứ. Một đất nước đã từng trải qua chiến tranh, về những con người đã hy sinh trong cuộc chiến, về sự hòa bình được tái lập, nhưng những hậu quả chiến tranh vẫn còn ảnh hưởng, tiếp tục đeo bám xã hội. Và hơn hết, ta cũng phải tìm hiểu về sự hy sinh, về những người tiếp tục cống hiến và chiến đấu với những nỗi đau của riêng mình để xây dựng lại đất nước.

Khi chiến tranh kết thúc, đất nước ta đã đạt được hòa bình, nhưng điều đó không có nghĩa là chiến tranh không để lại những dấu vết. Những tiếng súng không còn vang lên trên các chiến trường, nhưng hậu quả của nó thì vẫn còn đọng lại trong tâm trí, trong trái tim của những người đã và đang sống sót qua chiến tranh. Đó là những người lính, những bà mẹ mất con, những gia đình mất mát và những vùng đất đầy di tích chiến tranh. Một trong những minh chứng rõ rệt là những di tích chiến tranh vẫn còn hiện diện khắp nơi trên mảnh đất Việt Nam. Những khu mộ chiến sĩ, những cây cầu, những ngôi làng bị tàn phá, và đặc biệt là những người còn sống sót sau chiến tranh với những thương tật nặng nề. Mỗi di tích là một chứng tích của thời gian, là minh chứng cho những hy sinh không thể đong đếm được trong cuộc chiến tranh. Và đôi khi, những tiếng xung phong vẫn văng vẳng trong tâm trí của những người đã từng trực tiếp tham gia chiến đấu.

Dù chiến tranh đã qua đi, nhưng những ký ức về những lần xung phong, những trận đánh ác liệt vẫn không thể phai mờ trong ký ức của những người đã trải qua. Đất nước hòa bình, nhưng bóng dáng chiến tranh vẫn có mặt trong từng góc phố, từng con người. Những âm thanh ấy không chỉ là tiếng xung phong của những người lính mà còn là tiếng gọi của quá khứ, của những đau thương mà dân tộc phải gánh chịu.
Mặc dù đất nước đã hòa bình, nhưng những đau thương và mất mát của chiến tranh không phải dễ dàng mà xóa nhòa. Những người lính trở về sau chiến tranh mang trong mình những vết thương khó có thể chữa lành. Vết thương không chỉ là thể xác mà còn là tâm hồn. Họ vẫn phải đối mặt với những cơn ác mộng, với nỗi sợ hãi về những gì đã trải qua. Những nỗi đau ấy không chỉ có trong các gia đình chiến sĩ mà còn có mặt trong mỗi cuộc đời người dân Việt Nam.


Sự hy sinh của những người lính trong chiến tranh là một điều vô cùng cao cả, nhưng cũng là điều quá đau thương. Họ đã phải đối mặt với cái chết, với nỗi đau mất mát để bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, khi chiến tranh kết thúc, họ không phải trở về với một cuộc sống bình yên như mong đợi. Nhiều người phải sống với những di chứng chiến tranh, như thương tật, tàn phế, hoặc chịu đựng những nỗi đau về mặt tinh thần. Câu nói “đâu đó vẫn có tiếng xung phong” có thể hiểu là sự tiếp tục cống hiến của những người lính, sự hy sinh vẫn không dứt, dù cho chiến tranh đã kết thúc. Mỗi khi nhìn vào những di tích chiến tranh, người ta không thể không cảm nhận được một nỗi buồn và sự tiếc nuối khôn nguôi về những tổn thất, những mất mát trong quá khứ.

Dù đất nước đã hòa bình và chiến tranh đã qua đi, những người sống sót sau chiến tranh vẫn phải đối mặt với quá khứ. Quá khứ đó không chỉ là những ký ức về trận đánh, về những người đồng đội đã hy sinh mà còn là những nỗi đau tâm hồn không dễ dàng lành lặn. Những di tích chiến tranh không phải là những mốc thời gian đã qua, mà là những chứng tích nhắc nhở chúng ta về những gì đã mất, những gì chúng ta cần phải gìn giữ. Những tiếng xung phong mà câu nói nhắc đến chính là những con người luôn phải đương đầu với chính mình, với những ký ức đau buồn của chiến tranh. Có thể họ không còn cầm súng nữa, nhưng họ vẫn tiếp tục đấu tranh trong cuộc sống hàng ngày. Họ tiếp tục làm việc, tiếp tục xây dựng đất nước, tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của xã hội, mặc dù những vết thương xưa không dễ dàng lành lại. Họ không cho phép mình bỏ cuộc, dù cho những vết thương trong tâm hồn vẫn còn.

"Đất nước đã hòa bình nhưng đâu đó vẫn có tiếng xung phong" không chỉ là câu nói phản ánh sự đối lập giữa hòa bình và chiến tranh, mà còn là một lời nhắc nhở về những người đã hy sinh vì đất nước và những di chứng của chiến tranh mà chúng ta cần phải đối mặt. Mặc dù chiến tranh đã qua đi, nhưng những mất mát và hy sinh vẫn còn in dấu trong tâm trí của những người lính và nhân dân. Những tiếng xung phong vẫn văng vẳng, không chỉ trong quá khứ mà còn trong cuộc sống hiện tại, như một lời nhắc nhở chúng ta về nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng một tương lai tươi sáng hơn. Để không làm mất đi ý nghĩa của những hy sinh ấy, mỗi người chúng ta cần phải sống đúng với những giá trị mà các thế hệ đi trước đã để lại, tiếp tục xây dựng đất nước bằng lòng yêu nước, sự hy sinh và tinh thần đoàn kết. Chỉ khi đó, tiếng xung phong mới thực sự trở thành những âm thanh vang vọng của niềm tự hào, chứ không phải là sự tiếc nuối, đau buồn.
Thêm
53
0
0
Viết trả lời...
Tôi đã từng tin rằng, rồi thời gian cũng sẽ chữa lành mọi vết thương. Chuyện buồn hôm trước rồi cũng chỉ là chuyện cười hôm nay. Những câu chuyện buồn hóa ra cũng sẽ chẳng giết được ta như ta nghĩ. Theo dòng thời gian, những nỗi đau đớn rồi cũng bị thời gian xóa mờ, đổi thay. Ta đau đớn của ngày nào cũng chỉ là ta của quá khứ.

Tôi đã từng tin như thế. Tin rằng rồi một ngày nào đó, khi đủ xa một nỗi buồn, ta sẽ có thể mỉm cười nhắc lại nó như một câu chuyện cũ. Tin rằng những tổn thương từng khiến ta tưởng như gục ngã rồi cũng sẽ trở nên nhỏ bé, nhạt nhòa theo năm tháng. Niềm tin ấy không phải vô cớ, bởi thực tế cho thấy rất nhiều nỗi đau đã không còn khiến ta day dứt như lúc ban đầu. Thời gian, bằng cách nào đó, đã làm dịu đi cảm xúc, làm mờ những ký ức sắc nhọn, khiến con người đủ bình tĩnh để tiếp tục sống. Nhưng chính từ niềm tin tưởng giản đơn ấy, ta cũng cần suy ngẫm sâu hơn: phải chăng thời gian tự nó có khả năng chữa lành, hay sự chữa lành ấy đến từ chính cách con người đi qua thời gian?

Quả thật, không thể phủ nhận sức mạnh âm thầm của thời gian đối với những tổn thương tinh thần. Khi một biến cố xảy ra, nỗi đau thường hiện hữu rõ ràng, dữ dội, chiếm trọn tâm trí con người. Nhưng theo dòng thời gian, cảm xúc ấy dần lắng xuống. Ta không còn khóc nhiều như trước, không còn đau nhói mỗi khi ký ức chợt ùa về. Những chuyện buồn hôm qua, đến hôm nay đôi khi chỉ còn đủ sức gợi nên một nụ cười chua chát. Thời gian giúp ta tạo ra khoảng cách cần thiết giữa bản thân hiện tại và cái tôi đau khổ của quá khứ. Nhờ khoảng cách ấy, ta có thể nhìn lại mọi chuyện một cách tỉnh táo hơn, bớt cảm tính hơn. Những nỗi đau từng tưởng chừng không thể vượt qua hóa ra cũng không giết chết được ta như ta từng lo sợ. Chính sự trôi đi không ngừng của thời gian đã khiến con người nhận ra rằng mình mạnh mẽ hơn những gì bản thân từng nghĩ.

Tuy nhiên, nếu nói thời gian tự thân chữa lành mọi vết thương thì có lẽ đó là một nhận định chưa trọn vẹn. Có những nỗi đau không biến mất, mà chỉ ngủ yên. Có những tổn thương tưởng như đã lành, nhưng chỉ cần một tác động nhỏ cũng đủ khiến chúng rỉ máu trở lại. Thời gian không xóa đi ký ức, nó chỉ làm ký ức bớt sắc cạnh. Điều quyết định sự chữa lành không nằm hoàn toàn ở thời gian, mà nằm ở cách con người đối diện với nỗi đau trong suốt quãng thời gian ấy. Có người chọn né tránh, chôn giấu cảm xúc, để mặc vết thương khô lại trên bề mặt nhưng bên trong vẫn âm ỉ. Có người dũng cảm đối diện, chấp nhận đau, học cách thấu hiểu chính mình, từ đó từng bước chuyển hóa tổn thương thành trải nghiệm sống. Cùng một khoảng thời gian trôi qua, nhưng kết quả chữa lành ở mỗi người lại khác nhau.

Thực chất, thời gian chỉ là bối cảnh, còn con người mới là chủ thể của sự chữa lành. Khi ta học được cách buông bỏ những gì không còn thuộc về mình, khi ta ngừng tự trách bản thân vì những điều đã qua, khi ta cho phép mình yếu đuối rồi đứng dậy, thì vết thương mới thật sự có cơ hội khép lại. Lúc ấy, nỗi đau của ngày nào đúng là chỉ còn thuộc về “ta của quá khứ”. Nó không biến mất hoàn toàn, nhưng không còn quyền chi phối hiện tại. Ta có thể nhớ mà không còn đau, nhắc lại mà không còn oán giận. Đó không phải là sự quên lãng, mà là sự trưởng thành. Thời gian khi ấy không đóng vai trò người chữa bệnh, mà là người bạn đồng hành, chứng kiến quá trình con người tự chữa lành chính mình.

Vì vậy, quay trở lại câu hỏi ban đầu: liệu thời gian có thật sự chữa lành được vết thương không? Câu trả lời có lẽ nằm ở sự kết hợp giữa thời gian và nội lực con người. Thời gian cho ta cơ hội, cho ta khoảng lặng, cho ta đủ xa để nhìn lại. Nhưng chính ta mới là người quyết định có bước qua nỗi đau hay không. Nếu chỉ chờ đợi thời gian trôi qua mà không đối diện, vết thương có thể không còn đau nhói, nhưng cũng chẳng bao giờ thật sự lành. Còn khi ta biết sống trọn vẹn với hiện tại, biết học hỏi từ quá khứ, thì thời gian sẽ trở thành minh chứng cho sự hồi sinh. Khi ấy, ta hiểu rằng mình không bị định nghĩa bởi những vết thương đã qua, mà được định hình bởi cách mình vượt qua chúng.







Thêm
50
0
0
Viết trả lời...
Mùa xuân trên thành phố, dù có những bộn bề của cuộc sống đô thị, vẫn giữ nguyên vẹn được những nét đẹp đặc trưng của Tết cổ truyền, và có lẽ, trong những ngày này, không khí xuân ở nơi đây còn có sự hòa quyện tinh tế giữa vẻ hiện đại của thành phố với những giá trị truyền thống lâu đời của dân tộc. Tết ở đâu cũng đều là những tín hiệu đẹp của mùa xuân. Cứ mỗi độ Tết đến xuân về, giữa bộn bề phố thị, người ta vẫn dễ dàng cảm nhận được những tín hiệu của mùa xuân đang tràn ngập không gian, len lỏi vào từng ngõ phố, ngõ hẻm, làm ấm lòng những ai sống giữa guồng quay hối hả của đời sống đô thị. Tết ở thành phố, tuy không ồn ào, nhưng lại có một sức hút khó cưỡng, mang lại cảm giác bình yên và xao xuyến như chính những chiều cuối năm đầm ấm ở quê hương.

Những ngày cuối tháng Chạp, phố phường đã bắt đầu rộn ràng không khí Tết. Dọc các tuyến phố lớn, những chậu hoa mai vàng, đào hồng được bày bán rực rỡ. Những sắc màu của mùa xuân như len lỏi vào từng con đường, phủ lên mặt phố một lớp màu sắc tươi mới, ấm áp. Đào, mai, quất với những chùm quả xanh, vàng treo lủng lẳng lại làm người ta nhớ về những ngày Tết ở thôn quê, nơi mà mỗi gia đình đều có một chậu hoa để đặt trong nhà, với hy vọng năm mới sẽ mang lại nhiều may mắn, tài lộc. Tuy nhiên, không khí Tết ở thành phố lại có một nét riêng biệt, không giống như những làng quê tĩnh lặng. Các con đường, ngôi nhà ở thành phố đều được trang trí với ánh đèn nhấp nháy, những băng rôn, khẩu hiệu mừng xuân, tạo nên một không gian lung linh, đầy sức sống.

Các cửa hàng, chợ Tết trên các con phố lớn đều ngập tràn những món đặc sản ngày Tết. Những gánh hàng bán bánh chưng, bánh tét, mứt Tết, trà, rượu, hay những món ăn đặc trưng của ngày Tết như xôi, giò chả... đều trở thành những tín hiệu của mùa xuân đang về. Người ta nói nhiều về những cái tết trên quê hương, về khoảnh khắc sum vầy mà rất lâu mới có được, nhưng người ta không biết rằng tết trên phố thị lại đẹp theo một cách riêng. Chỉ cần nơi đâu có nhà, có nhau thì đều là tết.

Ở một góc phố nào đó, dù bận rộn, người dân vẫn không quên dành thời gian dừng chân bên những quầy bán hoa, ngắm nhìn những sắc hoa tươi thắm của mùa xuân, rồi chọn cho mình một chậu hoa đẹp nhất để mang về trang trí nhà cửa, báo hiệu một năm mới ấm áp, an lành. Những bà nội trợ nở nụ cười rạng rỡ khi mua được những món đồ ưng ý. Những đứa trẻ tay xách nách mang những món quà Tết được cha mẹ mua cho, ánh mắt ngập tràn sự háo hức. Dù ở thành phố, mọi người vẫn giữ được những thói quen, những nét đẹp ngày Tết rất riêng. Cảm giác ấy như một phần không thể thiếu trong văn hóa Tết của người dân Việt Nam. Mới 28 29 tết, tôi đã đưa mắt mỉm cười nhìn theo những cô bé, cậu bé xúng xính trong bộ áo dài mới, lòng bồi hồi nhớ lại mình năm xưa.

Tết ở thành phố không thiếu những tiếng cười đùa vui vẻ, những niềm hân hoan chờ đón năm mới. Trong không khí xuân ấy, những ngôi nhà, dù là căn hộ chung cư hay những ngôi nhà phố, đều được trang hoàng bằng những vật dụng trang trí đặc trưng của Tết. Những cây nêu, những cặp câu đối đỏ được dán lên cửa, những bức tranh tết với hình ảnh chim muông, hoa lá, cảnh quan làng quê đón xuân... tất cả tạo nên một không gian đẹp đẽ, đầy sự tôn kính với những giá trị truyền thống của dân tộc. Nhưng chính sự nhộn nhịp của thành phố lại mang đến cho Tết một vẻ đẹp khác biệt. Dù không phải là một vùng đất yên bình, tĩnh lặng như những làng quê, thành phố vẫn có thể tạo ra được một mùa Tết trọn vẹn, đậm đà hương sắc của mùa xuân.

Tuy nhiên, những nét đẹp của mùa xuân trên thành phố cũng không thiếu những điều khiến người ta đôi lúc phải nhớ về những ngày Tết ở quê nhà. Mùa xuân ở thành phố đôi khi có phần vội vã hơn, không gian không có được sự yên bình, thanh thản như trong những ngày Tết ở thôn quê. Những chiếc xe cộ vẫn nối đuôi nhau chạy, những con phố vẫn đông đúc, vội vã, và không khí Tết đôi khi không lắng đọng được trọn vẹn như ta muốn. Nhưng chính những người dân nơi đây, với những câu chuyện vui vẻ, những cặp mắt ánh lên niềm vui đón xuân, cũng đủ làm ấm lòng những ai đang xa quê. Mùa xuân trên thành phố không hẳn thiếu vắng sự ấm áp, mà đôi khi chỉ cần sự tĩnh lặng trong lòng mỗi người, mùa xuân ấy sẽ tự nhiên tìm về. Cái Tết ở thành phố không chỉ là niềm vui của những người đang ở lại, mà còn là niềm nhớ nhung của những ai đang sống xa quê, là sự kết nối giữa những con người không phân biệt nơi đâu, quê hương nào.

Mùa xuân ở thành phố, dù có những khác biệt so với Tết ở làng quê, vẫn giữ nguyên những nét đặc sắc của Tết cổ truyền. Trong lòng mỗi người, dù ở đâu, mùa xuân luôn mang một ý nghĩa thiêng liêng, là lúc để mọi người quây quần bên nhau, để nhớ về nguồn cội, về những giá trị truyền thống. Mùa xuân trên thành phố, vì thế, dù có những nhịp sống hối hả, vẫn mang lại những khoảnh khắc yên bình, những cảm xúc dịu dàng, là nguồn động viên lớn lao cho mọi người trong những ngày đầu năm mới. Chắc chắn, mùa xuân ấy sẽ luôn có những ký ức, những hình ảnh đẹp đẽ để mỗi người mang theo trong suốt cuộc đời.
Thêm
58
0
0
Viết trả lời...
Không phải là do thời gian trôi đi quá nhanh, mà chỉ là do mình quá vô tình...

Chắc cũng lâu lắm rồi, hôm nay mình mới ăn cơm cùng bố. Cũng chẳng phải lý do gì to tát, chỉ là khác thời điểm học, khác thời gian làm, khó có thể dung hòa để cùng nhau ăn một bữa cơm. Hôm nay, chỉ có bố và mình ngồi ăn cơm. Cũng lâu lắm, mình không nhìn kĩ gương mặt bố như vậy. Và mình thấy bố thay đổi đi rất nhiều.

Bố không còn là gương mặt trẻ trung, hiền lành của ngày nào nữa. Gương mặt bố bị thời gian bào mòn, vết thời gian xám lại thành những vết sẹo và vết nhăn. Hóa ra, mình đã quá vô tâm với những người xung quanh mình. Mình sống bên cạnh họ nhưng lại chẳng hề nhìn kĩ vào gương mặt họ, để thấy họ thay đổi đi nhiều lắm, thấy bố mẹ mình vất vả lắm.

Mình không cố gắng nhìn vào gương mặt bố mẹ vì sợ cái nhìn của họ sẽ khiến mình đau đáu. Bố ngồi đó, trầm lặng và từng miếng cơm vội vã để chuẩn bị cho ca làm đêm, còn mình thì thong dong thư thả. Gía như con có thể mua của bố mẹ một giờ đồng hồ. Một giờ đồng hồ để gia đình mình ăn cơm cùng nhau, không phải chờ người ăn trước người ăn sau. Mọi người cùng nhau ăn cơm, cùng nhau trò chuyện, nhìn thấy nhau mỗi ngày. Bữa cơm nào cũng chỉ là bát cơm chan canh rau cải, ăn với miếng trứng bùi và nồi thịt kho của mẹ mà sao khiến mình nhớ nhung đến thế. Đôi khi xa nhà, ăn một bữa cơm khách, mình cũng thường so sánh với bữa cơm của mẹ. Và mình nhận ra, vẫn là món ăn ấy, nhưng kể cả một người mẹ khác nấu cho mình ăn cũng chẳng thể khiến mình xúc động nhiều đến thế. Mình lo sợ một ngày, nếu bố mẹ không còn nữa, ai sẽ nấu cho mình những bữa cơm?

Trong tiếng Anh có một thành ngữ "Put yourself in someone's shoes". Thành ngữ này có nghĩa là đặt chân mình vào đôi giày của người khác, hay chính xác hơn là đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để thấu hiểu. Tôi nhận ra chưa bao giờ tôi đặt chân mình vào đôi giày của bố mẹ. Cảm giác khi đó, bàn chân nhỏ bé của tôi sẽ ướm thử vào đôi giày cỡ lớn của họ, cho tôi thấy được mình nhỏ bé giữa tình yêu bao la của cha mẹ. Đôi lúc, tôi dặn mình hãy đặt chân mình vào đôi giày của người khác, để một lần thấu hiểu họ, để biết họ đã đớn đau, mỏi mệt như thế nào.

Và tôi mong rằng, giữa nhân gian rộng lớn, ta biết đặt chân mình vào đôi giày của chính mình. Vì không ai dạy ta cách tha thứ cho mình nên ta thường giận mình rất lâu.
Thêm
53
0
0
Viết trả lời...
Trong cuốn nhật ký “nghìn năm sáng như lửa” ghi lại hành trình chống Mỹ cứu nước của quân dân ta, Đặng Thùy Trâm viết “Cuộc sống vô cùng anh dũng, vô cùng gian nan, chết chóc hi sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm.” Tuổi trẻ hôm nay chưa một lần phải chứng kiến nỗi đau đó, khi bao huân chương cũng chẳng thể làm lành đi nỗi mất mát trong tim. Bởi vậy, chúng ta cần thể hiện sâu sắc lòng yêu nước của mình. Tuy nhiên, tình yêu Tổ quốc không chỉ được thể hiện trong thời kỳ chiến tranh, mà là trong mọi thời đại, hoàn cảnh.

Lòng yêu nước là tình cảm cao cả, thiêng liêng của mỗi người giành cho quê hương đất nước. Nó là tình yêu, sự trân trọng, biết ơn với thế hệ đi trước đồng thời là sự nỗ lực dựng xây đất nước giàu đẹp hơn. Đôi khi, tình yêu đó không thể hiện ở những hành động lớn lao mà biểu hiện trong những gì đơn giản nhất. Chỉ cần biết tự hào về Tổ quốc, biết trân trọng những di sản văn hóa còn ở lại, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt,... đã đủ để ta thể hiện được điều đó.

Quả thật, chiến tranh là một phần cần để thể hiện tình yêu nước. Trong thời kỳ kháng chiến, từ già trẻ gái trai đều một lòng hướng về Tổ quốc. Bao thanh niên trai tráng lần lượt từ giã gia đình, quê hương ra đi cứu nước. Tình yêu với đất nước của họ thể hiện lặng lẽ nhưng để lại nhiều xót xa nhất. Ta nhớ đến những chàng trai “Cà phê chưa uống/ Còn mê thả diều” (Nguyễn Khoa Điềm) nhưng vẫn một lòng ra đi vì sự nghiệp chung như Tô Vĩnh Diện, Trần Văn Ơn, Lý Tự Trọng,... Người ta nói người phụ nữ yếu đuối nhưng đâu thấy những cô gái như Võ Thị Sáu, Trần Thị Lý, Lê Thị Hồng Gấm,.. xông pha trên mặt trận. Dường như trong chiến tranh, mọi giới hạn về tuổi tác, giới tính không còn quan trọng mà chỉ có tình yêu Tổ quốc còn sáng mãi. Khi đất nước rơi vào chiến tranh, bao người mẹ đã nén nỗi đau gửi những người con mình yêu thương nhất ra chiến trường. Để rồi cả quãng đời sau này, họ sống trong nỗi nhớ thương con đã diết nhưng chưa một lần hối hận về lựa chọn của mình. (Dẫn chứng). Như vậy, tình yêu nước được thể hiện rất rõ ràng và mãnh liệt trong thời kì chiến tranh.

Tuy nhiên, chiến tranh không phải hoàn cảnh duy nhất để thể hiện điều đó. Tình yêu luôn được thể hiện trong mọi thời kỳ, trong mọi giai đoạn và bất cứ ai cũng có thể thể hiện được điều này. Trước hết, tình yêu đã được nung nấu từ thời cha ông ta dựng nước và giữ nước. Chính tình yêu đã thôi thúc cha ông ta dựng nên một Việt Nam với tiếng nói riêng, bản sắc văn hoá riêng không trộn lẫn, để ta được tự hào “ta là một, là riêng, là duy nhất”. Mỗi quốc gia đều là một màu sắc riêng trên bản đồ thế giới và Việt Nam cũng là một màu sắc rực rỡ trên đó. Chúng ta tự hào bởi cha ông đã dựng xây được tiếng mẹ đẻ thân thương, riêng biệt không trộn lẫn với bất kỳ ngôn ngữ nào. Dù đến bất cứ quốc gia nào, ta vẫn thấy được nền văn hoá truyền thống đất nước mình thật độc đáo, khác biệt. Tất cả là nhờ tâm huyết dựng xây và phát triển của cha ông ta.

Tiếp đó, tình yêu nước cũng cần được thể hiện trong thời đại hoà bình. Nếu như lòng yêu nước không được thể hiện trọn vẹn trong giai đoạn này, Việt Nam sẽ mãi mãi là một quốc gia kém phát triển, đánh mất đi trang sử hào hùng gìn giữ qua ngàn năm. Chỉ bằng cách thể hiện tình yêu nước, chúng ta mới có thể từng bước cải thiện những điểm yếu, đưa đất nước đi lên “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Ngày nay, bao bạn trẻ đang thay thế hệ đi trước viết tiếp câu chuyện hoà bình bằng những cống hiến sáng tạo, áp dụng công nghệ mới trong phát triển đời sống. Các đơn vị lãnh đạo đang thực hiện nghiêm minh trách nhiệm của mình trong việc quản lý bộ máy nhà nước, lãnh đạo nhân dân. Tình yêu đôi khi đòi hỏi chúng ta phải biết hành động thiết thực để mỗi giây phút VN ta tồn tại đều mang lại ý nghĩa, không riêng gì trong chiến tranh.
Trong hoàn cảnh hoạn nạn, tình yêu Tổ quốc cũng một lần nữa được bộc lộ. Dù ở nơi nào, chúng ta đều là con một nhà. Bởi vậy, như lời cha ông đã dạy “Anh em như thể tay chân”, phải biết yêu thương, giúp đỡ nhau dù cho hoạn nạn. Việc thể hiện tình yêu với những người xung quanh mình cũng là cách thể hiện tình yêu với đất nước. Nó tạo động lực thôi thúc mỗi người biết vượt qua khó khăn, thử thách để lan tỏa đến cộng đồng. Khi cơn bão Yagi đổ bộ miền Bắc nước ta, mỗi chúng ta đều không khỏi ấm lòng khi bao người dân từ mọi miền gửi những món quà cứu trợ cho đồng bào miền lũ. Những căn nhà đổ nát, tan hoang của người dân làng Nủ cũng được dựng nên bởi tình người, cao cả hơn chính là tình đất nước.

Cuối cùng, tình yêu nước luôn cần được thể hiện mọi lúc, mọi nơi như một bản năng của mỗi người Việt. Không phải trong những hoàn cảnh lớn chúng ta mới thể hiện tình yêu của mình. Những hành động nhỏ bé, tưởng như không được để ý đến nối tiếp nhau sẽ tạo nên những hành động lớn, có sức mạnh lan tỏa rộng rãi. Chỉ đơn giản là khi ta biết bảo vệ môi trường sống xung quanh, biết yêu thương với những mảnh đời khó khăn hơn mình, biết gìn giữ những di sản văn hóa còn ở lại, ta đã thể hiện được tình yêu của mình với đất nước.

Do đó, lòng yêu nước không đơn giản chỉ cần thể hiện trong chiến tranh, mà là ở mọi thời điểm, hoàn cảnh. Những người chưa có tình yêu nước là những người chưa nhận thức rõ về vẻ đẹp đất nước mình, chưa thấu hiểu những nỗi khổ đau mà những thế hệ đi trước phải chịu đựng và đáng bị lên án.
.
Tình yêu nước là trách nhiệm, bổn phận và là quyền của mỗi người. Trong bất cứ thời điểm nào, chúng ta vẫn cần giữ cho mình tình yêu, lòng tự tôn dân tộc. Chỉ khi nào tình yêu nước còn tồn tại thì dân tộc đó mới có thể tồn tại.
Thêm
57
0
0
Viết trả lời...
Năm 2025 được nhiều người gọi là năm thanh lọc – không phải theo nghĩa huyền bí, mà là một trạng thái tinh thần của thời đại. Sau những biến động liên tiếp của thế giới, của xã hội và cả đời sống cá nhân, con người dường như buộc phải chậm lại để nhìn thẳng vào chính mình. Thanh lọc ở đây là quá trình gạn bỏ những điều không còn phù hợp: những mối quan hệ độc hại, những kỳ vọng sai lệch, những giá trị được tiếp nhận một cách vô thức. Với người trẻ, năm 2025 không chỉ là một cột mốc thời gian, mà là một lời nhắc nhở: nếu không thay đổi cách sống và cách nghĩ, chúng ta sẽ tiếp tục bị cuốn đi trong sự mệt mỏi kéo dài, dù thế giới có bước sang bao nhiêu năm mới.

Thanh lọc trước hết là đối diện với chính bản thân mình, điều mà người trẻ ngày nay thường né tránh. Trong guồng quay nhanh của mạng xã hội và áp lực thành công, nhiều người trẻ quen với việc trình diễn một phiên bản “ổn” của bản thân, trong khi bên trong là hoang mang, lo âu và kiệt sức. Năm thanh lọc buộc người trẻ phải tự hỏi: mình đang sống vì điều gì, hay chỉ đang cố đáp ứng mong đợi của người khác? Cơ hội lớn nhất của năm 2025 nằm ở chỗ: người trẻ có thể dừng lại, chấp nhận sự không hoàn hảo, và học cách lắng nghe những tổn thương bị che giấu bấy lâu. Nhưng đó cũng là thách thức không nhỏ, bởi nhìn thẳng vào nỗi yếu đuối của mình đòi hỏi nhiều dũng khí hơn là việc tiếp tục bận rộn để quên đi nó.

Trong bối cảnh xã hội liên tục biến động, cơ hội cho người trẻ không nằm ở sự bứt phá hào nhoáng, mà ở khả năng thích nghi sâu sắc và bền bỉ. Năm 2025 mở ra những cánh cửa mới về tư duy nghề nghiệp, về cách định nghĩa thành công và hạnh phúc. Người trẻ không còn bị giới hạn trong một con đường duy nhất, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với sự bấp bênh và cạnh tranh gay gắt hơn bao giờ hết. Thanh lọc lúc này đồng nghĩa với việc lựa chọn: chọn điều gì là cốt lõi, điều gì chỉ là hào nhoáng nhất thời. Nếu không đủ tỉnh táo, người trẻ rất dễ rơi vào trạng thái mất phương hướng, so sánh bản thân với người khác và tự phủ nhận giá trị của chính mình.

Thách thức lớn nhất của năm thanh lọc chính là sự cô đơn tinh thần. Khi những lớp vỏ xã hội dần được bóc tách, người trẻ có thể cảm thấy trống rỗng, mất chỗ dựa quen thuộc. Những mối quan hệ từng tồn tại vì thói quen có thể tan rã, những niềm tin cũ có thể sụp đổ. Nhưng cũng chính trong khoảng trống đó, người trẻ có cơ hội xây dựng lại nền tảng tinh thần vững chắc hơn. Thanh lọc không phải là mất mát vô nghĩa, mà là sự đánh đổi cần thiết để trưởng thành. Ai dám ở lại với chính mình trong giai đoạn khó khăn này sẽ có khả năng bước sang năm mới với một nội lực mạnh mẽ hơn, hiểu rõ mình là ai và mình thực sự cần điều gì.

Cuối cùng, năm 2025 – năm thanh lọc – không hứa hẹn sự dễ dàng, nhưng mang đến một cơ hội hiếm có để người trẻ tái sinh về mặt tinh thần. Đó là năm của việc sống chậm hơn nhưng sâu hơn, chọn lọc hơn trong các mối quan hệ, và trung thực hơn với cảm xúc của chính mình. Nếu người trẻ dám buông bỏ những áp lực không thuộc về mình, dám chấp nhận quá trình chữa lành thay vì vội vã chạy theo thành tựu, thì năm thanh lọc sẽ trở thành nền móng cho một tương lai vững vàng hơn. Một năm mới thực sự không bắt đầu từ thời gian, mà bắt đầu từ sự thay đổi trong nhận thức. Và năm 2025, với tất cả những cơ hội và thách thức, chính là lời mời gọi người trẻ bước vào hành trình đó một cách tỉnh táo và can đảm.
Thêm
56
0
0
Viết trả lời...
Nếu có một điều ước, tôi ước mình sẽ biến mất khỏi cõi đời này, hóa thành một làn khói xám trôi đi nhẹ bẫng không một dấu vết. Thế giới người lớn đón tôi bằng những cơn đau và giọt nước mắt, ép tôi phải lớn lên trong những nỗi áp lực không thể nào vực dậy. Tôi luôn có cảm giác như mình bị trầm cảm, rơi vào hố sâu của cảm xúc, âm thầm bật khóc mà không thể chia sẻ cùng ai. Đôi lúc, tôi chỉ muốn khóc thật lớn và nói với những người xung quanh tôi rằng: “Tôi đã đi đến tận cùng giới hạn của mình, nếu thêm một lần chịu vết xước nữa thì tôi sẽ chết”. Và đó là lúc tôi muốn ôm lấy những người đồng trang lứa, những người đang gồng gánh nỗi đau để nói với thế giới về vấn đề: Gía như chúng ta dịu dàng với nhau hơn một chút.


Tôi nhận ra nỗi đau tinh thần không có hình dáng, nhưng nó có trọng lượng. Nó đè nặng lên ngực, khiến hơi thở trở nên khó khăn, khiến trái tim mệt mỏi ngay cả khi không làm gì. Giữa một thế giới vận hành quá nhanh, chúng ta học cách im lặng trước nỗi đau của mình, vì sợ bị cho là yếu đuối, là kém cỏi, là không đủ mạnh mẽ để tồn tại. Chúng ta có thể mỉm cười trên mạng xã hội, vẫn đi học, đi làm đầy đủ, nhưng bên trong là một mớ hỗn độn của lo âu, sợ hãi và cảm giác mình không đủ tốt. Có những ngày, chỉ một câu nói vô tình, một cái nhìn lạnh nhạt cũng đủ khiến tất cả mọi cố gắng sắp sửa của chúng ta sụp đổ. Nhưng ít ai hỏi rằng: “Bạn có ổn không?”, và ít hơn nữa là thực sự muốn lắng nghe câu trả lời.


Xã hội này không hẳn quá tàn nhẫn, chỉ là chúng ta đang dần quen với việc sống vội và quên mất sự dịu dàng. Chúng ta phán xét quá nhanh, yêu cầu quá cao, và ít cho nhau cơ hội được sai, được mệt, được yếu lòng. Mỗi người đều đang chiến đấu với một cuộc chiến riêng, nhưng chúng ta lại thường coi nỗi đau của người khác là chuyện nhỏ. Chính sự thờ ơ đó, nhiều khi, còn gây tổn thương hơn cả lời chỉ trích. Giá như chúng ta dịu dàng với nhau hơn một chút. Dịu dàng trong cách nói, trong cách nhìn, trong cả việc im lặng khi cần thiết. Dịu dàng để không biến lời nói thành dao, không biến sự vô tâm thành giọt nước làm tràn ly. Đôi khi, chỉ một cái vỗ vai, một câu “Bạn không cô đơn đâu” cũng có thể giữ một người ở lại với thế giới này.


Và trên hết, tôi mong chúng ta học cách dịu dàng với chính mình. Cho phép bản thân mệt mỏi, cho phép mình nghỉ ngơi, và cho phép mình không ổn trong một vài ngày. Vì chúng ta là con người, không phải máy móc. Nếu thế giới chưa kịp hiểu và yêu thương chúng ta, thì ít nhất, chúng ta hãy bắt đầu từ việc đối xử nhẹ nhàng hơn với nhau — và với chính trái tim mình.
Thêm
65
0
0
Viết trả lời...
Ngay từ lần đầu tiên lắng nghe bài hát “Chờ một người”, mình đã rung động trước câu hát “Hãy học cách dù em có ngã/ Phải “ngã” vào chữ “nhân” của Gill. Là một người trẻ, đối diện với hàng bao cú vấp ngã trên đường đời dài rộng, mình thấy như câu hát ấy dành cho chính mình và cả những người quanh mình. Vấp ngã là điều ai cũng từng một lần trải qua. Thế giới mong ta vấp ngã để sau những lần thương tổn như thế, ta đứng dậy, chạm tới đỉnh cao của lòng mình một cách vinh quang. Nhưng không phải rằng, lần vấp ngã nào cũng có thể giúp ta đứng dậy. Có những cơn đau đến khi bùn đen dìm ta xuống đấy, càng cố để ngóc đầu lên thì càng bị chà đạp một cách khốc liệt. Nhưng ta có thể lựa chọn, vặc lại những khó khăn ấy để giữ lại tiếng “nhân” thiện lành bên trong mình, hoặc cứ thế để mình tan rữa trong bùn đen hôi tanh. Đứng giữa mê lộ đời muôn ngả, tôi nhắc nhở người trẻ: “Hãy học cách dù em có ngã/ Phải “ngã” vào chữ “nhân”.


Người trẻ chúng ta hôm nay đang sống trong một thời đại mà tốc độ sống đôi khi nhanh hơn cả khả năng thấu cảm. Em được khuyến khích phải thành công sớm, phải nổi bật, phải “đứng vững” giữa muôn vàn cạnh tranh. Em được dạy không được vấp ngã, phải luôn rực rỡ và vinh quang. Có đau đớn cũng phải điểm trang giả tạo mà che giấu nỗi đau đi. Nhưng có ai nói với em rằng: ngã là điều không thể tránh khỏi không? Và điều quan trọng không phải là em có ngã hay không, mà là em ngã như thế nào, và đứng dậy với tâm thế gì. “Chữ nhân” ở đây không phải là khái niệm đạo đức xa vời, mà là cách em đối diện với chính mình và với người khác khi sai lầm xảy ra. Người trẻ thường sợ ngã vì sợ bị đánh giá, sợ mất hình ảnh, sợ bị bỏ lại phía sau. Nhưng nếu mỗi lần ngã, em chọn đổ lỗi, cay nghiệt hay khép lòng mình lại, thì cú ngã ấy không chỉ làm em đau, mà còn khiến em mất đi điều quý giá nhất: nhân tính và lòng kiên nhẫn.


“Ngã” không chỉ là thất bại trong học tập hay công việc. Đó còn là lúc em sai trong một mối quan hệ, tổn thương ai đó, hay phản bội chính những giá trị mình từng tin. Không ai lớn lên mà chưa từng “ngã”. Nhưng “ngã vào chữ nhân” nghĩa là gì? Nghĩa là khi em sai, em dám nhận lỗi thay vì ngụy biện; khi em thua, em không chà đạp người khác để đứng lên; khi em đau, em không biến nỗi đau của mình thành vũ khí làm đau thêm người xung quanh, dám kiên nhẫn chờ đợi quả ngọt đến. “Chữ nhân” đòi hỏi sự đối thoại: đối thoại với bản thân để hiểu giới hạn của mình, đối thoại với người khác để giữ lại sự tôn trọng và cảm thông. Trong một xã hội dễ phán xét, việc giữ được lòng nhân ái khi ngã là điều không dễ. Nhưng chính lúc ấy, em mới biết mình đang đi lên bằng giá trị gì. Thành công không phải là đứng trên đỉnh cao vinh quang, mà là dám cúi xuống nâng đỡ người khác. Liệu em có biết điều hạnh phúc nhất là gì không? Đó là khi ta chấp nhận mình thất bại trong hồ hởi, yêu thương và nhân ái. Một người trẻ biết “ngã vào chữ nhân” sẽ không đánh mất mình trong thất bại.


Có thể em từng chứng kiến hoặc trải qua những cú ngã rất đời: trượt một kỳ thi quan trọng, thất bại trong khởi nghiệp, hay đổ vỡ một tình bạn từng rất thân. Có người sau cú ngã trở nên khô cằn, hoài nghi, thậm chí cay độc. Nhưng cũng có người, từ chính vấp ngã ấy, học được cách lắng nghe, bao dung và trưởng thành hơn. Sự khác biệt nằm ở việc họ có chọn “chữ nhân” làm điểm tựa hay không. Người trẻ ngày nay dễ bị cuốn vào so sánh, vào áp lực phải chứng minh giá trị. Nhưng giá trị thật không nằm ở việc em chưa từng ngã, mà ở việc sau khi ngã, em còn giữ được sự tử tế hay không. Khi em biết xin lỗi đúng lúc, biết cảm ơn người đã giúp mình đứng dậy, biết học từ sai lầm thay vì che giấu nó, em đang đối thoại lành mạnh với cuộc đời. Và chính sự đối thoại ấy giúp em đi xa hơn, bền hơn, không cô độc trên hành trình trưởng thành.


Người trẻ à, không ai có thể hứa với em một con đường bằng phẳng. Nhưng em có thể chọn cách bước đi trên con đường gập ghềnh ấy. Hãy cho phép mình ngã, nhưng đừng để cú ngã biến em thành người khác đi. Hãy “ngã vào chữ nhân” – ngã trong sự tỉnh thức, trong lòng tự trọng và tình người. Khi em giữ được đối thoại thay vì đối đầu, chia sẻ thay vì khép kín, dung lượng thay vì phán xét, em sẽ nhận ra: mỗi cú ngã không kéo em xuống, mà đang đặt nền cho một phiên bản trưởng thành hơn của chính em. Và đến một ngày, khi nhìn lại, em sẽ biết ơn cả những lần mình từng ngã – bởi nhờ đó, em đã học được cách làm người trước khi học cách thành công. Câu hát của Gill khép lại nhưng vẫn ngân nga những dư vang trong trái tim em, trong tôi. Chúng là lời nhắc nhở chúng ta về con đường ta đi: không hoàn hảo, không trọn vẹn, ngược lại gập ghềnh, khó khăn nhưng hạnh phúc nhất là khi em biết “ngã vào chữ nhân”.
Thêm
258
0
0
Viết trả lời...
Trên những con dốc cheo leo của hành trình leo đến đỉnh cao tuổi trẻ, tôi trăn trở về câu nói của Stephen Hawking: “Những hy vọng của tôi giảm xuống con số không khi tôi hai mươi mốt tuổi. Và kể từ đó, mọi thứ đều là phần thưởng”. Câu nói ấy không phải là lời than thở của người chọn đầu hàng, mà là sự chiêm nghiệm của một trí tuệ đã đi đến tận cùng mất mát để chạm đến minh triết. Hai mươi mốt tuổi - cái tuổi mà nhiều người trẻ hôm nay còn đang loay hoay chọn ngành, yêu đương, mơ ước tương lai, Hawking nhận bản án mắc bệnh xơ cứng teo cơ, bị dự đoán chỉ sống thêm vài năm. Mọi kế hoạch, danh vọng, ước mơ bỗng chốc sụp đổ. Khi đứng trước thử thách, người ta chọn vặc lại những rào cản ấy để chờ ngày khó khăn đầu hàng trước ta, hoặc chọn đầu hàng vô điều kiện trước thử thách. Hawking đã chọn cách thứ nhất. Ông không còn sống để “đạt được điều gì đó”, mà sống vì từng khoảnh khắc còn tồn tại. Và chính trong tâm thế ấy, cuộc đời ông mở ra một hướng đi hoàn toàn khác. Với người trẻ, câu nói ấy nhắc ta hiểu một sự thật: khi ta thôi đòi hỏi cuộc đời phải đáp ứng mọi kỳ vọng của mình, ta bắt đầu nhìn thấy giá trị của những điều nhỏ bé mà trước đó ta xem là hiển nhiên.


Tôi biết nhiều người trẻ sợ thất bại hơn cả sợ nghèo khó. Họ sợ trượt đại học, sợ chọn sai ngành, sợ thua kém bạn bè, sợ không trở thành “phiên bản tốt nhất của chính mình” như những lời truyền cảm hứng tràn lan trên mạng. Điều này xảy ra khi xã hội đặt lên họ quá nhiều kỳ vọng, chiêm ngưỡng họ như một con vật lạ trong sở thú, chờ xem bạn làm cho họ thấy thỏa mãn bằng thành quả của bạn. Đôi khi, chính gia đình, bố mẹ lại khiến bạn cảm thấy áp lực, thương tổn nhất. Chính nỗi sợ ấy khiến họ lúc nào cũng sống trong trạng thái căng thẳng, so sánh và tự trách. Khi những kì vọng không như mong muốn, họ rơi vào trầm cảm vì tự ti, lo sợ về cái nhìn của những người xung quanh. Nhưng Stephen Hawking cho ta một góc nhìn ngược lại: khi không còn gì để mất, con người trở nên tự do. Sau khi biết mình có thể không sống lâu, Hawking thôi lo lắng về việc phải trở thành ai trong mắt người khác. Ông tập trung toàn bộ năng lượng còn lại cho điều mình thực sự yêu: nghiên cứu vũ trụ. Từng ngày sống thêm đối với ông là một “phần thưởng”. Người trẻ hôm nay chưa phải đối diện với ranh giới sinh – tử như Hawking, nhưng lại dễ tuyệt vọng vì những vấp ngã rất đời thường. Có khi chỉ là một kỳ thi trượt, một lời từ chối, hay cảm giác mình “chậm hơn” người khác. Nếu ta coi mỗi ngày còn được học, được thử, được sai là một phần thưởng, ta sẽ bớt oán trách bản thân và cuộc đời. Không phải ai cũng cần chạm đáy tuyệt vọng như Hawking mới học được điều đó. Đôi khi, chỉ cần dám buông bớt những kỳ vọng quá nặng nề, ta sẽ thấy cuộc sống là một món quà, thật đáng sống, thật đáng để trân trọng và biết ơn. Cuộc đời hóa ra đẹp hơn ta nghĩ, chỉ là ta có chịu buông bỏ những dục vọng của chính mình hay không.


Điều khiến tôi nể phục nhất ở Stephen Hawking không chỉ là trí tuệ, mà là thái độ sống bền bỉ và tỉnh táo. Cơ thể ông dần mất khả năng cử động, lời nói phải nhờ máy móc hỗ trợ, nhưng tinh thần thì không hề đầu hàng. Trong hơn nửa thế kỷ sống chung với bệnh tật, ông vẫn kết hôn, có con, viết sách, giảng dạy và trở thành một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất thế giới. Ông không sống trong ảo tưởng rằng mình “đặc biệt”, mà rất thực tế: chấp nhận giới hạn, rồi làm tốt nhất trong giới hạn ấy. Đây là điều người trẻ rất cần học. Chúng ta thường hoặc tự đánh giá mình quá thấp, hoặc đòi hỏi bản thân phải hoàn hảo. Cả hai thái cực đều khiến ta mệt mỏi. Hawking cho thấy cuộc đời không cần phải đạt được thành tựu mới có ý nghĩa. Khi mọi hy vọng đã chạm đáy, từng thành tựu nhỏ đều trở thành món quà. Một bài toán giải được, một ý tưởng mới, một buổi sáng thức dậy vẫn còn sống – tất cả đều đáng trân trọng. Người trẻ nếu hiểu điều này sớm, sẽ không phí hoài năng lượng để than vãn, mà biết dồn sức cho những điều mình có thể làm hôm nay.


Điều khiến tôi nể phục nhất ở Stephen Hawking không chỉ là trí tuệ, mà là thái độ sống bền bỉ và tỉnh táo. Cơ thể ông dần mất khả năng cử động, lời nói phải nhờ máy móc hỗ trợ, nhưng tinh thần thì không hề đầu hàng. Trong hơn nửa thế kỷ sống chung với bệnh tật, ông vẫn kết hôn, có con, viết sách, giảng dạy và trở thành một trong những nhà vật lý vĩ đại nhất thế giới. Ông không sống trong ảo tưởng rằng mình “đặc biệt”, mà rất thực tế: chấp nhận giới hạn, rồi làm tốt nhất trong giới hạn ấy. Đây là điều người trẻ rất cần học. Chúng ta thường hoặc tự đánh giá mình quá thấp, hoặc đòi hỏi bản thân phải hoàn hảo. Cả hai thái cực đều khiến ta mệt mỏi. Hawking cho thấy cuộc đời không cần phải đạt được thành tựu mới có ý nghĩa. Khi mọi hy vọng đã chạm đáy, từng thành tựu nhỏ đều trở thành món quà. Một bài toán giải được, một ý tưởng mới, một buổi sáng thức dậy vẫn còn sống – tất cả đều đáng trân trọng. Người trẻ nếu hiểu điều này sớm, sẽ không phí hoài năng lượng để than vãn, mà biết dồn sức cho những điều mình có thể làm hôm nay.


Tâm sự với người trẻ, tôi không mong rằng chúng ta phải trải qua đau đớn để trưởng thành. Tôi cũng là một người trẻ đang ngày ngày đối diện với những áp lực từ cuộc sống xung quanh. Tôi chỉ mong khi đọc câu nói của Stephen Hawking, chúng ta hiểu rằng: hy vọng không biến mất, nó chỉ thay đổi hình dạng. Khi ta ngừng mong cuộc đời phải chiều theo ý mình, ta bắt đầu học cách sống hòa hợp với thực tại. Thất bại không còn là dấu chấm hết, mà là một phần của hành trình. Thành công không còn là áp lực, mà là phần thưởng bất ngờ. Người trẻ có quyền mơ ước, nhưng cũng cần học cách chấp nhận. Có những con đường ta không đi được, có những ước mơ không thành hình, nhưng điều đó không có nghĩa cuộc đời mất giá trị. Hawking đã sống hơn 50 năm sau “con số không” của hy vọng, và để lại cho nhân loại một di sản khổng lồ. Còn chúng ta, khi chưa bị dồn đến tận cùng, lại càng có lý do để sống chậm hơn, sâu hơn, và nhân ái hơn với chính mình. Nếu một ngày nào đó bạn thấy mình rơi vào bóng tối, hãy nhớ rằng: chỉ cần bạn còn tồn tại, thì mỗi ngày phía trước vẫn có thể là một phần thưởng. Có những món quà ông trời sợ rằng nếu trao đến tay bạn sớm quá thì bạn sẽ không biết trân trọng, nên bạn chỉ nhận được món quà ấy sau khi đã trải nghiệm hết con đường dành cho mình.
Thêm
299
0
0
Viết trả lời...
Trong hành trình đi tìm ý nghĩa và vị trí của mình trong cuộc sống, người trẻ thường mang theo rất nhiều ước mơ, hoài bão nhưng cũng không ít băn khoăn, lo lắng. Câu nói “Thành công không hỏi bạn sẵn sàng chưa, thành công chỉ hỏi bạn sẵn sàng đánh đổi bao nhiêu” cất lên như một lời đối thoại với người trẻ. Bởi lẽ, rất nhiều người trẻ có thói quen chờ đợi: chờ khi đủ giỏi hơn, đủ tự tin hơn, đủ điều kiện hơn rồi mới bắt đầu. Nhưng cuộc sống không vận hành theo cách đó. Cơ hội không đứng yên để đợi ta chuẩn bị xong mọi thứ, và thành công cũng vậy. Nó đến bất ngờ, đôi khi rất sớm, đôi khi rất muộn, nhưng luôn đòi hỏi ở ta một thái độ chủ động. Không ai sinh ra đã hoàn toàn sẵn sàng cho thử thách lớn lao. Sự “sẵn sàng” thực chất được hình thành trong quá trình ta dấn thân, vấp ngã và tự đứng dậy. Nếu chỉ vì sợ thất bại mà không dám bắt đầu, người trẻ sẽ tự khép lại cánh cửa của chính mình. Câu nói trên không nhằm phủ nhận nỗi sợ hay sự non nớt của tuổi trẻ, mà nhắc nhở rằng: điều quan trọng không phải là bạn đã hoàn hảo chưa, mà là bạn có đủ can đảm để bước đi và trả giá cho ước mơ của mình hay không. Tuổi trẻ thường bắt đầu bằng ước mơ rất lớn, nhưng lại đi cùng nỗi sợ rất thật: sợ thất bại, sợ bị chê cười, sợ mình chưa đủ giỏi. Chúng ta chờ đến khi “sẵn sàng” rồi mới bắt đầu. Nhưng sự thật là, không có khoảnh khắc hoàn hảo để xuất phát. Thành công không đứng yên chờ ta tự tin hơn, giỏi hơn hay bớt sợ hơn. Nó chỉ đến khi ta dám bước đi, dù còn run rẩy.


“Đánh đổi” – hai chữ ấy nghe có vẻ nặng nề, nhưng lại là quy luật công bằng nhất của cuộc đời. Không có thành công nào tự nhiên rơi xuống, cũng không có con đường nào trải toàn hoa hồng. Với người trẻ, sự đánh đổi trước hết là thời gian và công sức. Đó là những đêm thức khuya học bài, những sáng sớm dậy sớm làm việc, là việc kiên trì theo đuổi mục tiêu trong khi người khác lựa chọn nghỉ ngơi hoặc bỏ cuộc. Đánh đổi còn là việc chấp nhận cô đơn trên con đường mình chọn, chấp nhận bị nghi ngờ, thậm chí bị chê cười khi chưa có kết quả để chứng minh. Nhưng chính những tháng ngày âm thầm ấy lại rèn luyện bản lĩnh và ý chí. Mỗi lần vượt qua cám dỗ của sự dễ dãi, mỗi lần không cho phép mình bỏ cuộc, người trẻ lại tiến thêm một bước gần hơn với thành công. Tuy nhiên, đánh đổi không có nghĩa là hi sinh mù quáng hay tự làm tổn thương bản thân. Đánh đổi đúng đắn là biết ưu tiên điều quan trọng, biết từ bỏ những thói quen xấu, sự trì hoãn, tâm lý so sánh để tập trung hoàn thiện chính mình. Thành công không đòi hỏi bạn phải hơn người khác, mà đòi hỏi bạn phải tốt hơn chính bạn của ngày hôm qua. Người trẻ thường nóng lòng muốn thấy kết quả ngay. Nhưng thành công hiếm khi đến bằng những bước nhảy vọt. Nó được xây từ những việc nhỏ làm đều đặn mỗi ngày: đọc thêm vài trang sách, luyện thêm một kỹ năng, kiên trì với kế hoạch đã chọn. Mỗi nỗ lực hôm nay là một viên gạch cho ngày mai, dù bạn chưa nhìn thấy ngay thành quả.


Điều quý giá nhất của tuổi trẻ chính là năng lượng, là khả năng sai và làm lại. Vì vậy, khi hiểu rằng thành công chỉ hỏi bạn sẵn sàng đánh đổi bao nhiêu, người trẻ cần học cách dấn thân một cách thông minh và bền bỉ. Hãy bắt đầu từ những mục tiêu nhỏ, những thay đổi cụ thể: kỷ luật hơn trong sinh hoạt, nghiêm túc hơn với việc học tập và công việc, kiên trì hơn với ước mơ mình đã chọn. Đừng quá vội vàng đòi hỏi kết quả, bởi thành công thường được tích lũy từ những nỗ lực rất bình thường mỗi ngày. Cũng đừng tự trách mình khi thất bại, vì mỗi lần vấp ngã là một bài học giúp ta hiểu rõ giới hạn và khả năng của bản thân. Quan trọng nhất, hãy nhớ rằng đánh đổi không đồng nghĩa với đánh mất niềm vui sống, nhân cách hay giá trị con người. Một thành công thực sự là thành công khiến bạn trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn và sống có ý nghĩa hơn. Khi dám nỗ lực, dám trả giá và dám chịu trách nhiệm cho lựa chọn của mình, người trẻ đã bước những bước đầu tiên trên con đường thành công. Và đến lúc ấy, bạn sẽ nhận ra: tuổi trẻ đáng giá nhất không phải vì ta đạt được bao nhiêu, mà vì ta đã dám cố gắng đến mức nào. Cuộc đời này không phải là hành trình để bạn theo đuổi hào quang, mà là khi bạn tận hưởng nó.
Thêm
100
0
0
Viết trả lời...
Trong một trang viết ngắn gọn mà day dứt, Nguyễn Ngọc Tư từng viết: “Hẹn bạc đầu nghe đã sợ, thôi đừng hẹn kiếp sau.” Câu nói như một tiếng thở dài nặng trĩu, chạm thẳng vào tâm thức của người trẻ hôm nay – những người đang sống giữa nhịp đời gấp gáp, mong manh và đầy bất trắc. Đặt mình vào góc nhìn tâm sự của người trẻ, ta chợt nhận ra: nỗi “sợ” trong câu nói ấy không phải là sợ yêu, mà là sợ chờ đợi, sợ những lời hứa quá xa, sợ một tương lai chưa chắc có hình hài.

Người trẻ chúng tôi lớn lên cùng những lời hẹn rất đẹp: hẹn cùng nhau cố gắng, hẹn mai này thành công, hẹn khi ổn định sẽ quay về bên nhau. Nhưng càng lớn, càng va chạm, chúng tôi càng hiểu rằng cuộc đời không vận hành theo những lời hứa tròn trịa. “Hẹn bạc đầu”, một lời hẹn tưởng như lãng mạn, bền chặt, bỗng trở thành gánh nặng. Bởi để đi đến bạc đầu, con người phải đi qua bao đổi thay: đổi thay của lòng người, của hoàn cảnh, của chính bản thân mình. Nghe “hẹn bạc đầu”, người trẻ sợ không phải vì không muốn yêu lâu dài, mà vì không dám chắc mình có đủ khả năng đi trọn con đường ấy. Và sau này khi những nguyện ước không trọn vẹn, hai người ở xa hai hướng, chỉ biết nhìn về nhau đầy nuối tiếc. Đó là cái nhìn của Mai khi nhìn về gia đình hạnh phúc của Sâu trong bộ phim điện ảnh “Mai” của đạo diễn Trấn Thành.

Còn “đừng hẹn kiếp sau” lại là một nỗi buồn sâu hơn. Kiếp sau vốn là nơi trú ẩn của những điều dang dở ở kiếp này. Khi người ta nói “hẹn kiếp sau”, nghĩa là ở kiếp này đã bất lực. Người trẻ hôm nay không hẳn là thực dụng, nhưng chúng tôi hiểu rằng: nếu ngay hiện tại còn chưa giữ được nhau, thì lấy gì đảm bảo cho một kiếp sau mơ hồ? Kiếp sau, suy cho cùng, chỉ là một lời an ủi đẹp đẽ cho những điều đã muộn màng. “Hẹn kiếp sau” chỉ là lời bao biện khi duyên lỡ, khi mối quan hệ giữa cả hai đã không còn phương cứu vãn.

Câu nói của Nguyễn Ngọc Tư như thay người trẻ thổ lộ một tâm thế sống: muốn thật, sống thật, yêu thật trong hiện tại. Chúng tôi không còn mặn mà với những lời hứa quá dài, quá xa, bởi chúng tôi đã chứng kiến quá nhiều cuộc chia tay bắt đầu bằng những lời thề non hẹn biển. Người trẻ sợ những lời hẹn lớn, không phải vì thiếu niềm tin, mà vì hiểu giá trị của trách nhiệm đi kèm với lời hứa ấy. Hứa bạc đầu là hứa cả một đời, mà một đời thì dài và khó giữ vô cùng. Trong tình yêu, người trẻ hôm nay có thể không nói nhiều về tương lai, nhưng lại cố gắng yêu cho trọn vẹn từng khoảnh khắc. Không hẹn kiếp sau, bởi nếu còn thương, hãy thương cho đàng hoàng ở kiếp này. Không hẹn bạc đầu, bởi nếu còn bên nhau hôm nay, thì hôm nay đã là điều đáng quý nhất. Đó không phải là sống vội, mà là sống tỉnh táo. Tỉnh táo để không đặt gánh nặng lên vai nhau bằng những lời hứa vượt quá khả năng của con người.

Nhìn rộng hơn, câu nói ấy cũng phản ánh một nỗi cô đơn rất hiện đại. Giữa một thế giới đầy biến động, chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai, và cả những khủng hoảng tinh thần âm thầm, người trẻ hiểu rằng: không ai chắc chắn ngày mai sẽ ra sao. Vì thế, chúng tôi học cách trân trọng hiện tại, trân trọng những người còn đang ở bên, trân trọng những điều nhỏ bé nhưng thật. Một cái nắm tay hôm nay đôi khi có ý nghĩa hơn ngàn lời hẹn cho mai sau.

“Hẹn bạc đầu nghe đã sợ” – sợ vì yêu quá nhiều nên sợ mất. “Thôi đừng hẹn kiếp sau” – không phải vì bi quan, mà vì muốn sống trọn vẹn kiếp này. Câu nói của Nguyễn Ngọc Tư không làm người trẻ mất niềm tin vào tình yêu, mà ngược lại, nhắc chúng tôi yêu một cách có trách nhiệm hơn, chân thành hơn và tỉnh thức hơn.

Với người trẻ, có lẽ điều đẹp nhất không phải là những lời hứa kéo dài đến cuối đời, mà là sự hiện diện thật sự của nhau trong từng ngày còn có thể. Không cần hẹn bạc đầu, chỉ cần đừng rời tay khi còn thương. Không cần hẹn kiếp sau, chỉ cần đừng bỏ lỡ nhau ở kiếp này.
Thêm
114
0
0
Viết trả lời...
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm 15 bị cáo trong vụ án gian lận điểm thi THPT năm 2018 tại Hòa Bình, bị cáo Diệp Thị Hồng Liên tự bào chữa: “Ai cũng gù cả, mình thẳng lưng sẽ thành khuyết tật”. Câu nói của một nhà giáo dục có vị trí trong ngành làm ta thấy thật trăn trở, xót xa cho những góc khuất của nghề giáo. Và ta tự hỏi: còn bao nhiêu câu chuyện xót xa như thế chưa được đưa ra ánh sáng?


Trong thế giới của người gù, kẻ thẳng lưng sẽ thành kẻ khuyết tật. “Người gù” là biểu tượng của những người khuyết tật, mang trên mình khiếm khuyết, nứt gãy trong tâm hồn và thể xác. Họ là người có trái tim bị vẩn đục, không còn trong sạch và thiện lương. Tưởng chừng rằng, trong thế giới ấy, những “kẻ thẳng lưng”, là những người hoàn hảo, không mắc khiếm khuyết, sai phạm, sẽ có một vị thế. Nhưng ai ngờ được, khi tách mình ra khỏi những đặc tính của xã hội, họ lại trở thành kẻ khuyết tật. Nhìn trong thế giới thực, chúng ta gọi những người có khiếm khuyết về tay, chân, ngoại hình, mắc bệnh về não là kẻ khuyết tật, còn chúng ta là những con người trọn vẹn và đủ đầy. Nhưng chúng ta nào đâu biết rằng, chúng ta khuyết tật theo một cách khác. Chúng ta để mối mọt của sự căm thù, ích kỷ, vụ lợi xâm chiếm lấy ta, che mờ đi chút nhân tính cuối cùng còn sót lại. Xã hội đánh giá một người khuyết tật dựa trên sự khác biệt của họ với những công đồng người còn lại, chỉ cần họ mang một đặc điểm khác, họ sẽ nghiễm nhiên trở thành kẻ tàn tật. Nhưng họ khiếm khuyết về ngoại hình, chúng ta khiếm khuyết trong tâm hồn, liệu có gì khác nhau đâu? Và sẽ thật đau đớn cho những kẻ khiếm khuyết cả về thể xác lẫn tâm hồn.


Câu nói của cô Diệp Thị Hồng Liên đã tái hiện một góc khuất trong giáo dục, và sâu xa hơn là ở bất kỳ lĩnh vực nào. Câu nói của bị cáo như một sự tự bào chữa cho hành động sai phạm, nhưng lại rung lên một hồi chuông cảnh tỉnh đầy nhức nhối. Hóa ra quanh ta vẫn đang hàng ngày diễn ra những vụ gian lận, sai phạm của những người gù, chỉ là những nụ cười, ánh mắt điểm trang giả tạo đã che giấu nó đi. Chúng ta đang nhìn vào mọi vấn đề với cái nhìn được màu hồng hóa. Đúng như Khuất Nguyên, vị quan nhà Sở từng nói khi bị bãi chức: “Cả đời đục cả, một mình ta trong; mọi người say cả, một mình ta tỉnh; bởi vậy nên ta phải bị bãi chức”. Giữa một thế giới khuyết tật, nếu ta chọn làm người ngay thẳng thì chính ta sẽ biến thành khuyết tật. Nhưng chẳng phải chúng ta có quyền được đấu tranh cho cộng đồng nhỏ bé của mình hay sao?


Thời đại cần một người nói chuyện can đảm để nói lên tất cả những rệu rã của thời đại ấy. Chúng ta không thể để xã hội làm vấy bẩn đi thiên lương trong sạch mà chúng ta vốn có. Xã hội càng ô uế, những người thẳng lưng càng cần phải đấu tranh cho tiếng nói của mình. Giả sử như số lượng người thẳng lưng là thiểu số trong đa số những người gù, tiếng nói đấu tranh của chúng ta sẽ lấy thiểu số thống trị đa số. Và ta có quyền được hy vọng rằng sự thiện lương sẽ biến người gù trở lại nguyên vẹn hình hài của mình. Đúng như Lutin Mather King đã nói: “Chúng ta không chỉ đau đớn vì lời nói của người xấu mà còn xót xa trước sự im lặng của người tốt”.
Thêm
57
0
0
Viết trả lời...
Liệu bạn có tin không, khi mà chỉ một câu nhận xét “Cậu chưa làm đúng với năng lực của mình” cũng có thể khiến một vài bạn trẻ hôm nay chán nản, mệt mỏi, mất hết hy vọng và đánh mất toàn bộ niềm tin về bản thân? Đặc biệt là khi câu nhận xét ấy của bạn không rõ là đến từ vị trí của bạn bè, người thân, một người lạ hay thậm chí là kẻ thù? Không cần nhìn rõ bản chất vấn đề, không kiểm chứng về tính chính xác của câu nói đó, chỉ cần bạn buông ra lời nhận xét phiến diện cũng đủ làm các bạn trẻ hôm nay thu mình lại, đánh mất chính mình. Hiện trạng đang diễn ra thường xuyên ấy đã phản ánh một kiểu suy nghĩ mang tính “thế hệ” bên trong các bạn trẻ. Đó là khi mà họ được lớn lên trong một môi trường an toàn, được bảo vệ chắc chắn nên dễ gục ngã trước bất kỳ thách thức nào, thậm chí chỉ là một câu nói. Điều đó đã được gọi bằng thuật ngữ “Thế hệ dâu tây”.


Thế hệ dâu tây là danh từ mang nghĩa tập thể, gọi tên một thế hệ bằng đặc trưng của họ. Dâu tây là loại quả được trồng trong lồng kính, trong điều kiện nhiệt độ ẩm và lạnh vừa phải, được chăm sóc kĩ càng. Tuy nhiên, khi trở thành thành phẩm, chúng dễ bị dập nát do điều kiện tác động mạnh từ môi trường. Dâu tây có thể được chăm sóc trong điều kiện lý tưởng nhưng không thể bảo vệ mình trước những tác động mạnh. Đó phần nào cũng là một đặc tính của người trẻ hiện nay. Chúng ta có điều kiện xã hội đủ đầy, được sống trong sự may mắn về thể chất và tinh thần, hoàn toàn có môi trường lý tưởng để phát triển. Thậm chí, nhiều bạn trẻ ngày nay được bố mẹ hậu thuẫn, hỗ trợ rất nhiều nên được sống trong yêu thương, trong sự phát triển tối đa. Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận thực tế khi mà họ bước ra xã hội với tấm giáp bảo vệ của mình. Họ không có khả năng đối chọi với hiện thực, không đủ mạnh mẽ để đương đầu. Chỉ một lời nhận xét phiến diện hay một thử thách bất chợt ngáng đường cũng khiến họ cảm thấy bị thương tổn, mất đi động lực cố gắng.


“Thế hệ dâu tây” là một khái niệm ra đời từ sự quan sát đầy trăn trở về một bộ phận người trẻ. Họ được chăm sóc cẩn thận như những trái dâu chín mọng, đẹp đẽ nhưng dễ tổn thương trước những thử thách trong cuộc đời, đôi khi là những hoàn cảnh bắt buộc họ phải vượt qua. Tác động xấu dễ nhận thấy nhất của hiện tượng này chính là sự mong manh về tinh thần. Khi quen sống trong môi trường an toàn, ít va vấp, nhiều người trẻ trở nên sợ hãi thất bại, né tránh áp lực và dễ gục ngã trước những thử thách rất bình thường của cuộc sống. Một lời phê bình, một lần không được công nhận, hay một biến cố nhỏ cũng có thể khiến họ hoang mang, mất phương hướng. Dần dần, khả năng chịu đựng và thích nghi, vốn là những phẩm chất quan trọng để trưởng thành - không được rèn luyện đầy đủ. Điều đáng buồn là sự mong manh ấy không xuất phát từ việc họ yếu kém, mà từ việc họ chưa từng có cơ hội đối diện và vượt qua khó khăn bằng chính sức mình. Khi mọi con đường đều được dọn sẵn, khi mọi vấp ngã đều có người khác đỡ lấy, con người rất dễ quen với việc dựa dẫm, đánh mất niềm tin vào năng lực tự thân và quên rằng bản lĩnh chỉ có thể hình thành bằng việc vượt qua thử thách.


Không chỉ dừng lại ở tổn thương cá nhân, “thế hệ dâu tây” còn tạo ra những hệ lụy âm thầm cho cộng đồng và xã hội. Một xã hội muốn phát triển bền vững cần những con người có trách nhiệm, dám đối diện với khó khăn chung và kiên trì theo đuổi những giá trị lâu dài. Tuy nhiên, khi quá nhiều người trẻ thiếu đi sự mạnh mẽ cần thiết, họ dễ chọn lối sống an toàn, ngại dấn thân, ngại cam kết và nhanh chóng từ bỏ khi gặp trở ngại. Điều này có thể khiến nguồn nhân lực trở nên thiếu chiều sâu, thiếu sự bền bỉ để theo đuổi những mục tiêu lớn lao. Hơn thế nữa, sự thiếu vững vàng còn khiến người trẻ dễ bị tổn thương trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài, khó tự bảo vệ mình trước áp lực cạnh tranh, cám dỗ hay bất công. Tuy vậy, nói về “thế hệ dâu tây” không phải để trách móc hay phủ nhận những điểm mạnh của người trẻ hôm nay, mà để nhắc nhở một cách nhẹ nhàng rằng yêu thương cần đi cùng với rèn luyện. Chỉ khi được trao cơ hội đối diện với khó khăn, được phép vấp ngã và tự đứng lên, con người mới thực sự trưởng thành. Sự dịu dàng của tình yêu thương sẽ trở nên trọn vẹn hơn khi song hành cùng sự tôi luyện bản lĩnh, để những “trái dâu” không chỉ đẹp đẽ mà còn đủ cứng cáp trước bão táp cuộc đời.
Thêm
73
0
0
Viết trả lời...
Đứng trước thực tế đất nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình, cần đến sự góp sức của thế hệ trẻ mang trên mình tương lai Tổ quốc, Đại tướng Phan Văn Giang phát biểu: “Ta sẽ đóng những con tàu đi khắp đại dương, nhưng trước hết phải có những con người biết căm thù và biết yêu thương”. Những người trẻ biết yêu biết ghét hôm nay sẽ làm nên con thuyền đất nước căng buồm của ngày mai.

“Con tàu” ở đây không chỉ là hình ảnh của máy móc, của kỹ thuật mà là biểu tượng cho khát vọng vươn ra biển lớn, cho ý chí dựng xây, bảo vệ đất nước và khát vọng lên đừng hướng tới những vùng trời cao cả hơn. Nhưng trước khi nghĩ đến những điều to lớn ấy, điều cốt lõi nhất vẫn là sự cống hiến của con người. Nếu thiếu những con người có lý tưởng, có cảm xúc, khát khao, thì mọi ước mơ đều chỉ là viễn cảnh xa vời. “Biết căm thù là biết căm ghét cái xấu, cái ác, cái bất công, những điều làm tổn hại đến Tổ quốc và con người. “Biết yêu thương” là biết trân trọng con người, đồng bào, gia đình, quê hương, và cả những giá trị nhân văn bền vững. Hai trạng thái cảm xúc tưởng chừng đối lập ấy lại bổ sung cho nhau, tạo nên bản lĩnh và chiều sâu tâm hồn con người Việt Nam. Khi con người có trái tim biết rung động trước đúng - sai, thiện - ác, họ mới đủ tỉnh táo và mạnh mẽ để hành động đúng đắn, để xây dựng những “con tàu” không chỉ bằng thép, mà bằng trí tuệ, trách nhiệm và lòng trung thành với đất nước.

Nhìn vào thực tế hôm nay, câu nói ấy càng trở nên gần gũi và cần thiết, nhất là khi đặt vào thế hệ trẻ -những người sẽ trực tiếp “đóng tàu” và chèo lái con tàu dân tộc trong tương lai. Trong một thế giới biến động nhanh chóng, nơi công nghệ, kinh tế và văn hóa toàn cầu đan xen mạnh mẽ, người trẻ có vô vàn cơ hội để vươn xa, nhưng cũng đối diện không ít thách thức. Nếu chỉ giỏi chuyên môn mà thiếu nền tảng đạo đức, thiếu khả năng phân biệt đúng – sai, thiếu tình yêu con người và đất nước, thì tài năng ấy rất dễ lạc hướng. Ngược lại, nếu chỉ có nhiệt huyết mà không có tri thức, không có kỷ luật và trách nhiệm, thì khát vọng cũng khó đi đến bến bờ. Vì thế, lời nhắn nhủ của Đại tướng giống như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc: hãy rèn luyện nhân cách và phẩm chất đạo đức trước khi bắt đầu một hành trình mới. Đây là bài học, thông điệp của thế hệ đi trước gửi lại cho chúng ta hôm nay, những người trẻ đầy lương tri, khát vọng.
Thêm
420
0
0
Viết trả lời...
Tự thương lấy chính mình không phải là điều ích kỷ, mà là một hành trình dịu dàng để ta học cách ở bên bản thân khi mệt mỏi. Trong cuộc sống nhiều áp lực, ta thường quen ưu tiên người khác, chạy theo kỳ vọng, quên mất lắng nghe nhịp thở của lòng mình. Có những ngày ta cố gắng rất nhiều nhưng vẫn cảm thấy chưa đủ, rồi tự trách, tự so sánh, tự làm đau mình bằng những lời nói khắc nghiệt. Thế nhưng, nếu dừng lại một chút, bạn sẽ nhận ra bản thân cũng cần được vỗ về như bất kỳ ai khác. Tự thương mình bắt đầu từ việc chấp nhận rằng ta không hoàn hảo, rằng sai sót không làm ta kém giá trị. Đó là khi ta cho phép mình nghỉ ngơi mà không thấy tội lỗi, cho phép buồn mà không phải che giấu, cho phép yếu đuối mà không xấu hổ. Khi bạn đặt tay lên ngực và lắng nghe nhịp tim, hãy nhớ rằng nó đã đồng hành cùng bạn qua bao thăng trầm. Mỗi bước đi chậm lại là một lời nhắn nhủ: “Mình đang cố gắng rồi.” Tự thương không cần điều gì lớn lao, chỉ cần một tách trà ấm, một buổi tối yên tĩnh, hay một lời động viên dành cho chính mình. Trong khoảnh khắc đó, bạn đang xây dựng một nơi trú ẩn an toàn, nơi bạn được là chính mình, không phán xét, không ép buộc, chỉ có sự thấu hiểu và bình yên.


Khi biết tự thương lấy chính mình, ta học cách đối thoại với nội tâm bằng sự tử tế. Thay vì hỏi “Vì sao mình kém cỏi?”, ta thử hỏi “Mình đã mệt ở đâu?”. Sự thay đổi nhỏ trong cách nghĩ có thể mở ra cánh cửa lớn của chữa lành. Cuộc đời không phải lúc nào cũng công bằng, và không phải nỗ lực nào cũng được ghi nhận ngay. Nhưng điều quan trọng là bạn đã không bỏ rơi chính mình giữa giông bão. Tự thương là biết đặt ranh giới, nói không khi cần, và trân trọng giá trị của bản thân. Đó là khi bạn dám chọn con đường phù hợp với mình, dù nó chậm hơn, khác hơn. Mỗi ngày trôi qua, bạn tích lũy những điều rất nhỏ: một lần dậy sớm hơn, một lần mỉm cười với gương, một lần tha thứ cho lỗi lầm cũ. Những điều nhỏ ấy, theo thời gian, trở thành sức mạnh bền bỉ. Hãy tin rằng bạn xứng đáng với những điều tốt đẹp, xứng đáng được yêu thương không điều kiện. Khi bạn đối xử tử tế với chính mình, thế giới xung quanh cũng dần dịu lại. Bạn sẽ thấy lòng mình nhẹ hơn, bước chân vững hơn, và niềm tin được thắp sáng. Không cần phải trở thành ai khác, chỉ cần trở thành phiên bản chân thật nhất của mình hôm nay đã là một thành công đáng trân trọng.


Hành trình tự thương lấy chính mình không có đích đến cố định, mà là một quá trình kiên nhẫn mỗi ngày. Sẽ có lúc bạn quên mất bài học này, lại nghiêm khắc với bản thân, nhưng điều đó không sao cả. Quan trọng là bạn biết quay về, ôm lấy mình và tiếp tục bước đi. Hãy cho mình thời gian để lớn lên, để hiểu mình hơn, để chữa lành những vết xước vô hình. Mỗi khi cảm thấy chênh vênh, hãy nhớ rằng bạn không hề đơn độc, bởi chính bạn là người đồng hành bền bỉ nhất. Tự thương là thắp lên ánh đèn trong lòng, để dù ngoài kia có tối đến đâu, bạn vẫn thấy đường. Hãy nuôi dưỡng ước mơ bằng sự bao dung, chăm sóc tinh thần bằng những thói quen lành mạnh, và trao cho mình niềm hy vọng mỗi sớm mai. Bạn không cần phải vội, không cần phải giống ai, chỉ cần đi tiếp với trái tim ấm áp dành cho chính mình. Rồi một ngày, khi nhìn lại, bạn sẽ mỉm cười vì đã không bỏ cuộc, vì đã chọn yêu thương bản thân giữa muôn vàn thử thách. Tự thương lấy chính mình chính là món quà bền lâu nhất, giúp bạn đứng vững, sống sâu và lan tỏa yêu thương đến cuộc đời.
Thêm
96
0
0
Viết trả lời...
Chúng ta không được chọn cho mình nơi sinh ra nhưng có thể chọn cho mình cách sống. Con người có thể sinh ra ở nơi đại dương tăm tối, sống những năm tháng đầu đời trong không gian tăm tối, chật hẹp và thiếu đi ánh sáng ấy. Tư tưởng của chúng ta từ lâu đã là thứ tư tưởng nơi vực sâu u thẳm, không niềm vui, không tiếng cười. Nhưng chúng ta phải chọn cách mình được sống. Cái ngày mà ta được chạm vào ánh sáng, được nhìn thứ lung linh phát ra từ thế giới bên ngoài kia, ta đã chẳng muốn nhốt mình trong cái cũi cũ kỹ kia một lần nữa. Đó là lúc ta chọn mình phải rực rỡ, phải chiếu sáng thật lung linh. Không phải để mình được hòa vào ánh sáng kia, mà là bởi để mình được ngắm chính mình rực rỡ.



Sự tỏa sáng không đến từ sự phản chiếu ánh sáng bên ngoài, không phải ta đứng ở nơi rực rỡ thì ta sẽ trở thành rực rỡ. Ánh sáng là thứ phát ra từ bên trong, không thể bắt chước được. Dáng vẻ của người rực rỡ là dáng vẻ không thể nào học hỏi được chỉ bằng sự sao chép bề ngoài. Chúng ta phải tự chọn cách rực rỡ cho riêng mình. Bất cứ ai cũng đều có sân khấu riêng. Ngay cả những cô bán hàng rong ngoài chợ, khi nụ cười của họ đem lại sự thoải mái cho khách hàng, khi tiếng nói dù mệt mỏi nhưng vẫn nhỏ nhẹ của họ chinh phục người khác, đó là khi họ tỏa sáng trên sân khấu của mình. Tỏa sáng cũng đơn giản là khi ta mỉm cười chấp nhận mình đã thất bại. Đôi khi, đó là điều khó nhất mà một người tham vọng có thể làm. Nhưng chấp nhận mình không làm được là sự tỏa sáng bậc nhất khi người ta chịu hiểu mình, dám chấp nhận sự thất bại của chính mình. Không phải vì chúng ta đứng bên cạnh một người xinh đẹp mà ta cũng trở nên xinh đẹp hơn. Không phải ta đứng cạnh một người có học thức mà ta trở nên có học thức như họ. Ánh sáng là thứ nội lực riêng mà chúng ta không thể học hỏi từ ai, cũng không ai có thể bắt chước chúng ta.



Nếu như chúng ta may mắn tìm được ánh sáng của riêng mình, chúng ta không có quyền dùng nó để làm chói mắt người khác. Chúng ta phải dùng ánh sáng của mình để soi đường cho người khác, thôi thúc họ tự tìm ánh sáng cho riêng mình. Ánh sáng phải được dùng đúng chỗ. Chúng ta đứng nơi có ánh sáng nhưng không phải nơi đó là mặt trời. Và nếu chúng ta không thể duy trì ánh sáng đó đến cuối cùng mà chỉ làm nó tắt lụi dần đi thì sau đường hầm cũng chỉ là bóng tối. Liệu bạn muốn thứ chờ đợi mình ở những năm tháng cuối cùng của tuổi trẻ, hay xa hơn là cuộc đời này là bóng tối hay ánh sáng? Đôi khi, ta phải chấp nhận rằng ngọn lửa đã từng bùng cháy rồi cũng sẽ trở thành tro tàn. Nhưng điều quan trọng là chỉ cần bên trong nắm tro tàn ấy vẫn còn một đốm lửa thì chỉ cần có gió, lửa sẽ phực lên, tung bay rợp trời, chỉ cần có lửa.
Thêm
100
0
0
Viết trả lời...
Ngày 16/9, Hội nghị Tổng kết “Diện mạo văn học Việt Nam 1975 – 2025” đã được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh, tổng kết lại tiến trình văn học dân tộc sau 50 năm kể từ ngày đất nước độc lập. Sau kháng chiến, đất nước đi vào thời bình, xây dựng và phục hồi những tổn thương sau chiến tranh. Trong giai đoạn này, các nhà văn buộc phải thể hiện cá tính theo một cách mới để phù hợp hơn với đời sống hậu chiến và tâm tư của nhân dân. Tuy nhiên, phát biểu tại hội nghị, Chủ tịch hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều chỉ rõ: “Vật cản lớn nhất của nhà văn là chính nhà văn”. Nếu các nhà văn không thể vượt ra khỏi cái vòng an toàn vô lý do chính mình tạo ra, thì 50 nữa sẽ chỉ là cuộc “tổng kết của những nỗi buồn”. Thế nhưng, câu hỏi đáng trăn trở là: Nếu 50 năm nữa, các cỗ máy biết viết văn, làm thơ thay thế con người thì như thế nào?


Trong thời đại kĩ thuật số như ngày nay, hiện tượng các cỗ máy biết viết văn, làm thơ đã thực sự xảy ra và không còn là viễn ảnh trong suy nghĩ. Thực tế thì tại Nhật Bản vào năm 2016, một cỗ máy đã sáng tạo truyện ngắn và đạt được giải Nhất trong cuộc thi sáng tạo nghệ thuật. Điều đó càng đặt ra mối quan ngại về việc sáng tạo nghệ thuật có thực sự là lĩnh vực độc quyền của con người? Hay đó đơn giản là việc sao chép, thu thập thông tin và lưu trữ dữ liệu lớn như các sản phẩm trí tuệ nhân tạo có thể làm?


Khi con người đã công nhận vị trí, vai trò và đặt mối lo ngại về trí tuệ nhân tạo trong việc sáng tạo nghệ thuật thì chúng ta buộc phải nhìn nhận rằng con người đang thực sự bị đe dọa. Viết văn là công việc độc quyền của người nghệ sĩ, ra đời khi họ thực sự rung động mạnh mẽ về cảm xúc, đạt đến trình độ thăng hoa trong nghệ thuật và ngôn ngữ. Nhà văn chỉ viết khi những cảm xúc của anh ta đã là một sợi dây đàn căng, cần được gảy. Ngoài ra, khả năng sử dụng ngôn ngữ độc đáo chỉ có ở những bậc thầy tài hoa mà ngay cả con người cũng không thể bắt chước được. Vậy mà, khi đưa một đoạn trích của Nguyễn Tuân vào chatbox AI và yêu cầu AI sáng tạo một tác phẩm theo lối hành văn ấy, nó có thể tạo được một bản sao khác giống gần 70 – 80%. Công việc độc quyền ngay cả con người cũng không thể làm được lại bị công nghệ dễ dàng thay thế.


Nếu 50 năm nữa, văn học chỉ còn là sản phẩm của AI, chúng ta sẽ có gì? AI hoạt động chủ yếu dựa trên cơ chế sao chép, thu thập và tái tạo thông tin dựa trên bộ nhớ lớn từ những gì chúng có thể thu thập được. Những thông tin của con người cũng là một trong số những dữ liệu được chúng sử dụng. Bởi vậy, những tác phẩm được AI viết ra, dù có sáng tạo như thế nào đều chỉ là sản phẩm của sao chép, không mang được cảm xúc và chạm tới những rung cảm của con người. Như vậy, nếu con người không đủ khả năng khẳng định mình trước công nghệ, văn chương của 50 năm nữa sẽ là tổng hợp những bản sao chép được cắt ghép, lồng dán công phu mà thôi. Hiện thực đang đẩy nhà văn vào vòng nguy hiểm nhưng là sự nguy hiểm thiết yếu để họ khẳng định vị thế của mình.
Thêm
66
0
0
Viết trả lời...
“Tốn bao nhiêu tiền ăn học, tại sao điểm lại thấp như thế này?”, “Con nhìn bạn A, bạn B mà xem”, “Chỉ có việc ăn với học mà cũng không nên hồn”… Đó là những cuộc nói chuyện của tôi với bố mẹ trong những giờ ăn tối. Tôi đã nghe những lời than thở, trách móc ấy từ ngày tôi bắt đầu bập bẹ những chữ cái đầu tiên. Áp lực về thành tích, phải bằng con nhà người ta đã theo tôi từ những ngày đó. Và tôi quen dần với nó, đúng hơn là chai lì với những cảm xúc ấy khi mà tôi bắt đầu mặc kệ mọi lời bố mẹ nói, chỉ chôn mình trong lớp kén của riêng mình. Đôi lúc, những lời họ nói mang danh nghĩa quan tâm đến tương lai của tôi chỉ khiến tôi muốn nói: “Con chỉ muốn sống một cuộc sống bình thường nhưng sống bình thường cũng rất khốc liệt”.

Xã hội ngày càng sôi động trong những cuộc đua thành tích – một cuộc chạy đua thực sự giữa bố mẹ và con cái. Bố mẹ tích cực chạy đua, cho con học đông học tây để có thể nở mày nở mặt với hàng xóm, bạn bè, đồng nghiệp. Con cái chạy đua với bài vở trên lớp để không bị thầy cô nhắc nhở, bố mẹ than phiền và những cái nhìn khinh miệt từ bạn bè. Thực tế thì áp lực cũng tốt mà. Áp lực tạo nên kim cương, là nội lực từ bên trong thúc đẩy chúng ta hành động. Nó là điểm tựa cảm xúc để mỗi chúng ta vượt lên mọi thử thách, dám đấu tranh cho mục tiêu của mình. Có áp lực mới có môi trường để mỗi chúng ta thử thách, rèn luyện bản lĩnh cá nhân của mình. Nhưng đôi khi chính điều đó lại làm những nỗ lực của chúng ta tan vỡ theo từng ngày. Áp lực học tập khiến nhiều học sinh luôn sống trong trạng thái căng thẳng, lo âu, mất ngủ và giảm hứng thú học tập. Không ít bạn phải học thêm kín tuần, chạy theo điểm số và kỳ vọng của cha mẹ. Thực tế cho thấy nhiều học sinh giỏi nhưng lại mệt mỏi, chán nản vì sợ thất bại, luôn trong trạng thái áp lực trước những ý kiến bên ngoài. Bên cạnh đó, áp lực từ mạng xã hội cũng ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý giới trẻ. Việc so sánh bản thân với những hình ảnh “hoàn hảo” trên mạng khiến nhiều bạn tự ti, thiếu tự tin vào giá trị của mình. Điều đó khiến nhiều bạn trẻ mong muốn được “sống bình thường”. Không cần rực rỡ, chỉ cần hạnh phúc. Nếu rực rỡ thì tốt quá, còn không thì hạnh phúc là được.


Thế nhưng cuộc sống bình thường cũng rất khốc liệt bởi vì con người phải không ngừng thích nghi và cạnh tranh để tồn tại. Một cuộc sống “bình thường” hôm nay đồng nghĩa với việc phải học tập, làm việc nghiêm túc, có thu nhập ổn định và không bị tụt lại phía sau. Chỉ để đáp ứng những nhu cầu tối thiểu ấy, nhiều người đã phải cố gắng gấp nhiều lần khả năng của mình. Áp lực cơm áo, công việc, thành tích khiến cuộc sống trở thành một guồng quay liên tục, nơi việc dừng lại nghỉ ngơi đôi khi bị xem là yếu đuối. Đôi lúc người ta muốn dừng lại, nhưng nghĩ đến áp lực phía sau lại chẳng thể dừng bước được nữa. Muốn sống yên bình một góc không áp lực nhưng cuối cùng lại đơn côi trong chính lựa chọn của mình.

Sự khốc liệt còn nằm ở những chuẩn mực xã hội vô hình. Người ta phải “bình thường” theo một khuôn mẫu nhất định: đúng độ tuổi thì học xong, đi làm, thành công, ổn định. Nếu lệch khỏi quỹ đạo ấy, dù chỉ một chút, con người dễ bị so sánh, đánh giá, thậm chí là phủ nhận giá trị. Vì thế, sống bình thường không chỉ là sống cho mình, mà còn là sống trong ánh nhìn của người khác, luôn lo sợ mình chưa đủ tốt, chưa đủ “đúng”. Bên cạnh đó, sống bình thường cũng khốc liệt bởi những cuộc chiến nội tâm thầm lặng. Con người phải học cách che giấu mệt mỏi, nuốt vào trong những nỗi buồn để tiếp tục vai trò của mình trong gia đình và xã hội. Có những ngày, việc thức dậy, tiếp tục học tập hay làm việc đã là một nỗ lực lớn, nhưng lại không được ghi nhận vì đó chỉ là điều “bình thường” mà ai cũng phải làm. Chính sự thiếu thấu hiểu ấy khiến con người cảm thấy cô đơn ngay trong cuộc sống quen thuộc của mình. Tuy nhiên, gọi cuộc sống bình thường là khốc liệt không phải để bi quan, mà để thừa nhận giá trị của sự cố gắng âm thầm. Khi hiểu rằng bình thường cũng khó khăn, ta sẽ biết trân trọng bản thân hơn, cảm thông hơn với người khác và học cách sống chậm lại khi cần. Sự khốc liệt ấy, nếu được đối diện bằng kiên trì và lòng nhân ái, sẽ trở thành động lực giúp con người trưởng thành và vững vàng hơn trên hành trình sống của mình.
Thêm
163
0
0
Viết trả lời...