Mạng xã hội Văn học trẻ

Gía như được thức dậy ở nơi ấy lần nữa, tôi sẽ nói lời cảm ơn với những người tôi yêu. Đêm hôm qua, tỉnh dậy giữa lúc trời tang tảng sáng, tôi òa khóc. Trong giấc mơ, tôi thấy bà tôi trở về bên tôi. Vẫn là cái dáng người gầy gầy thương thương và liêu xiêu ấy của bà. Bà đang ngồi bên bàn bép, gọt hoa quả cho tôi. Dường như bà chưa bao giờ rời đi, vẫn luôn ở bên cạnh tôi như ngày nào. Tôi sao có thể nén được nỗi nhớ thương mà choàng tới ôm bà. Giaay phút tôi chạm vào vai bà cũng là lúc tôi tỉnh dậy. Hóa ra, bà bao giờ cũng thương tôi như thế. Ngay cả trong mơ cũng sợ tôi quá quyến luyến với những gì hư ảo, sợ tôi phải bật khóc...

Nơi ấy, trong những hình dung chập chờn của tôi, không chỉ có dáng hình của bà mà còn là cả một khoảng trời của sự bình an và yêu thương tuyệt đối. Tôi muốn được trở lại để kịp nói hết những lời tri ân chưa từng thành hình, để trái tim không còn mang nặng cảm giác nợ nần với những ân tình quá đỗi sâu nặng. Sự thức tỉnh trong đêm vắng khiến tôi nhận ra rằng, chúng ta thường để dành những điều quan trọng nhất cho đến khi chỉ còn có thể tìm thấy nhau trong những cơn mơ ngắn ngủi.

Bà chỉ còn ở lại nơi đây trong cơn mơ, nhưng sự quan tâm và tình thương của bà lại đang hiện hữu trong từng hình ảnh, trong những hình ảnh mà tôi phải cố gắng lắm để giữ gìn nó. Có lẽ, những gì thuộc về tâm hồn thì không bao giờ biến mất, chúng chỉ chọn cách ở lại theo một phương thức khác, để nhắc nhở tôi rằng tôi đã từng được yêu thương đến nhường nào.

Tôi tự hỏi tại sao chúng ta cứ mãi mải mê đi tìm những giá trị xa xôi, để rồi khi đứng trước sự chia ly vĩnh viễn, ta mới thấu hiểu rằng những điều giản đơn nhất lại là những điều khó có thể lấy lại nhất. Lời cảm ơn dành cho những người thân yêu không nên là một lời hứa của tương lai, mà phải là sự hiện hữu của hiện tại. Tôi muốn sống tiếp những ngày sắp tới với tất cả sự trân trọng mà bà đã dành cho tôi, biến nỗi nhớ thành sức mạnh để bao dung hơn với cuộc đời và với chính bản thân mình.

Giấc mơ tan đi, nhưng cảm giác về sự ấm áp nơi vai áo vẫn còn đó, nhắc tôi rằng dù thế gian này có đổi thay ra sao, tình yêu thương vẫn là điểm tựa duy nhất không bao giờ lung lay. Tôi sẽ học cách đối diện với thực tại, không phải bằng sự bi lụy, mà bằng một tâm thế biết ơn sâu sắc vì đã được là một phần trong cuộc đời của bà. Mỗi sớm mai thức dậy, tôi sẽ thay bà yêu thương chính cuộc sống này, như một cách để lời cảm ơn của mình được vang vọng mãi trong không gian, vượt qua cả ranh giới của sự sống và cái chết.

Nếu một lần nữa được gặp lại bà, xin bà cho con nói lời cảm ơn.
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...
Trong văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945, nếu Thạch Lam nhẹ nhàng lách bút vào những kẽ nứt trong tâm hồn bằng thứ văn trong ngần, gợi mà ám, thì Nam Cao lại chọn cách mổ xẻ hiện thực bằng một lưỡi dao sắc lạnh và đầy đau đớn. Ông không chỉ viết về cái đói vây bủa con người như trong "Chí Phèo" hay "Lão Hạc", mà ông còn đi sâu vào một dạng bi kịch tinh vi và tàn nhẫn hơn: bi kịch của những trí thức "sống mòn", những tâm hồn khao khát bay cao nhưng lại bị đôi cánh cơm áo ghì chặt xuống bùn đen. "Đời thừa" chính là sáng tác tiêu biểu của Nam Cao, nơi nhân vật Hộ hiện thân cho một thế hệ trí thức đầy lý tưởng nhưng bị đẩy vào bước đường cùng, buộc phải tự tay bóp nghẹt giấc mơ của chính mình. Qua bản bi kịch của văn sĩ Hộ, Nam Cao không chỉ tố cáo xã hội đồng tiền tàn nhẫn mà còn gửi đi những thông điệp vĩnh cửu về nhân cách và thiên chức của người nghệ sĩ.

Mở đầu tác phẩm, Hộ hiện lên với tất cả vẻ đẹp của một người say mê nghệ thuật chân chính. Với Hộ, văn chương không phải là cuộc dạo chơi hay phương tiện kiếm sống rẻ tiền, mà là một tôn giáo, một đức tin. Anh ấp ủ hoài bão viết một tác phẩm "ăn giải Nobel, in ra mọi thứ tiếng trên hoàn cầu. Đó là một lý tưởng nhân văn cao cả, tách biệt hoàn toàn với lối viết hời hợt của những kẻ bồi bút. Nam Cao đã xây dựng hình tượng Hộ như một biểu tượng của trí tuệ, khát vọng cống hiến. Anh ta chê bai những nỗi lo tủn mủn về vật chất. “Đói rét không có nghĩa lý gì với gã trẻ tuổi say mê lí tưởng. Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn”. Thế nhưng, bi kịch của Hộ bắt đầu từ chính cái "ngưỡng" nghiệt ngã giữa ước mơ vĩ đại và thực tại nhỏ nhen.

Xã hội Việt Nam trước Cách mạng là một nhà tù khổng lồ, nơi đồng tiền có sức mạnh vạn năng và sự nghèo đói là một bản án. Hộ không sống một mình, anh mang trên vai gánh nặng của một người chồng, người cha. Chính lúc này, "cơm áo không đùa với khách thơ". Những lo toan tủn mủn về tiền nhà, tiền gạo, cho con đã dần dần xâm chiếm và tàn phá tôn chỉ nghệ thuật của anh. Để có tiền nuôi sống gia đình, Hộ buộc phải viết những thứ văn chương "rẻ tiền", "cẩu thả. Đây chính là bi kịch thứ nhất: bi kịch của sự tự phản bội, tự chà đạp lên lương tâm và lí tưởng. Anh là một "đời thừa" đối với chính lý tưởng của mình.

Hộ vốn là người giàu lòng vị tha, anh từng cứu vớt Từ và con chị giữa lúc chị bị người tình bỏ rơi. Thế nhưng, khi bị cái đói và sự bế tắc dồn vào chân tường, Hộ lại tìm đến rượu để quên đi nỗi nhục của một nhà văn thất bại. Trong cơn say, Hộ trở thành một kẻ thô bạo, đánh đuổi vợ con - những người mà anh yêu thương và hy sinh cả sự nghiệp để cưu mang.

Nam Cao đã cực kỳ xuất sắc khi khắc họa cảnh tượng Hộ tỉnh rượu sau mỗi trận đòn: anh ôm lấy vợ, khóc nức nở và nói những lời hối hận muộn màng. Nó biểu tượng cho sự bất lực hoàn toàn của con người trước số phận. Hộ khóc cho lý tưởng đã mất, khóc cho sự yếu hèn của bản thân, và khóc cho kiếp người nhỏ bé bị cơm áo nghiền nát. Ở đây, Nam Cao đã đưa ra một triết lý nhân sinh đau đớn. Lòng tốt đôi khi là một sự xa xỉ nếu con người ta không thoát khỏi được sự vây bủa của cái đói. "Đời thừa" không thể thiếu đi sự phản tỉnh về thiên chức nghệ thuật mà Nam Cao gửi gắm qua lời của Hộ: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa có". Đây là tuyên ngôn của một chủ nghĩa hiện thực nghiêm túc và đầy trách nhiệm. Dù Hộ thất bại, nhưng lý tưởng của Hộ là đúng đắn. Bi kịch của Hộ là lời cảnh báo về sự tha hóa của con người trong một môi trường thiếu vắng sự tự do và no ấm.
Thêm
64
0
0
Viết trả lời...
Bác Nguyễn Quang Thiều từng có những chia se xúc động về câu chuyện thời chiến. Ngay khi ý thức được mình đang đứng giữa lằn ranh sinh tử, những người lính cắm chốt ở đồi không khát cầu những phương thức tự vệ, những món ăn vật chất, mà lại dõng dạc tuyên bố họ chỉ cần những dòng thơ được viết bởi con chim lửa Trường Sơn Phạm Tiến Duật. Trong ký ức của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, có một câu chuyện về thời chiến cứ ám ảnh ông mãi không thôi, một câu chuyện mà khi nghe xong, ta bỗng thấy lồng ngực mình rung lên. Đó là chuyện về những người lính cắm chốt trên một ngọn đồi ác liệt, nơi cái chết chỉ cách một hơi thở và sự sống mỏng manh như sương khói. Giữa lằn ranh sinh tử ấy, khi người ta tưởng rằng bản năng con người sẽ gào thét đòi hỏi những phương thức tự vệ tối tân hay những bữa ăn no lòng để cầm cự, thì những người lính ấy lại dõng dạc tuyên bố điều họ khát khao nhất chỉ là những dòng thơ của Phạm Tiến Duật - "con chim lửa" của đại ngàn Trường Sơn. Giữa tiếng bom gào đạn rú, thơ ca không còn là những con chữ nằm im lìm trên giấy, nó trở thành hơi thở, thành dòng máu nóng, thành đức tin duy nhất để con người bám víu vào mà đứng vững. Câu chuyện ấy như một minh chứng hùng hồn nhất cho thấy trong suốt hành trình thăng trầm của dân tộc, văn chương chưa bao giờ bị đẩy ra ngoại biên của đời sống, mà trái lại, nó luôn là nguồn suối thanh khiết nhất tưới mát tâm hồn, là ngọn lửa sưởi ấm nhân tính trong lịch sử.

Từ hình ảnh những người lính khát thơ, ta chợt nhận ra rằng văn chương chính là nhu cầu tự thân của tâm hồn. Khi đối diện với cái chết, mọi giá trị vật chất đều trở nên vô nghĩa, chỉ có vẻ đẹp của tinh thần mới đủ sức làm nên một tấm áo giáp vô hình bảo vệ con người trước sự tàn độc của hoàn cảnh. Thơ Phạm Tiến Duật với cái phơi phới, trẻ trung và tràn đầy sức sống đã trở thành một "thực thể sống" cùng hành quân với người lính. Phải chăng, văn chương chính là điểm tựa cuối cùng để con người không bị tha hóa, để cái "người" trong họ không bị vùi lấp bởi cái khắc nghiệt của thực tại?

Nhìn lại chiều dài lịch sử, văn học Việt Nam luôn song hành cùng vận mệnh đất nước. Nó không đứng ngoài cuộc để quan sát hay tô vẽ, mà nó dấn thân vào giữa bùn lầy và máu lửa. Văn chương luôn đóng vai trò là lương tâm của thời đại. Nó không bị ngoại biên hóa bởi vì nó chứa đựng cái lõi cốt của bản sắc văn hóa và khát vọng sống của một dân tộc. Khi một dân tộc biết đau nỗi đau trong thơ, biết vui niềm vui của các nhân vật văn học, thì dân tộc đó sẽ không bao giờ chết. Văn chương chính là sợi dây vô hình kết nối triệu trái tim, tạo nên một sức mạnh cộng hưởng xuyên thế hệ, giúp một đất nước tạo thành một khối đoàn kết mạnh mẽ.

Cuộc sống với những toan tính đời thường, những áp lực cơm áo và cả những biến động vô thường dễ làm lòng người trở nên chai sạn. Lúc ấy, văn chương xuất hiện như một sự xoa dịu những vết thương lòng. Văn chương dạy ta biết cách yêu thương, biết đau lòng trước một kiếp người cơ cực, và biết trân trọng những vẻ đẹp khuất lấp mà mắt thường đôi khi bỏ lỡ. Nó mở ra những chiều kích mới của cảm xúc, giúp ta sống thêm nhiều cuộc đời khác, từ đó mà tâm hồn trở nên giàu có và thâm trầm hơn. Đồng thời, thi ca cũng trao cho người ta lòng can đảm khi đứng giữa lằn ranh thực tế.

Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, khi công nghệ và trí tuệ nhân tạo đang dần xâm chiếm đời sống, người ta lo ngại về một viễn cảnh nơi cảm xúc bị cơ giới hóa và văn chương sẽ mất đi vị thế của mình. Nhưng không, càng đứng trước những cỗ máy vô hồn, con người lại càng khao khát được trở về với những gì chân thật nhất, bản ngã nhất. Văn chương, với khả năng chạm đến những tầng sâu kín nhất của tiềm thức, vẫn đứng đó như một pháo đài cuối cùng của nhân tính.

Sứ mệnh của người nghệ sĩ, vì thế, chưa bao giờ nhẹ nhàng. Để văn chương mãi là nguồn suối tưới mát tâm hồn, người cầm bút phải là người biết "đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có". Mỗi tác phẩm ra đời phải là kết quả của một quá trình lao động chữ nghĩa nghiêm túc và một trái tim luôn yêu thương. Người lính trên đồi không cần những dòng thơ sáo rỗng, họ cần thơ Phạm Tiến Duật vì ở đó có hơi thở thực của đời sống, có cái "tôi" chiến sĩ hòa quyện với cái "tôi" thi sĩ một cách thành thật nhất. Văn chương chỉ thực sự có sức mạnh khi nó bắt nguồn từ sự thật và hướng tới cái Đẹp.
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...
Kí ức tuổi thơ, bắt đầu từ những nhạy cảm tinh vi của trẻ thơ, luôn là miền kí ức đọng lại nhiều dư vang nhất. Tuổi thơ mỗi người thường được dệt nên bởi những huyền thoại, nơi cái thực và cái ảo đan cài vào nhau, cho ta được sống trong vùng trí tưởng tượng riêng của mình, khơi nguồn những xúc cảm đầu tiên. Tôi vẫn nhớ về những ngày xưa cũ, khi tâm hồn còn là một tờ giấy trắng thấm đẫm những câu chuyện kể về một thế giới linh thiêng và đầy phép màu của bà, của mẹ. Ở đó, những giấc mơ không bao giờ có giới hạn và niềm tin vào cái đẹp, cái thiện luôn thuần khiết như sương sớm. Nhưng rồi, dòng sông thời gian cứ mải miết chảy, cuốn trôi đi lớp bụi hồng hoang của tuổi trẻ, để lại ta đứng trước ngưỡng cửa của sự phản tỉnh đầy đớn đau. Truyện ngắn "Chảy đi sông ơi" của Nguyễn Huy Thiệp chính là một khúc ca bi thương về hành trình ấy, một hành trình đi từ cơn mơ lộng lẫy về con trâu đen huyền thoại đến thực tại khốc liệt trên bến sông đời, nơi tình người mới chính là phép màu thực sự duy nhất còn sót lại.

Nguyễn Huy Thiệp không mở đầu bằng những triết lý khô khan, ông dẫn dụ ta vào thế giới của "Chảy đi sông ơi" bằng một thứ ngôn ngữ khá ngắn gọn, thường sử dụng những câu văn ngắn. Truyện là tiếng lòng của nhân vật "tôi" về một thời thơ bé bị ám ảnh bởi huyền thoại con trâu đen. Với đứa trẻ ấy, con trâu đen không chỉ là một loài vật trong truyền thuyết mà là biểu tượng của sức mạnh siêu nhiên, của hy vọng và cả những điều kỳ diệu nằm ngoài tầm với của lý trí thông thường. Con trâu đen ấy hiện lên trong tâm thức cậu bé với khả năng "mang lại sức lực phi thường, bơi lặn dưới nước giỏi như tôm cá", mang theo một thế giới khác, một quyền năng khác có thể cứu chuộc và thay đổi số phận. Đó là một kiểu đức tin sơ khai, nơi con người gửi gắm khát vọng về sự công bằng và sự bảo hộ của đấng linh thiêng trước sự mênh mông, bất định của dòng sông và cuộc đời.

Sự ám ảnh về con trâu đen mạnh mẽ đến mức nó trở thành trục xoay của mọi hành động và suy nghĩ trong nhân vật "tôi". Cậu bé khao khát được một lần nhìn thấy nó, được chạm vào cái huyền thoại ấy để khẳng định rằng thế giới này vẫn luôn lấp lánh những điều diệu kỳ. Ánh mắt trẻ thơ nhìn dòng sông không chỉ thấy nước, thấy phù sa mà thấy cả một không gian huyền bí chờ đợi sự xuất hiện của linh vật. Nguyễn Huy Thiệp đã cực kỳ tinh tế khi khắc họa tâm lý này, ông không chỉ viết về một đứa trẻ đi tìm trâu, mà đang viết về nhân loại đi tìm những giá trị tuyệt đối, những biểu tượng cứu rỗi trong một thế giới vốn dĩ nhiều bất trắc và hoài nghi.

Tuy nhiên, bi kịch của sự trưởng thành thường bắt đầu bằng sự sụp đổ của các biểu tượng. Hành trình tìm kiếm con trâu đen của nhân vật "tôi" đã kết thúc bằng một cú va chạm nghiệt ngã với hiện thực. Khoảnh khắc cậu bé bị rơi xuống sông, đứng giữa lằn ranh mỏng manh của sự sống và cái chết, cũng chính là lúc huyền thoại bị đưa ra để phản tỉnh. Cậu bé chìm dần trong dòng nước lạnh lẽo, tuyệt vọng chờ đợi sự xuất hiện của con trâu đen quyền năng trong truyền thuyết để rồi nhận ra một sự thật cay đắng rằng, giữa cơn hoạn nạn, con trâu ấy vẫn bặt vô âm tín.

Đáng buồn hơn cả cái chết cận kề chính là sự thờ ơ của những người đánh cá. Họ nhất mực không tin vào truyền thuyết con trâu đen, cho rằng “chuyện giết người ăn cướp có thực, cờ bạc có thực, ngoại tình có thực, còn chuyện con trâu đen là giả”. Thế nhưng, họ lại tin vào câu chuyện hà bá ăn thịt người, cho rằng không nên cứu người bị hà bá bắt. Đây chính là điểm cốt tử trong sự phản tỉnh của Nguyễn Huy Thiệp. Ông chỉ ra rằng, con người thường mải mê tôn thờ những biểu tượng xa vời, những "con trâu đen" huyền hoặc mà quên mất việc phải sống và đối xử tử tế với nhau trong thực tại. Niềm tin tuổi thơ về một thế giới luôn có sự bảo hộ màu nhiệm đã vỡ vụn, thay vào đó là cảm giác bơ vơ, lạc lõng của niềm tin trẻ thơ trước thực tại xã hội.

Nhưng giữa bóng tối mịt mùng của cái chết, chị Thắm lái đò đã hiện lên như một vệt sáng rực rỡ nhất. Chị Thắm không phải là một tiên nữ hay một thực thể siêu phàm, chị chỉ là một người phụ nữ lái đò bình thường, lam lũ với đôi bàn tay thô ráp. Thế nhưng, chính chị đã lao xuống dòng sông để cứu đứa bé. Hành động của chị Thắm chính là sự hóa thân của "con trâu đen" trong đời thực. Nếu con trâu đen trong huyền thoại mang lại hy vọng về quyền năng thì chị Thắm mang lại sự hồi sinh bằng tình yêu thương và đức hy sinh. Chị đã lấp đầy khoảng trống mà huyền thoại để lại bằng chính sự hiện diện ấm áp của tình người.

Sự phản tỉnh ở đây không mang nghĩa phủ nhận tuổi thơ hay xóa bỏ ước mơ, mà là sự chuyển hóa về nhận thức. Nhân vật "tôi" nhận ra rằng, phép màu không nằm ở đâu xa xôi, không nằm ở những truyền thuyết được thêu dệt, mà nằm ngay trong sự thấu cảm giữa người với người. Chị Thắm cứu đứa bé không phải vì chị có phép thuật, mà vì chị có trái tim. Sự "phản tỉnh" đối với niềm tin tuổi thơ chính là khoảnh khắc ta biết chấp nhận rằng con trâu đen sẽ không bao giờ xuất hiện để cứu rỗi ta, mà chính ta và những người xung quanh phải tự cứu lấy nhau bằng lòng nhân ái.

Văn phong của Nguyễn Huy Thiệp trong "Chảy đi sông ơi" vừa có cái sắc lạnh của một lưỡi dao mổ xẻ hiện thực, lại vừa có cái mềm mại của những làn sóng xô bờ. Ông không dùng nhiều dấu chấm phẩy để ngắt quãng dòng cảm xúc, mà để ngôn từ tuôn chảy như một dòng sông thực thụ. Từng câu chữ trôi đi, kéo theo cả những suy tư về thân phận con người. Giọng văn của ông trong tác phẩm này đặc biệt u hoài, nó gợi lên hơi hướng của những câu chuyện cổ nhưng lại mang hơi thở nồng nặc của đời sống hiện đại. Đó là một thứ văn chương không cần phô trương nhưng lại có sức công phá mạnh mẽ vào tâm trí người đọc.

Khi nhân vật "tôi" lớn lên, nhìn lại hành trình tìm kiếm con trâu đen năm ấy, đó không còn là sự hối tiếc về một giấc mơ tan vỡ, mà là sự trân trọng đối với những giá trị thực tế. Dòng sông vẫn chảy, vẫn mang theo bao nhiêu huyền thoại và cả những nỗi đau, nhưng sau tất cả, điều còn đọng lại là hình ảnh chị Thắm và sự thức tỉnh. Cái chết của chị Thắm là sự kết thúc của những niềm tin truyền thống cũ kỹ nhưng vẫn đọng lại những dư âm. Chúng ta ai cũng có một thời theo đuổi những "con trâu đen" của riêng mình, để rồi có lúc thấy mình đuối sức.

Kết thúc truyện ngắn, hình ảnh dòng sông trôi đi như một biểu tượng của sự vĩnh hằng và sự lãng quên. Nhưng với nhân vật "tôi" và với mỗi độc giả, "Chảy đi sông ơi" đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ. Đó là bài học về sự phản tỉnh: hãy yêu thương, sẻ chia và cảm thông, thấu hiểu. Huyền thoại có thể vỡ tan, nhưng tình người thì cần phải được vun đắp mỗi ngày.

Viết về "Chảy đi sông ơi", tôi bỗng thấy mình như đứa trẻ năm nào, đứng trước dòng sông đời cuồn cuộn sóng, vừa lo sợ vừa khát khao. Tôi hiểu rằng, sự trưởng thành thực sự không phải là khi ta ngừng mơ ước, mà là khi ta biết nhìn vào thực tại bằng đôi mắt của sự thấu hiểu và lòng trắc ẩn. Nguyễn Huy Thiệp đã gieo vào lòng ta một hạt giống của sự phản tỉnh, để mỗi khi nghe tiếng nước vỗ về, ta lại tự nhắc mình: hãy sống sao cho xứng đáng với sự cứu rỗi của những "chị Thắm" trong đời, để lòng nhân ái luôn là dòng sông chảy mãi. Bởi suy cho cùng, con trâu đen vĩ đại nhất, quyền năng nhất không nằm dưới đáy sông sâu, mà nằm ngay trong lồng ngực trái của mỗi con người biết yêu thương.
Thêm
110
0
0
Viết trả lời...
Trong cõi nhân sinh hữu hạn, con người vốn dĩ là những cá thể độc bản, bị ngăn cách bởi những bức tường vô hình của ngôn ngữ, văn hóa, thời đại và cả những định kiến cá nhân. Ta sống trong ốc đảo của chính mình, đôi khi nhìn sang người khác như nhìn vào những tinh cầu xa lạ. Thế nhưng, có một nhịp cầu bắc ngang qua những xa lạ của loài người, đó chính là văn chương. Có ý kiến cho rằng: “Văn chương, xét đến cùng, mang khả năng cho ta thấy chúng ta giống nhau nhiều hơn chúng ta nghĩ.” Văn học mở rộng biên độ những góc nhìn, đổi thay những niềm tin cũ kỹ của con người và cho người ta một góc nhìn mới về bản thể con người.

Văn chương ra đời từ hiện thực cuộc sống, từ mảnh đất màu mỡ mà nó được nhà văn lựa chọn ra đời, nảy nở từ những rung động sâu xa nhất của tâm hồn trước thế giới. Như M. Gorki từng nói: "Văn học là nhân học". Nghệ thuật ngôn từ lấy con người làm đối tượng trung tâm, nhưng không phải con người như một thực thể sinh học, mà là con người với những uẩn khúc, khát vọng và đau khổ. Dù được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm hay chữ Latinh; dù ra đời dưới ánh đèn dầu của thời trung cổ hay trong kỷ nguyên số của thế kỷ XXI, văn chương vẫn luôn xoay quanh những nỗi đau, khát vọng được thuộc về và được thấu hiểu của nhân loại.

Khi một nhà văn viết về nỗi cô độc của chính họ, họ vô tình chạm vào những nỗi cô độc cá nhân của cộng đồng xung quanh mình. Sự tương đồng ấy không nằm ở hoàn cảnh sống, mà nằm ở cấu trúc cảm xúc. Bởi vậy, nó đòi hỏi văn chương phải xóa nhòa đi những ranh giới, khoảng cách giữa những đối tượng khả thể. Văn chương cho phép ta "sống nhiều cuộc đời khác". Khi lật mở một trang sách, ta bước vào một cuộc hóa thân kỳ diệu.

"Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có." (Hoài Thanh). Thông qua trải nghiệm văn học, ta nhận ra rằng những rào cản tưởng chừng bất biến hóa ra lại vô cùng mong manh. Làm sao một độc giả trẻ tuổi ở Việt Nam thế kỷ XXI lại có thể thổn thức trước nỗi oan khiên của nàng Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương (Nguyễn Dữ) từ thế kỷ XVI? Làm sao ta có thể thấu cảm với nỗi chán chường của nhân vật Meursault trong Người lạ của Albert Camus ở tận trời Tây xa xôi? Đó là bởi vì bên dưới lớp vỏ của bối cảnh lịch sử là những giá trị nhân bản vĩnh cửu. Nỗi đau bị phản bội, khát vọng khẳng định danh dự, hay cảm giác lạc lõng giữa một thế giới phi lý... là những trải nghiệm mà con người ở bất cứ thời đại nào cũng phải đối mặt. Văn chương chứng minh rằng, dù lịch sử có biến thiên, bản chất con người vẫn giữ lại những hằng số cảm xúc không đổi.

Trải nghiệm văn học không đơn thuần là việc đọc chữ, mà là một cuộc đối thoại giữa tầm đón nhận của độc giả và thế giới quan của tác giả. Trong cuộc giao thoa ấy, ta thường ngỡ ngàng nhận ra những tâm tư thầm kín nhất của mình, những điều ta chưa kịp đặt tên, lại hiện diện rõ mồn một trên trang giấy của một người xa lạ. Hãy thử nhìn vào nhân vật Thúy Kiều của Nguyễn Du. Qua bao thế kỷ, Kiều vẫn sống vì nàng là hiện thân của sự giằng xé giữa bản năng và đạo lý, giữa ước mơ và thực tại phũ phàng. Khi Kiều đứng trước lầu Ngưng Bích, nỗi buồn "tan cửa nát nhà", nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ của nàng không chỉ là của riêng một người con gái phong kiến. Đó là nỗi niềm của bất kỳ ai từng thấy mình nhỏ bé và bất lực trước vòng xoáy của số phận. Nguyễn Du không viết về một cá nhân, ông viết về "những điều trông thấy mà đau đớn lòng" của cả một kiếp người. Độc giả soi mình vào gương soi văn chương và thấy khuôn mặt của chính mình trong gương mặt của nhân vật. Hay trong văn học hiện đại, những dòng tùy bút của Thạch Lam về những thức quà Hà Nội không chỉ là chuyện ăn uống. Đó là câu chuyện về cái tình, về sự trân trọng những vẻ đẹp bình dị, khuất lấp. Khi đọc Gió lạnh đầu mùa, ta thấy ấm lòng không phải vì chiếc áo bông cũ, mà vì sự đồng điệu trong lòng trắc ẩn của những đứa trẻ. Văn chương đánh thức cái "phần người" tốt đẹp nhất, nhắc nhở ta rằng dù thế giới có biến thiên, chúng ta vẫn giống nhau ở khả năng sống thiện lương.
Thêm
102
0
0
Viết trả lời...
Đi qua những đại lộ thênh thang của cuộc đời, ai cũng có cho mình những giấc mơ để theo đuổi. Trong bộ phim “Mùa hè của Lorca” có một lời thoại rất ấn tượng: “Con người cần ít nhất một ước mơ để tồn tại. Nếu trong tim không có một chốn dừng chân thì đi đâu cũng là lạc lối”. Ai cũng có cả bầu trời đại dương để bay, nếu điều đó nằm trong tim họ. Ước mơ, điều mà con người ta không thể thiếu trên hành trình theo đuổi sự rực rỡ.

Ước mơ, hiểu đơn giản nhất là những dự định, khát khao mà chúng ta luôn mong muốn đạt được. Đó là những nguyện ước được xây dựng trên nền tảng vốn sống, suy tư của mỗi con người. Ước mơ trở thành nguồn động lực thôi thúc mạnh mẽ, thúc giục những hành động của con người, nhắc nhở người ta về động lực sống. Hơn hết, ước mơ khiến cho con người ta trở nên vĩ đại hơn. Thà lụy một ước mơ còn hơn là sống không có ước mơ nào. Con người khi đó chỉ còn tồn tại như một sinh vật có sự sống, hoàn toàn mất đi sự phong phú về tinh thần.

Mỗi chúng ta, trên hành trình theo đuổi đam mê của mình, cần giữ được những ước mơ. Thiếu đi ước mơ, người ta dễ đánh mất mình hơn. Những giấc mơ, dù có thể thành hình hay vĩnh viễn không thành, vẫn là thứ níu giữ người ta ở lại với cuộc đời tươi đẹp này. Cuộc sống hiện lên khi đó như một cuộc chạy đua marathon không có hồi kết, luôn bận rộn để theo đuổi giấc mơ của mình. Khi đó, ta sẽ chẳng còn thời gian nào để nghĩ suy về những xu hướng của thời đại, lo lắng việc mình chưa kịp xu thế hay bắt chậm một trend mới của giới trẻ.

Có những người hoàn toàn mù mờ về giấc mơ của mình nhưng lại luôn trở thành thủ phạm cho những giấc mơ không thành của người khác. Họ chẳng biết mình là ai, mình mơ ước điều gì, chẳng có một hướng đi nào cho tương lai của mình. Vậy mà họ lại luôn quan tâm thái quá đến cuộc đời người khác. Sự tò mò vô duyên bị đánh đồng với sự quan tâm, sự sân si bị nhân danh tình yêu thương để trù dập giấc mơ của người khác. Có những người vì không thể bay cao mà nhấn chìm người khác vào vũng bùn để họ cũng chẳng thể bay như mình. Trong phim “Bố già” của đạo diễn Trấn Thành, vì không thể có được một cuộc sống sung túc, thất bại trong giấc mơ của mình mà ép đứa con trai không được sống như cách nó muốn.

Tôi nhớ đến câu chuyện về cầu thủ bóng đá Ronaldo – siêu sao nổi tiếng của bóng đá thế giới. Tuổi thơ của anh là những ngày vật lộn trong mặc cảm, trong miệt thị, phải gắng gượng bảo vệ mình khỏi những lời chê bai, miệt thị của những người xung quanh. Anh từng bị giáo viên mỉa mai là sẽ chẳng làm được gì cho cuộc đời. Sau tất cả, anh đã thay đổi hoàn toàn mọi định kiến về mình, theo đuổi con đường bóng đá một cách ngoạn mục, trở lại với một hình dáng mới gây xúc động cho cộng đồng yêu bóng đá thế giới. Hành trình theo đuổi ước mơ của anh không dễ dàng, nhưng điều quan trọng chính là anh đã làm được.

Vậy giấc mơ của chúng ta, chúng ta có thể thực hiện được hay không?
Thêm
79
0
0
Viết trả lời...
"Không có vua" là bản cáo trạng của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp về tình trạng nhân thế đảo điên, không có tôn ti trật tự. Mọi hành động của các thành viên trong gia đình lão Kiền đều là sự loạn luân, trái đạo. Gia đình lão là một xã hội thu nhỏ, trong đó chứa đựng đủ đầy sự điên loạn, vô đạo của xã hội thời buổi thực dụng.

Trong dòng chảy của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nguyễn Huy Thiệp hiện lên như một kẻ dám phanh phui những mảng tối xù xì, gai góc nhất của đời sống dưới ánh sáng của chủ nghĩa hiện thực nghiêm ngặt. Truyện ngắn "Không có vua" không chỉ đơn thuần là một câu chuyện về sự lục đục trong gia đình lão Kiền, mà nó chính là một bản cáo trạng đanh thép, một tiếng chuông cảnh tỉnh về tình trạng nhân thế đảo điên, nơi tôn ti trật tự bị đảo lộn bởi sức mạnh của lòng tham, dục vọng và lối sống thực dụng tàn nhẫn.

Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng gia đình lão Kiền như một tổ ”rắn mất đầu”, không có quy củ, không có người định hướng, không có pháp luật, không có đạo đức và đặc biệt là không có người cầm lái. Tên gọi "Không có vua" mang hàm ý biểu tượng sâu sắc: trong một gia đình, người cha vốn dĩ là biểu tượng của quyền uy, là "vua" giữ gìn nề nếp, nhưng ở đây, lão Kiền chỉ là một kẻ hèn mọn, đầy bản năng và bất lực. Thậm chí, lão sống với những dục vọng rất đời thường, giáo dục con cái bằng sự cau có. “Lão kiếm ra tiền nên cãi nhau với mọi người như cơm bữa, lời lẽ độc địa”. Bởi vậy mà “chẳng ai thích lão”.

Gia đình ấy có năm người con trai: Cấn, Đoài, Khiêm, Khảm, Tốn và cô con dâu tên Sinh. Mỗi nhân vật là một mảnh ghép của sự tha hóa. Họ sống chung dưới một mái nhà chật chội, nơi mà những bản năng thấp hèn nhất có cơ hội trỗi dậy. Sự "không có vua" ở đây chính là sự vắng mặt của điểm tựa tinh thần, của những chuẩn mực đạo lý truyền thống vốn đã bị dòng đời thực dụng cuốn trôi.

Cái nhìn của Nguyễn Huy Thiệp về gia đình lão Kiền là cái nhìn xuyên thấu qua những lớp bụi bặm của thực dụng để thấy sự thối rữa từ bên trong. Mọi hành động của các thành viên trong gia đình này đều mang dáng dấp của sự loạn luân và trái đạo, dù có khi nó chỉ dừng lại ở ý nghĩ hoặc những cái nhìn đầy nhục dục. cay đắng hơn là hành động của Đoài – một viên chức trong ngành giáo dục nhưng lại có những hành động gây căm phẫn. Hắn bỡn cợt với chị dâu, cam đoan rằng “Tôi nói trước, thế nào tôi cũng ngủ với Sinh được một bữa” và bâng quơ hát: “Tình ơi tình, mình ơi mình, tình lẳng lơ lắm cho mình ngẩn ngơ”. Đó là góc khuất và bộ mặt thật của người trí thức trong thời buổi chao nghiêng những giá trị, đặt ra câu hỏi về giá trị thật của niềm tin về giáo dục.

Chi tiết đắt giá và ám ảnh nhất chính là thái độ của cha con lão Kiền đối với Sinh - người con dâu duy nhất trong nhà. Sinh hiện lên như một bông hoa rơi xuống đất nẻ, làm dịu đi không khí gia đình, là hiện thân của cái đẹp, sự thánh thiện nhưng lại trở thành mục tiêu xâu xé của những người đàn ông. Chị chứng kiến tất cả những góc khuất chìm sâu trong gia đình này, nhìn thấy hành động trái đạo của họ mà không thể và cũng không lên tiếng. Cảnh lão Kiền rình con dâu tắm, hay những lời tán tỉnh trơ trẽn, những hành động sàm sỡ của các anh em chồng đối với Sinh đã đẩy sự tha hóa lên đến đỉnh điểm.

Ở đó, mối quan hệ thiêng liêng giữa cha chồng - nàng dâu, em chồng – chị dâu bị biến dạng thành mối quan hệ giữa kẻ săn mồi và con mồi. Đoài - một trí thức lưu manh - đã thốt lên những lời cay độc về trật tự gia đình, coi mọi giá trị đạo đức chỉ là rác rưởi. Sự điên loạn không chỉ nằm ở hành động, mà nó nằm ở chỗ người ta coi sự vô đạo là điều bình thường, thậm chí là một lẽ sống để tồn tại trong cái xã hội thực dụng.

Gia đình lão Kiền chính là sản phẩm của một thời đại giao thời, khi những giá trị cũ đang tan rã và những giá trị mới chưa kịp hình thành, thay vào đó là sự lên ngôi của lối sống "mạnh được yếu thua". Hoàn cảnh xã hội trong "Không có vua" hiện lên qua những chi tiết về sự chật vật của cơm áo gạo tiền. Khiêm làm nghề đồ tể, một cái nghề gợi lên sự thô lậu, sát sinh và thiếu vắng sự thanh cao.

Sự thực dụng đã biến con người thành những cỗ máy tiêu thụ và hưởng lạc. Họ đối xử với nhau bằng sự tỵ hiềm, bằng những lời chửi rủa thậm tệ. Câu chuyện về cái chết của lão Kiền và thái độ của những đứa con sau đó là một cái tát vào mặt thói đạo đức giả. Họ khóc lóc, tổ chức đám tang nhưng thực chất bên trong là sự tính toán về phân chia gia sản, là sự nhẹ nhõm khi cái "vương vị" mục nát kia cuối cùng cũng đổ sụp.

Dù vẽ nên một bức tranh đen tối đến nghẹt thở, Nguyễn Huy Thiệp vẫn dành một góc nhỏ cho sự trắc ẩn. "Không có vua" là một tác phẩm chững chạc và sâu sắc bởi nó dám nhìn thẳng vào sự thật trần trụi. Nguyễn Huy Thiệp không dùng ngôn từ để vuốt ve độc giả, ông dùng nó như một con dao mổ để phẫu thuật khối u đạo đức của xã hội. Bản cáo trạng này vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, khi con người chỉ sống bằng bản năng, khi đồng tiền trở thành thước đo duy nhất và khi sự thấu cảm bị triệt tiêu, gia đình và xã hội sẽ rơi vào tình trạng "không có vua" - một sự hỗn loạn đầy đau thương.
Thêm
190
0
0
Viết trả lời...
Con người không tàn nhẫn, chỉ là họ khổ quá, họ bị dồn vào đường cùng. Con người chẳng ai muốn bị xem là kẻ ác, là người ngoài cuộc với nỗi đau của nhân loại mình hay bị tha hóa về nhân cách đạo đức. nói cách khác, họ không tàn nhẫn! Chỉ là họ cần có một người đủ hiểu thấu để lắng nghe câu chuyện bên trong họ. Đôi khi, chúng ta nhìn họ như một thủ phạm, nhưng chẳng ai chịu nhìn thấy họ cũng từng là nạn nhân. Vì họ đói, vì họ khổ, vì "họ đói mà ngu muội lắm" nên có ai dạy cho họ thấu hiểu ai đâu? Đừng trách họ là hơn.

Có một sự thật nghiệt ngã mà chúng ta thường né tránh khi đối diện với cái ác hay sự lạnh lùng: Con người vốn dĩ không sinh ra để tàn nhẫn, họ chỉ trở nên gai góc khi cuộc đời quá đỗi khắc nghiệt với họ.

Chúng ta sống trong một xã hội chuộng sự phán xét nhanh chóng. Khi nhìn thấy một kẻ trộm cắp, một người đàn bà lăng mạ hàng xóm vì vài mét đất, hay một gã đàn ông say sưa chửi bới đời mình, ta dễ dàng dán lên họ cái nhãn "kẻ ác", "kẻ tha hóa" hay "người ngoài cuộc với nỗi đau nhân loại". Thế nhưng, đó là cái nhìn của những người đứng trên bờ nhìn xuống dòng nước lũ. Ta thấy họ vùng vẫy, ta thấy họ làm đục dòng nước, nhưng ta không thấy những tảng đá nhọn dưới đáy sông đang găm vào da thịt họ.

Thực tế, chẳng ai muốn bị xem là kẻ ác. Khát vọng được yêu thương, được tôn trọng là bản năng gốc rễ của con người. Nhưng khi một người bị đẩy đến chân tường của sự sinh tồn, khi cái bụng đói cồn cào át đi tiếng nói của lương tri, và khi nỗi nhục nhã của nghèo khổ bủa vây, thì nhân cách đôi khi trở thành một thứ xa xỉ phẩm. Họ không tàn nhẫn, họ chỉ là những thực thể đang đau đớn đến mức không còn đủ sự bình tĩnh để bao dung với thế gian.

Đôi khi, ranh giới giữa một thủ phạm và một nạn nhân lại rất mong manh. Chúng ta nhìn họ như một kẻ gây hấn, nhưng chẳng ai chịu nhìn lại để thấy họ cũng từng là nạn nhân của một hoàn cảnh ngặt nghèo, của một tuổi thơ thiếu vắng sự vỗ về, hay của một xã hội thiếu đi thấu cảm. "Họ đói mà ngu muội lắm" Cái đói ở đây không chỉ là đói cơm áo, mà còn là đói tri thức, đói sự tử tế và đói cả những người thầy dạy cho họ cách để thấu hiểu. Khi một con người chưa từng được thế giới này dịu dàng đối đãi, làm sao ta có thể đòi hỏi họ phải dịu dàng với thế giới? Sự tàn nhẫn mà họ bộc phát ra ngoài thường là một cơ chế phòng vệ cực đoan, một cách để che đậy sự yếu hèn và tổn thương sâu sắc bên trong. Họ tàn nhẫn với người khác vì chính cuộc đời đã quá tàn nhẫn với họ trước đó.

Thay vì trách móc và đẩy họ đi xa hơn vào bóng tối của sự tha hóa, điều họ cần nhất đôi khi chỉ là một người đủ tĩnh lặng để lắng nghe câu chuyện bên trong họ. Lắng nghe để hiểu rằng đằng sau một hành động sai trái là cả một hệ lụy của những bi kịch nối dài. Khi được thấu hiểu, cái tôi xù xì sẽ dần để lộ ra phần "người" yếu ớt và khao khát được phục thiện. Đừng trách họ là hơn. Bởi trong mỗi chúng ta, nếu bị đặt vào hoàn cảnh tương tự, bị dồn vào cùng một ngõ cụt của đói nghèo và thiếu thốn tình thương, liệu ta có chắc mình vẫn giữ được sự thanh cao? Sự tử tế của chúng ta đôi khi là nhờ chúng ta may mắn được sống trong một môi trường thuận lợi hơn, chứ không hẳn vì ta có bản chất tốt đẹp hơn họ.
Thêm
82
0
0
Viết trả lời...
Sẽ có một ngày, có những cố máy biết viết văn, làm thơ sẽ ra đời và giật cần câu cơm của người nghê sĩ. Khi đó, sáng tạo không còn là công việc độc quyền mang tính nhân bản của con người. việc so sánh văn học do AI tạo ra và văn học do nhà văn chân chính tạo ra là sự so sánh khập khiễng giữa những gì thuần túy và nhân tạo. Nhưng không phải nền văn học nào cũng đủ sức phá vỡ cuộc giao tranh, xung đột đau đầu ấy.

Văn học, giờ đây trở thành thành trì cuối cùng của con người trước làn sóng tấn công tràn lan của thuật toán AI. Nhân loại đang đứng trước một cuộc đại sang chấn về tư duy và khủng hoảng về niềm tin. Khi những dòng code có khả năng mô phỏng nhịp điệu của trái tim và những thuật toán bắt đầu biết sắp đặt ngôn từ thành những áng văn hoa mỹ, một nỗi sợ hãi đã bao trùm lên giới nghệ sĩ: Liệu máy móc có thể tước đoạt "cần câu cơm" của người cầm bút? Liệu sự sáng tạo có còn là thánh đường độc quyền của con người?

Để tồn tại, văn học không thể chỉ dựa vào kỹ năng ngôn từ, mà phải tự phá vỡ xung đột bằng thứ quyền năng duy nhất mà máy móc không bao giờ chạm tới được: Trải nghiệm nhân sinh.

Trí tuệ nhân tạo không viết văn bằng cảm hứng, nó viết bằng sự tính toán xác suất. Bản chất của văn học AI là một quá trình tổng hợp, chiết xuất và tái cấu trúc dựa trên kho dữ liệu khổng lồ của nhân loại. Nó có thể sao chép phong cách của Nam Cao, bắt chước giọng điệu của Nguyễn Du, hay mô phỏng tư duy của những triết gia lỗi lạc. Sự ra đời của các cỗ máy biết làm thơ thực chất là sự công nghiệp hóa quá trình sắp xếp ngôn từ.

Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt rạch ròi giữa "sản xuất văn bản" và "sáng tạo văn chương". AI tạo ra những tác phẩm "đúng" về cấu trúc, "đẹp" về nhịp điệu, nhưng lại "rỗng" về linh hồn. Đó là một nền văn học vô giới tính, vô diện mạo, nơi những chữ nghĩa bóng bẩy chỉ là sự xắp xếp vô tri của các thuật toán học. Việc lo sợ AI cướp đi "cần câu cơm" của nghệ sĩ thực chất là một lời cảnh báo cho những ai đang viết văn như một cái máy, tức là những người chỉ chăm chăm vào kỹ thuật, vào những công thức có sẵn mà quên đi cốt lõi của nghệ thuật là sự tự vấn cá nhân.

Văn học chân chính là kết tinh của máu, nước mắt và những suy tư sâu sắc. Nó là tiếng nói đòi hỏi sự bộc lộ để thoát ra khỏi vòng quay của cảm xúc, để nói với thế giới điều nhà văn không thể nói. Nó là cái thuần túy nảy sinh từ một thực thể có sinh mệnh, có những nỗi đau không thể lập trình và những niềm vui không thể dự đoán. Mỗi câu chữ của người cầm bút chân chính là một “lát cắt của đời sống”, mang theo hơi thở của một cá nhân cụ thể với những trải nghiệm duy nhất.

Ngược lại, văn học AI là cái nhân tạo hoàn hảo. Nó không biết đến nỗi đau của một người mẹ mất con, nó chỉ biết đến từ vựng "đau khổ" trong từ điển. Sự sáng tạo của AI là sự mô phỏng và giáo dục từ lý thuyết, không phải là sự rung cảm từ trải nghiệm thực tế. Nó không hiểu cảm giác của một kẻ thất bại, nó chỉ biết tái hiện lại những mô típ về sự thất bại. AI có thể hoàn thiện về hình thức hơn con người, nhưng nó mãi mãi là kẻ đứng ngoài cuộc đời, không có khả năng thấu cảm và chịu trách nhiệm với những gì nó viết ra.

Xung đột đau đầu nhất hiện nay không phải là việc AI viết tốt hay xấu, mà là việc công chúng dần mất đi khả năng phân biệt giữa cái thực và cái giả. Trong một thế giới chuộng sự nhanh chóng và tiện lợi, văn học AI với khả năng sản xuất hàng loạt dễ dàng làm loãng đi những giá trị tinh hoa. Khi các thuật toán điều khiển thị hiếu, văn chương có nguy cơ trở thành một loại hàng hóa tiêu dùng nhanh, nông cạn và dễ dãi. Sự đê tiện đối với văn chương bao giờ cũng khiến nhà văn đau đầu, và sự xung đột với AI càng khiến văn chương trở nên mất giá. Không phải nền văn học nào cũng đủ bản lĩnh để phá vỡ cuộc giao tranh này. Máy móc có thể chiến thắng trong việc kể một câu chuyện li kỳ, nhưng nó sẽ thảm bại trước một tác phẩm chứa đựng sự thức tỉnh của lương tri và những trăn trở về thân phận con người.

Nhìn nhận một cách công bằng, AI không hẳn là kẻ thù diệt vong của văn chương, nó là một tấm gương phóng chiếu. Sự xuất hiện của AI buộc người nghệ sĩ phải tự hỏi điều gì làm nên giá trị của ta mà một cỗ máy không thể thay thế? Nếu văn chương chỉ là việc mô tả sự vật, hiện tượng một cách khách quan, AI sẽ làm tốt hơn. Nhưng nếu văn chương là tiếng khóc, là lời kêu cứu, là sự phản kháng trước cái ác và là khát vọng tự do, thì AI hoàn toàn bất lực. Sáng tạo không còn là độc quyền về mặt kỹ thuật ngôn từ, nhưng nó vẫn là địa hạt duy nhất của trải nghiệm bản thể. Người nghệ sĩ chân chính sẽ không sợ mất "cần câu cơm" nếu họ biết rót vào tác phẩm những gì là riêng tư nhất, đau đớn nhất và chân thật nhất của chính họ.

Nền văn học đủ sức phá vỡ cuộc xung đột này phải là nền văn học dám dấn thân vào những vùng tối của tâm hồn, nơi mà không có dữ liệu nào có thể khai phá hết. Chính cái sức mạnh cứu rỗi ấy là bản sắc nhân bản - thứ thành trì cuối cùng và kiên cố nhất mà không một thuật toán nào có thể công phá. Sáng tạo có thể không còn là "công việc độc quyền" về mặt thao tác, nhưng nó vẫn mãi là đặc ân độc quyền về mặt linh hồn của con người. Nghệ sĩ sẽ không mất cần câu cơm, miễn là họ còn biết đau nỗi đau nhân thế và còn biết yêu bằng một trái tim nồng cháy của một thực thể sống bằng xương bằng thịt.
Thêm
98
0
0
Viết trả lời...
Những con người xung quanh ta, nếu ta không cố mà hiểu họ, ta chỉ thấy ở họ cái gàn dở, đớn hèn và nhiêu khê. Có phải ai cũng cúi xuống mà nâng niu, mà yêu thương và thấu hiểu người ta được đâu? Những con người đã sống, đã ăn, đã hít chung một bầu không khí với ta... sao mà ta không yêu, sao mà ta lãnh cảm cho được? Người ta thường trách sao thế gian chẳng ai hiểu mình, nhưng đôi khi người ta đâu có đủ sự bình tĩnh để thấu hiểu ai, để nhận ra ai cũng có một cuộc đời, một câu chuyện riêng. Đo xem nỗi đau của ai lớn hơn à? Thôi đi, bởi ở đời này đâu ai không giữ cho mình một mảnh ký ức riêng.

Giữa những nhịp quay cuồng của phố thị, đôi khi ta giật mình tự hỏi đã bao lâu rồi mình chẳng còn thấu hiểu cho ai? Thế gian này rộng lớn, nhưng lòng người đôi khi lại hẹp hòi. Thành phố này bao dung nhưng cũng khắc nghiệt lạ kỳ. Chúng ta đi lướt qua nhau như những bóng ma trên đường phố, mang theo những định kiến đóng khung về người này là kẻ gàn dở, người kia là kẻ đớn hèn, mà quên mất rằng, ta chưa từng dừng lại và thấu hiểu.

Nếu cứ đứng thẳng với cái tôi ngạo nghễ và những tiêu chuẩn khắt khe, ta sẽ chỉ thấy những bề nổi xù xì, những góc cạnh khó ưa của nhân thế. Nam Cao từng viết: "Nếu ta không cố mà hiểu họ, ta chỉ thấy ở họ cái gàn dở, đớn hèn, và ngu ngốc". Cái "cố" ấy chính là sự nỗ lực của nhân tính. Hiểu một người khó hơn việc phán xét một người gấp vạn lần. Phán xét chỉ cần một khoảnh khắc của cái nhìn định kiến, nhưng thấu hiểu lại cần cả một quá trình của sự bao dung. Chúng ta thường quá bận rộn để bảo vệ cái tôi của mình, bận rộn để chứng minh mình đúng, mình giỏi, mình thanh cao, đến mức quên mất rằng những người xung quanh cũng đang hít thở chung một bầu không khí này, cũng đang trầy trật với những vết thương mà họ giấu kín sau lớp vỏ bọc bình thản.

Sao ta có thể lãnh cảm cho được khi biết rằng mỗi con người là một pho tiểu thuyết đầy rẫy những chương bi kịch? Khi ta ngừng yêu thương, ta cũng từ khước quyền được trao đi yêu thương của người khác. Thế gian này vốn dĩ đã đầy rẫy những âm thanh ồn ào, nhưng lại thiếu vắng những khoảng lặng để lắng nghe. Người ta than trách sao không ai hiểu mình, nhưng lại chẳng bao giờ đủ bình tĩnh để ngồi xuống nghe một câu chuyện không phải của mình. Chúng ta thường có xu hướng so sánh nỗi đau. Đó là những câu nói tàn nhẫn nhất mà con người có thể ném vào nhau. Làm sao ta có thể dùng thước đo của mình để đo lường độ nông sâu của một vết thương lòng người khác? Mỗi người đều có một ngưỡng chịu đựng riêng, một mảnh ký ức riêng mà có khi chỉ chạm nhẹ vào thôi cũng đủ làm họ tan vỡ.

Việc cố gắng chứng minh nỗi đau của mình lớn hơn người khác chỉ càng làm sâu hơn miệng vết thương. Ở đời này, ai mà chẳng giữ cho mình một mảnh ký ức riêng, một góc tối mà ánh sáng không bao giờ chạm tới được. Những mảnh ký ức ấy, dù đẹp hay buồn, đều là thứ định hình nên bản ngã của họ ngày hôm nay. Và đó là khi họ cần ta dừng lại, không phải để phán xét, mà là tôn trọng và yêu thương.

Đừng đợi đến khi mọi thứ trở nên hoàn hảo mới bắt đầu yêu thương. Đừng đợi đến khi người ta thay đổi mới bắt đầu thấu hiểu. Hãy yêu họ ngay lúc họ "khó yêu" nhất, vì đó là lúc họ cần tình thương nhất. Khi ta cúi xuống để nhìn sâu vào một kiếp người, ta sẽ thấy mình trong đó. Chúng ta đều là những kẻ lữ hành đầy khiếm khuyết, đang nương tựa vào nhau để đi qua cõi nhân gian mịt mùng này.

Hãy thôi đo xem nỗi đau của ai lớn hơn, thôi phán xét ai đúng ai sai trong những trò đùa của số phận. Bởi khi phiên chợ đời vãn khách, khi ánh đèn phố thị tắt ngấm, cái còn lại duy nhất không phải là ta đã kiếm được bao nhiêu tiền hay ta đã đứng cao hơn ai, mà là ta đã để lại bao nhiêu hơi ấm trong lòng người khác.

Mỗi con người đi ngang qua đời ta đều là một cái duyên, và mỗi câu chuyện họ mang theo là một bài học về nhân sinh. Hãy cứ cúi xuống, thật sâu, để thấy rằng cuộc đời này dù có nhiêu khê, gàn dở, vẫn luôn lấp lánh những hạt bụi vàng của tình người, nếu ta đủ bình tĩnh và bao dung để nhận ra.
Thêm
91
0
0
Viết trả lời...
Mỗi lần đi chợ, lại một lần cho mình được ngẫm ngợi và suy tư về nhân sinh, về cuộc đời và con người. Chợ là một cộng đồng xã hội thu nhỏ nơi hàng bao con người cùng chạy đôn chạy đáo chăm lo cuộc sống cho gia đình mình, người qua kẻ lại. Ở nơi đó là nơi mà nhân hình hiện lên chân thật nhất. Ở nơi đó, mình thấy thương cuộc đời này, thương những kiếp nhân sinh nhỏ nhoi đang ngày ngày mong chờ một hy vọng sống, mong chờ một phiên chợ sung túc. Đó là lúc mình nghĩ suy về dòng đời và con người.

Tôi đứng lại thật lâu trước những ông bà cụ già. Tuổi này, đáng lẽ ra họ phải được sống thật hạnh phúc dưới mái ấm gia đình mình. Vậy mà… có giây phút nào họ được ngơi nghỉ đâu? Chỉ là vài giây phút tản mản thương thương trước cuộc đời lắm sóng gió mà thấy thương dân mình, thương những con người lao động cần lao. đó là lúc mà tôi ước mình là người giàu có. Ước gì mình đủ giàu để có thể giúp đỡ họ, an ủi họ phần nào. Và tôi nghĩ, có lẽ chúng ta đối xử với nhau tồi quá. Có hàng bao câu chuyện đau thương xung quanh mình mà mình chẳng thể dừng lại để thấu hiểu. Và đằng sau cái cười của người bán hàng, đó là cả câu chuyện đầy xót xa phía sau.

Chợ là nơi nhân hình hiện lên chân thật nhất vì ở đó, con người không thể và cũng không cần phải diễn. Người ta sống thật với cái bụng đói, với nỗi lo toan, với sự chắt bóp từng đồng bạc lẻ. Có những người gánh hàng thuê liêu xiêu trong nắng sớm, đôi vai gầy gánh cả trách nhiệm với gia đình trên hai đầu đòn gánh. Nhìn cái cách họ lau vội giọt mồ hôi, tôi thấy thương quá đỗi cái kiếp nhân sinh này. Thương những ước mơ bị vùi lấp dưới những mớ rau, con cá, thương cả những niềm vui giản đơn khi bán chạy hàng, hay nỗi buồn thắt lại khi phiên chợ vãn mà thúng mủng vẫn còn đầy.

Trong cái ồn vã, xô bồ ấy, tôi lại tìm thấy một khoảng lặng sâu thẳm trong lòng mình. Chợ dạy cho ta biết trân trọng những giá trị bình dị, dạy ta biết nhìn thấu những khổ đau để mà bao dung, để mà yêu thương. Giữa dòng người ngược xuôi, có bao nhiêu người thực sự dừng lại để nhìn vào mắt nhau? Hay chúng ta cũng chỉ là những kẻ đồng hành xa lạ, cùng đi chung một chuyến tàu mang tên "cuộc đời", chỉ khác nhau ở những bến đỗ gian truân?

Khi nắng đã bắt đầu gắt, chợ cũng thưa dần. Những sạp hàng bắt đầu dọn dẹp, để lại một khoảng sân trống trải với vài cọng rác và những vệt nước còn sót lại trên nền đất. Phiên chợ tan, người ta trở về với tổ ấm của mình, mang theo cả những hy vọng đã thành hình hoặc vẫn còn dang dở. Tôi ra về, lòng trĩu nặng một niềm trắc ẩn. Đi chợ, thực ra là để đi tìm lại phần "người" nhạy cảm nhất trong chính mình, để thấy rằng giữa thế gian rộng lớn này, mỗi chúng ta đều là một mảnh ghép nhỏ nhoi, đang nương tựa vào nhau mà sống, mà hy vọng về một ngày mai tươi sáng hơn.

Cuộc đời này, suy cho cùng, cũng chỉ là một phiên chợ dài. Và chúng ta, những kẻ hành khất của hạnh phúc, vẫn đang miệt mài đi tìm cho mình một niềm an ủi giữa cõi nhân gian.
Thêm
74
0
0
Viết trả lời...
Đứng giữa phố đông người qua, trên cả nhân gian mà ở xa kia là đồng loại của ta đấy, sao ta chẳng tìm được một người để sẻ chia? Ta đứng giữa đám đông mà thấy mình như một kẻ vô hình, chẳng biết chia sẻ cùng ai, cũng chẳng tìm được một bờ vai nào đủ tin cậy để tựa vào. Đó là lúc nỗi cô đơn không còn là một trạng thái, mà nó hóa thành một thực thể hiện hữu, bủa vây và thắt chặt lấy tâm hồn vốn đã quá mệt mỏi vì những gồng gánh bấy lâu.

Cái cảm giác bơ vơ và trơ trọi ấy đôi khi đến vào một buổi chiều tà, khi ánh nắng cuối ngày tắt lịm và bóng tối bắt đầu lan trên những bức tường lạnh lẽo. Ta thèm một tiếng người, thèm một cái nắm tay, hay chỉ đơn giản là một câu hỏi han. Đáng sợ nhất là khi tỉnh dậy lúc xế chiều, căn phòng tối sập, thấy chung quanh chẳng có ai, chẳng có ai chờ cơm, đó là lúc cô độc mà người ta muốn khóc nhất. Ta thèm được trút bỏ cái lớp vỏ mạnh mẽ mà hằng ngày để đổi lấy một phút giây được yếu lòng, được khóc, được vỗ về như một đứa trẻ. Sự "thèm người" ấy thực chất là một tiếng kêu cứu của trái tim, là khát vọng được kết nối giữa những tâm hồn đang dần xa cách trong thế giới ảo hào nhoáng này.

Lúc ấy, con chỉ ước ông trời cho con một người ở bên cạnh. Con chỉ ước có một gia đình để an ủi, vỗ về con mỗi khi buồn. Càng thấy cô đơn càng thấy nhớ nhung gia đình da diết. Nước mắt là thứ dễ bị nước mắt gợi ra nhất. Bởi suy cho cùng, con người dù có kiên cường đến đâu cũng có lúc yếu đuối, mỏi mệt và cần được yêu thương.

Nhưng trong khi chờ đợi một "ai đó" xuất hiện, có lẽ điều duy nhất ta có thể làm là tự ôm lấy chính mình. Hãy để đôi tay mình xoa dịu những bận lòng của ngày hôm nay, để trái tim mình tự vỗ về những vết thương chưa kịp khép miệng. Cô đơn không phải là một hình phạt, mà có thể là một khoảng lặng để ta học cách đối thoại với chính mình một cách chân thành nhất. Lời cầu nguyện gửi đến trời xanh có thể chưa được hồi đáp ngay lập tức, nhưng cứ yêu và tin, chờ ngày ông trời hồi đáp. Không sợ cô đơn, chỉ sợ mình không đủ yêu mình..
Thêm
137
0
0
Viết trả lời...
Vùng ký ức xưa ta còn nhau còn đâu em hỡi... Nắng thanh xuân rực rỡ và chói lọi. Một mùa nắng đi qua, một kí ức ở lại. Nhưng có những đứa trẻ vẫn mãi mãi không thoát ra khỏi được vùng trời áy.. chúng sống mãi dưới vòm trời ấy để hồi niệm quá khứ mà có đâu biết rằng chẳng bao giờ có thể quay lại năm tháng ấy nữa.

Đó là vùng ký ức về những năm tháng thanh xuân, nơi ta đã từng có nhau, từng tin rằng thế giới này là màu hồng và ta mãi mãi là những đứa trẻ. Nhưng khi mùa nắng ấy đi qua, điều duy nhất ở lại chỉ là những mảnh vỡ của kỷ niệm, óng ánh và sắc lẹm, cứa vào lòng người.

Hóa ra, trưởng thành không phải là lớn lên, mà là học cách từ biệt những "đứa trẻ" vẫn còn đang mải miết rong chơi bên trong mình. Có những người trong chúng ta, vẫn mãi mãi mắc kẹt ở một quãng sân trường, một góc phố quen hay một buổi chiều tà rực nắng của nhiều năm về trước. Họ sống bằng hồi ức, hít thở bằng bầu không khí của quá khứ và nuôi nấng những hy vọng viển vông về một ngày được quay lại. Họ là những đứa trẻ không chịu lớn, hay đúng hơn, là không nỡ rời xa cái vùng trời trong vắt mà ở đó chia xa là vết xước trong tim.

Những năm tháng ấy giống như một thước phim âm bản, càng soi vào ánh sáng rực rỡ của hiện tại thì càng thấy nó xa xăm. Đôi lúc, giơ tay ra, cứ tưởng rằng có thể nắm lấy những mảng kí ức, chẳng ngờ nó hóa thành sương mai, tan thành khói bụi. Vùng ký ức xưa, nơi có tiếng cười trong trẻo và những lời hứa hẹn bạc đầu, giờ đây chỉ còn là một khoảng không vắng lặng. Người ta vẫn thường nói "nắng thanh xuân không bao giờ trở lại hai lần", không phải vì mình không còn nhớ, mà vì người đứng dưới nắng đã chẳng còn là đứa trẻ của ngày xưa.

Sống mãi dưới vòm trời hoài niệm là một cách để vỗ về lòng mình, nhưng cũng là một loại chối bỏ thực tại. Bởi khi ta cứ đắm mình trong cái chói lọi của quá khứ, ta sẽ chẳng bao giờ thấy được vẻ đẹp của những mùa nắng mới. Ký ức nên là một điểm tựa để ta vững bước, chứ không phải là một chiếc lồng giam cầm khát vọng. Năm tháng ấy đã qua, người cũ đã xa, và vòm trời ấy giờ chỉ còn là vùng kí ức xưa ta xa nhau.
Thêm
93
0
0
Viết trả lời...
"Những đứa trẻ rồi sẽ đi xa nhà/ Có rất nhiều hành trình qua trong đời...". Rồi ai cũng phải đi xa nhà, xa nơi mái ấm mình đã từng lớn lên. Có những hành trình rực rỡ đã bước qua tuổi trẻ, nhưng lại làm mất đi của mình một cơ hội được quay về nhà. Mình sợ nhất là cảm giác ngày chia xa… Cuộc đời cũng như một tiếng thở dài đầy thổn thức của một người con vừa bước chân ra khỏi "vùng sáng" rực rỡ của tuổi trẻ để ngoái nhìn về mái nhà xưa. Cảm giác ấy thật lạ, vừa ấm áp vì sự đoàn viên, lại vừa xót xa vì nhận ra dấu vết của thời gian trên những gương mặt thân quen.

Tuổi trẻ thường thúc giục chúng ta lao về phía trước, chinh phục những đỉnh cao, chạm tay vào những hào quang xa lạ. Chúng ta gọi đó là sự trưởng thành, là khẳng định bản thân. Khi đôi chân ta càng đi được xa, khi đôi mắt ta càng được chiêm ngưỡng những rực rỡ của nhân gian, thì con đường trở về nhà dường như lại càng dài thêm. Nhưng đôi khi sự rực rỡ ấy lại vô tình tước đi của chúng ta những cơ hội quay về. Quay về không chỉ đơn giản là một chuyến xe, một tấm vé máy bay. Quay về là sự hiện diện trọn vẹn của tâm hồn trong những khoảnh khắc đời thường nhất. Khi càng bước qua giông gió, con người càng cần đến một trạm dừng chân.

Rất lâu rồi mình mới quay trở về nhà ăn đám giỗ ông nội, mình thấy hình ảnh đoàn viên gia đình mà phải rất lâu rồi mình mới thấy được. Những nụ cười ấy, ánh mắt ấy, những câu hỏi han ấy bao lâu rồi mới có được? Và liệu sau này nếu mình không được thấy nó nữa thì sao? Liệu sau này, khi thời gian khắc nghiệt mang đi những người thân yêu, ta còn có thể tìm thấy những ánh mắt ấy, những nụ cười ấy ở đâu giữa cõi đời mênh mông này?

Có lẽ, trong suốt những năm tháng bôn ba, chúng ta đã quá quen với những gương mặt lạnh lùng nơi phố thị, với những câu hỏi mang tính xã giao đầy toan tính. Chỉ khi đứng giữa những con người mang tên gia đình, ta mới nhận ra mình đã cô đơn như thế nào. Những nụ cười ấy, gương mặt vẫn ở đó, vẫn bao dung như thế, chỉ có chúng ta là đã đi quá xa để rồi khi nhìn lại, thấy mọi thứ quý giá dường như đã nhuốm màu thời gian.

Nỗi sợ lớn nhất của một người con xa nhà không phải là sự vất vả nơi đất khách, mà chính là cảm giác của ngày chia xa. Mẹ mình bảo “Ai mượn mi về sớm làm chi nờ. Giờ đi buồn chết”. Đã bám hơi quê, làm sao bảo quên là quên ngay được. Cả năm biền biệt nơi đất khách, chìm ngập trong cuộc sống mưu sinh, cứ mỗi lần về quê lại thấy mình bé trở lại. Và mỗi lần xa quê lại một lần thêm nhung nhớ. Trên thành phố, con nhớ món rau muống xào tỏi của mẹ quay quắt. Thấy sao đĩa rau xào với bát canh vắt quất mà làm con nhớ nhung đến thế.

Có lẽ, cái giá của sự trưởng thành chính là việc ta phải học cách đối diện với sự hữu hạn của cuộc đời. Ta đi xa để lớn lên, nhưng trái tim lại luôn khao khát được bé lại trong vòng tay gia đình. Để rồi sau mỗi chuyến đi, sau mỗi lần trở về, ta lại càng thấu hiểu hơn giá trị của hai chữ "vị nhà".
Thêm
71
0
0
Viết trả lời...
Có một nỗi buồn lặng lẽ cứ thấm đẫm vào từng trang viết của Thạch Lam, tựa như thứ hương hoa hoàng lan được chưng cất từ cuộc đời. Văn ông phảng phất hương vị buồn từ cuộc đời, thứ buồn mênh mang của kiếp sống. Giữa phiên chợ văn chương vốn quá nhiều ồn ào, bao chứa cả bao nhiêu nỗi đời, văn Thạch Lam hiện lên như một điểm đến và chốn trở về. Trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ", điều khiến người ta đau đớn nhất không phải là cái đói hay cái cuộc sống nghèo khổ, mà là bi kịch của những kiếp người đang bị mài mòn trong sự đơn điệu và bị lãng quên ngay giữa cõi nhân gian này.

Bi kịch của họ là bi kịch bị tạo ra bởi cái nghèo, do cuộc sống lạc hậu và cũng chính do tư duy luôn sống trong tạm bợ, luôn chờ đợi một niềm hy vọng mà không chủ động tạo ra nó. Ngay từ khi sinh ra, họ đã quen với cái nghèo. Họ sống trong cái nghèo như một người bạn vong niên, sống cùng nó và chấp nhận nó. Cũng như trong “Nhà mẹ Lê”, nhà văn đã viết về cuộc đời của bác Lê đầy đau xót: “Ngay từ khi sinh ra, bác đã thấy cái nghèo rồi…”. Cũng bởi vậy, họ quen với cuộc sống tạm bợ, sợ sự thay đổi và thấy cuộc sống tẻ nhạt mà họ đang sống là chỗ trú an toàn.

Phố huyện hiện lên như một góc khuất của thế giới, nơi mà không thời gian ngập tràn trong bóng tối và nghèo khổ. Mỗi ngày của chị em Liên, của mẹ con chị Tí hay gia đình bác Xẩm đều là một bản sao nhợt nhạt của ngày hôm trước. Họ bày biện những món hàng đơn sơ, rồi lại thu dọn khi bóng tối phủ kín, tất cả lặp đi lặp lại như một thói quen. Cái nghèo ở đây không chỉ là sự thiếu thốn về vật chất mà còn là sự trống rỗng về tinh thần, khi con người ta cứ sống như những bóng ma dật dờ trong chính cuộc đời mình.

Thạch Lam đã chạm đến tận cùng của nỗi đau nhân sinh khi đặt ra câu hỏi về ranh giới giữa sống và tồn tại. Những con người nơi phố huyện ấy dường như đang bị cầm tù bởi một thực tại tù đọng và quá đỗi bình lặng. Chị Tí dẫu biết hàng nước của mình chẳng được bao nhiêu khách vẫn cứ dọn ra, bác Siêu vẫn gánh phở đi trong đêm đen dù chẳng mấy ai mua nổi, và bà cụ Thi điên vẫn cứ cười khanh khách rồi chìm vào bóng tối. Họ đang chờ đợi một điều gì đó, một điều mơ hồ mà chính họ cũng không thể gọi tên. Sự chờ đợi ấy không phải để thay đổi số phận hay mưu cầu vinh hoa, mà thực chất là một nỗ lực tuyệt vọng để cảm thấy mình vẫn còn tồn tại, vẫn còn chút liên hệ mỏng manh với thế giới rực rỡ ngoài kia.

Bi kịch lớn nhất của một kiếp người chính là sự mòn mỏi của tâm hồn. Khi người ta đã quá quen với bóng tối và sự im lặng, trái tim dễ trở nên chai sạn và cảm xúc bắt đầu lịm dần. Những đứa trẻ nhặt nhạnh rác rưởi ở chợ chiều, hay chính Liên với đôi mắt ngập đầy bóng tối, tất cả đều đang bị dòng chảy nghiệt ngã của thời gian lãng quên. Họ giống như những hạt bụi nhỏ nhoi rơi vào hư vô, không ai biết đến và cũng chẳng ai hay nếu một ngày họ biến mất. Chuyến tàu đêm đi qua dù chỉ trong chốc lát nhưng đó là khoảnh khắc duy nhất họ thực sự thức tỉnh, để rồi khi ánh sáng ấy vụt tắt, phố huyện lại chìm sâu vào giấc ngủ mệt mỏi và nhẫn nhịn.

Thạch Lam đã dùng một ngòi bút đầy xót thương để phác họa nên bức tranh về sự mắc kẹt của con người trong cõi nhân gian. Ông nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống sẽ thật đáng sợ nếu chỉ là những vòng lặp vô nghĩa và nếu con người không còn đủ sức để mơ về một ánh sáng khác ngoài bóng tối vây quanh. Những kiếp người nhỏ bé kia chính là lời cảnh tỉnh về sự tàn nhẫn của thói quen và sự tĩnh lặng đến đáng sợ của một cuộc đời thiếu vắng khát vọng.
Thêm
86
0
0
Viết trả lời...
Giữa những thước phim ồ ạt trên mạng xã hội, tôi dừng lại trước video về một người đàn ông trong vùng chiến tranh di cư đến Trung Quốc. Anh gọi một bàn đồ ăn lớn, háo hức thưởng thức từng món ăn, gọi hết món này đến món khác. Và khi tiếng pháo hoa vang lên, anh giật thót, cứng đờ lại… rồi thở phào nhẹ nhõm. Hóa ra đây không phải đất nước mình. Những hình ảnh nhỏ bé thoáng qua ấy đã để lại dư âm, tạo nên một nốt trầm cho những người đang ngày ngày phải tiếp nhận những thông tin về chiến tranh. Chiến tranh của thời đại nào cũng vậy. Đằng sau những lời bình luận sôi nổi của hàng ngàn người vừa thấp thỏm âu lo vừa tò mò lo lắng là hàng ngàn con số về chết chóc, thương vong, giá xăng tăng, hàng loạt vấn đề về kinh tế và phát triển xã hội.

Hậu quả của chiến tranh chưa bao giờ dừng lại ở bãi chiến trường. Nó không đơn thuần chỉ là sự tổn thất về thiết bị, vũ khí, của nhà cửa, mà còn là mạng sống. Cay đắng hơn, nó là mạng sống của những con người đang ngày ngày quen với một cuộc sống bình yên. Tội nghiệp nhất vẫn là những đứa trẻ đang mang theo niềm hy vọng được cầm bút, được cắp sách đến trường và được yêu đời. Chiến tranh, suy cho cùng, là một nhát cắt tàn bạo vào mạch sống của nhân loại, mà vết sẹo của nó chẳng bao giờ mờ đi theo thời gian. Khi tiếng súng lặng yên, khi khói bom đã tan vào hư không, người ta bắt đầu đếm những đổ nát. Nhưng làm sao đếm được những khoảng trống trong lòng người? Làm sao đo được độ dài của nỗi đau nơi những đôi mắt trẻ thơ đã vĩnh viễn mất đi ánh nhìn trong trẻo, thay vào đó là bóng tối của sự sợ hãi và mất mát? Hậu quả của chiến tranh còn là sự đứt gãy của các giá trị nhân văn. Hy vọng, vốn là thứ ánh sáng rạng rỡ nhất của con người, giờ đây trở nên thật mong manh và dễ vỡ.

Là một người Việt Nam đã đi qua đống đổ nát của chiến tranh, nhìn thấy hết những nỗi đau của nhân dân mình, tôi càng nhận ra giá trị cao quý của hòa bình. Hòa bình là thứ có thể nắm bắt được nhưng người ta lại dễ đánh mất nó. Chỉ khi hòa bình trở lại, người ta mới thấy những đứa trẻ được học tập, được yêu thương, được gọi tên, được sống như một đứa trẻ. Chỉ khi đó, những trường học mới mở cửa, các gia đình được sống trong trọn vẹn. Như vậy thì, hòa bình đâu phải thứ mặc nhiên. Nó là thành quả của cả một quá trình thấu hiểu, yêu thương, sẻ chia và hợp tác.

Hòa bình chỉ thực sự vững chãi khi nó được xây dựng trên nền tảng của sự thấu hiểu. Khi chúng ta chọn cách ngồi lại cùng nhau, thay vì đối đầu, chọn sẻ chia một ổ bánh mì, thay vì tranh giành từng tấc đất, chọn dùng ngôn ngữ của trái tim để xóa tan những định kiến và hận thù. Đó là một quá trình gian nan, đòi hỏi mỗi người phải hạ thấp cái tôi cá nhân để nâng tầm cái ta chung của nhân loại. Bởi suy cho cùng, nỗi đau của một dân tộc này cũng chính là vết thương của cả thế giới, và niềm hạnh phúc của một đứa trẻ ở phương xa cũng là niềm hy vọng chung cho tất cả chúng ta.

Mỗi chúng ta hãy là một sứ giả của hòa bình, để những đống đổ nát của quá khứ mãi mãi nằm lại phía sau, nhường chỗ cho tri thức và những tiếng cười rộn rã dưới ánh nắng tự do. Tất cả chúng ta… tất cả… đều muốn được hít thở dưới bầu trời xanh.
Thêm
99
0
0
Viết trả lời...
“Hào khí cha ông ta muôn đời
Bao la bao la nước non quê hương Việt Nam ơi..”

‘‘Việt Nam tôi ’’

Cha ông ta ngàn xưa đã ngã xuống, hy sinh không tiếc đời mình. Họ cúi đầu trườn qua những dãy Trường Sơn hiểm trở cho hôm nay ta ngẩng cao đầu kiêu hãnh trong hòa bình. Chúng ta hôm nay, đều là con cháu, là tương lai của họ, là hiện thân cho những kí ức rực rỡ của một thời. Chúng ta hôm nay, thừa hưởng ở đất nước ta một kí ức lịch sử thật hào hùng, một trang kỉ niệm đầy vẻ vang của dân tộc. Và đã đến lúc, chúng ta suy tư sâu sắc về trách nhiệm của mình – tro tàn của kí ức, ngọn lửa của tương lai.

Chúng ta là "tro tàn" không có nghĩa là sự tàn lụi, mà đó là sự kết tinh của một thời. Tro tàn là những tinh hoa còn lại sau một cuộc cháy sáng hết mình của những thế hệ đi trước. Để chúng ta có được cái "ngẩng cao đầu kiêu hãnh" giữa màu xanh hòa bình hôm nay, cha ông ta đã phải cúi đầu trườn qua những dãy Trường Sơn đầy bom đạn, mang theo lòng nhiệt huyết và ý chí kiên cường.

Mỗi chúng ta hôm nay chính là sự tiếp nối của những người đã ngã xuống. Chúng ta sống thay cho họ, là hiện thân và là tương lai của họ. Bởi vậy, cuộc sống này đẹp hơn bao giờ hết bởi chúng ta được kết tinh từ sự ngã xuống của hàng ngàn thế hệ quang vinh. Chúng ta mang trong mình hệ gen của lòng quả cảm, mang trong tâm trí những câu chuyện kể về một thời khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt. Trách nhiệm đầu tiên của "tro tàn" chính là sự thấu cảm và tri ân. Nếu không biết trân trọng những gì đã hóa thành bụi đất để bồi đắp nên hình hài tổ quốc, chúng ta sẽ chỉ là những thực thể vô định, thiếu vắng gốc rễ và bản sắc.

Nếu tro tàn là quá khứ và dĩ vãng, chúng ta phải trở thành ngọn lửa rực cháy để viết tiếp tương lai cho thế hệ mình. Chúng ta không thể chỉ ngồi mãi bên đống tro tàn để hoài niệm; trách nhiệm của chúng ta là phải từ đống tro ấy mà nhen mà nhóm lên ngọn lửa mới. rong thời đại hội nhập, "chiến trường" không còn tiếng súng nhưng lại đầy rẫy những cuộc đua về trí tuệ và công nghệ. Trách nhiệm của mỗi cá nhân là biến hào khí cha ông thành động lực để học tập, sáng tạo, đưa cái tên "Việt Nam" rạng danh trên bản đồ thế giới. Khi tri thức Việt tìm được con đường trên địa đồ nhân loại, ta có nhiều hơn một cơ hội đưa những kí ức hào hùng của dân tộc sang trang. Để rồi, trước anh linh những người đã ngã xuống, ta có thể tự hào, con đã dâng tuổi trẻ mình cho Tổ quốc.

Giữa dòng chảy của văn hóa ngoại lai, việc giữ gìn bản sắc dân tộc, từ tiếng nói, chữ viết đến những giá trị đạo đức truyền thống chính là cách chúng ta giữ cho ngọn lửa thiêng không bị lụi tàn. Càng hòa nhập, càng phát triển, người ta càng dễ đánh mất mình trên biển toàn cầu hóa. Diều đó khiến những người Việt Nam đôi khi bị bơ vơ về bản sắc, bị tha hương về văn hóa. Càng mong lửa cháy, càng phải giữ cho tiếng nói truyền thống bên trong mình không bao giờ tàn.

Trách nhiệm của chúng ta là làm sao để "tro" và "lửa" luôn hòa quyện. Quá khứ tiếp thêm độ dày cho trải nghiệm, còn tương lai mở ra không gian cho những hoài bão. Một dân tộc biết nhìn lại quá khứ bằng lòng biết ơn và nhìn về tương lai bằng sự tự tin là một dân tộc bất diệt.
Thêm
92
0
0
Viết trả lời...
Mùa gió nồm thổi về trên con phố xưa. Mỗi bước đi, một kỉ niệm. Đã lâu lắm rồi, tôi không về bên cha bên mẹ trên con phố cổ đậm tình ấy.

Đó là ngôi nhà cũ kỹ ông tôi để lại. Căn nhà là tất cả cơ ngơi và tâm huyết của ông một đời. Từ ngày bà đi, ông gắng gượng nuôi sáu người con lớn lên thành người chẳng phải dễ. Căn nhà trần cao, tuy đã cũ kỹ nhưng vẫn luôn là ngôi nhà thân thương của tôi năm nào. Tôi nhớ, có những ngày nhà dột ngay trên giường, không ngủ được. Mẹ tôi phải bế tôi trên tay, ru tôi ngủ cho ông với bố chèo chống lại căn nhà. Ông bảo khi nào có tiền, ông xây lại cái nhà, sau cho tôi về ở. Nhưng tôi thấy, ông chẳng xây lại bao giờ, có lẽ là sợ đổ vỡ những kỷ niệm..

Phố cổ xưa nay với tôi đều hiện lên với dáng vẻ của những con người Thủ đô thân thương ấy. Tôi vẫn còn nhớ cái đêm hôm nào, nghe tiếng rao hàng bắp nướng bảng lảng trong đêm, tôi đã nằm thao thức mãi. Tiếng chị giao hàng khàn khàn đục đục, đôi lúc run run mỗi khi gió thoảng qua. Nằm trong chăn ấm, tôi nghĩ đến đôi vai liêu xiêu của chị đang bươn bải cho những đứa con ở nhà. Có một sợi dây nối những con người rất xa nhau lại gần nhau, những con người đi cùng một con đường, ướt chung một cơn mưa.

Gió nồm vẫn thổi, mang theo vị mặn mòi xen lẫn cái hanh hao của phố cũ. Tôi đứng lặng trước cánh cửa gỗ bạc màu, những vết rạn nứt như những nếp nhăn thời gian trên khuôn mặt ông tôi năm nào. Ngôi nhà vẫn vậy, trầm mặc giữa sự ồn ào vội vã của Thủ đô đang chuyển mình thay áo mới. Mùi gỗ cũ, mùi ẩm mốc đặc trưng của những căn nhà cổ, và cả mùi hương trầm thoang thoảng từ bàn thờ ông, tất cả ùa về, ôm lấy tôi như vòng tay ấm áp của mẹ ngày xưa.

Tiếng then cửa lạch cạch khô khốc vang lên, cắt đứt dòng suy tưởng của tôi. Cánh cửa mở ra, để lộ dáng vẻ gầy gò của bố. Thời gian chẳng chừa một ai, mái tóc bố đã bạc trắng, đôi mắt trũng sâu nhưng vẫn ấm áp nhìn tôi:

- Về rồi đấy à con? - Giọng bố khàn khàn, lúc nào cũng thế.



Gia đình tôi, một gia đình truyền thống điển hình của phố cổ, vốn trọng lễ nghi, gia phong. Bố tôi, người con trai cả, thừa hưởng ngôi nhà và cả gánh nặng gìn giữ nếp nhà từ ông. Tối hôm đó, mẹ tôi nấu bữa cơm đoàn viên, bữa cơm mà phải lâu lắm rồi mới có sự góp mặt đầy đủ của các cô chú, những người con mà ông tôi đã vất vả nuôi khôn lớn. Không khí vốn đang ấm cúng, vui vẻ, ngập tràn trong những câu hỏi thân thương thì chú Ba tôi bỗng lên tiếng:

- Anh cả, em nghĩ đến lúc chúng ta phải bàn việc sửa sang lại cái nhà này. Cứ để thế này, mùa mưa dột nát, mùa hè nóng nực, sống sao nổi. Mà anh xem, mảnh đất này bây giờ có giá, bao nhiêu người dạm ngõ mua, hoặc cho thuê, mình xây lên mấy tầng, vừa có chỗ ở khang trang, vừa có đồng ra đồng vào.

Lời chú Ba vừa dứt, không khí bỗng chốc trở nên ngột ngạt. Bố tôi đặt chén rượu xuống bàn, tiếng "cạch" khô khốc vang lên. Ánh mắt ông đanh lại, nhìn chú Ba chằm chằm:

- Sửa? Xây mới? Chú định phá bỏ tất cả tâm huyết cả đời của bố ư? Căn nhà này là nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm của gia đình mình. Chú quên rồi sao?

- Anh Cả, em hiểu ý anh. Chú Ba phân bua. Nhưng kỷ niệm thì để trong tim, còn mình phải tập trung vào cuộc sống của mình chứ. Căn nhà này đã quá cũ kỹ, xập xệ rồi. Mình cứ bám lấy nó mãi, liệu ông có vui không khi thấy con cháu sống khổ sở không?

- Chú nghĩ thế nào thì nghĩ. Bảo sửa nhà mà coi được. Căn nhà tâm huyết của bố để lại thế này…

Tôi ngồi lặng lẽ, lắng nghe những thanh âm quen thuộc, những tiếng cãi vã, những lời trách móc của mọi người. Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhận ra rằng, xung đột trong chuyện này không chỉ là chuyện sửa nhà, mà là sự va chạm giữa hai quan niệm sống, giữa truyền thống và hiện đại, giữa những giá trị cũ và mới. Và chúng tôi, những đứa trẻ lớn lên trong sự truyền thống này, thấy sợ cảnh mất mát quá đỗi. Sợ rằng khi ông bà mất, căn nhà thêm trống trải, và những câu chuyện trong bữa cơm chỉ còn là chuyện sửa nhà, bán đất.
Thêm
201
0
0
Viết trả lời...
Thơ ca là một thế giới nghệ thuật mà không thể nào lí giải, bởi nó được đặt trong tương quan của quá nhiều các quan điểm nghệ thuật. Mỗi nhà phê bình có một cách nhìn nhận, đánh giá và cảm nhận theo góc nhìn riêng. Mỗi cách phê bình đều cho thấy được một góc độ riêng về thơ ca. thế nhưng, đôi khi người ta lại phải trăn trở về giá trị và phẩm giá đích thực của thơ ca, khi mà nó đang bị thiêng liêng hóa. Thơ ca đã và đang bị đồng hóa với tôn giáo, với một thứ tôn chỉ cần được tôn thờ. Các nhà thơ xuất hiện như một vị thần tạo ra thế giới thiêng, đem đến khả năng đưa con người thoát khỏi buồn thương và thống khổ trên đời. Tôi cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần giải thiêng cho thơ ca.

Từ "ngôi đền thiêng", đã đến lúc thơ trở về với bản thể đời thường, hồn nhiên nhất của nó. Trong tâm thức của nhiều thế hệ, thơ ca luôn được đặt trên một bệ thờ trang trọng. Người ta coi thơ là "nghi lễ" của ngôn từ, có vạn năng để thay đổi cuộc sống, còn thi sĩ là những vị tư tế tạo ra một thế giới huyền hoặc. Người ta coi “thơ là một tôn giáo không kỳ vọng” (Jean Cocteau), là “thần hứng” (Platon). Tuy nhiên, khi thơ ca bị đẩy lên mức độ "tôn giáo hóa", nó vô tình tạo ra một khoảng cách dặm trường với cuộc sống vốn dĩ là rất nhiều thống khổ. Đã đến lúc chúng ta cần thực hiện một cuộc "giải thiêng" - không phải để hạ thấp giá trị của thơ, mà để đưa thơ trở về đúng với phẩm giá đích thực của nó: một hình thái nghệ thuật vị nhân sinh.

Khi thơ bị thiêng liêng hóa, nó đẩy cao lên hình tượng người nghệ sĩ vạn năng có khả năng thay đổi thế giới. Nhà thơ khi ấy như một vị thượng đế trên những tác phẩm nghệ thuật của mình, nắm cả “tạo hóa nằm trong tay anh” (Hữu Thỉnh). Khi đó, vị trí của người đọc trở nên bị nhòe mờ, vô tác dụng, mang thế bị động trong việc tiếp nhận thơ. Có lẽ, chính sự sùng bái này đã khiến thơ trở nên xa lạ. Độc giả tiếp cận thơ với tâm thế của một tín đồ chiêm bái hơn là một người tìm kiếm sự đồng điệu. Khi ấy, giá trị của thơ dần xa lạ với những tiếng thét khổ đau phát ra từ cuộc sống lầm than kia.

Nỗ lực “giải thiêng” là nỗ lực cởi bỏ lớp áo choàng hư ảo để nhìn thẳng vào bản chất của sáng tạo. Giải thiêng giúp thơ trở về đúng với nguyên bản của nó, không cần nói về những điều vĩ mô, xa lạ. Thơ cần có mặt ở nơi có giọt nước mắt, có nụ cười, có những bữa cơm thân thuộc. Đó là khi thơ ca thực sự cất tiếng thay cho hồn người và cả một thế hệ. Khi thơ ca không còn là ngôi đền chân lý, người nghệ sĩ được tự do sáng tạo theo phong cách riêng của mình. Họ không phải hóa thân thành ai khác, chỉ cần là chính họ, một người bộ hành cô độc, một kẻ suy tư đầy khiếm khuyết.

Khi huyền thoại về sự thần thánh mất đi, thơ ca không hề nghèo nàn đi mà trái lại, nó trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Phẩm giá của thơ không nằm ở việc nó có thể đưa con người "thoát ly" thế giới, mà ở việc nó giúp con người "thấu hiểu" và "chấp nhận" thế giới này một cách sâu sắc hơn. Thơ ca, sau cùng, là một hình thái ngôn ngữ đặc biệt để diễn tả những rung động tinh vi nhất của tâm hồn. Việc "hóa giải huyền thoại" cho thơ ca là một tất yếu của tiến trình phát triển nghệ thuật. Khi cánh cửa ngôi đền thiêng mở ra, thơ sẽ ùa ra phố thị, len lỏi vào từng ngõ ngách của tâm hồn con người. Thơ ca vẫn sẽ đẹp, nhưng đó là vẻ đẹp của sự chân thực, của sự thấu thị thế giới bằng cảm quan nghệ thuật. Nếu thơ mãi mãi ngồi trên bệ thờ, nó sẽ xa lạ với những con người “bị cái ác dồn đến chân tường”, sống nhẫn nhục, vô minh, vô đạo lắm.
Thêm
106
0
0
Viết trả lời...
Đại dịch COVID-19 là một trong những biến cố lớn nhất của thế giới trong thế kỷ XXI. Nó không chỉ là một cuộc khủng hoảng y tế mà còn là một thảm họa nhân đạo, nơi hàng triệu con người phải đối diện với mất mát, sợ hãi và tổn thương tâm lý sâu sắc. Trong bối cảnh ấy, những trang viết của nhà văn Phương Phương tại Vũ Hán đã cháy lên ngọn lửa của văn chương. Nhật ký của bà không chỉ ghi lại sự khốc liệt của đại dịch mà còn lưu giữ những nỗi đau, những giọt nước mắt và cả những hy vọng mong manh của con người trong cơn ác mộng toàn cầu. Qua đó, ta nhận ra rằng văn chương có thể trở thành nơi lưu giữ ký ức của thời đại, là tiếng nói nhân bản giúp con người thấu hiểu và chữa lành những vết thương của lịch sử.

Văn chương có khả năng ghi lại sự thật sống động của đời sống, đặc biệt là trong những thời khắc khắc nghiệt nhất của lịch sử. Khi đại dịch bùng phát tại Vũ Hán, thành phố này trở thành tâm điểm của thế giới. Nhưng những con số thống kê về số ca nhiễm hay số người tử vong không thể truyền tải đầy đủ nỗi đau của con người. Đằng sau mỗi con số ấy là một cuộc đời, một gia đình, một câu chuyện riêng đầy nước mắt. Chính trong hoàn cảnh đó, những trang nhật ký của nhà văn Phương Phương đã giúp thế giới nhìn thấy bức tranh chân thực về những gì đang diễn ra. Đến đay, người ta mới hiểu, thơ ca có ích nhất là khi loài người đang trải qua cơn đau, đang gắng gượng qua những xót xa của thời thế. Qua từng dòng chữ, người đọc có thể cảm nhận được nỗi bất lực của các y tá khi chứng kiến bệnh nhân lần lượt trút hơi thở cuối cùng, hay sự đau đớn của những gia đình chỉ có thể tiễn biệt người thân bằng ánh mắt khi thi thể được đưa đi hỏa táng. Văn chương ở đây không chỉ là nghệ thuật, mà còn là “chứng nhân của thời đại”, ghi lại những điều mà lịch sử đôi khi không thể diễn tả hết.

Nhà thơ, sâu sắc hơn, còn là người cảm nhận và thấu hiểu nỗi đau của người khác. Con người là một sinh vật dễ vô cảm hơn là thấu cảm. Một đại dịch ở một thành phố cách mình hàng nghìn cây số có thể chỉ là một bản tin ngắn trên truyền hình. Nhưng khi những câu chuyện ấy được kể lại bằng văn chương, chúng trở nên gần gũi và sống động hơn rất nhiều. Đó là bản hòa ca của cả một thế hệ, là tiếng kêu cứu của cả một dân tộc. Những trang nhật ký của Phương Phương đã khiến người đọc khắp thế giới cảm nhận được sự hoảng loạn, nỗi sợ hãi và cả sự kiên cường của người dân Vũ Hán. Nhờ đó, nỗi đau của một thành phố không còn là nỗi đau riêng lẻ, mà trở thành nỗi đau chung của nhân loại.



Văn chương, sau cuối, chia sẻ và chữa lành những tổn thương tinh thần. Những người mất đi người thân, những bác sĩ và y tá phải chứng kiến quá nhiều cái chết, hay những người bị cô lập trong nỗi sợ hãi, cạn kiệt về thể chất - tất cả đều mang theo những vết thương tâm lý khó có thể lành lại. Trong hoàn cảnh ấy, việc viết ra những gì mình chứng kiến và cảm nhận trở thành một cách để giải tỏa nỗi đau. Nhật ký của Phương Phương không chỉ là lời kể với thế giới mà còn là sự giãi bày của một con người trước những mất mát quá lớn. Qua từng dòng chữ, ta cảm nhận được nỗi nghẹn ngào, sự đau xót và cả niềm hy vọng mong manh rằng những hy sinh ấy sẽ không bị lãng quên.



Việc lưu giữ ký ức đau thương của đại dịch cũng nhắc nhở nhân loại không quên những bài học của lịch sử. Con người thường có xu hướng quên đi những đau thương khi bước ra khỏi nó. Nhưng nếu những ký ức ấy bị lãng quên hoàn toàn, một tấn bi kịch của nhân loại càng đáng thương gấp bội. Văn chương giúp lưu giữ những trải nghiệm ấy để thế hệ sau có thể hiểu được những gì đã xảy ra. Những trang viết về đại dịch COVID-19 sẽ trở thành một phần ký ức của nhân loại, nhắc nhở chúng ta về sự mong manh của cuộc sống và tầm quan trọng của sự đoàn kết, trách nhiệm và lòng nhân ái. Chính văn chương đã cho con người được sống lại một lần nữa thời khắc ấy trong nỗi bùi ngùi của người chứng kiến, một chứng nhân của năm tháng và lịch sử. Thời gian rồi sẽ chảy trôi, mười năm, hai mươi năm, thậm chí một nghìn năm nữa, hậu thế vẫn sẽ nhìn lại năm tháng này trong nỗi đau thương và bùi ngùi.
Thêm
113
0
0
Viết trả lời...