Mạng xã hội Văn học trẻ

Sau lễ vinh danh các tác giả – tác phẩm tiêu biểu diễn ra vào ngày 30/11, hai luồng ý kiến trái chiều nổ ra xung quanh tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh. Một số ý kiến đồng thuận cho rằng “Nỗi buồn chiến tranh” là tiểu thuyết đáng vinh danh, nhưng một số ý kiến cho rằng sáng tác của Bảo Ninh mang tư tưởng “lật sử” trá hình văn học nghệ thuật. Càng nhiều quan điểm trái chiều được đưa ra càng làm cho chúng ta thêm khắc khoải, hoài tư về giá trị của văn chương và thân phận của con người.



1. Gía trị của văn chương

Tác phẩm xoay quanh cuộc đời của nhân vật Kiên, chàng trai trẻ với tâm hồn lãng mạn, đầy khát khao nhưng bị cuốn vào vòng xoáy của chiến tranh, bị đạn bom thay đổi. Chứng kiến quá nhiều nỗi đau của thời loạn, tận mắt nhìn đồng đội mình ngã xuống trên những mảnh đất quê hương, anh sống trong nỗi cô đơn, ám ảnh và không thể hòa nhập khi trở về thời bình. Và rồi, người ta nhận ra hòa bình cũng không vinh quang đến thế, khi mà đằng sau hòa bình là hàng trăm nghìn thân xác đã ngã xuống, đất đai nhuốm mùi máu tanh.



Kì thực thì văn chương không được phép viết về nỗi buồn đau sao? Tác phẩm là góc máy quay đầy chân thực của Bảo Ninh nhìn về chiến tranh, một thời oanh liệt nhưng cũng đầy đau đớn của dân tộc. Những ám ảnh về máu, nước mắt, nỗi đau và sự mong manh của con người dường như được Bảo Ninh khắc họa thật rõ nét trong bối cảnh chiến tranh. Đó là những cơn đau thực sự xảy ra với dân tộc chúng ta. Viết về chúng là cách để trưng cầu nỗi đau đó, để ta hoài niệm về những người lính đã ngã xuống, để ta trân trọng hơn hòa bình ngày hôm nay. Văn chương, không thể lúc nào cũng phỉnh nịnh cái đẹp mà ngoảnh mặt lại với cái xấu. Nhà văn không có quyền từ khước những đớn đau trong đời mà phải viết về nó như là nỗi đau của chính lòng mình. Văn chương, cuối cùng cũng là sự lên tiếng của những nỗi đau có thật trên đời.



2. Thân phận con người

Viết “Nỗi buồn chiến tranh”, Bảo Ninh không đứng trong lập trường của người chiến sĩ Việt Nam hay người lính Mỹ. Ông đứng trên lập trường nhân bản, nhìn thế sự ở góc nhìn của một con người. Dù chiến tranh xảy ra ở bên chiến tuyến nào thì đều là nã súng vào trái tim con người. Con người có quyền được sống, và khi họ bị buộc phải chết vì bất kỳ lý do nào (mà họ không muốn) thì đều xứng đáng được thương cảm. “Nỗi buồn chiến tranh” là nỗi buồn cho cả một đời người, nỗi buồn cho thứ xung đột mà kết cục bi thảm nhất là cả hai bên đều cùng phải chết. Nếu nhìn cuộc chiến từ góc độ người lính Việt Nam, ta chỉ thấy được bên quân ta đã chiến đấu oanh liệt như thế nào, đã hy sinh như thế nào. Nhưng có ai biết được rằng, bên đầu kia chiến tuyến, những người lính phía bên ấy cũng nghĩ như vậy?
Thêm
67
0
0
Viết trả lời...

Trong nhịp sống gấp gáp của xã hội công nghệ hôm nay, khi trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mạng xã hội đang chi phối mạnh mẽ cách con người làm việc, học tập và giao tiếp, không ít người đặt ra câu hỏi: văn học có còn cần thiết với người trẻ?
Đứng trước thực trạng học văn như một “môn học bắt buộc lấy điểm", bạn Quỳnh Hạ tại Nghệ An từng chia sẻ: "Môn văn đang mất giá đầy xót xa trong ánh nhìn của học sinh”. Câu nhận xét ấy không phải vô cớ, bởi thực tế cho thấy thói quen đọc sách văn chương đang dần bị lấn át bởi các hình thức giải trí nhanh, trực quan. Các bạn học sinh cảm thấy văn học khó tiếp cận, không tìm thấy ý nghĩa trong các tác phẩm văn học. Học toán, ngoại ngữ được xem là môn học có giá trị, có “tương lai".

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách sâu sắc, ta sẽ thấy văn học không hề lỗi thời, trái lại, nó vẫn giữ vai trò nền tảng trong việc bồi dưỡng đời sống tinh thần của con người. Công nghệ có thể giúp con người kết nối nhanh hơn, tiếp cận thông tin dễ dàng hơn, nhưng nó không thể thay thế khả năng thấu hiểu tâm hồn, sự rung động trước nỗi đau và niềm vui của người khác – điều mà văn học làm được một cách bền bỉ qua hàng nghìn năm. Những trang văn không chỉ kể chuyện, mà còn mở ra những thế giới tinh thần phong phú, giúp con người soi chiếu chính mình trong số phận nhân vật, từ đó học cách sống nhân ái và có trách nhiệm hơn. Trong bối cảnh xã hội ngày càng đề cao hiệu suất và lợi ích vật chất, văn học chính là không gian hiếm hoi để con người được chậm lại, lắng nghe tiếng nói nội tâm, nuôi dưỡng những giá trị nhân văn cốt lõi. Vì vậy, thay vì đặt văn học và công nghệ ở thế đối lập, cần nhìn nhận rằng văn học vẫn âm thầm giữ vai trò cân bằng, giúp con người không bị cuốn trôi hoàn toàn trong guồng quay lạnh lùng của máy móc và thuật toán.

Không chỉ dừng lại ở việc nuôi dưỡng cảm xúc, văn học còn góp phần quan trọng trong việc hình thành tư duy phản biện và bản lĩnh cá nhân của con người hiện đại. Trong xã hội công nghệ, con người phải đối mặt với một lượng thông tin khổng lồ, thật giả đan xen, đòi hỏi khả năng chọn lọc, phân tích và đánh giá độc lập. Văn học, thông qua việc xây dựng những tình huống phức tạp, những xung đột đa chiều và những số phận nhiều nghịch lí, rèn luyện cho người đọc năng lực suy nghĩ sâu, nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau. Một tác phẩm văn chương lớn không bao giờ đưa ra câu trả lời giản đơn; nó buộc người đọc phải tự vấn, phải đối thoại với chính mình. Chính quá trình ấy giúp con người tránh được lối tư duy hời hợt, cảm tính – căn bệnh dễ nảy sinh trong thời đại “lướt” thông tin. Hơn nữa, văn học còn lưu giữ ký ức văn hóa và lịch sử của nhân loại, giúp con người hôm nay hiểu được mình đến từ đâu, đã từng trải qua những gì.
Trong khi công nghệ luôn hướng về tương lai, thì văn học neo giữ con người với quá khứ và hiện tại, tạo nên chiều sâu cho bản sắc cá nhân và cộng đồng. Một xã hội chỉ phát triển về mặt kỹ thuật mà thiếu nền tảng văn hóa – tinh thần vững chắc sẽ khó tránh khỏi sự khủng hoảng về giá trị. Do đó, văn học không phải là thứ “xa xỉ” trong thời đại số, mà là một nhu cầu thiết yếu để con người giữ được khả năng suy nghĩ độc lập, không bị hòa tan trong đám đông hay dẫn dắt hoàn toàn bởi công nghệ.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng văn học không những còn cần thiết, mà còn trở nên quan trọng hơn trong xã hội công nghệ phát triển. Vấn đề không nằm ở chỗ văn học có còn giá trị hay không, mà ở cách con người tiếp cận và làm mới văn học trong bối cảnh mới. Công nghệ, nếu được sử dụng đúng cách, hoàn toàn có thể trở thành phương tiện đưa văn học đến gần hơn với công chúng, mở ra những hình thức tiếp nhận đa dạng, linh hoạt. Song dù hình thức có thay đổi, bản chất của văn học vẫn là tiếng nói của con người về con người, là nơi lưu giữ và lan tỏa những giá trị nhân văn bền vững.
Khi máy móc ngày càng thông minh, thì điều khiến con người khác biệt không phải là khả năng tính toán, mà là năng lực yêu thương, đồng cảm và sáng tạo – những phẩm chất được nuôi dưỡng mạnh mẽ từ văn học. Vì thế, trong một thế giới ngập tràn công nghệ, văn học chính là lời nhắc nhở thầm lặng nhưng kiên định rằng con người không chỉ sống bằng dữ liệu và thuật toán, mà còn bằng ký ức, cảm xúc và khát vọng hướng tới cái đẹp, cái thiện. Giữ gìn và trân trọng văn học cũng chính là giữ gìn phần người sâu sắc nhất trong mỗi ch
úng ta.
Thêm
68
0
0
Viết trả lời...
Xin chào,

Nếu bạn đang đọc bức thư này, có thể bạn đang tạm dừng lại giữa một ngày dài mỏi mệt, hoặc giữa rất nhiều suy nghĩ chưa kịp gọi tên. Cuộc sống này vốn dĩ luôn mệt mỏi như vậy nhỉ? Chúng ta có quyền chọn cho mình thời đại chúng ta sống đâu? Thời đại xã hội mới đang chuyển động nhanh hơn bao giờ hết. Mỗi ngày, chúng ta mở mắt ra đã thấy hàng trăm hình ảnh thành công, những con người trẻ tuổi giỏi giang, những chuẩn mực mới liên tục được đặt ra. Và đôi khi, giữa dòng chảy ấy, bạn tự hỏi: “Liệu mình có đủ tốt không? Liệu mình có đang đi chậm hơn người khác?”.

Nếu bạn từng có những câu hỏi như vậy, hãy yên tâm, bạn không hề đơn độc.

Thời đại này mang đến rất nhiều cơ hội, nhưng cũng vô tình khiến người trẻ dễ nghi ngờ chính mình. Chúng ta so sánh hành trình của mình với thành tựu của người khác, mà quên rằng mỗi người xuất phát từ một điểm khác nhau. Điều quan trọng nhất không phải là bạn đang đứng ở đâu, mà là bạn có dám tin rằng mình có thể đi tiếp hay không. Nếu con ốc sên dám đi tiếp con đường mà một con đại bàng đã đi thì vị trí của nó cũng sánh ngang với con đại bàng.

Tin tưởng vào bản thân không có nghĩa là lúc nào cũng tự tin tuyệt đối. Tin tưởng vào bản thân là khi bạn cho phép mình chưa hoàn hảo, nhưng vẫn không từ bỏ. Tin tưởng vào bản thân là một ánh sáng nuôi dưỡng nội lực bên trong ta. Là khi bạn thất bại, buồn bã, hoang mang, nhưng sâu bên trong vẫn có một tiếng nói nhỏ thì thầm rằng: “Mình vẫn có thể đứng dậy.” Đôi khi, những vết xước làm ta chảy máu. Máu chảy ra từ vết thương tâm hồn và cả đôi mắt long lanh của chúng ta. Nhưng ta dặn mình, khóc chút thôi, rồi đứng dậy và tiếp tục.

Trong xã hội mới, nơi công nghệ phát triển nhanh, kiến thức thay đổi từng ngày, người trẻ dễ cảm thấy mình tụt lại phía sau. Nhưng bạn ơi, không ai sinh ra đã biết hết mọi thứ. Mỗi kỹ năng bạn có hôm nay đều từng là điều bạn chưa biết. Mỗi người tự tin bạn nhìn thấy đều từng có những ngày nghi ngờ chính mình. Sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ: chúng ta không bỏ cuộc trước khi kịp lớn lên. Dừng lại một bước cho hôm nay để tiến thêm vài bước cho ngày mai.

Hãy cho bản thân quyền được thử, được sai, và được học. Đừng đợi đến khi bạn “đủ giỏi” mới bắt đầu, vì chính việc bắt đầu mới khiến bạn giỏi lên. Xã hội mới cần những người trẻ dám nghĩ khác, dám làm khác, và dám tin rằng tiếng nói của mình có giá trị. Dù tiếng nói ấy hôm nay còn run rẩy, còn nhỏ bé, thì nó vẫn xứng đáng được lắng nghe. Có thể bạn đang lo lắng về tương lai, về học tập, về việc mình sẽ trở thành ai trong thế giới rộng lớn này. Nhưng hãy nhớ rằng, bạn không cần phải có tất cả câu trả lời ngay bây giờ. Cuộc sống không phải là một cuộc thi ai về đích sớm hơn, mà là hành trình bạn học được bao nhiêu về chính mình trên đường đi.

Nếu hôm nay bạn mệt, hãy nghỉ một chút, nhưng đừng bỏ cuộc. Nếu hôm nay bạn nghi ngờ bản thân, hãy nhớ lại những lần bạn từng vượt qua khó khăn mà trước đây bạn nghĩ là không thể. Bạn mạnh mẽ hơn bạn tưởng, chỉ là đôi khi bạn quên mất điều đó.

Bức thư này không hứa sẽ làm mọi thứ trở nên dễ dàng hơn. Nhưng mong rằng, sau khi nghe xong, bạn sẽ dịu lại với chính mình hơn một chút. Tin rằng dù xã hội có thay đổi thế nào, giá trị của bạn không nằm ở việc bạn so sánh với ai, mà ở việc bạn không ngừng tiến về phía trước theo cách của riêng mình. Hãy tin vào bản thân, từng chút một. Vì chỉ cần bạn còn tin, bạn vẫn còn đường để đi. Và con đường ấy, dù chậm hay nhanh, vẫn là hành trình rất đáng tự hào.
Thêm
81
0
0
Viết trả lời...
Tuổi 18, tôi đứng trước những rệu rã của một tuổi trẻ đầy bi quan. Thế giới công nghệ đang phát triển vượt bậc, cho ra đời hàng trăm hàng nghìn robot với trí tuệ nhân tạo đang dần thay thế con người. Xã hội hiện đại, con người tạo ra cho mình những lớp kén riêng, không muốn giao tiếp. Thời đại tôi sống như một cái hộp kính chứa đầy bụi mịn và những con virus. Những con người xung quanh tôi sống với nhau bằng sự lạnh nhạt, vô cảm, giao tiếp với nhau như những cái máy.


Tuổi 18, tôi đứng trước những áp lực vô hình đang ngày càng đè năng lên tôi. Bố mẹ và hàng ngàn câu hỏi vì sao khi tôi không được điểm 10, tại sao con không giỏi như bạn bè. Thầy cô đặt lên tôi ánh mắt thất vọng khi tôi nói với họ tôi mệt mỏi và muốn được nghỉ ngơi. Bạn bè tôi trách móc khi tôi nói với họ tôi đã quá chán nản khi phải đối đãi nhau bằng những câu khen ngợi tá hình khích bác. Tôi muốn chọn im lặng và không muốn xem họ như kẻ thù. Những người xung quanh tôi lợi dụng danh nghĩa để gắn lên tôi những cái mác không kiểm chứng. Người lớn bên cạnh tôi trách móc tôi không có ý nghĩa, tuổi trẻ đất nước đang thụt lùi. Xã hội đang đè nặng lên tôi áp lực về sự phát triển, ép tôi ngột ngạt trong kho những huy chương đã có.


Tuổi 18, tôi đau đớn và rệu rã trong xã hội của chính mình. Và tôi tự hỏi tuổi trẻ mà mình mong đợi ở đâu? Do tôi hay do chính xã hội?


Tôi đánh mất niềm tin.

Tôi tìm lại niềm tin.


Tuổi 18, tôi hạnh phúc vì tôi lớn lên với đôi mắt sáng, hai tai sáng và giọng nói ấm áp. Tôi mỉm cười vì tôi cười lên trông thật tự tin. Tôi biết ơn vì được lớn lên trong tình yêu của cha mẹ, trong sự giáo dục của thầy cô. Tôi biết ơn vì bạn bè tôi biết cảm thông, thấu hiểu, khi mà những câu chuyện buồn chỉ là một nốt trầm của cuộc sống. Tôi thấy may mắn vì mình được ăn cơm muối vừng, chan canh rau đay bà trồng. Tôi hạnh phúc vì tôi được học, được tiếp xúc với con chữ. Cuộc sống quanh ta vui vẻ, nhộn nhịp và xôn xao hơn tôi nghĩ. Dân tộc tôi nô nức trong những trận bóng đá mà toàn dân hòa chung nhịp đập. Mjang xã hội sạch bóng những thông tin phản cảm, khoe hàng, thay vào đó dược phủ sắc đỏ của màu cờ Tổ quốc. Tôi mỉm cười vì dân tộc tôi nắm tay nahu bước vào kỉ nguyên vươn mình đầy mạnh mẽ.


Vậy bạn nghĩ, điều gì đã thay đổi tâm thế của tôi?
Thêm
69
0
0
Viết trả lời...
Trong khu vườn thượng uyển Eden, hai con người đầu tiên đã được Thượng đế trao cho sự sống. Thượng đế đã cảnh báo họ về thử thách và cám dỗ bằng con rắn, nhưng thực tế là Thượng đế muốn con người vấp phải cám dỗ. Con người là đứa trẻ yêu thích của vũ trụ, lớn lên trong những thử thách mà ông trời oái oăm đặt ra. Không phải vì chúng ta không xứng đáng nhận được sự yêu thương, mà vì càng xứng đáng, chúng ta càng cần phải chấp nhận thử thách. Đôi khi đó là những thử thách khiến người ta thấy rệu rã, thương tổn và chỉ muốn từ bỏ. Thế nhưng “vì mình có khả năng vượt qua, nên thử thách này mới xuất hiện”.

Khó khăn thực chất không phải là khó khăn, chỉ là sự trì hoãn của thành công mà thôi. Nó là những biến cố không báo trước, là những rào cản, thách thức khiến ta hoài nghi chính mình, hay đôi khi chỉ là cảm giác kiệt sức trước áp lực. Thử thách sinh ra như một món quà của Thượng đế, chúng tồn tại như một "phép thử" của số phận. Đôi khi, vũ trụ gửi đến một khó khăn chỉ để ta học cách nhìn nhận lại chính mình, sống chậm hơn và tập yêu mình nhiều hơn.

Trong mối quan hệ với những nghịch cảnh đó, con người có những cách đối diện khác nhau. Có người chọn cách mạnh mẽ đương đầu, cũng có người chọn cách né tránh vì sợ tổn thương. Cuộc đời là cuốn kịch mà con người phải xoay chuyển chính mình để thích ứng và thay đổi thực tại. Viên ngọc trai sẽ chẳng bao giờ hiện hữu nếu con trai không chấp nhận nỗi đau khi hạt cát lọt vào cơ thể mình. Kim cương sẽ không thành hình nếu được nung trong nhiệt độ lớn.

Nếu lắng nghe thật kỹ, ta sẽ nhận ra nghịch cảnh thực ra không đáng sợ đến thế. Nghịch cảnh buộc ta phải dừng lại, nhìn sâu vào bản thân, học cách kiên nhẫn, học cách đứng dậy sau tổn thương. Con người không lớn lên nhờ những con đường bằng phẳng, mà trưởng thành từ những đoạn đường gập ghềnh. Có những bài học không đến từ sách vở mà đến từ những lần vấp ngã tưởng chừng như không thể đứng dậy được. Khi ta đối diện với nghịch cảnh bằng sự bình tĩnh và niềm tin, nó sẽ dạy ta biết trân trọng những điều giản dị và quý giá. Và rồi một ngày, khi ngoảnh nhìn lại, ta sẽ mỉm cười nhận ra: chính nghịch cảnh đã góp phần tạo nên phiên bản mạnh mẽ và sâu sắc hơn của chính mình. Thay vì xem khó khăn là điều bất công hay ngẫu nhiên, câu nói này gợi cho con người niềm tin rằng mỗi thử thách đến với ta đều có lý do của nó. Cuộc đời dường như không đặt gánh nặng lên vai một người nếu người đó hoàn toàn bất lực trước nó. Chính vì ta có tiềm năng, có sức mạnh nội tâm, nên khó khăn mới xuất hiện như một phép thử để ta nhận ra và đánh thức khả năng ấy.


Khi đối diện với nghịch cảnh, nhiều người thường hoài nghi bản thân, tự hỏi vì sao mình lại phải chịu đựng những điều không mong muốn,tại sao những tổn thương này lại chỉ đến với mình, tại sao người khác lại may mắn còn mình thì không. Nhưng nếu nhìn nhận khó khăn là dành cho mình, khó khăn không còn là kẻ thù, mà trở thành cơ hội để ta rèn luyện ý chí và trưởng thành. Mỗi lần vượt qua một trở ngại, con người không chỉ giải quyết được vấn đề trước mắt mà còn tích lũy thêm kinh nghiệm, sự kiên cường và lòng tin vào chính mình. Những điều ấy không thể học được từ sự dễ dàng hay an toàn.

Nếu khó khăn xuất hiện vì ta có khả năng vượt qua, thì việc bỏ cuộc quá sớm đồng nghĩa với việc ta chưa tin vào chính mình. Tin rằng mình đủ mạnh không có nghĩa là ta không được mệt mỏi hay yếu lòng, mà là dù có chùn bước, ta vẫn chọn tiếp tục. Giữ cho mình niềm tin rằng mình có khả năng vượt qua những đớn đau khiến chúng ta dám bước tới, dám chiến đấu mà không dừng lại. Niềm tin là ánh lửa giữa bóng tối, để ta tìm đường khi lạc lối nhất. Chính niềm tin ấy sẽ giúp ta đứng vững trong những giai đoạn tưởng chừng như không thể.

Người trẻ đều là những đứa trẻ yêu thích của ông trời. Ông trời yêu họ nhưng thường thử thách họ bằng những thách thức đớn đau nhất. Ông trời muốn họ phải khóc, phải chập chững bước những bước đi đầu tiên để tìm đường cho mình. Bởi dù họ đớn đau vì họ khóc, họ vẫn có một trái tim nhiệt huyết để vượt qua tất cả.
Thêm
84
0
0
Viết trả lời...

Người ta nói nhiều về khả năng cứu rỗi và thay đổi thế giới của văn chương nhưng lại dửng dưng trước những nỗi đau xảy ra ngay trước mắt. Sự thật thì, rất có thể văn chương chỉ là những câu chuyện hư cấu và hoàn toàn không thể chắc chắn rằng chúng ta có thể tìm thấy ở đó bất kì hiện thực nào. Dẫu vậy, tôi vẫn luôn tin rằng văn chương có khả năng phản ánh hiện thực và cứu rỗi nó bằng tất cả những phần cao thượng nhất. Trong một xã hội khi mà lòng người bị bán rẻ và niềm tin đang dần vỡ vụn, văn chương nghệ thuật có thể nói là phương án cuối cùng cho niềm hy vọng được sống “người” của con người.


“Nhà văn không phải loài có cánh, không phải diễn viên trên sàn diễn. Nhà văn phải đứng bằng hai chân giữa thập bại chúng sinh, giữa mặt đất đầy hiểm họa.” (Nguyễn Minh Châu). Người nghệ sĩ là chủ thể chính của quá trình chiêm bái nỗi đau. Họ trước hết là con người của nỗi đau, viết để tìm kiếm chính mình và thoát thai khỏi những bóng ma từ quá khứ. Viết, như là một cách để soi chiếu vào nỗi đau một cách trực diện hơn, để ngỡ ngàng trước những hiện thực xảy ra ngay bên cạnh mình mà bị “lớp màng thực dụng” che khuất. Những nỗi khổ đau muôn hình vạn trạng, nhưng tựu trung đều là sự bất mãn trước thời cuộc, sự thất vọng trước một cộng đồng người đối xử với nhau bằng đồng bạc lạnh. “Chiêm ngưỡng” - điều đó có nghĩa là văn chương nhìn nỗi đau ở khoảng cách gần, để nghi vấn, đặt câu hỏi nhưng bình thản trước mọi sự biến chuyển của cuộc đời.


Tìm đến với văn chương như một cách tìm cho mình sự cứu rỗi, thoát tội. “Cái đẹp cứu rỗi thế giới” (Dotoevsky). Nhưng cái đẹp chỉ là một bình diện trong văn chương. Một bình diện đã đủ sức “cứu rỗi” một thế giới rộng lớn đủ để thấy sức mạnh của văn chương đạt đến cảnh giới nào. Văn học tìm cho con người một con đường để giải cứu chính mình khỏi mặc cảm tội lỗi, hay đúng hơn là tìm một lối thoát khỏi hiện thực bế tắc và tăm tối. Nỗi đau còn ngự trị thì con người càng cần có nhu cầu được cứu chuộc mình, cứu giải thế giới.


Truyện ngắn “Tro tàn rực rỡ” của Nguyễn Ngọc Tư đã chiêm ngưỡng và cứu rỗi nỗi đau con người trên tinh thần cốt lõi nhất của nó. Câu chuyện là những mảnh ghép rất đơn giản từ chính cuộc sống bình thường, từ căn nhà nhỏ của đôi vợ chồng, từ con sông, từ con dốc đầu làng. Nó là tâm sự, là hồi ký của những người vợ phải dang tay níu giữ một tình yêu của chồng mình. Khi ngọn lửa phực lên, tro tàn cuốn lấy những khát khao của họ, cũng là lúc nỗi đau hiện nguyên hình. Trong “Tro tàn rực rỡ”, nỗi đau của người phụ nữ phải cứu vãn cuộc hôn nhân đến mức tuyệt vọng, thậm chí “Nhàn đã không chạy ra khỏi đám lửa như mọi khi, anh à! Không biết chị thấy mệt rồi hay vì nghĩ chỉ ở giữa đám cháy Tam mới nhìn thấy chị”. Chính văn học đã mở ra khả năng cứu rỗi cho nỗi đau ấy: bằng việc phơi bày những bi kịch thầm lặng, trang viết giúp con người được nhìn thấy, được thấu hiểu và được sẻ chia. Góc nhìn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng giống như góc nhìn của vợ chồng Nhàn khi nhìn căn nhà bị Tam thiêu cháy rụi: “thằng chồng say sưa đứng ngó mái lá bị lửa ăn rào rào, và con vợ đắm đuối nhìn chồng”. Đám cháy là hiện thân cho tất cả những gì bất mãn nhất bên trong Tam, khi mà xã hội đương thời đang đè nén lên quyền sống của con người. Đốt nhà, với Tam không phải việc điên rồ, mà là cách anh thể hiện nỗi đau trước thực tại, “đốt nhà vì không thể khóc được”. Khi Nguyễn Ngọc Tư tái hiện hình ảnh người phụ nữ lao vào đám lửa để tìm kiếm tình yêu của chồng, văn học không chỉ ghi lại một bi kịch cá nhân mà còn đặt nó vào không gian rộng lớn của xã hội. Qua đó, nỗi đau không còn cô độc; nó được soi rọi, được gọi tên, và được giải thoát phần nào khỏi bóng tối.


Vũ Trọng Phụng không chỉ phơi bày một xã hội “văn minh rởm” đầy lố bịch mà còn kín đáo gửi gắm sự chiêm ngưỡng và cứu rỗi nỗi đau con người giữa guồng quay giả trá ấy. Nhà văn nhìn thẳng vào bi kịch của những kiếp người bị cuốn vào trào lưu Âu hoá nửa mùa: họ sống trong ảo tưởng về văn minh, chạy theo danh lợi và thời thượng để che lấp sự trống rỗng tinh thần. Sự lố bịch đến “rởm đời” bị họ xem là chuẩn mực văn hóa, chỉ những gì nhố nhăng mới là đẹp và “văn minh”. Nhà văn họ Vũ đã nhìn bi kịch của con người bằng cái cười khẩy đầy đau xót, châm biếm để rồi tự khóc than cho thời cuộc bị tha hóa. Từ đó, tiểu thuyết “Số đỏ” nói riêng cứu rỗi con người thoát khỏi giấc ngủ mê của nhận thức. Đằng sau giọng văn sắc lạnh và tiếng cười trào phúng, Vũ Trọng Phụng vẫn dành cho họ một cái nhìn nhân đạo. Bằng việc phơi bày sự thật đến tận cùng, ông cứu rỗi họ bằng ánh sáng của nhận thức: sự nhận ra bản chất xã hội và bản thân là con đường để con người thoát khỏi u mê. Tiếng cười trong “Số đỏ” vì thế không chỉ để chế giễu mà còn để thanh lọc, giúp người đọc nhận diện những giá trị đích thực giữa hỗn độn. Chính khả năng đánh thức ấy làm nên sức mạnh cứu rỗi của văn học: soi chiếu nỗi đau để con người biết đứng dậy từ chính sự sa ngã của mình.


Văn chương đã chiêm ngưỡng trọn vẹn những rực rỡ và u hoài của đời người, để rồi trao đổi với cuộc đời những nỗi trở trăn của chính nhà văn. Viết về nỗi đau không phải lối tư duy tiêu cực, mà là phương tiện để nhà văn kích cầu tính người trong con người. Văn học nếu ngoảnh mặt với bóng tối sẽ khó có thể chạm tới ánh sáng nhân loại. Giữa thời cuộc điên đảo, rất cần những người kể chuyện can đảm, cất lên tiếng nói cứu mình và xã hội mình.
Thêm
460
0
0
Viết trả lời...
Chức năng thẩm mỹ của văn học

Văn học có khả năng làm thỏa mãn khoái cảm thẩm mỹ của con người, đem lại sự vui sướng, phấn khích, vui vẻ khi tiếp nhận tác phẩm văn học. Khoái cảm tâm lý bắt nguồn từ sự thỏa mãn về mặt tinh thần, tức là nhận thức được cái đẹp trong cuộc sống. Chức năng thẩm mỹ hiểu đơn giản hơn chính là sự thỏa mãn cái đẹp bên trong con người.

Văn học luôn hướng tới những giá trị của cái đẹp. Sáng tạo cái đẹp là một mục đích và nhu cầu của con người trong nhiều lĩnh vực.

Chức năng là các chức năng văn học gắn bó hữu cơ không tách rời nhau. như chức năng dự báo, chức năng thông tin, Sự gắn bó giữa các chức năng làm cho văn học có tác động sâu xa, bền bỉ, có sức sống mãnh liệt, lâu dài trong đời sống tinh thần của con người.


Chức năng thẩm mĩ là khả năng của văn học làm thỏa mãn khoái cảm thẩm mĩ, từ đó xây vùi trong sáng trẻ cái đẹp của cuộc sống, xây dựng, bồi đắp tình cảm thẩm mĩ và ý thức thẩm mĩ cho con người.

Văn học nghệ thuật có khả năng làm thỏa mãn khoái cảm thẩm mĩ (aesthetic - còn gọi là mĩ cảm) của con người, tức là sự vui sướng, phấn khích, vui vẻ, dễ chịu, hấp dẫn khi tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật. Khoái cảm thẩm mĩ bắt nguồn từ sự thoả mãn về mặt tinh thần, tức là nhận thức được những giá trị thẩm mĩ trong đời sống.

Trước hết, đó là những giá trị hướng tới cái đẹp. Sáng tạo cái đẹp là một mục đích và nhu cầu của con người trong nhiều lĩnh vực. Nhưng đối với nghệ thuật và văn học, đây là yêu cầu tiên quyết, là chức năng quan trọng nhất. Trong nghệ thuật, cái đẹp không chỉ nằm trong yếu tố hình thức mà còn trong các yếu tố nội dung.

Có những vẻ đẹp hòa nhập gần với cái hùng tráng: Ngàn thước lên cao ngàn thước xuồng đẹp của thiên rất tinh tế: Tốc buồn nghiêng xuống lệ ngàn hàng (Xuân Diệu) Bên cạnh vẻ đẹp của thiên nhiên là vẻ đẹp của con người: Một yêu tóc bỏ đuôi gà, Hai yêu ăn nổi mặn mà có duyên (ca dao); Vai năm tấc rộng thân mười thước cao (Nguyễn Du). Bên cạnh đó, còn có vẻ đẹp về tình người, về khí phách, về tâm hồn, về những quan hệ người. Bên cạnh cái đẹp, còn có những nội dung tạo mĩ cảm khác như cái bi, cái hùng, cái cao cả, và cả cái tầm thường, cái xấu, cái gớm ghiếc... như là những phần đề của cái đẹp nh Khoái cảm thẩm mĩ còn được xuất phát từ việc thưởng thức những vẻ đẹp khác nhau của các yếu tố hình thức: hình ảnh, ngôn từ, kết cấu... Các yếu tố đó thể hiện sự tỉnh tê của những nhận thức về thế giới. Những câu thơ réo rắt, uyển chuyển, những hình ảnh rực rỡ, mĩ lệ, những vần điệu ngọt ngào, những cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật đặc biệt... đều tạo nên khoái cảm thẩm mĩ.

Tuy nhiên, nếu chỉ chú ý tới những vẻ đẹp hình thức, quá say sưa với các trò chơi ngôn tứ, mà không chú ý tới nội dung thì dễ rơi vào chủ nghĩa duy mĩ, hình thức chủ nghĩa. Và khi bản thân hình tượng trở nên rồng nội dung, thì đó lại là tự hủy diệt ý nghĩa thẩm mĩ chân chính của hình tượng.

Giá trị thẩm mĩ còn bộc lộ qua những điều sâu sắc, mới lạ, có ý nghĩa nhân sinh độc đáo, mang giá trị tinh thần cao. Ví như, cùng những bài thơ mang tên Quê hương, màng năng tình cảm quê hương, nhưng ở mỗi tác giả lại có những khám phá những ý nghĩa nhân sinh riêng biệt. Quê hương của Tế Hanh là kỉ niệm về khung cảnh làng chài ven biển, là nhịp sống lao động gian khổ mà hùng tráng. Quê hương của Giang Nam là kỉ niệm tuổi thơ nghịch ngợm và bóng dáng cô hàng xóm mắt đen tròn thương thương quá đi thôi. Còn kỉ niệm quê hương của Đỗ Trung Quân hướng tới bài học làm người: nếu ai không có cội nguồn trong hành trang tỉnh thần của mình, người đó không xứng đáng làm người. Đó là những giá trị tinh thần độc đáo của hình tượng quê hương trong nhận thức của từng nhà thơ.

Khoái cảm thẩm mĩ còn được tạo nên từ sự miêu tả chân thực đời sống. Miêu tả thật đúng, chính xác những nét tính cách, những phẩm chất của con người, dù có thể xấu xa nhưng cũng tạo nên sự hấp dẫn. Bởi đó chính là bản chất và tính đa dạng của cuộc sống đã hiện hình qua những nhân vật đó. Anh Hoàng trong Đôi mắt của Nam Cao từng thích nhân vật Tào Tháo đến nỗi phải chửi Tiên sư thằng Tào Tháo! chẳng qua vì thấy Tào Tháo khôn ranh, mưu mẹo, tài đối nhân xử thế quá, y như thật vậy. Khoái cảm thẩm mĩ còn bắt nguồn từ việc thỏa mãn n
hững ước da dịnh về
Thêm
316
0
0
Viết trả lời...
Nobel Văn học thế giới
“Lợi ích nói trên sẽ được chia thành năm phần bằng nhau, được phân bổ như sau: /- – -/ một phần cho người đã sáng tác trong lĩnh vực văn học tác phẩm xuất sắc nhất theo hướng lý tưởng…” (Trích từ di chúc của Alfred Nobel)

Alfred Nobel có nhiều sở thích văn hóa. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã phát triển niềm đam mê văn học và điều này kéo dài suốt cuộc đời ông. Thư viện của ông có một bộ sưu tập văn học phong phú và đa dạng bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Trong những năm cuối đời, ông thử sức mình với tư cách là một nhà văn và bắt đầu viết tiểu thuyết. Văn học là lĩnh vực giải thưởng thứ tư mà Nobel đề cập trong di chúc của mình. Giải Nobel Văn học được trao bởi Viện Hàn lâm Thụy Điển , Stockholm, Thụy Điển.

Các nhà văn đạt giải Nobel Văn học:
László Krasznahorkai

Giải Nobel Văn học năm 2025 được trao cho tác giả người Hungary László Krasznahorkai, “vì tác phẩm hấp dẫn và đầy tầm nhìn của ông, giữa thời kỳ khủng bố tận thế, khẳng định lại sức mạnh của nghệ thuật”.

László Krasznahorkai là một nhà văn sử thi vĩ đại thuộc truyền thống Trung Âu, trải dài từ Kafka đến Thomas Bernhard, và được đặc trưng bởi chủ nghĩa phi lý và sự thái quá lố bịch. Nhưng ông còn có nhiều tài năng hơn thế, và ông cũng hướng về phương Đông để áp dụng một giọng văn trầm tư, được cân chỉnh tinh tế hơn.

Han Kang

Tiểu thuyết của Han Kang - nhà văn Hàn Quốc đầu tiên đoạt Nobel - miêu tả các cuộc đàn áp chính trị có thật, là vết thương khó lành của lịch sử nước này.
Nữ tác giả thắng giải Nobel Văn học 2024 nhờ "những áng văn xuôi mạnh mẽ, đậm chất thơ, đề cập trực diện những chấn thương lịch sử và phơi bày sự mong manh của kiếp người", theo Viện Hàn Lâm Thụy Điển.

Văn chương của bà mang tính tự phản chiếu tinh thần và tâm lý một cách thơ mộng. Đồng thời, nỗi dằn vặt, đớn đau qua lối viết tính thể nghiệm, đưa bà trở thành một trong những tiếng nói đặc biệt của văn học đương đại.

Jon Fosse
Chủ nhân giải thưởng Nobel văn học năm nay – nhà văn Jon Fosse năm nay 64 tuổi, sinh ra và lớn lên ở bờ biển phía tây Na Uy. Kho tàng tác phẩm của ông nổi tiếng với các tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ Nynorsk của Na Uy thuộc nhiều thể loại như kịch, tiểu thuyết, tập thơ, tiểu luận, sách thiếu nhi
và nhiều bản dịch.
Thêm
104
0
0
Viết trả lời...
1975 - 2025 đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong buổi hội nghị, chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang thiều đã trăn trở rằng vật cản lớn nhất cản trở nhà văn tạo ra những sáng tác để đời là chính nhà văn. Ông luôn suy tư rằng các nhà văn chưa dám bước ra khỏi vùng an toàn của chính mình, suy nghĩ sâu hơn để tạo ra những kiệt tác. Sau năm 1975, đất nước bước vào giai đoạn hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước. Các nhà văn có điều kiện được sáng tác trong một môi trường công khai, tuy nhiên Việt Nam vẫn chưa có những sáng tác để đời và chạm tay tới văn học thế giới. Trong khi các nền văn học lớn của thế giới vẫn đang ngày đêm chạy đua để đem lại những sáng tác có ý nghĩa đối với bạn đọc, Việt Nam vẫn đang lưng chừng giữa rất nhiều ranh giới, chính bởi vì các nhà văn chưa dám bước ra khỏi phòng an toàn của chính mình.

Một số nhà văn Việt Nam của chúng ta trong giai đoạn hiện đại đã tạo được dấu ấn với người đọc. Sáng tác đó chị mang tầm ảnh hưởng trong quốc gia, chưa thực sự tạo được vị trí trên địa đồ thế giới. Nhìn đi cũng cần nhìn lại, văn học của chúng ta vẫn là một nền văn học nhỏ bé trong nền văn học với các quốc gia trên thế giới.

Sự nhìn nhận lại văn học hôm qua và văn học hôm nay chính là cách để chúng ta tìm ra nguyên nhân của mọi sự việc, từ đó đưa ra góc nhìn và cách xử lý vấn đề hợp lý. Nếu không chủ động nhìn lại, chúng ta có ngày hôm nay vẫn sẽ chỉ là ta của ngày hôm trước, và ta còn ngày mai cũng chỉ là ta của ngày hôm nay. Nếu như khách nhà văn không chủ động bước ra khỏi giới hạn, không chủ động chạm sâu tới những vấn đề sâu sắc của xã hội, không dám giao tiếp với chính mình để chạm tay và nhân loại, thì Việt Nam của chúng ta sẽ không thể có được những sáng tác chạm tới quốc tế. Và theo như lời nhà văn Nguyễn Quang Thiều: “50 năm sau sẽ là cuộc tổng kết của những nỗi buồ
n".
Thêm
107
0
0
Viết trả lời...
Trong hệ thống các bộ môn nghệ thuật, văn học giữ một vị trí đặc biệt bởi đối tượng phản ánh của nó vừa quen thuộc lại vừa có chiều sâu khó nắm bắt. Nếu mỹ thuật dùng đường nét và màu sắc để ghi lại hình ảnh của thế giới, âm nhạc gửi gắm cảm xúc qua âm thanh, thì văn học lại sử dụng ngôn từ - phương tiện tư duy trừu tượng nhưng đồng thời giàu sức gợi - để tái hiện đời sống. Việc nhận diện đặc trưng đối tượng của văn học do đó trở thành vấn đề cốt lõi trong nghiên cứu lý luận. Có thể nói: đối tượng của văn học chính là con người trong tính toàn vẹn xã hội, lịch sử, tâm lý, được phản ánh bằng hư cấu nghệ thuật chứ không sao chép nguyên trạng. Xung quanh hạt nhân này là nhiều tầng ý nghĩa mà ta cần phân tích sâu.

Thứ nhất, đối tượng của văn học là đời sống con người. Không một tác phẩm văn học nào tồn tại ngoài phạm vi đời sống, cho dù đó là truyện cổ tích với các phép màu hay tiểu thuyết giả tưởng với những thế giới xa lạ. Bản chất của văn học vẫn là khám phá, diễn đạt và lý giải con người: con người hành động, con người suy nghĩ, con người mơ ước, con người đau khổ và hạnh phúc. Nhà văn không phản ánh “cuộc sống” như một mớ sự kiện, mà phản ánh những quan hệ sống - quan hệ giữa người với người, giữa người với cộng đồng, giữa người với tự nhiên và chính bản thân mình. Ở điểm này, văn học bộc lộ thiên chức nhân văn sâu sắc: nó hướng đến những vấn đề của con người, vì con người và cho con người.

Thứ hai, đối tượng của văn học được nắm bắt thông qua lăng kính tư tưởng và cảm xúc của chủ thể sáng tạo. Khác với khoa học tìm kiếm cái phổ quát khách quan, văn học quan tâm đến cái chủ quan, cái được cảm nhận, nhưng lại có khả năng gây đồng cảm sâu rộng. Nhà văn quan sát đời sống không bằng đôi mắt “máy ảnh” lạnh lùng, mà bằng trái tim, kinh nghiệm, vốn văn hoá và sự nhạy cảm cá nhân. Nhờ vậy, đối tượng văn học dù quen thuộc, như những mối quan hệ gia đình, sự nghèo đói, khát vọng tự do, vẫn luôn hiện lên mới mẻ qua từng phong cách. Chẳng hạn, cùng viết về số phận người lao động, Nam Cao soi chiếu bằng triết lý nhân đạo sắc lạnh, còn Thạch Lam tiếp cận bằng rung cảm dịu dàng. Điều ấy cho thấy đối tượng của văn học luôn được “nhân hoá”: nó không tồn tại ngoài cảm hứng thẩm mỹ của người viết.

Thứ ba, đối tượng của văn học là đời sống đã được hư cấu, nghĩa là được tổ chức lại bằng tưởng tượng nghệ thuật. Đây là điểm phân biệt cơ bản giữa văn học và các ghi chép lịch sử hay báo chí. Văn học có nhiệm vụ diễn đạt cái “thật” nhưng không lệ thuộc vào sự thật cụ thể. Hư cấu cho phép nhà văn tái cấu trúc hiện thực theo các quy luật nghệ thuật, tạo ra những nhân vật mang tính khái quát, những tình huống giàu sức gợi, những không gian, thời gian có khả năng biểu đạt ý nghĩa vượt khỏi sự kiện đời thường. Chính nhờ hư cấu, đối tượng của văn học mở rộng vô hạn, nó có thể đi vào những miền sâu kín của ý thức và vô thức, có thể bước vào tương lai hay trở lại quá khứ hàng nghìn năm, có thể phóng chiếu những khả thể mà hiện thực chưa từng có.

Thứ tư, đối tượng của văn học không chỉ là con người cá nhân mà còn là con người trong quan hệ cộng đồng và trong bối cảnh lịch sử, văn hoá. Một nhân vật văn học, dù được xây dựng bằng tưởng tượng, vẫn mang dấu ấn của hoàn cảnh xã hội nơi nhân vật tồn tại. Chính vì vậy, văn học trở thành tấm gương phản chiếu những biến thiên lịch sử và những giá trị văn hoá của dân tộc. Đọc “Truyện Kiều”, ta không chỉ gặp chuyện tình của Thúy Kiều mà còn thấy cả một xã hội phong kiến nhiều bất công; đọc “Nỗi buồn chiến tranh”, ta không chỉ thấy tâm hồn Kiên mà còn cảm nhận những vết thương còn rỉ máu của một thế hệ. Ở đây, ta thấy đối tượng của văn học có tính hệ thống: con người được xem xét như một chỉnh thể gắn bó với môi trường xã hội, lịch sử cụ thể.

Thứ năm, đối tượng của văn học mang giá trị biểu tượng và phổ quát hoá. Một tác phẩm lớn bao giờ cũng vượt khỏi những khuôn khổ của thời đại để chạm vào giá trị phổ quát. Khi Nam Cao viết về Chí Phèo, ông không chỉ kể chuyện một nông dân bị tha hoá trong xã hội phong kiến mà còn đặt ra vấn đề muôn thuở: con người bị tước đoạt quyền làm người thì sẽ phản ứng ra sao? Khi Nguyễn Minh Châu xây dựng nhân vật Phùng trong “Chiếc thuyền ngoài xa”, ông không chỉ đề cập đến nhận thức nghề nghiệp của nghệ sĩ mà còn đặt câu hỏi về sự phức tạp của đời sống, rằng cái đẹp của nghệ thuật không bao giờ đủ để hiểu đầy đủ một số phận người. Vì vậy, đối tượng của văn học luôn vượt thoát khỏi các chi tiết cụ thể để trở thành những vấn đề nhân sinh có thể lay động bất kỳ ai.

Thứ sáu, đối tượng của văn học vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tính khách quan thể hiện ở chỗ văn học phải phản ánh những quy luật, bản chất, chiều sâu thực tiễn. Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị không chỉ là sản phẩm của cảm xúc tuỳ hứng mà phải chạm đến những chân lý đời sống. Tuy nhiên, tính khách quan ấy luôn được biểu đạt qua cái nhìn chủ quan của nghệ sĩ. Chính sự giao thoa này làm nên tính độc đáo của văn học, nó nói những điều mang nghĩa chân lý, nhưng bằng ngôn ngữ của cảm xúc và cá tính sáng tạo.

Cuối cùng, đối tượng của văn học được tiếp nhận không chỉ qua nội dung mà còn qua hình thức ngôn từ nghệ thuật. Ngôn từ không chỉ là công cụ chuyển tải ý nghĩa, mà còn là chất liệu thẩm mỹ tạo nên hình ảnh, nhịp điệu và cảm xúc. Do đó, đối tượng của văn học bao gồm cả thế giới hình tượng lẫn thế giới ngôn từ – hai lớp tồn tại gắn quyện vào nhau. Một nhà văn giỏi không chỉ có cái nhìn sắc sảo về đời sống mà còn phải có năng lực tổ chức ngôn từ thành cấu trúc nghệ thuật. Văn học vì vậy vừa phản ánh cuộc sống, vừa sáng tạo ra một thế giới mới thông qua kết cấu ngôn từ.

“Văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm và tâm điểm của nó là con người" (Nguyễn Minh Châu). Lấy con người làm đối tượng, văn chương có một điểm tựa nhìn ra thế giới. Phản ánh hình tượng con người cũng là cách văn chương đối diện với những khía cạnh gai góc nhất của thế giới, vỗ về và x
oa dịu thế giới.
Thêm
104
0
0
Viết trả lời...
Kẻ mạnh mới có quyền thay đổi, đừng là con sâu cái kiến mà chỉ tay năm ngón, phán xét đại bàng trên đỉnh cao.

Nếu bạn là một con đại bàng dài cánh trên trời cao, có tốc độ, sức mạnh và năng lực, bạn có thể đạt tới những đỉnh cao mới, trải nghiệm những trí thức mới và mở mang tầm mắt trước một biển trời mới. Góc nhìn mà một con đại bàng nhìn thấy sẽ khác với những gì mà con ếch ngồi nơi đáy giếng nhìn thấy. Khi bạn đã xác lập được vị trí của mình là đại bàng, bạn sẽ không bao giờ về để ý đến sự phán xét từ tầm nhìn thấp bé của con sâu, cái kiến chỉ biết muôn đời lầm lỗi trên mặt đất, với tầm nhìn hạn hẹp.

Nhưng ngược lại, nếu như bạn là con sâu cái kiến, sống cuộc đời trong những định kiến chật hẹp, không có vị trí, không có tầm nhìn, thậm chí không có khả năng lực, thì bạn hoàn toàn không có quyền để phán xét hay đánh giá người khác. Nhìn từ góc độ này, có lẽ sẽ không công bằng với những con người nhỏ bé, không có điều kiện và khả năng đi xa, được học hỏi và tiếp thu với nhiều thứ mới mẻ. Không giỏi giang, không có đãi ngộ tốt là lỗi của họ hay sao? Không xét về hoàn cảnh bởi chúng ta hoàn toàn không có khả năng lựa chọn nơi mình sống và nơi mình sinh ra, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể chọn cách sống cho mình. Không cần thiết phải đi xa, vùng trời mới mới có thể gọi là trải nghiệm. Nay thứ những thứ giản dị, gần gũi nhất với ta thôi, chỉ cần ta sống hết mình với nó đã là rộng mở lắm rồi. Nhiều người cả đời bôn ba khắp nơi xa, đến khi trở về lại chỉ khao khát những thứ nhỏ bé bình thường, những thứ mà cả cuộc đời họ đã bỏ qua vì những thứ lớn lao chắn ngang tầm mắt. Trái tim chúng ta chia thành hai nửa, nửa muốn bôn ba, nửa muốn quay trở về nhà.

Chúng ta sống trên đời nên bình thản đối mặt với mọi thứ, kiên định trước mọi khó khăn và gập ghềnh. Luôn giữ vững tinh thần mạnh mẽ như vậy, chúng ta sẽ càng rèn luyện được bản lĩnh kiên cường, tâm trí cẩn trọng và thay đổi được cả thái độ đối với cuộc đời. Chỉ có kẻ mạnh mới làm chủ được vận mệnh của mình, không để người khác bị ảnh hưởng hay phải quyết định thay cho số phận của chúng ta. Vậy thì hãy một lần biến mình thành kẻ mạnh, mở rộng tư tưởng đón nhận những điều mới và không ngừng học hỏi để làm đầy bản thân. Một khi bạn thực sự đánh giá đúng giá trị của mình, bạn sẽ thấy rằng cuộc sống đơn giản và công bằng hơn rất nhiều. Mỗi người chỉ có một đời để sống. Sống theo sở thích của mình, làm điều mình thích, yêu người mình yêu, một đời vậy là đủ.

Kẻ mạnh mới có quyền thay đổi, đừng là con dâu cái kiến mà chỉ tay năm ngón, phán xét đại bàng trên đỉnh cao. Vậy hãy một lần biến mình thành
kẻ mạnh.
Thêm
84
0
0
Viết trả lời...
Văn chương muôn đời là gì kia chứ, nếu như không phải là “làm cho những gì tốt đẹp nhất trên đời trở thành bất tử" (Shelly). Tình yêu chắc chắn là thứ tình cảm mỹ lệ nhất của loài người, hóa giải những hận thù, tôn vinh tính thiện và lòng người, làm cho con người ta biết cười biết khóc. Vậy tại sao văn chương cần có tình?

Vì cuộc sống có tình. Văn chương từ cổ chí kim luôn là “hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng" (Hoài Thanh). Tình yêu làm gì giản đơn, nếu giản đơn, nó không mang nhiều cung bậc từ đớn đau đến thù hận như thế. Tình yêu rất khó để định nghĩa bằng một danh từ cụ thể, khi chỉ là một cảm giác yêu rất vu vơ và khó diễn tả. Vì cuộc sống có tình, chúng ta là con người có đầy đủ lương tri và lương năng, chúng ta có trái tim ấm áp và đôi mắt để dẫn đường cho trái tim. Bởi vậy, khi cuộc sống có tình, văn chương không thể trơ mặt trước những cảm xúc của con người. Văn chương và là ngọn đuốc dẫn đường, dẫn lối cho những cảm xúc dẫu nhỏ bé nhất của con người, để cảm xúc đó được thăng hoa và thể hiện một cách trực diện nhất.

Vì con người có tình. “Không có gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi" (K.Marx). Kể cả tình yêu ấy có là lớn lao hay chỉ là sự hèn nhát, dù có sự hòa điệu giữa hai trái tim hay không, con người vẫn luôn có tình. Dù chúng ta đứng giữa ranh giới của sự vô minh và siêu nhiên, giữa ranh giới ấy vẫn luôn tồn tại tình và những cảm xúc của con người. Ngay cả thằng Chí Phèo chỉ biết rạch mặt ăn vạ ấy thực chất cũng chỉ vì cái tình quá mãnh liệt, tha hóa trước xã hội thực dân mà hóa thành con quỷ dữ để thể hiện cái tình của mình. Con người có tình và luôn khao khát tìm được tình yêu bên trong chính mình, bên trong đồng loại mình và cả bên trong những tác phẩm. Người nghệ sĩ lớn là người nghệ sĩ biết lắng nghe tiếng nói của con tim và thể hiện những tiếng nói ấy một cách tinh tế bên trong những trang viết của mình.

Vì văn chương cần có tình. Viết về tình như một sự cứu cánh, sự cứu chuộc khỏi những mai một, chai lì đang gặm nhấm thế hệ bận rộn, khỏi những im lặng của người lớn ít nói, khỏi những kẻ máu lạnh vô tình. Tình yêu, đánh thức chúng ta bằng cảm thức từ trái tim, không ồn ào nhưng ngược lại có thể cảm hoá sâu sắc trái tim con người. Nếu như văn chương không viết bởi tình và vì tình thì nó cũng chỉ là sản phẩm của trí tuệ nhân tạo, của những thiết bị AI đang tràn lan trong cuộc sống hiện đại - ngày ngày sản xuất ra như một cái máy nhưng hoàn toàn không có “tình". Văn chương viết về tình có khả năng tác động đến tâm trí của chúng ta sâu hơn là khi nhà văn đầu tác phẩm hoàn toàn bằng ý thức tỉnh táo từ cái đầu. Nghệ thuật cần có lý trí nhưng quan trọng hơn cả là cần có ý tình về trái tim người nghệ sĩ để dẫn dắt trái tim ngườ
i đọc.
Thêm
72
0
0
Viết trả lời...
Nhà em cách bốn quả đồi
Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng
Nhà em xa cách quá chừng
Em van anh đấy, anh đừng thương em.

Đọc thơ Nguyễn Bính, đâu đây ta thấy âm hưởng của ca dao dân tộc vọng về trong từng câu chữ. Nguyễn Bính là gương mặt thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, nhưng ông lại là người “quen” nhất bởi những sáng tác đậm màu dân tộc, gắn liền với hàng cau liên phòng, với hàng trầu, cô gái dệt lụa. Điệu âm ca dao dường như đã trở thành thi liệu và nguồn cảm hứng bất tận để Nguyễn Bính níu giữ tất cả chân quê bên trong mình dành cho những con người chân quê. Bởi vậy, tình yêu trong ông cũng mộc mạc, thanh bình và đẫm hương đồng quê. Mối tình day dứt ấy đã đọng mật trong tiếng thơ “Xa cách” được Nguyễn Bính viết năm 1938.

Trong thi phẩm “Xa cách”, người ta nhận ra được ít nhiều sự hòa hợp của cái tôi trữ tình thơ Mới kết hợp cùng hồn quê. Phong cách thơ Nguyễn Bính bộc lộ rõ nét, gần gũi với ca dao dân tộc đến mức gợi cho người đọc cảm giác như đang đọc ca dao. Bài thơ là nỗi lòng trăn trở, khát khao đầy suy tư về tình yêu của cô gái quê. Trong nỗi lòng ấy vừa khao khát nắm giữ được tình yêu, vừa đau đớn nhận ra khoảng cách chia lìa giữa cô và chính người mình yêu.

Tiếng thơ gợi người đọc liên tưởng tới bài ca dao quen thuộc:
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Thất bát sống cũng lội
Tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua

Yếu tố “thơ Mới” của “Xa cách” là cách nói ngược đầy hàm ý. Cô gái tâm sự, giãi bày cho người yêu về khoảng cách khó hàn gắn giữa hai người, không đơn thuần là khoảng cách địa lí mà còn là khoảng cách về vị trí trong xã hội vốn chưa nhiều công bằng với người phụ nữ. Hình ảnh “quả đồi”, “ngọn suối”, “cánh rừng” vốn đã gợi ra một khoảng cách xa xôi, cách trở, khó vượt qua về mặt địa lý, không còn đơn thuần là “cách có một thôi đê” như trong bài thơ “Mưa xuân”. Khoảng cách đó đã vậy còn bị nhân lên gấp ba bốn lần bởi các lượng từ “bốn”, “ba”, “đôi”. Đó thực sự là một khoảng không gian “xa cách quá chừng” ngăn cách cặp đôi trẻ tỏ bày tình yêu nhau. Thế nhưng, có một điều là khoảng cách cách trở xa xôi ấy càng lúc càng được rút ngắn lại bởi lời của người con gái. Từ “bốn" trở về “ba" rồi lại quay về “hai".

Tuy con đường đến nhà người con gái vẫn còn xa xôi nhưng dường như đã được rút ngắn lại theo sự vận động giảm dần của số lượng không gian. Sự xa xôi giờ đây được đo đếm bởi số lượng của các sự vật thiên nhiên. Hình ảnh thiên nhiên giờ đây trở thành vách ngăn, khoảng cách ngăn giữa người con trai và người con gái. Cô gái, trong lời nói thì tỏ bày nỗi đớn đau khi phải sống xa người mình yêu, nhưng thực chất trong thâm tâm lại khao khát rút ngắn khoảng cách ấy lại để được sát gần người mình yêu. Cũng nói chuyện cách trở sơn khê, ca dao tình nhân về lối nói thuận theo chiều tăng tiến, còn ở đây Nguyễn Bính lại ngã về núi nói nghịch theo đà lui giảm. Cuối cùng tất cả những xa xôi cách trở ấy lại biến thành “quá chừng". Thì ra đây không phải tổng số những cách trở, mà là cấp số lùi của những ngăn trở.

Đây là lời nói ý nhị, gửi gắm bao tâm tình của người con gái, chẳng biết trong lòng chàng trai kia có hiểu được hay không? Tuy bốn quả đồi nhưng chỉ có ba ngọn suối, xu chỉ còn có đôi cánh rừng thôi. Từ “đôi" nghe như thật ít ỏi chả đáng kể gì. Chị phải dòng thơ em đã diễn tả được cái rắc rối của một cô gái bốn chân quê nhưng lần đầu khao khát ái tình. Vừa băn khoăn mà thắm thiết, ái ngại mà đầy khích lệ chối từ mà không nguôi gắn bó, tuyệt vọng mà khắc khoải hi vọng. Đó là một nỗi khổ sở rất thơ Mới. Đó là một khao khát trữ tình rất phụ nữ, rất chân quê, mộc mạc và đúng với tinh thần Nguyễn Bính.

Hồn thơ Nguyễn Bính là sự đồng thời theo một kiểu nào đó của hồn quê với khối tình lỡ đầy uẩn khúc. Sự hòa quy này đã làm cho nỗi tủi hờn phổ biến trong ca dao dân gian than thân tổ chức nhập vào mỗi tủi sầu hiện đại, hóa thân đầy da diết trong tiếng thơ “Xa c
ách" của Nguyễn Bính.
Thêm
156
0
0
Viết trả lời...
Mùa thu là mùa tình. Dường như, mùa thu luôn có vẻ ưu ái với thi nhân hơn hẳn. Và thi nhân cũng xem mùa thu như một thi liệu sáng tác nổi bật hơn hẳn. Mùa thu, không có vẻ tươi non mơn mởn như mùa xuân, không có vẻ rạo rực náo nức như ngày hè, cũng chẳng ảm đạm tiêu sầu như mùa đông, mùa thu chỉ là mùa thu với những sắc riêng của nó. Những rung động khe khẽ và xao xuyến của mùa thu đã thổi lồng lộng trong những trang thơ của Lưu Trọng Lư, động mật lại tạo nên thi phẩm “Tiếng thu".

Các thi sĩ thơ mới ít nhìn thiên nhiên bằng cái nhìn chiêm nghiệm. Bằng mối liên hệ tương ứng vi diệu giữa tâm hồn cá nhân và tâm hồn tạo vật, họ đã khám phá ra sự sống bí mật đầy xôn xao trong lòng thiên nhiên. Bên trong mỗi tạo vật là cả một thế giới riêng vừa mơ hồ vừa hiển hiện mà người ta chỉ nắm bắt được bằng thi cảm. Nó là cái của mình xôn xao của lá hoa, là tiếng thở dài rạo rực của nhị phấn, là tiếng ngân của những làn ánh sáng… thế giới Thơ mới là vạn vật lên men say, là tạo vật ở trạng thái thăng hoa. Bởi vậy mà sự xôn xao đã trở thành điệu hồn riêng của thơ mới. Có lần Xuân Diệu đã lắng nghe mùa thu và nhận ra thứ tiếng riêng của nó. Và bản thân Lưu Trọng Lư cũng đã nghe thấy những điệu Huyền lạc bay khắp thôn. Đó là thứ âm thanh huyền diệu, tối lên trong lòng tạo vật. Đó cũng chính là dư âm của “Tiếng thu".

“Tiếng thu" không phải là một âm thanh riêng rẽ nào, cũng không phải là một tập hợp giản đơn nôm na của nỗi thổn thức trong đất trời, trong lòng người. Đó là cả một bản hòa âm vừa mơ hồ vừa hiển hiện của bao nỗi xôn xao trong lòng tạo vật đang hòa điệu với nỗi xôn xao trong lòng thi nhân.

Cái tiếng “lá thu kêu xào xạc" của Lưu Trọng Lư là sự cộng âm, đồng vọng của cả lá thu và hồn thi nhân trong đó. Có lẽ bởi sự cộng hưởng ấy mà bản hòa âm Mùa Thu đã tìm thấy cho mình một bản hòa âm ngôn từ để cất lên. Tiếng Thu đã được ký thác và một cấu trúc ngôn từ chứa chan tính nhạc. Âm điệu riêng của “Tiếng thu" là chân dung của thi phẩm, là một trình thể chặt chẽ và nhuần nhuyễn. Vật liệu của bài thơ trở nên thật quyến rũ nhờ hệ thống tạo âm, dụng vần hòa quyện vào nhau.

Nghe “Tiếng thu” xào xạc, ta chợt nhớ đến “Những phố dài xao xác hơi may” của Nguyễn Đình Thi về sau này. "Xao xác” và "xào xạc” là một nốt nhạc được chơi ở hai cung bậc khác nhau. Tuy nhiên xét về âm vần, hai từ này lại gợi ra những cảm xúc và khung cảnh khác nhau. Nếu "xao xác” Đăng và cao gọi được tiếng lá quét mình trên đường phố thì "xào xạc” lại chồng và buồn gợi lên vẻ âm u và huyền bí của rừng già. Từ sự thổn thức, nhà thơ đi đến sự rạo rực trong lòng người cô phụ. Đó chỉ là những xúc cảm xa xôi hơi thoảng, nhưng tiếng xào xạc gần gũi như thế lẽ nào cô gái ấy lại không nghe thấy? Câu hỏi tu từ “Em không nghe rừng thu?” gợi lên một điệu trầm buồn, xốn xang trong lòng người và lòng tin nhân khi đi tìm sự đồng điệu.

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng Thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?

Phải chăng Lưu Trọng Lư chính là chú nai ngơ ngác kia, bởi cái nghiêng tai ngơ ngác đề thi sĩ của nó. Nó ngơ ngác vì không nghe ra hay vì Tiếng Thu quá đỗi lạ lùng. Trong đôi tai của nó chỉ có mỗi Tiếng Thu kêu xào xạc thôi, mà đằng sau tiếng xào xạc kia là biết bao rạo rực, thổn thức của đất trời. Chỉ có một tín hiệu duy nhất là tiếng “xào xạc", nhưng âm thanh của lá rừng đã gửi lên cả một bản giao hưởng vô hình của những nỗi xôn xao huyền bí. Y như thiên nhiên tạo vật này cũng mang trong lòng nỗi mù mơ của những kẻ đam mê và khát vọng của thời đại thơ mới. Hoặc cũng có thể nói chính Lưu Trọng Lư đã đem lỗi mù mờ của những đam mê và khát vọng ấy và tạo vật để nó trở thành “Tiếng thu"? Bài thơ cứ như vậy mà khép lại, nhưng đâu đó, ở một góc trong tâm hồn độc giả, những rung động khe khẽ và xôn xao của mùa thu vẫ
n còn lung lay mãi.
Thêm
79
0
0
Viết trả lời...
Thơ mới là giàn giao hưởng hưởng đa điệu sầu, trong đó nổi lên ba mối sầu chính là sầu nhân thế, sầu thân thế, sầu thời thế. Chúng đan xen và chuyển giao lẫn nhau. Nổi bật trong những tiếng thơ của phong trào thơ mới, “Ông đồ" hiện lên như một sự nuối tiếc, khắc khoải và khao khát níu giữ vẻ đẹp truyền thống của Nho học, của những giá trị văn hóa thiêng liêng suốt nghìn đời nay.
“Ông đồ" có sự đan dệt của ba yếu tố tự sự, trữ tình và kịch. Tính tự sự thể hiện trong việc tái hiện câu chuyện về ông đồ - hiện thân đại diện cho trí thức trung đại, biểu tượng của nền Hán học. Xen lẫn trong câu chuyện nhuốm màu bi kịch ấy là những tâm tư, khắc khoải và trở trăn của Vũ Đình Liên. Nói “Ông đồ" có yếu tố kịch là nói đến xung đột, nói đến việc trình bày xung đột theo từng lớp, từng xen, có yếu tố sân khấu. Tạo nên thân phận Ông đồ là một xung đột mà người ta thường thấy ở những cơn biến thiên của lịch sử: xung đột giữa giá trị và thời thế. Về điểm này, có hai thái độ đối với quá khứ là giã từ vui vẻ và níu giữ ngậm ngùi. Chúng xuất phát từ những giá trị khác nhau. Nếu những cái từ ngự trị nay trở thành phản giá trị, lỗi thời, lố bịch thì nay bị thời thế ngoảnh mặt, âu đó cũng là hài kịch. Còn với những giá trị cao quý, nay bị thử thế quay lưng, xung đột ấy chính là bi kịch. Người ta cố níu giữ mà không thể, nhìn nó chìm vào dĩ vãng mà bất lực, vô vọng. Thực tại phũ phàng đã thẳng tay ném những giá trị cao quý kia vào quá khứ.
Hình tượng ông đồ tiêu biểu cho trí thức trung đại. Họ là hiện thân của nền Hán học, của những giá trị văn hóa thiêng liêng đã tồn tại suốt nghìn đời nay. Bỗng chốc, xã hội thay đổi, kéo theo đó chính là xung đột nhóm mồm bi kịch tạo nên thân phận đáng thương của một lớp người - bị thời thế lạnh lùng phế bỏ. Bản chất bi kịch này quyết định đến điểm cảm xúc hoài niệm với bao buồn thương xen lẫn sự xót xa trong toàn thị phẩm. Hình tượng Ông đồ thường gắn liền với con chữ, với đạo Thánh Hiền, với những giá trị cao quý thiêng liêng của học thức. Nhưng đồng thời hình tượng ông đồ cũng biểu trưng cho những giá trị cốt lõi bị thời thế đổi thay, phế truất.
Xung đột đối lập giữa giá trị và thời thế đã chi phối toàn bộ cảnh trí của bài thơ. Nó khiến bài thơ mang dáng dấp của một hoạt cảnh sân khấu. Đó là lý do khiến cho bài thơ “Ông đồ” mang màu sắc của kịch, chính xác hơn là bi kịch. Ba cảnh chính tiếp nối trong bài thơ chính là ba phân cảnh của vở kịch “Ông đồ”. Cảnh đầu tiên là cảnh huy hoàng của thời thịnh, khi nho học còn trở thành những giá trị văn hóa cốt lõi trong văn hóa. Cảnh thứ hai là cảnh ảm đạm của thời suy. Và cảnh cuối cùng kết thúc lại là cảnh tiêu sơ đến mức trống không của thời tàn. Ba lớp kịch của tấn bi kịch “Ông đồ" vận động từ đắt khách, đến ế ẩm, rồi mất hút.
Tấn bi kịch đau thương ấy không chỉ là câu chuyện về một thân phận nhỏ bé, cá biệt, đó còn là câu chuyện của cả một lớp người. Bất cứ người nào rồi cũng sẽ có lúc trải qua cái tâm trạng của ông đồ: tâm trạng của kẻ thất thế, hết thời. Ai cũng có thời của mình. Thời ấy qua đi, thời mới đến sẽ phế bỏ chúng ta. Hình tượng ông đồ còn là hiện thân của một lớp người gắn với thời đại hán học, gắn với văn hóa Hán đã vĩnh viễn chìm vào quá vãng. Đồng thời, hình tượng ông đồ cũng gợi nhắc ta về những giá trị thân thuộc và thiêng liêng mà giờ đây đã bị thời gian ngoảnh m
ặt.
Thêm
85
0
0
Viết trả lời...
“Sáng tác là đối thoại”..
Quá trình sáng tác là quá trình khi tác giả được đặt ở vị trí trung tâm, hoàn toàn có khả năng quyết định tác phẩm của mình. Khi tác phẩm hoàn thiện và được đưa đến tay người đọc, một học thuyết được đề ra mang ý nghĩa phủ nhận sự tồn tại của tác giả sau quá trình sáng tác: học thuyết “Cái chết của tác giả". Học thuyết này chỉ ra rằng khi tác phẩm được đưa vào quá trình quê cùng của khâu sáng tạo, đó là tiếp nhận, thì người quyết định sự thành công của tác phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào độc giả. Khi đó, tác giả thực sự là người bất lực trên chính những trang viết của mình, không có khả năng quyết định số phận của chính những gì mình viết. Tuy nhiên, ở một góc độ khác, người nghệ sĩ không hoàn toàn bất lực. Quá trình tiếp nhận của người đọc tạo cơ hội cho nhà văn được đối thoại, được chiêm nghiệm, phản tỉnh, phản tư và tìm kiếm sự đồng cảm. Đó là lý do mà “Sáng tác là đối thoại”..
Sáng tác là một quá trình kép trong đó đối thoại và hồi đáp mang giá trị trung tâm. Bản chất của quá trình viết là động lực để nhà văn được giao tiếp bằng cảm tính với độc giả. Đối thoại là sự giao tiếp, trao đổi thông tin. Trong văn học, đó là sự đối đáp, mâu thuẫn giữa các luồng ý kiến để tìm ra chân lý.
Đôi khi, phải đối thoại đến mức mâu thuẫn mới có thể tìm ra được chân lý. Có mâu thuẫn mới có phát triển. Giữa rất nhiều luồng tư tưởng không có một định nghĩa chính xác, mọi lý lẽ đưa ra chỉ là tương đối, chính xác trong một góc nhìn cụ thể. Khi lăng kính cảm quan xoay theo một chiều khác, vấn đề cũng thay đổi theo một góc độ khác hơn. Sinh thời, Angghen cho rằng “Hãy hoài nghi tất cả". Bản chất của câu nói này khuyên chúng ta luôn cần trong trạng thái hoài nghi, đặt câu hỏi, không ngừng suy tư, phản tỉnh trước những điều được xem là chân lý. Quan điểm của Angghen có phần tương đồng với quan điểm của nhà triết học Aristole: “Tôi chỉ biết một điều là tôi không biết gì cả". Chính vì "không biết gì cả” nên mới cần " hoài nghi tất cả”, đặt câu hỏi và không ngừng trả lời chúng. Tuy nhiên, một quan điểm khác cùng được đặt lên bàn cân so sánh chính là quan điểm của K. Marx: "Thà phải thức suốt đêm để tìm câu trả lời còn hơn”. Lí luận của Marx có phần đề cao quá trình tìm kiếm sự thật thay vì phải ôm mối hoài nghi. Giữa quan điểm của Angghen và K.Marx không thể khẳng định được quan điểm nào là đúng đắn. Hai quan điểm chỉ mang tính chất hỗ trợ, bổ sung cho nhau - đó là tính đối thoại.
Đối thoại là một phương thức thể hiện quan trọng góp phần làm nên chiều sâu tư tưởng và sức sống của tác phẩm. Hiểu theo nghĩa rộng, đối thoại không chỉ là cuộc trò chuyện trực tiếp giữa các nhân vật, mà còn là sự va chạm, giao thoa giữa những điểm nhìn, quan niệm, tư tưởng và hệ giá trị khác nhau trong cùng một chỉnh thể nghệ thuật. Văn học vốn phản ánh con người trong tính đa dạng và phức tạp, bởi vậy sự đối thoại là điều không thể thiếu, giúp tác phẩm mở ra nhiều tầng nghĩa và khơi gợi suy tư nơi người đọc. Chính nhờ đối thoại, văn học trở thành không gian dân chủ của tiếng nói, nơi những khát vọng, băn khoăn, giằng xé hay ước mơ đều được cất lên một cách chân thực, sinh động.
Sự đối thoại trong văn học thể hiện trước hết qua đối thoại giữa các nhân vật. Đây là lớp biểu hiện dễ nhận thấy nhất, giúp bộc lộ tính cách, tâm lý và mối quan hệ giữa con người trong tác phẩm. Chẳng hạn, các cuộc trò chuyện trong truyện ngắn, tiểu thuyết thường mang theo xung đột nội tại, mâu thuẫn xã hội hoặc nỗi niềm cá nhân. Qua đối thoại, nhân vật hiện lên sống động, có hơi thở, có suy nghĩ, chứ không chỉ là những hình bóng khô cứng. Đối thoại, vì vậy, tạo nên tính kịch, khiến câu chuyện hấp dẫn và giàu kịch tính.
Thứ hai, đối thoại còn thể hiện như cuộc đối thoại giữa các hệ tư tưởng hoặc quan điểm sống. Trong nhiều tác phẩm lớn, người đọc có thể nhận thấy sự đan xen và va chạm giữa lối sống cũ và mới, giữa truyền thống và hiện đại, giữa thiện và ác, giữa quyền lực và thân phận con người. Đây là hình thức đối thoại ở tầng sâu, thường không hiện ra trực tiếp dưới dạng lời thoại, mà ẩn trong cách xây dựng tình huống, hình tượng, biểu tượng và kết cấu tác phẩm. Sự đối thoại ấy giúp tác phẩm trở thành nơi tranh biện thẩm mỹ về những vấn đề lớn của thời đại, tạo ra chiều sâu triết lí và sức sống lâu bền. Trước khi thơ Mới hoàn toàn thay thế thơ cũ, nhiều quan điểm của các nhà thơ phái cũ đã đả kích trực diện vào các nhà thơ phái mới, cho rằng thơ Mới “vẩn vẩn lại vơ vơ", vì không làm được thơ vần nên phải sử dụng thể thơ tự do. Tuy nhiên, sau nhiều đấu tranh giữa mâu thuẫn, thơ Mới dần phát triển và làm thay đổi tư tưởng của trường thơ cũ.
Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm còn thể hiện đối thoại giữa tác giả và người đọc, dù cuộc đối thoại này diễn ra một cách gián tiếp. Thông qua giọng điệu trần thuật, những khoảng trống nghệ thuật hoặc cách kết thúc mở, nhà văn đặt người đọc vào vị trí đồng sáng tạo, buộc họ suy tư, đặt câu hỏi, tự hoàn thiện ý nghĩa mà văn bản gợi ra. Đây là biểu hiện của tinh thần nghệ thuật hiện đại, tôn trọng sự đa dạng của cảm nhận cá nhân.
Cuối cùng, có thể thấy rõ đối thoại giữa tác phẩm với các giá trị văn hóa – lịch sử, hay rộng hơn là với kho tàng văn học trước đó. Nhiều tác giả sử dụng các yếu tố liên văn bản, mô típ quen thuộc hoặc hình ảnh biểu tượng truyền thống để tạo nên cuộc trò chuyện giữa cái mới và cái cũ. Điều này khiến tác phẩm trở thành một phần trong dòng chảy liên tục của văn hóa, vừa gắn bó với truyền thống, vừa tạo ra sắc thái riêng đ
ộc đáo.
Thêm
108
0
0
Viết trả lời...
Thời gian cuối năm dần đến, trong khao khát đón chờ năm mới, con người cần nhìn lại để tiến xa hơn.

Sâu xa hơn, hành trình ấy không chỉ là bước chuyển của thời gian mà còn là hành trình bền bỉ tự khám phá, nhìn nhận chính mình. Theo thời gian, con người thay đổi. Sự hiện diện của chúng ta hôm nay đã hoàn toàn khác với chúng ta hôm qua. Tuy nhiên, để bước xa hơn trên con đường ấy, chúng ta không chỉ cần nỗ lực tiến về phía trước mà còn cần dừng lại, ngoảnh nhìn về những gì đã đi qua. Sự nhìn lại không phải là một hành động hoài niệm hay tiếc nuối quá khứ, mà là cơ hội để con người hiểu rõ hơn về bản thân, nhận diện những hạn chế, ghi nhận những giá trị đã tạo nên mình hôm nay và từ đó vững tin bước tiếp. Bởi lẽ, chỉ khi thấu suốt chặng đường đã qua, con người mới đủ sáng suốt để đi đến những chân trời mới, xa và bền vững hơn.

Trước hết, nhìn lại không chỉ là sự tổng kết quá trình đã trải qua mà còn là sự nghiệm về những thay đổi của bản thân qua dòng chảy thời gian. Biết bình thản nhìn lại giúp con người nhận ra những sai lầm đã từng vấp phải để tự tin đối diện với tương lai. Năm 2025 xuất hiện một khái niệm “năm thanh lọc” để chỉ sự thanh tẩy, phơi bày bộ mặt thật của mỗi cá nhân. Thanh lọc là một quy luật tự nhiên, cũng là biểu hiện của quá trình tự nhìn lại. Điều khiến con người trở nên trưởng thành không phải là việc họ chưa từng sai, mà là họ dám đối diện với những sai lầm đã mắc và rút ra bài học từ đó. Chính việc dám nhìn lại giúp con người trưởng thành từng ngày, tránh được cái vòng luẩn quẩn của sai lầm lặp lại. Nếu không nhìn lại, con người sẽ mãi dậm chân tại chỗ, hoặc tệ hơn là đi lệch hướng mà không hề hay biết.

Không chỉ để nhận lỗi, việc nhìn lại còn là cách để con người biết trân trọng những gì mình đã làm được và nuôi dưỡng động lực để tiếp tục phấn đấu. Trên hành trình nỗ lực, đôi khi ta chỉ nhìn vào mục tiêu phía trước mà quên mất rằng mình đã đi được bao xa. Khi dừng lại và nhìn lại, mỗi người sẽ nhận ra rằng mình đã vượt qua nhiều khó khăn hơn mình từng nghĩ, đã mạnh mẽ hơn, kiên trì hơn, và đã có những thành quả xứng đáng tự hào. Những điều ấy, dù nhỏ bé, cũng đủ trở thành nguồn cổ vũ để con người tiếp tục kiên trì. Nhiều người chỉ chăm chăm nhìn vào những thiếu sót mà quên gật đầu với chính mình về những thành công đã đạt. Một chút tự ghi nhận không khiến ta tự mãn, mà ngược lại giúp ta có thêm tinh thần để tiếp tục hành trình.

Ngoài ra, nhìn lại còn giúp con người điều chỉnh hướng đi để phù hợp hơn với mục tiêu thật sự của bản thân. Cuộc sống thay đổi từng ngày, con người cũng thay đổi từng giai đoạn. Những điều mà ta từng xem là quan trọng có thể không còn phù hợp khi cuộc sống đổi thay. Chính việc nhìn lại giúp ta hiểu rõ mình đang đi đúng hướng hay đã lệch khỏi điều mình thật sự mong muốn. Nếu không nhìn lại, con người có thể cứ tiếp tục bước đi trong vô thức và đánh mất cơ hội sống đúng với giá trị của chính mình.

Hơn nữa, nhìn lại giúp mỗi cá nhân xây dựng bản lĩnh và sự khiêm nhường. Khi nhìn lại những chặng đường đã qua, con người hiểu rằng mình không thể đi xa chỉ bằng nỗ lực cá nhân. Đằng sau mỗi thành công là sự giúp đỡ, ủng hộ của gia đình, bạn bè, thầy cô, đồng nghiệp… Chính sự nhận ra ấy khiến con người trân trọng những mối quan hệ và sống biết ơn hơn. Sự biết ơn và khiêm tốn là hai yếu tố quan trọng tạo nên nhân cách đẹp, đồng thời giúp con người giữ chân mình trên mặt đất dù bước chân có thể chạm đến những đỉnh cao.

Tuy nhiên, nhìn lại không có nghĩa là dừng lại quá lâu trong quá khứ, đắm chìm trong những tiếc nuối hay đau buồn. Việc nhìn lại chỉ có ý nghĩa khi con người dùng nó như một tấm gương để phản chiếu bản thân, chứ không phải như một sợi dây trói buộc, kìm hãm khao khát cá nhân. Người biết nhìn lại đúng cách là người học từ quá khứ, trân trọng hiện tại và hướng tới tương lai. Đó mới chính là bản lĩnh của người không ngừng tiến lên.

Con người càng muốn tiến xa hơn thì càng nhất định phải biết nhìn lại chặng đường đã qua. Nhìn lại để rút kinh nghiệm từ sai lầm, để ghi nhận thành quả, để điều chỉnh hướng đi, và để sống trọn vẹn với lòng biết ơn. Cuộc đời là một hành trình dài, và mỗi bước tiến vững vàng đều cần sự soi sáng của quá khứ. Chỉ khi hiểu mình đã đi như thế nào, ta mới biết sẽ đi tiếp ra sao. Vì thế, hãy dành cho mình những khoảnh khắc lắng lại, để nhìn lại thật sâu, rồi bước tiếp thật xa.

Năm mới đến, nhìn lại mình trong năm cũ, mỉm cười hạnh phúc vì sự nhìn lại. Đó cũng là một dạng thức của sự trưởng thành.
Thêm
94
0
0
Viết trả lời...
Theo dòng chảy lịch sử văn học, hình tượng người phụ nữ đã trở thành một trường diễn ngôn vừa quen thuộc vừa phức tạp, nơi giao thoa giữa quyền lực xã hội, những chuẩn mực văn hóa và khát vọng cá nhân. Qua từng thời kỳ, văn học không chỉ phản ánh vị thế của người phụ nữ trong cấu trúc xã hội mà còn tái định hình cách họ được nhìn nhận, được kể lại và được cất tiếng nói. Theo từng bước dịch chuyển ở thời gian, vị trí, tầm vóc cùng những tâm tư cá nhân của người phụ nữ được khắc họa theo chiều dài biến động lịch sử. Bởi vậy, khi khảo sát các tác phẩm thuộc những bối cảnh khác nhau, ta dễ dàng nhận ra sự vận động không ngừng của diễn ngôn về hình tượng người phụ nữ: từ hình ảnh cam chịu, khuất lấp bên lề đến hình tượng chủ thể ý thức, biết chất vấn, phản biện và phản kháng. Chính sự chuyển dịch này cho thấy người phụ nữ có thể được hiện diện bằng tiếng nói của chính mình, dám phản kháng và đấu tranh cho nhân quyền của mình.

Người phụ nữ dù xuất hiện trong bất kỳ giai đoạn nào đều phải đối mặt với nhiều tầng áp lực xã hội: những chuẩn mực đạo đức khắt khe, những thiết chế gia đình – lễ giáo ràng buộc và những quan niệm cố hữu về giới đã lâu đời. Chính hoàn cảnh bị giới hạn quyền tự do, quyền lựa chọn và quyền lên tiếng khiến nhu cầu được sống đúng với bản ngã trở thành một khao khát mãnh liệt bên trong họ. Phản kháng, trong trường hợp ấy, không chỉ là hành động chống lại áp bức từ bên ngoài mà còn là nỗ lực tự giải phóng tâm hồn, tự khẳng định sự tồn tại có giá trị của mình. Văn học, với khả năng chạm sâu vào những vùng xúc cảm kín đáo, đã giúp người phụ nữ bộc lộ tiếng nói tiềm ẩn ấy: tiếng nói muốn yêu thương theo ý mình, muốn mơ ước, muốn bước ra khỏi bóng tối của sự cam chịu để trở thành chủ thể tự quyết. Vì vậy, khao khát được sống và được phản kháng của người phụ nữ là điều phi thường, đồng thời là quy luật tự nhiên của một con người bị dồn nén, hướng về tự do, phẩm giá và quyền được là chính mình. Chính sự trỗi dậy của ý thức đó đã tạo nên những hình tượng phụ nữ giàu sức sống và sức bật trong văn học, làm nổi bật quá trình tự thức tỉnh và đổi mới diễn ngôn về nữ giới qua các thời kỳ.

Trong Truyện Kiều, ý thức phản kháng xã hội của Thúy Kiều không chỉ thể hiện ở những hành động quyết liệt mà còn bộc lộ sâu sắc qua những lựa chọn đầy đau đớn nhưng giàu chủ ý của nàng. Kiều ý thức rất rõ về thân phận mong manh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, nơi “tài mệnh tương đố” và số phận nữ nhi bị chi phối bởi quyền lực đồng tiền, lễ giáo và thế lực nam quyền. Tuy vậy, chính trong hoàn cảnh bị dồn ép đến tận cùng, Kiều lại hiện lên như một con người không cam chịu. Việc nàng chủ động bán mình chuộc cha là hành động phản kháng đầu tiên - phản kháng không phải bằng chống đối bề ngoài, mà bằng sự lựa chọn vượt qua khuôn mẫu truyền thống: người phụ nữ dám hi sinh bản thân để giữ trọn đạo hiếu, đồng thời tự quyết định lấy số phận trong tay mình. Sau đó, dù bị vùi dập trong lầu xanh hay rơi vào tay bọn buôn người, Kiều vẫn luôn tìm cách khẳng định phẩm giá, chống lại sự tha hóa bằng nghị lực tinh thần mạnh mẽ. Nàng kiên quyết chống lại Tú Bà khi bị ép tiếp khách, quyết liệt tự vẫn để bảo vệ danh dự, và sau này dám cùng Từ Hải bước vào con đường báo ân báo oán - một hành vi thể hiện ý thức làm chủ cuộc đời hiếm thấy ở người phụ nữ thời phong kiến. Theo lề thói phong kiến, hình ảnh người đàn ông gắn liền với sự chủ động, quyết liệt. Hành động băng rừng khuya tìm Kim Trọng để kết duyên trong đêm trăng đã bước đầu cho thấy ý thức tự quyết định, phản kháng xã hội của Kiều. Tất cả những điều đó cho thấy Thúy Kiều không phải mẫu nhân vật cam chịu, mà là hình tượng phụ nữ mang ý thức phản kháng sâu sắc: phản kháng những bất công, phản kháng số phận và phản kháng sự áp đặt của xã hội phong kiến.

Thơ chữ Nôm của Hồ Xuân Hương được đánh giá là bản diễn ngôn đầu tiên về ý thức tự chủ của người phụ nữ. Trước hết, Hồ Xuân Hương dùng ngôn ngữ dân gian, hình ảnh đời thường và lối nói lửng gợi mở để phơi bày những bất công mà người phụ nữ phải chịu: bị xem như đối tượng phục tùng, bị ràng buộc bởi lễ giáo và bị tước đoạt quyền sống theo ý muốn. Trong bài “Bánh trôi nước”, hình tượng “rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” không chỉ cho thấy thân phận lênh đênh mà còn là lời tố cáo xã hội đã nhào nặn số phận phụ nữ theo ý mình. Ẩn sau đó là tiếng nói khẳng định phẩm giá. “Tấm lòng son” như một tuyên ngôn rằng dù bị xô đẩy, người phụ nữ vẫn giữ trọn giá trị và bản lĩnh. Ở “Tự tình 2”, nỗi cô đơn của người phụ nữ bị bỏ rơi trong lề thói hôn nhân cũng chuyển hóa thành tiếng oán trách lễ giáo: nhịp thơ dồn dập, những động từ mạnh như “đập vỡ” thể hiện khát vọng phá tung sự giam hãm vô hình. Đặc biệt, trong các bài thơ mang màu sắc trào phúng (“Đèo Ba Dội”, “Quả mít”, Cái quạt…), nữ sĩ sử dụng lối nói nhịu đầy ẩn dụ để chế giễu quan niệm khắt khe về trinh tiết, đồng thời đặt người phụ nữ vào vị trí chủ thể của ham muốn, của tiếng cười và của quyền được tận hưởng cuộc sống. Qua hệ thống hình tượng và giọng điệu độc đáo ấy, Hồ Xuân Hương đã xây dựng diễn ngôn phản kháng mạnh mẽ, cho thấy người phụ nữ không cam chịu số phận mà dám đối thoại, dám chất vấn và dám khẳng định bản ngã giữa xã hội phong kiến bất công.

Trong “Trà hoa nữ” (La Dame aux Camélias) của Alexandre Dumas, ý thức phản kháng của người phụ nữ được thể hiện sâu sắc qua hình tượng Marguerite Gautier - người kỹ nữ mang trái tim cao đẹp nhưng bị xã hội đương thời phủ định. Trước hết, sự phản kháng của Marguerite bắt đầu từ khát vọng sống đúng với tình yêu và nhân phẩm. Dù bị gán cho thân phận bị khinh miệt, nàng vẫn dám tin vào tình yêu thuần khiết dành cho Armand, dám mơ đến một cuộc đời khác, nơi người phụ nữ không bị đánh giá chỉ qua quá khứ hay địa vị xã hội. Việc quyết tâm rời bỏ lối sống xa hoa, từ chối những mối quan hệ vụ lợi để sống cùng Armand chính là hành vi tự khẳng định quyền lựa chọn hạnh phúc—một hành động đầy tính phản kháng với định kiến nam quyền và tầng lớp thượng lưu coi phụ nữ như món đồ tiêu khiển. Nàng lựa chọn hi sinh, nhưng không khuất phục: nàng chọn cách chịu đựng nỗi đau để bảo toàn thứ tình yêu mà xã hội không thể hiểu nổi. Chính hành động quyết định vận mệnh của bản thân thay vì để người đời phán xét, là minh chứng cho bản lĩnh phản kháng của người phụ nữ.

Trong bối cảnh diễn ngôn về người phụ nữ ngày càng được tôn vinh, vấn đề ý thức phản kháng của người phụ nữ trở thành một vấn đề đáng quan tâm. Phản kháng không chỉ được biểu hiện bằng hành động bứt phá khỏi những ràng buộc hữu hình mà còn hình thành từ sự tự nhận thức về bản thân, về quyền được sống, được yêu, được khẳng định giá trị, được giải phóng vẻ đẹp cá nhân.
Thêm
150
0
0
Viết trả lời...
“Hiện tại có thể giúp quá khứ không? Người sống có thể cứu người chết không?... Thông qua sự chạm trán dai dẳng với những khía cạnh đen tối nhất của nhân loại, tôi cảm thấy những tàn dư của niềm tin vào con người - vốn đã gãy đổ từ lâu trong tôi - nay vỡ vụn hoàn toàn” (Han Kang)

Chính trong khoảnh khắc tuyệt vọng của người nghệ sĩ phải trực giết đối đầu với cái ác, thứ bạo lực mà con người đang gieo rắc, đày đọa lẫn nhau, Han Kang đã biến mình thành kẻ bi quan trong nỗi đau của con người. Câu hỏi “Hiện tại có thể giúp quá khứ không? Người sống có thể cứu người chết không?” đã luôn trăn trở, giày vò và ám ảnh bà. Ranh giới dẫn niềm tin mong manh trong Han Kang đã dần vỡ vụn và đổ sập. Nhưng tôi là một mầm cây luôn tin vào nước và mặt trời, bởi niềm tin vào con người không hẳn là bi quan và đứt gãy.

Hiện tại có thể giúp quá khứ không? Quá khứ là thứ dĩ vãng đã trôi đi trong ký ức của con người và mãi mãi không thể trở lại. Nếu muốn níu giữ quá khứ chỉ còn cách hồi ức, hoài tưởng về những kỷ niệm đã cũ. Như vậy thì sợi dây giữa quá khứ và hiện tại không hề có điểm chung và con người hoàn toàn bất lực trước những sai lầm trong quá khứ. Tuy nhiên hiện tại vẫn có thể giúp quá khứ. Nếu một đứa trẻ từng chịu chấn thương tâm hồn, nó sẽ dùng cả cuộc đời để ấp iu, dỗ dành những vết thương đã lành miệng. Hiện tại là thứ chúng ta có thể thay đổi, là thứ chúng ta đang nắm trong bàn tay, bởi vậy chúng ta có thể dùng nó để thay đổi quá khứ. Cho dù không hẳn là thay đổi nhưng cũng có thể phần nào xóa mờ đi những ký ức buồn, học cách tự chữa lành những thương tổn. Hiện tại mở ra cơ hội để ta được sửa chữa những lỗi lầm trong quá khứ, cứu rỗi ta khỏi những đớn đau dằn vặt. Sau quá khứ, hiện tại như đoạn kết của bộ phim tuổi trẻ, cho phép ta được nhìn lại những năm tháng đã qua một cách bình thản.

Người sống có thể cứu người chết không? Câu hỏi này thật khó trả lời, bởi người chết rồi cũng là cát bụi. Tay ai giữ được bụi đời? Nhưng người chết luôn tồn tại trong kí ức của người sống, chỉ khi nào người sông quên đi thì người chết mới hóa thành cát bụi bay đi mãi mãi. Như vậy, người sống là hiện tại, người chết là quá khứ. Khi hiện tại cứu được quá khứ nghĩa là người sống có thể cứu được người chết. Điều tối thượng là người sống còn lưu giữ những kí ức về người đã đi qua, cho họ không gian được tưởng nhớ bên trong kí ức của mình. Có thể nói, người chết chưa bao giờ chết, họ vẫn sống trong kí ức của người ở lại. Bất cứ sinh linh nào ra đi cũng đều thật đáng thương, cho dù họ chỉ tồn tại mà không sống. Một mạng người ra đi cũng là khi một ngôi sao bay về với bầu trời. Mà ngôi sao nào bay lên thì cũng để lại dưới mặt đất những nỗi đau.
Thêm
133
0
0
Viết trả lời...
Nghệ sĩ nhân dân Tự Long từng nói: “đừng nói là giới trẻ ngày hôm nay không yêu truyền thống. Họ yêu nhiều lắm, yêu mãnh liệt lắm. Nhưng cách thể hiện của họ không giống như cha anh mình ngày xưa. Họ đã biết tiếp nhận những giá trị tinh hoa ở những dân tộc khác”. Người trẻ Việt Nam hôm nay chưa từng quên đi lịch sử dân tộc, vẫn luôn tồn tại dòng máu đỏ và trái tim vàng bên trong mỗi người như dáng hình lá cờ tổ quốc. Nhưng người trẻ hôm nay không thể hiện tình yêu bằng việc cầm súng vượt đèo như cha ông ta ngày xưa. Bởi vậy, Chu Lai từng có lần tâm sự: “Tình yêu mỗi thời một khác nhưng bao giờ cũng có một mẫu số chung. Cũng giống như lòng yêu nước của chúng tôi ngày xưa là vượt Trường Sơn còn lòng yêu nước của tuổi trẻ bây giờ sẽ khác nhưng mẫu số chung vẫn là như vậy”.

Việt Nam là một đất nước giàu truyền thống yêu nước. “Tình yêu” là sự yêu thương, tôn trọng, khao khát được hi sinh vì người mình yêu trên ý thức tự nguyện. Tình yêu ở đây chỉ tình yêu với đất nước, quê hương và dân tộc. Mẫu số chung là một kết quả hoặc mục đích hướng đến giống nhau. Có thể nói, “lòng yêu nước vượt Trường Sơn" là tình yêu nước thời chiến khi tình yêu được thể hiện trong việc sẵn sàng hi sinh, chiến đấu dẹp tan quân thù, bảo vệ nền hòa bình dân tộc. “Tuổi trẻ" là độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời con người, khi con người còn đủ trí tuệ, sức mạnh, lòng nhiệt huyết để sống và rực rỡ. Quan điểm của Chu Lai khẳng định bất kỳ thế hệ nào cũng đều mang nặng trong lòng tình yêu sâu đậm với tổ quốc. Dù cách thể hiện có khác nhau nhưng thời nào cũng hướng đến một mẫu số chung như vậy.

Người Việt Nam hôm nay luôn có lý do để giữ vững lòng yêu nước. Để có được thời bình hạnh phúc như ngày hôm nay phải trải qua một chu trình dài dựng nước và giữ nước. Trong chu trình đó, nhân dân Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều hiểm nguy, thách thức lớn: chuyển giao văn hoá, chuyển đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội hiện đại, chiến tranh. Bao người anh hùng đã ngã xuống để hôm nay đất nước đỏ thắm trong màu cờ tự do. Yêu nước là thể hiện lòng biết ơn, sự kế thừa và khao khát được sự xây đất nước phát triển của người trẻ. Không tiếp thu nền văn hóa nước mình thì sẽ không có khả năng tiếp thu thêm bất cứ nền văn hóa nào khác trên thế giới. Đó là lý do người trẻ hôm nay phải gắng gồng để bảo vệ tổ quốc, giữ giấy đất nước thêm giàu đẹp. Nếu không có lòng yêu nước thì mai sau sẽ phải dùng máu để đòi lại.

Tình yêu nước giữa thời chiến và thời bình luôn có sự khác biệt nhau. Tình yêu nước trong thời chiến là cầm súng để hi sinh, để chiến đấu. Những người anh hùng trong những cuộc chiến đều là những người nông dân, anh sinh viên tuổi đời còn trẻ, “cà phê chưa uống/ còn mê thả diều”. Nhưng chỉ cần tổ quốc gọi tên, anh sẵn sàng hy sinh chiến đấu để bảo vệ đất mẹ quê hương mình. Trong thời chiến, tư tưởng đào ngũ bị xem là sự hèn nhát và xúc phạm tột độ đến danh dự của con người Việt Nam. Do đó, tình yêu thời chiến gắn liền với bom đạn, hy sinh và cả những tượng đài Anh Hùng. Chúng ta không được phép quên những con người đã ngã xuống cho ngày hôm nay đứng lên như chị Võ Thị Sáu, anh Lý Tự Trọng, anh Kim Đồng, Anh Tô Vĩnh Diện,... Ngược lại với đó, tình yêu thời bình không phải là cầm súng chiến đấu mà là cầm bút để học tập, để đem trí khôn của bản thân cọ xát với Trí khôn nhân loại, đưa dân tộc sánh bước với các cường quốc năm châu như lời bác Hồ đã dặn. Biết sống hết mình, sống là chính mình là bổn phận của người trẻ trong xã hội ngày nay. Trong tư tưởng của hai thời kỳ khác nhau đã chứng kiến được hai mạch cảm xúc khác nhau.

Dù khác nhau như thế nào thì mỗi số chung mà dân tộc ta hướng đến ở mọi thời vẫn là bảo vệ và dựng xây tổ quốc. Chúng ta đã trải qua 4000 năm vất vả và gian lao để dựng nước và giữ nước. Do đó chúng ta không có bất cứ lý do nào để đánh mất tổ quốc vào tay quân giặc. Ngày hôm nay, khi đất nước đã Hòa Bình, chúng ta phải giữ gìn những gì đã được bảo vệ và tiếp tục dựng xây để trao truyền đất nước cho thế hệ mai sau. Người trẻ hôm nay biết ơn thế hệ đi trước và thế hệ đi trước trở thành hình mẫu cho thế hệ hôm nay. Giữa hai thế hệ luôn có sự kế thừa và bổ sung cho nhau. Trong bất kỳ giai đoạn nào, nhân dân Việt Nam đều khao khát được chiến đấu anh dũng, sẵn sàng đánh đổi tất cả để ngày mai Tổ quốc sáng lên trong bình minh.

Người Việt Nam chúng ta, dù theo cách nào, cũng cần phải luôn góp phần dựng xây Tổ quốc. Chúng ta cần có trách nhiệm, ý thức vè vai trò cá nhân của mình. Không phải vì chúng ta nhỏ bé giữa xã hội rộng lớn mà buông bỏ trách nhiệm của mình, phải luôn cố gắng tận hiến tận lực. Từ sự kế thừa những giá trị truyền thống của cha ông, người trẻ cần biết phát huy và sáng tạo theo một cách riêng. Chiến tranh không đáng sợ, chỉ sợ người trẻ quên mất đất nước.
Thêm
126
0
0
Viết trả lời...