Mạng xã hội Văn học trẻ

Nghệ thuật là sự vận động tự thân của ý thức xã hội trước đời sống hiện thực. Nó ra đời do nhu cầu phản ánh hiện thực, bày tỏ cảm quan cá nhân của người nghệ sĩ. Bởi vậy, văn chương nghệ thuật cũng phục vụ nhu cầu tinh thần của con người. ra đời vào giai đoạn 45 - 75, văn học cách mạng tồn tại như một thứ vũ khí chống chọi trước những xâm hại của cuộc kháng chiến, vực dậy khao khát chiến đấu của người chiến sĩ. đất nước vén màn hòa bình, sau bấy nhiêu năm, văn học cách mạng vẫn hào hùng như trang sử vàng son của dân tộc.

từ năm 1945 đến năm 1975, nhiều sự kiện lịch sử liên tục diễn ra, làm thay đổi cơ cấu xã hội và đời sống sinh hoạt của con người. 35 gắn liền với cuộc kháng chiến Đánh Pháp đuổi Nhật diệt Mỹ cũng kéo theo 30 năm văn học trở thành vũ khí, chỗ dựa của con người. Văn học giai đoạn này chủ yếu phục vụ kháng chiến, phơi bày bản chất thật của chiến tranh đồng thời kích thích tinh thần chiến đấu. do đó, những khía cạnh riêng tư, những cảm xúc cá nhân ít được thể hiện, thay vào đó tính cộng đồng được đề cao, tôn vinh hình ảnh người chiến sĩ được lý tưởng hóa.

Giai đoạn đầu tiên trong phong trào văn học cách mạng bắt đầu từ năm 1945 đến năm 1954. Sau cách mạng tháng tám chấm dứt hơn 80 năm dưới ách thống trị, Đảng và Nhà nước dân chủ ra đời, đề ra nhiều đường lối chính trị và xã hội. Do đó, nhu cầu khẳng định chủ quyền, đề cao tiếng nói tập thể càng được chú trọng. Hình ảnh đất nước buổi đầu thành hình, người anh hùng, cuộc kháng chiến của những tâm tư của người cầm bút được phản ánh như những đề tài chính. Có lẽ bởi vậy mà đây là thời kỳ hoàng kim của văn học Việt Nam. Đây là giai đoạn thơ ca phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa, đề ca tiếng nói nội tâm cá nhân trên nền xã hội nhân văn nói chung. Một số nhà thơ tiêu biểu trong giai đoạn này phải kể đến là Nguyễn Khoa Điềm, Nguyên Ngọc, Tố Hữu,...

Giai đoạn thứ hai trong văn học cách mạng bắt đầu từ năm 1955 đến năm 1975. Đây là thời điểm đất nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy đau thương và anh dũng. Bối cảnh hiện thực trở thành phông nền và xuất hiện như một đề tài chính trong thơ văn. Văn học nghệ thuật chịu sự lãnh đạo tư tưởng từ Đảng và Nhà nước. Do đó tiếng nói cá nhân hay những xúc cảm riêng tư ủy mị bị đẩy lùi lại phía sau. Những tác phẩm đề cao cảm xúc yêu đương nam nữ hay phản ánh cái chết trở thành tác phẩm mang tư tưởng không hợp thời, bị lãng quên mãi cho đến khi nhân dân thời hậu chiến chứng tỏ được giá trị của nó. Con người trong thơ văn cách mạng là con người được sử thi hóa, thấm đẫm tư tưởng cộng đồng, đôi khi được phóng đại hoặc lý tưởng hóa. Đó là khuynh hướng sử thi tôn cao tầm vóc người chiến sĩ - người anh hùng hi sinh vì chính nghĩa.

Nền văn học Việt Nam sau cách mạng Tháng tám đến năm 1975 mang những dấu ấn của một thời chiến tranh oanh liệt, trang sử rọi dấu vàng son của đất nước Việt Nam. Trong giai đoạn này, mỗi nhà văn đều là một chiến sĩ, mỗi người dân đều có thể là một nhà văn tạo nên một mô hình mang tính xuyên suốt. Có thể thấy rõ đặc trưng này khác biệt hoàn toàn với văn học trung đại, khi tầng lớp tiếp nhận bị bó hẹp trong một trình độ nhất định, chỉ có bậc tao nhân mặc khách mới đủ trí tuệ để tiếp cận nghệ thuật. Khuynh hướng tư tưởng chủ đạo chính là tư tưởng cách mạng, phục vụ cho mục đích kháng chiến. Cảm hứng lãng mạn và tư tưởng sử thi hòa quyện đầy tính nhân văn - người cầm bút vừa có thể là thi sĩ vừa có thể là chiến sĩ. Người anh hùng có thể mang dáng dấp các vị anh hùng nhưng vẫn mang nặng nỗi đời nỗi người. Đối tượng của văn học cách mạng hướng đến là toàn thể đồng bào công chúng. Giai đoạn 45 - 75 là giai đoạn văn học Việt Nam có nhiều bước phát triển vượt bậc, mang đặc trưng và dấu ấn riêng.

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều từng kể một câu chuyện về những người lính cắm chốt ở đùi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngay khi ý thức được mình đang chạm tới ranh giới giữa sinh và tử, những người lính không còn khát cầu phương thức tự vệ hay sự hỗ trợ về vật chất mà chỉ dõng dạc trả lời: “Chúng tôi cần thơ Phạm Tiến Duật”. Đời cần Thơ như cần hồn chiến trận. Thơ là cuộc cách mạng lớn mà người cầm bút như một người chiến sĩ, vừa thay đổi thơ vừa thay đổi đời. 30 năm xã hội Việt Nam chứng kiến nhiều chuyển biến mới trong công cuộc dựng nước và giữ nước, kéo theo đó là 35 vàng son của văn học cách mạng Việt Nam.
Thêm
86
0
0
Viết trả lời...
Liệu em có đến cùng mùa thu không, khi những cơn gió đầu mùa nhè nhẹ thổi? Khi những cánh hoa dại miên man tan theo gió? Khi hương hoa sữa bắt đầu làm cay mũi em? Trung thu này, chúng ta không còn lớn nữa, nhưng đã đủ để hoài niệm lại mùa trăng tròn năm xưa.

Hồi ấy, phố thị xô bồ quá, mẹ cho tôi về quê sống với bà ngoại. Trung thu ở quê mộc mạc có gì cầu kỳ đâu. Mấy đứa trẻ con trong xóm tíu tít đêm nào cũng trốn bố mẹ ra gốc vườn ngắm trăng với nhau. Các cô trong xóm thương lũ trẻ nghèo năm nào cũng ngóng trăng tròn lên. Trung thu này, thôi thì làm một bữa cỗ bé bé cho lũ trẻ phá cỗ. Ăn cơm xong, thế là chạy tụt ra ngõ, chẳng kịp rửa cái miệng tèm lem cá mắm. Chúng nó tụ lại nơi nhà văn hóa xóm. Cái đèn ông sao giấy bọc đỏ làm tàng tàng đứng ở góc trang trọng nhất, làm lũ trẻ cứ cười khành khạch. Mâm cỗ bằng những trái bưởi bòng vỏ xanh, trái cam tròn lẳn, những gói kẹo rẻ tiền nhưng lại là niềm vui tuổi thơ không dễ đánh đổi của đám trẻ. Con Bí cứ hụ hị ôm chặt quả dưa hấu khắc mà tranh giành với thằng Bi. Mấy anh chị giả làm chú Cuội chị Hằng đến phát quà cho lũ trẻ con.

Tôi không còn bé để thích thú với những giấc mơ ngây dại ấy nữa, chỉ đứng một góc trông đám trẻ mà cười thầm trong lòng. Chị Thao, cô chị nhà bên dịu dàng ngồi bên cạnh tôi. Chúng tôi chơi cùng nhau và thân lúc nào không biết. Chiều nào tôi chẳng tuốt sang nhà chị xem chị cho gà, cho bò ăn rồi leo lên đồi hóng gió, như chị em một nhà. Hai đứa im lặng ngửa mặt lên ánh trăng đêm, không ai nói một lời nào. Khung cảnh lúc ấy kì lạ và có chút lãng mạn. Chị cầm bàn tay tròn tròn của tôi, bàn tay chị xương xương thương quá. Chị bảo Sóc lại đây với chị. Chị quàng tay qua vai tôi, mắt long lanh “Đón Trung thu cuối cùng với mấy đứa thôi, ngày kia chị lên thành phố rồi, chả biết bao giờ mới về”. Tôi tưởng chị đùa, chị bảo chị thương bà ngoại lắm mà, sao chị lại bỏ bà mà đi. Mắt chị càng ươn ướt, chị thương bà lắm nhưng bố mẹ chị làm ăn khá giả, không cho chị ở đây nữa em à. Chị lên thành phố kiếm cái chữ. Lúc ấy, chẳng muốn nghĩ gì nhiều, tôi nhào vào lòng chị, hai tay ôm lấy cổ chị.

Ngày hôm sau, chỉ còn một ngày nữa, bố mẹ chị Thao sẽ đón chị lên Thành phố. Sáng hôm ấy, tôi rủ chị lên đồi, để chẳng làm gì cả. Hai chị em im lặng thế mà ngắm đồi, ngắm gió, lòng vẫn bâng khuâng một nỗi gì khó tả. Xế trưa, chị em tôi lại kéo nhau về nhà, chẳng nói với nhau một câu nào. Nói cũng thế thôi.

Thế là chị Thao lên thành phố thật rồi. Chỉ còn mình tôi và lũ trẻ ở lại hoài mong về cái ánh sáng lòa của thành phố.

Ba năm sau, chị Thao theo bố mẹ về thăm bà nội. Ôi! Còn đâu cái vẻ dịu hiền đằm thắm của cô con gái quê ngày xưa nữa. Chị ăn mặc điệu đà hơn, ánh mắt kiêu kỳ khó gần. Xe chị dừng ở đầu cửa nhà bà nội, tôi chạy ra muốn chào chị một tiếng. Chị hờ hững nhìn tôi như người lạ, dừng mắt vài giây rồi quay bước vào nhà. Thế là chị quên tôi rồi. Lũ trẻ trong xóm ghé lại rủ chị ra đồng chơi, nhưng chị chẳng muốn đáp, vẫy vẫy tay phẩy chúng tôi ra ngoài. Từ sau lần ấy, chị chẳng về quê nữa. Chị Thao của ngày trước và chị Thao bây giờ như hai con người trái ngược nhau, dù vẫn là cái tên ấy, nét mặt ấy, hình hài dáng vóc ấy. Ba năm trên thành phố thế mà thay đổi chị đến không ngờ. Vài năm nữa thôi, bố mẹ tôi cũng sẽ đón tôi lên thành phố. Tôi - chị - chúng ta, phải chăng tất cả chúng ta đều không thoát nổi cái cám dỗ khó cưỡng ấy của phố thị để trở thành người vô cảm?
Thêm
212
0
0
Viết trả lời...
Hóa ra, giữa cõi đời hỗn tạp này, tình thương mới là thứ xa xỉ nhất.

Đã lâu lắm, tôi không còn nhìn thấy nụ cười của những người cô bác trong họ hàng. Ông nội mất giữa một ngày giá rét, sau tết chỉ tầm dăm hôm. Hôm ấy, các cô bác tụ họp đông đủ trong nhà để nhìn ông lần cuối. Sau đám tang, họ bắt đầu bàn chuyện chia gia tài của ông để lại. Bác hai đòi căn nhà chính, cô tư đòi mảnh đất sau vườn. Mọi chuyện nhốn nháo, chỉ vì gia tài mà anh em ruột cũng có thể ngoảnh mặt lại với nhau. Mẹ tôi ôm tôi vào lòng, che mắt tôi trước cuộc cãi cọ ngày càng kịch liệt của các cô bác. Hai năm nay, chỉ đến ngày đám giỗ ông bà nội mới thấy đủ mặt. Mỗi người một phương, lấy danh nghĩa “bận” để che đi cái uất ức còn chưa nguôi của ngày chia gia sản. Một mảnh đất đánh đổi lấy tình người - liệu có đáng?

Năm nay, tôi đã lớn, quay trở về nhà ăn đám giỗ với tấm áo sinh viên. Lại là những gương mặt ấy, chỉ khác là họ già đi nhiều quá. Những gương mặt hom hom, gầy gầy, mái tóc điểm bạc gợi cho tôi nhớ đến ông bà năm xưa. Giờ thì họ không còn đủ sức để đấu đá, tranh giành hay cãi cọ nhau nữa rồi. Đời mà, đến một lúc nào đó không thể tranh giành được nữa thì đành phải buông những tranh giành mà thôi. Ngày hôm ấy, những câu chuyện về tiền bạc được cất lẹm đi, mọi người kể cho nhau nghe những buồn vui mưu sinh, những câu chuyện về thuở bé, cái ngày thời “bao cấp” ấy. Những ngày xưa ấy có lẽ giờ đã xa lắm rồi, chẳng còn quay lại được nữa, nhưng điều duy nhất khiến người ta nuối tiếc lại là tình cảm, sự đùm bọc của những con người ngày xưa. Đã lâu lắm, tôi mới thấy một nụ cười nhẹ nhõm hiện lên gương mặt họ, khi một câu chuyện cũ được khơi mở ra.

Cuộc đời này vô thường, nay sống mai đã trôi thành hạt cát dĩ vãng, chẳng ai nói trước điều gì. Vì một đồng bạc lạnh mà quay lưng với nhau, từ chối cả hai tiếng “tình người” và quên cả những ngày khốn khó bên nhau - liệu có để lại gì? Tay ai giữ được khói trời? Tay ai đem theo được hư vinh thuở còn sống về với mặt đất đâu? Đấu đá tranh giành, đến lúc dừng lại thôi.
Thêm
114
0
0
Viết trả lời...
Tôi là ngọn lửa. Ngọn lửa là hình ảnh biểu tượng của tất cả những gì đẹp đẽ nhất, rực rỡ và chói lòa, là khi con người thực sự đốt cháy chính mình để sống với đam mê, ước mơ. Ngọn lửa có thể rực sáng trong mọi giai đoạn và thời điểm, nhưng thường chói sáng mạnh mẽ nhất là khi con người còn trẻ, dám khát khao, dám hoài bão và dám SỐNG. Cảm giác được đắm mình trong ngọn lửa ấy là một cảm giác xa xỉ của tuổi trẻ, bởi không phải ai cũng rực rỡ hết mình, rút cạn tinh lực cho một lần cháy. Thực chất, mỗi chúng ta đều là một tia lửa được đời thắp sáng, nhưng quyết định “sáng” hay không đều là do chúng ta. Được tỏa sáng là cơ hội để ta được sống hết mình với niềm khao khát cá nhân. Ngọn lửa sẽ trở thành động cơ, động lực thúc đẩy chúng ta hướng về phía trước. Thời gian không còn nhiều, không dám cháy lên thì sẽ có một ngày ôm mộng mà nuối tiếc. Bởi vậy, NGỌN LỬA là minh chứng cho tất cả những gì rực rỡ nhất mà người ta luôn khát khao. Điều quan trọng khiến người ta không dám cháy lên chính là bởi họ sợ mình sẽ trở thành tro tàn. Nhưng có ai hiểu được rằng “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm” (Xuân Diệu). Tôi là ngọn lửa, cháy hết mình với không gian và thời gian để đem lại ánh sáng cho đời. Một ngày mai, khi ánh sáng vụt tắt, tôi sẽ trở lại là tro tàn u tối.

Tôi là tro tàn. Tro tàn là hình ảnh biểu tượng của sự tàn lụi, kết thúc, khi tất cả những gì đẹp đẽ nhất đã đi vào quên lãng, chỉ còn lại quá khứ đầy tiếc nuối. Tro tàn chỉ trồi lên khi ngọn lửa nhiệt huyết đã vụt tắt, đem theo ký ức của cả một thời đẹp đẽ trôi vào dĩ vãng. Người ta ghét tro tàn, nhưng đâu biết ý nghĩa của nó lớn như thế. Tro tàn là cách ta hoài niệm, nhung nhớ quá khứ, để ta không bội nghĩa với quá khứ đã làm nên mình, để ta biết yêu sự rực rỡ. Hình ảnh của nó cho ta biết rằng đã đến lúc mình cần phải nghỉ ngơi rồi. Đôi khi, tro tàn không phải là kết thúc mãi mãi. Chỉ còn một đốm lửa còn le lói, lửa sáng sẽ lại phực lên. Kết thúc - tro tàn khiến ta biết chấp nhận lẽ vô thường ở đời. Cảm giác được là tro tàn hoài niệm về những ngày mình đã rút cạn tinh lực rất huy hoàng, cho phép ta được tự hào về chính mình. Đôi khi, cái kết thúc u tàn lại khiến người ta khao khát được “cháy” một lần nữa, chỉ cần trong phút chốc. Tôi là tro tàn, là sự kết thúc điêu linh của tất cả những gì rực rỡ nhất.

“Tôi là tro tàn của thời đại, là ngọn lửa của tương lai”. Chúng ta đều là hiện thân của những gì còn sót lại trong quá khứ. Con người hôm nay ảnh hưởng bởi con người hôm trước những phong tục tập quán, lề lối sống và quan niệm sống. Những quan điểm của thời đại trước đã ảnh hưởng và chi phối chúng ta. Dẫu rằng, thời kỳ truyền thống bắt đầu phai nhạt, mở đầu cho kỉ nguyên vươn mình rộng mở nhưng chúng ta vẫn là hiện thân của một quá khứ xưa cũ, là dấu ấn cho một thời kỳ đẹp đẽ đã trôi vào dĩ vãng. Nhưng chúng ta, cũng là ngọn lửa của ngày mai. Chúng ta đang sống vì lẽ sống của hiện tại. Tất cả những gì ta đang làm đều thắp sáng hy vọng cho tương lai, khởi nguyên của những ngày sau cho hậu thế. Con người sống trong tổng hòa các không thời gian. Do đó, họ vừa là tro tàn của quá khứ, vừa là đốm lửa của tương lai. Tro tàn, hay đốm lửa, quan trọng là ta đã từng “cháy”.
Thêm
341
0
0
Viết trả lời...
Từ năm 1975 đến nay, văn học Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới, phát triển theo bước đi của xã hội hiện đại. Thời đại mới, con người mới cũng kéo theo những đặc trưng rất khác trong các tác phẩm ở thời kỳ này. Văn học hiện đại cho phép con người được thể hiện cá tính riêng một cách rõ ràng, có sự phân hóa và phân biệt giọng văn, tạo không gian để những cá tính riêng được bộc lộ.

Văn học hiện đại vận động theo hướng dân chủ hóa. Xã hội bước vào thời kỳ xã hội chủ nghĩa, tập trung vào dân quyền và tính dân chủ của con người. Do đó, tính dân chủ cũng trở thành xu hướng vận động bao trùm trong văn học. Tiếng nói cá nhân được bộc lộ rõ nét hơn, phơi bày được những góc khuất của xã hội và dám đấu tranh vì quyền lợi của mỗi cá nhân. Dân chủ hóa đã thấm sâu vào tư tưởng của con người, đi sâu vào từng cấp độ văn học, từ đó nhìn thẳng vào sự thật. Trước đây, nếu văn học cách mạng chỉ tập trung phục vụ kháng chiến và những mục đích lớn lao của dân tộc thì văn học hiện đại lại quan tâm hơn đến những cảm xúc cá nhân của con người, đôi khi mang phần ủy mị. Trong một nền văn học hướng tới tinh thần dân chủ, đòi hỏi và có thể thừa nhận tư tưởng riêng, tư tưởng của nhà văn phải thấm đẫm tư tưởng nhân văn và hòa chung vào với tư tưởng của loài người. Tính dân chủ trong văn chương thể hiện ở khả năng người cầm bút có thể tự do lựa chọn chủ đề, đề tài, những khía cạnh biểu hiện và thế giới hình tượng. Song song với đó, mối quan hệ đa chiều giữa người viết và người đọc cũng bộc lộ rõ tính dân chủ.

Văn học hiện đại giai đoạn này thể hiện rõ ý thức cá nhân bao trùm trên cơ sở tinh thần nhân bản. Người nghệ sĩ giai đoạn này hiểu rõ trách nhiệm của mình trong việc phản ánh thế giới, nhìn thẳng vào những góc u tối và trần trụi của xã hội đương thời. Nghệ sĩ chân chính là người dám đối diện với hiện thực, dám phơi bày bản chất xã hội, không dừng lại trước cái ác và những thế lực đen tối. Dừng lại hay quy hàng trước mọi thế lực thì cũng chỉ là những nhà văn “máu cá” như Nguyễn Minh Châu đã phê bình. Trên cơ sở của tinh thần nhân bản, mọi tác phẩm văn học đều phải hướng tới ý nghĩa, góp phần xây dựng con người, làm đầy phần con bên trong mỗi người.

Đặc biệt, văn học giai đoạn năm 75 đến nay phát triển rất phong phú, đa dạng, hướng tới tính hiện đại. Ở thời kỳ hậu chiến, những mối quan hệ được mở rộng, con người có nhiều vấn đề suy tư và lo lắng. Khi đó, mỗi bận tâm không phải chỉ là mục đích chung của toàn dân tộc mà còn là những xúc cảm rất riêng tư của mỗi con người. Đôi lúc chỉ là “một ánh mắt”, “một cơn giận”, một tháng ngập ngừng trong cái bắt tay cũng có thể trở thành đề tài được văn học quan tâm phản ánh.

Văn học 75 - nay là nền văn học sau thời kỳ chiến tranh, gắn liền với cuộc sống hiện đại. Do đó mà những tính chất của văn học thời kỳ này cũng phát triển mạnh mẽ theo hướng hiện đại, tập trung vào những suy nghĩ cá nhân của con người trong thời kỳ hiện đại. Con người bắt đầu có cái tôi, có suy nghĩ mạnh mẽ và hơn hết là dám đấu tranh cho chính mình.
Thêm
110
0
0
Viết trả lời...
“Nghệ thuật, văn chương trao cho ta hình ảnh về một kẻ lạ, nhưng mời gọi ta cùng nghĩ về kẻ ấy, từ đó mà nhận ra nhiều điều khác bấy lâu đóng kín nhận thức hay cảm xúc của chúng ta về con người” (TS Trần Ngọc Hiếu).

Sống trong thế giới đa dạng của văn học cũng đồng nghĩa với việc sống trong thế giới đa dạng của con người và cuộc đời. Khi con người trở thành đối tượng trung tâm được phản ánh, là điểm tựa cho văn chương, nhà văn phải mang một nỗ lực nhập thân, hòa vào thế giới nội tâm con người để phản ánh những chiều kích nội tâm gai góc nhất. Càng đi sâu vào thế giới đó, ta càng hiểu rằng thế giới nội tâm con người là một thế giới vô cùng phức tạp. Việc đối diện với những khía cạnh phức tạp đó là chiều kích gai góc nhất trong văn chương, đòi hỏi khả năng thấu hiểu của người cầm bút.

Lấy con người làm đối tượng trung tâm, văn chương có một điểm tựa nhìn ra thế giới. Mọi mối quan hệ đều được xây dựng xung quanh con người với mục đích phản ánh nội tâm con người. Trước mọi biến cố của thời thế, chân dung loài người lại được phác họa một cách rõ ràng nhất. Nhà văn viết về con người như một cách tái hiện thế giới, mở rộng góc nhìn toàn cảnh về thế giới xung quanh chúng ta. Vũ Trọng Phụng viết về Xuân Tóc Đỏ, ông Văn Minh, bà Phó Đoan hay tất cả những nhân vật khác của tầng lớp Thượng Lưu rởm đời chỉ với mục đích tái hiện cái xã hội đương thời Văn Minh Tân Tiến theo một cách nhố nhăng, giả tạo, lố bịch và đầy màu mè. Andrea Hirata phản ánh hình ảnh 11 “chiến binh cầu vồng” đầy kiên cường, bản lĩnh nhưng mục đích lớn nhất vẫn là phê phán tầng lớp tư sản Mã Lai đã chà đạp lên nhân quyền cơ bản của con người: quyền được đi học.

Phản ánh thế giới nội tâm con người là một cách để thay đổi thế giới, cải thiện hoàn cảnh. “Văn chương có đủ sức sửa sang việc đời thì mới đáng lưu truyền ở đời” (Ngô Thế Vinh). Khi văn học phản ánh được những chiều sâu trần trụi nhất, con người có cơ hội được nhìn lại mình một cách bình thản, dám đối diện với phần “con” vốn dĩ luôn le lói bên trong mình, dám hướng thiện đến một vùng trời nhân bản hơn. Văn chương là tấm gương tái hiện chân dung con người nhưng không phải là sự tái hiện một cách vật lý, mà luôn thấm đẫm tư tưởng nhân văn.

Nhìn ra “điểm mù” trong thế giới nội tâm cũng là một cách để nhà văn nói thay cho tiếng nói cá nhân của con người. khi những âm thanh bị làm cho câm bặt đi, con người chỉ có một cách cầu cứu duy nhất chính là qua sự phản chiếu các mối quan hệ xã hội. Thường thì những lời cầu cứu đó sẽ bị ém nhẹm đi, chỉ có văn chương là đủ sức để phơi trần tiếng nói đó. Thời đại nào cũng luôn cần một người dẫn đầu dám nhìn thẳng, dám nói thẳng, dám đấu tranh cho quyền sống và quyền được sống. Những nếm trải tinh thần vô hình ấy dường như đã trở thành một mặt trong chân dung tâm hồn con người, đòi hỏi người nghệ sĩ chân chính và có sự tinh tế trong việc nhìn nhận và phản ánh nó.
Thêm
117
0
0
Viết trả lời...
Văn chương không phải trò chơi nhã thú để tiêu khiển, mà là một cuộc vật lộn với ngôn ngữ. Bất kỳ tác phẩm nào dù sinh ra trong hoàn cảnh lịch sử nào, phản ánh đối tượng gì thì đều mang một tầng nghĩa sâu xa hơn là những gì ngôn từ biểu hiện. Đó chính là nguyên lý "tảng băng trôi" trong văn chương. Mọi nhà văn đều muốn viết một điều gì đó lớn lao hơn để nói về một hiện thực sâu xa hơn của xã hội. Khởi nguyên của văn học chỉ là hạt cát, nhưng nó phản ánh cả đại dương. Điều quan trọng khi tiếp nhận một tác phẩm chính là người đọc phải phát hiện những tầng nghĩa sâu xa ẩn giấu dưới những điều bình thường được nhà văn phản ánh.
Khả năng biểu hiện của văn chương trước hết xuất phát từ quá trình sáng tạo của tác giả. Nhà văn cần hiểu rõ điều mình cần phản ánh, điều muốn nói với xã hội để từ đó tìm ra phương thức biểu đạt hợp lý. Vũ Trọng Phụng, khi viết về cái đói có khả năng thú hóa con người, khiến người ta quên đi nhân tính, chỉ còn nghĩ đến cái ăn cái mặc của bản thân, đã viết về gia đình bác đánh giậm phải nuôi bà cô trong cơn hoạn nạn. Trước đây, vì đã nhiều lần ngửa tay nhận đồng tiền cứu giúp, bác đánh giậm đành ghìm lòng nuôi cô lúc về già. Cho đến một ngày, thú tính bên trong vợ bác sai khiến bác quên đi cả cái ơn ngày xưa, để xác bà lão lòa trơ trọi trên triền đê. Sự lí giải rõ về dụng ý trong văn chương làm “nghèo” hóa sự tiếp nhận, bó hẹp người đọc trong một phạm vi cảm nhận. Khi đó, phương thức biểu hiện của văn chương gói gọn trong tầm hiểu biết của người nghệ sĩ.
“Tôi viết để tìm kiếm sự cứu rỗi, nhưng mỗi từ ngữ lại đẩy tôi xa hơn khỏi sự bình yên” (Han Kang). Viết là hành trình du ngoạn cùng những chóng mặt và băn khoăn, đem những tư tưởng chắc chắn đổi lấy những hoài nghi về cuộc đời. Phương thức biểu hiện của văn chương tùy thuộc vào miền hiện thực được phản ánh, cũng đồng thời tùy thuộc vào cách tiếp nhận của người đọc. Nhưng dẫu sao, nhà văn luôn phải trong tư thế sẵn sàng thay đổi, sẵn sàng đánh đổi cảm quan cá nhân để hòa nhịp trong cảm quan chung của độc giả.
Điều đó cũng luôn đòi hỏi ở người tiếp nhận nhiều yêu cầu rất khắt khe. Đọc văn để giải trí sẽ nghiệm được những giá trị về giải trí, đọc để cảm về thế giới lại là một hành trình khác. Đọc “Chí Phèo” của Nam Cao – tác phẩm kinh điển của văn học hiện thực Việt Nam, ta thấy gì khác ngoài một thằng Chí nát rượu chỉ biết rạch mặt ăn vạ, trở thành con quỷ dữ làm đổ máu và nước mắt của dân làng Vũ Đại? Nhưng chính người đọc đã đặt “Chí Phèo” ở một tầm cao mới, để người ta hiểu rằng: Chính cái thằng Chí chỉ biết say ấy lại là kẻ tỉnh nhất, là kẻ dám đấu tranh cho quyền sống, dám nói lên tiếng nói của bọn dân hèn dễ bị làm câm tiếng.
Thêm
72
0
0
Viết trả lời...
Đời người ai cũng phải trải qua những đớn đau nhất định như một lẽ tất yếu. Hiểu và cảm được nỗi đau là chuyện đơn giản, nhưng tự chữa lành trước nỗi đau mới là điều khó khăn. Văn chương đem lại khả năng tự chữa lành, giúp con người có thể tái tạo cảm xúc sau những lần đổ vỡ. Bản chất của văn học thực ra vẫn luôn là nỗi đau giẫy giụa bên trong người nghệ sĩ, nhưng anh ta chọn thoát ra khỏi nó để chữa lành mình, để chữa lành cho một cộng đồng niềm tin đang tin tưởng vào tác phẩm của anh ta. Chính từ nỗi đau lại khiến người ta muốn được bứt thoát khỏi nó, để khẳng định tiếng nói cá nhân của mình.

Giữa dòng chảy văn học ngày càng mở rộng bởi in ấn, xuất bản, hiện nay nhiều bạn trẻ đang tham gia vào thị trường chữ, dùng trái tim để cất lên tiếng yêu đời, đó là một dấu hiệu đáng mừng cho văn học nghệ thuật. Chính những bạn trẻ ấy là những hạt mầm bé nhỏ mang theo nỗi đua, sâu bên trong ai cũng là một vết sẹo, chỉ là họ che giấu nó đi. Ngôn từ vốn có khả năng chữa lành, viết ra như một sự tự thú, tự bạch. Viết văn không phải là sự xủng xoẻng trong câu từ hoa mỹ, mà là khi dáng hình con người được bộc lộ một cách rõ nét nhất. Văn chương tồn tại trong bản sắc con người, không ngừng cho ta thấy thế giới nội tâm con người là một thế giới khó nắm bắt. Bởi vậy, khi tiếp xúc với tác phẩm, mỗi người có một cách tự chữa lành khác nhau. Đọc văn Thạch Lam, cảnh sắc thiên nhiên, con người nơi làng quê, phố huyện nghèo cho ta cảm giác thanh bình như đưa ru, như một cách hòa điệu trong những vẻ đẹp rất đỗi mộc mạc của thiên nhiên. Văn chương Vũ Trọng Phụng trần trụi, toàn những thứ chó đểu, khốn nạn nhưng sâu bên trong đó ta an ủi mình rằng: Đời mà…! Thực chất, cảm giác được tự chữa lành đó là sự hưng phấn khi tiếp nhận một tác phẩm. Điều kỳ diệu của văn học chính là nó có khả năng tác động đến đời sống tâm hồn con người. Từ những con chữ trên trang sách, chính người đọc sẽ biến nó trở thành một sinh thể trong cuộc đời thực. Cảm giác Tự chữa lành được tạo ra khi người đọc tiếp nhận một tác phẩm, tìm thấy mình trong những trang sách đó và tự an ủi những nỗi đau của chính mình. Đôi khi, qua câu chữ, nhà văn lại là người làm bật lên những cảm xúc cá nhân để có thể chìm sâu vào những nỗi đau của tha nhân. Đọc những trang văn trần trụi của Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan,... để tự an ủi mình với những nỗi đau trong đời - đó không phải tự chữa lành thì là gì?
Thêm
114
0
0
Viết trả lời...
Khởi sinh từ chính cuộc sống hiện thực vốn rất nhiều biến động, văn chương phải luôn giữ được những giá trị căn cốt trong sự vận động sáng tạo theo thời gian. Văn chương thời nào cũng như vậy thôi, đặc trưng thì khác biệt nhau nhưng đều hướng đến một đích đến cuối cùng: cất lên tiếng nói con người. Âm thanh con người trong cuộc đời thực đôi khi bị vặn nhỏ tiếng, hoặc vì đồng bạc lạnh mà câm lặng hẳn đi. Khi đó, văn chương là sự cất lời cuối cùng cho tất cả những nỗi đau, cứu chuộc những phần "người" ít nhất còn đang thoi thóp. Văn chương phải đủ sức làm việc người thì mới đáng được tồn tại trên đời. Thứ văn chỉ than mây khóc gió hay là sự trá hình của thứ lý thuyết siêu hình cuối cùng cũng chỉ trôi dạt theo dòng xoáy văn chương ngày càng cuồn cuộn.

Văn chương đánh đổi những nỗi đau của tha nhân bằng vết nứt trong tâm hồn văn nhân. Han Kang - nữ nhà văn Hàn Quốc đầu tiên đạt giải Nobel viết rằng: "Tôi viết để tìm kiếm sự cứu rỗi, nhưng mỗi từ ngữ lại đẩy tôi xa hơn khỏi sự bình yên". Vốn dĩ văn chương không phải là thú vui tao nhã để tiêu khiển hay giải trí. Nếu đọc văn trên tinh thần giải trí thì cuối cùng cũng chỉ nhận về những giá trị "giải trí". Chỉ khi đọc văn trong tâm thế cảm niệm với từng câu chữ, ta mới thực sự nhận ra văn chương là một hố sâu không đáy của tư tưởng nội dung. Nhà văn là người chủ trương lý thuyết, chứng kiến nỗi đau của tha nhân bằng nỗi đau của chính mình nhưng không thể trực diện cứu vớt nỗi đau đó. Chính tác phẩm của họ mới có khả năng làm điều đó. Những dòng văn lạnh lùng của Nam Cao khởi sinh từ nỗi đau của anh canh điền Chí Phèo "một thời lương thiện". Anh đã từng mơ "có một gia đình nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải", nhưng chính cái xã hội Thực dân nửa phong kiến khốn nạn đã đập tan tành cái giấc mơ nhỏ nhoi ấy, biến hắn thành thằng Chí chỉ quen rạch mặt ăn vạ. "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam nhẹ nhàng tựa một áng thơ phiêu du giữa đời trần, giữa quang cảnh của phố huyện nghèo ngày đêm mong mỏi một sự khá khẩm hơn. Nỗi đau trong Liên và An không cay đắng, cào xé mà chỉ âm ỉ, âm ỉ trong nỗi nhớ, âm ỉ trong nỗi đau. Nỗi đau với Liên vốn đã quen thuộc, đến mức cô xem đó là một cảm giác rất đỗi bình thường.

Những nỗi đau của con người méo mó muôn hình trạng. Đó là nỗi đau của nhân tính, nỗi đau của tình người, nỗi đau trước thời thế, nỗi đau giữa cái cảnh nghèo không thể thoát ra. Phản ánh nỗi đau là một cách mô tả chân dung những biến động trong lòng người, nhưng không vì thế mà văn học ngoảnh mặt lại với cái đẹp mang tính nhân văn. Phản ánh nỗi đau và tố cáo những thế lực chà đạp lên nỗi đau đó chính là một cách thay đổi thế giới. Nó không hề quay lưng với những chân giá trị mà ngược lại còn là cách tôn vinh những vẻ đẹp trên đời, khiến con người ta biết ghê tởm cái ác mà hướng tới cái thiện. Nguyễn Minh Châu viết về cảnh cái gia đình "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng" với tên chồng vũ phu, mụ đàn bà ngu dốt không biết cách tự cứu mình, một đứa con bất hiếu đánh cha chỉ để người ta biết trân trọng hơn sự hy sinh của người phụ nữ, nhắc nhở rằng bên trong ai cũng đều có một mầm thiện. Cứu chuộc nỗi đau là giải pháp hai chiều của nhà văn để "làm việc đời": vừa nâng đỡ "những con người cùng đường tuyệt lộ" vừa khiến con người hướng tới cái thiện.
Thêm
87
0
0
Viết trả lời...
Nam Cao là một cây bút tiêu biểu của văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 30 - 45. Dưới ngòi bút của Nam Cao, nỗi đau được mổ xẻ, tập trung vào những chiều kích nội tâm gai góc nhất bên trong các nạn nhân để thấy được sự tàn khốc của hiện thực đương thời. Trong ngòi bút lạnh lùng, vô cảm là trái tim ấm nóng nỗi đời, nỗi người.

Cảm hứng nhân đạo là thứ chủ nghĩa chỉ được xây dựng trong tác phẩm của những nhà nhân đạo lớn. Cùng tập trung vào nỗi thương người nhưng mỗi nhà văn lại có cách biểu hiện khác nhau. Nếu Nguyên Hồng thường gán cho nhân vật tất cả nỗi khổ đau ở đời để làm nổi bật lên nỗi đau của họ thì Kim Lân lại cho họ một niềm hy vọng, một chút “thơ” để vượt lên nỗi đau. Với Nam Cao, ông thương nhân vật qua lối văn lạnh lùng, vô cảm đến trần trụi. Thứ văn của Nam Cao là thứ văn rất khó để tiếp nhận nếu không nắm bắt hiện thực đương thời.

Cảm hứng nhân đạo nghiêng về nỗi thương những đau khổ của những kiếp người yếu thế. Nó nghiêng về phản ánh, lột trần bộ mặt thời đại; cất tiếng khóc thuê cho những cơn đau; tố cáo những thế lực chà đạp lên nhân quyền con người và cho nhân vật một lối thoát.
Nam Cao luôn dám nhìn thẳng vào hiện thực. Văn học không chỉ là nơi ông bộc bạch những cảm xúc cá nhân, cũng là nơi ông gửi gắm niềm tin vào giá trị nhân văn ở đời. Trong “Chí Phèo”, Nam Cao có cách tố cáo hiện thực rất riêng so với các nhà văn cùng thời. Nếu như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan nhìn xã hội giai đoạn 30 - 45 dưới cái nhìn sưu cao thuế nặng thì Nam Cao lại nhìn về thói tha hóa mang tính cộng đồng ở xã hội hiện tại.

Khi nỗi đau được đẩy lên đỉnh điểm của bi kịch, Nam Cao dần mở nút nó trong một cách xử lý mang tính truyền thống cá nhân: để nhân vật chết. Đôi khi cái chết là sự giải thoát cuối cùng cho mọi nỗi ẩn ức, nói lên tiếng nói của một tập thể những con người bị làm cho câm tiếng. Chết không đơn thuần là chấm dứt nỗi đau mà còn là sự đấu tranh giành quyền sống. Một đại diện nhân vật chết đi để một tập thể nhân dân được tiếp tục sống với nhân quyền cơ bản của mình. Tuy nhiên, đôi khi cái chết lại là sự kiện thắt nút, mở ra chuỗi bi kịch phía sau. Đó là cái chết của bu Ninh trong truyện ngắn “Từ ngày mẹ chết”. Cái chết của người bu là sự khởi đầu phơi trần sự thay lòng của con người, đề cao trách nhiệm của bậc cha mẹ đối với con cái.

Thời đại nào cũng luôn cần một người kể chuyện đủ can đảm để nói lên tất cả thế sự ở đời, để đấu tranh cho những vùng tiếng nói bị làm cho câm tiếng. Nam Cao thực sự là nhà nhân đạo luôn đấu tranh cho quyền sống của con người. 80 năm vẫn vẹn nguyên giá trị, chưa bao giờ một giọng văn Nam Cao mất đi âm thanh giữa dòng xoáy văn chương nhiều thay đổi.
Thêm
89
0
0
Viết trả lời...
"Chúng ta đều là những con người không hoàn hảo sống trong một thế giới không hoàn hảo" (Haruki Murakami)

Con người sinh ra vốn dĩ luôn là một bản thể bất toàn và đầy khiếm khuyết. Không có thước đo nào sinh ra để đong đếm lượng khuyết điểm của mỗi người. Điều quan trọng không phải là mặc định về sự bất toàn của bản thân mà hãy tự nhận thức để tự thay đổi chính mình, hướng đến cải tạo thế giới.

Chúng ta đều là những bản thể không hoàn hảo. Những khiếm khuyết luôn là một điểm trang trí cho mỗi chúng ta. Không ai có thể phủ định những điểm yếu cá nhân để khẳng định mình là bản thể hoàn hảo. Là con người không bao giờ có sự trọn vẹn, chỉ có
sự hoàn thiện bản thân từng ngày để lấp đầy những khoảng trống khiếm khuyết. Bất toàn là một niềm tự hào của con người để chúng ta biết mình có lý do để cố gắng. Bản thân những người không hoàn hảo sẽ tạo nên thế giới không hoàn hảo, đôi khi chính thế giới đó tác động ngược trở lại chúng ta. Như vậy, chúng ta quả thực là những con người không hoàn hảo sống trong một thế giới không hoàn hảo. Tuy nhiên, bất toàn lại khiến cho người ta trở nên đáng yêu. “Chữ hoàn toàn lạnh lẽo lắm” - Thạch Lam.

Nhận thức mình là một bản thể không hoàn hảo không phải là lý do khiến chúng ta đánh mất niềm tin vào chính mình. Càng tiến tới sự nhận thức, con người càng đi tới sự tiến bộ của nhân loại. Sự bất toàn phải khiến chúng ta biết đấu tranh cho phần “người”, khiến chúng ta biết tự nhiệm để hoàn thiện mình hơn. Chúng ta hoàn thiện bản thân không phải để thay đổi thế giới mà mỗi chúng ta xứng đáng có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Đứng trước kỷ nguyên vươn mình của đất nước, mỗi chúng ta cần có ý thức xây dựng bản thân từ những điều nhỏ bé nhất. Thế hệ trẻ ngày hôm nay cần có kỷ luật cá nhân, không nuông chiều những cảm xúc riêng tư của bản thân làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển chung của xã hội. Hãy đối xử với bản thân mình như cách bản thân mình đối xử với người khác, nghiêm khắc với những khiếm khuyết cá nhân, để một ngày ta trở thành những con người “đang học cách hoàn hảo”.
Thêm
109
0
0
Viết trả lời...
"Với tư cách là văn nghệ sĩ, ta hãy vui lên vì ta đã bị dứt khỏi giấc ngủ mê và khỏi sự đui điếc, bị bắt buộc phải đứng trước sự thống khổ, những trại giam và máu" (Abert Camus). Nghệ sĩ là một chức danh phù phiếm, chuyên lấy nỗi đau đời để làm nỗi đau riêng mình. Những nỗi đau vốn dĩ chẳng phải do anh ta tạo nên, nhưng sâu bên trong mỗi người nghệ sĩ chân chính đều luôn ẩn hiện một nỗi bất lực trước thế sự mà bản thân không thể thay đổi. Viết, viết đến tận cùng là cách duy nhất họ có thể làm để tố cáo thế giới, phản bác những thế lực chà đạp lên quyền được sống, được làm người.

Hiện thực cuộc sống do vậy mà trở thành đề tài chính được các văn nghệ sĩ khai thác. Mỗi nhà văn đều có một khuynh hướng sáng tạo khác nhau, nhưng đối tượng mà họ lựa chọn khai thác luôn là con người và cuộc đời. Khi văn chương không còn lên tiếng cho những nỗi thống khổ tức là lúc mọi cảm xúc của con người đều ngưng mạch, im bặt đi. Mọi trang văn vĩ đại đều ra đời từ một mảnh đất hiện thực riêng, tạo cảm hứng cho người nghệ sĩ sáng tác. Văn học có thể phản ánh cái đẹp nghiêng về những giá trị nhân văn để tôn vinh cái đẹp ở đời, nhưng cũng có thể viết về cái ác để khuấy lên khao khát được hòa mình trong cái đẹp.

Văn chương phản ánh hiện thực nhưng chính hiện thực lại là khởi nguyên cho văn chương khởi nguồn. Nếu không vì cái xã hội Thực dân nửa phong kiến trong gọng kìm của những tên địa chủ như Bá Kiến, làm sao có được một Chí Phèo đớn đau và ám ảnh như thế? Chính cái xã hội "quần ngư tranh thực" đã giẫm đạp lên nhân tính, lên cả tình người, khiến "Bà lão lòa" của Vũ Trọng Phụng để lại dư âm đến ngày hôm nay. Viết về thế giới là cách để thay đổi thế giới, tái thiết lập một thế giới giàu tình người hơn. Nhà văn không tác động đến con người bằng hành động mà qua sự nhận thức tinh thần. Văn chương phải đủ sức "sửa sang việc đời", dám nói lên việc đời mà không lo sợ trước đồng tiền hay thần quyền thì mới đủ sức có mặt ở đời.
Thêm
135
0
0
Viết trả lời...
Văn học trung đại Việt Nam là nền văn học được hình thành và phát triển từ xã hội phong kiến, là nền tảng xây dựng và kết tinh những tinh hoa văn hóa Việt. Chín thế kỉ hưng thịnh suy vong của nền phong kiến Việt cũng ghi dấu chín thế kỉ văn học trung đại phát triển, khẳng định địa vị, tiếng nói riêng của dân tộc.

Văn học trung đại chia làm bốn giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất từ thế kỉ X - XV. Giai đoạn thứ hai từ thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỉ XVIII. Giai đoạn thứ ba từ giữa thế kỉ XVIII - giữa thế kỉ XIX. Giai đoạn cuối cùng từ nửa sau thế kỉ XIX. Mỗi giai đoạn đều mang một đặc trưng riêng, gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và tư tưởng tôn giáo ở mỗi thời.

Dẫu mang đặc trưng riêng về giai đoạn lịch sử song nhìn chung, văn học Trung đại đều mang những đặc trưng rất tiêu biểu. Trước hết, đó là sự giao thoa, kết hợp giữa chữ Hán và chữ Nôm ảnh hưởng từ Trung Quốc. Việc sử dụng kết hợp đã tạo nên tính song ngữ cho văn chương Trung đại. Ngoài ra nó còn mang đặc trưng về tính ước lệ, quy phạm, trang nhã uyên bác, phi ngã, tính sùng cổ. Đặc biệt phải nói, văn học Trung đại chịu ảnh hưởng từ văn học dân gian, học thuyết Phật, Đạo, Nho và quan niệm văn - sử - triết bất phân.

Văn học thời kì này mang đậm cảm hứng yêu nước, góc nhìn thế sự về buổi đầu xây dựng nền phong kiến. Chủ thể sáng tạo là nhà vua, quan lại, nhà sư hoặc những người trí thức. Do vậy, đối tượng tiếp nhận trong thơ văn Trung đại cũng bị bó hẹp trong một tầng lớp nhất định, dân đen con đỏ không đủ khả năng tiếp nhận văn chương, chỉ dành cho bậc tao nhân mặc khách.

Dù phát triển ở thời kỳ nào, văn học phong kiến luôn đạt được những thành tựu nhất định. Nhiều tác phẩm trở thành bản tuyên ngôn cho lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt. Có thể nói đến là áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi hay “Truyện Kiều” đã trở thành nền văn hóa của Nguyễn Du. Khi tư tưởng thơ văn hiện đại ra đời, nhiều tư tưởng thơ văn Trung đại đã trở nên bảo thủ, không còn phù hợp. Tuy nhiên, giá trị của nó thì không thể phủ nhận. Tôn vinh lịch sử hay tìm về với cội nguồn đều cần đến sự hướng về, tôn vinh các tác phẩm văn học nghệ thuật.
Thêm
104
0
0
Viết trả lời...
Nguyễn Minh Châu đã từng nói: “Tôi là tôi ớn nhất những nhà văn máu cá, cứ lấy an toàn làm gốc, chơi trò chơi hiền lành, vô sự, tưởng rằng cả đời không hại ai, không làm điều ác với ai. Nhưng cái tội tày đình là tội khiếp đảm trước cái ác”.

Tôn chỉ nghệ thuật của văn chương là “phải đẹp”, mang đậm tính nhân văn, tôn vinh tính thẩm mỹ ở đời. Tuy nhiên, cái đẹp không đối nghịch với đạo đức, không từ chối phản ánh cái ác để thay đổi xã hội và con người. Nhà văn có tài là người biết khơi lên cái đẹp trong cái xấu, hoặc viết về cái xấu để con người thèm khát cái đẹp.

Văn học phản ánh cái xấu dựa trên góc nhìn thẩm mỹ, dù viết về những sự thể mang tính tiêu cực nhưng nhà văn vẫn đứng trên tư tưởng tích cực để phản ánh. Sự thật trần trụi hay những góc khuất đằng sau hình ảnh sự vật đã được ngôn từ mờ hóa, để sự tiếp xúc gần gũi với tác phẩm không làm ảnh hưởng đến cảm quan độc giả. Hiện thực được khai thác trong tác phẩm đôi khi chỉ là một mảnh hiện thực được xén gọn và mờ hóa những yếu tố kinh dị, trần tục,...


“Không có gì thuộc về con người mà lại xa lạ với tôi” (K. Marx). Văn chương cuối vùng sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu ta ngoảnh mặt lại với cái ác, khước từ quyền lên án cái xấu, phanh phui những thế lực chà đạp lên quyền yêu cái đẹp của con người. Muốn làm được như vậy, nhà văn cần nhìn đời ở những chiều kích sâu rộng hơn. Nét chữ Huấn Cao vừa thảo xuống như có rồng bay phượng múa sáng rực cả căn phòng giam dơ dáy, bẩn thỉu. Hình ảnh nét chữ như một sự đối nghịch với cái u ám, chỉ toàn xiềng xích và tội lỗi. Miêu tả sự đối lập đó như cách khơi gợi người ta khao khát cái nho nhã, thanh cao của thiện lương của một nền Nho giáo đang trên hồi thất sủng.

Nếu chỉ nhìn cái xấu, cái ác ở một chiều kích để bài xích, bàn tán thì thật dễ dàng, nhưng để cúi xuống mà thấu hiểu lại đòi hỏi một tấm lòng đủ sâu rộng. Trước những trạng huống của cuộc đời, cần nhìn vào toàn cảnh để nhận ra giá trị cốt lõi sâu trong những điều tưởng chừng như xấu, ác đến tận cùng. Người đàn bà hàng chài mặt rỗ chằng chịt cắn răng chịu đựng người chồng vũ phu “ba ngày một trận nhẹ, năm nay một trận nặng”. Nhưng điều quan trọng không phải là ép họ ly hôn mà là cải thiện đời sống cho người dân làng chài, nâng cao chất lượng cuộc sống trên biển để những đứa trẻ không còn phải chứng kiến cảnh “lên bờ mà đánh”. Bản thân cái xấu, cái ác chính là đạo đức, mang tính thẩm mỹ nếu được nhìn từ góc độ toàn diện.
Thêm
111
0
0
Viết trả lời...
“Cái câu “Cố lên” nhiều lúc làm người ta mệt lắm anh ạ”. Nó tước khỏi người ta cái quyền được mệt mỏi, được khóc, nó không ngừng đẩy người ta lên bục anh hùng” (Đặng Hoàng Giang).

Nhân danh tình thương, người ta làm khổ nhau. Cái câu “Cố lên” mang danh nghĩa của lòng tốt, sự tử tế nhưng thực chất lại tước đi của con người ta quyền được dừng lại và khóc, được than thở rằng “Em mệt rồi…”. Nó bó buộc, ghim chặt người ta vào một mục tiêu cho đến khi hoàn toàn toàn thành công.

Câu “Cố lên” ép người ta phải huyễn hoặc mình rằng không còn con đường lui nào khác, chỉ còn cố gắng hết sức mới có thể thay đổi hoàn cảnh, chứng minh bản thân và đáp ứng sự kì vọng của những người xung quanh. Nó khiến người ta không đủ can đảm để sống thật, ngày ngày đeo tấm mặt nạ hạnh phúc để che giấu giọt nước mắt bên trong. Được khóc, được nghỉ ngơi cũng là quyền cơ bản của con người, vậy mà cái câu “cố lên” như đã cưỡng đoạt tất cả những quyền đó. Đôi khi, vì một lời động viên, người ta đánh mất chính mình, rơi vào vũng lầy do chính mình tạo ra mà không có lối thoát.

Chúng ta chỉ sống có một lần, vậy bạn sẽ chọn “cố lên” hay sẽ bứt thoát khỏi tất cả những ràng buộc ấy để sống một cuộc đời không bon chen?

Biết rằng mệt nhưng buông sao đành, những thứ chúng ta muốn sẽ không dễ dàng đạt được, đó là lý do để chúng ta nỗ lực. Nếu bạn chưa từng nhận được câu “cố lên” cũng có nghĩa là việc bạn đang làm quá dễ dàng. Nếu không sinh ra trong gia đình giàu có, không ngậm thìa vàng, bố mẹ không nhận được đãi ngộ tốt, vậy thì việc cần làm nhất lúc này chính là “cố lên”. Cố lên để nhìn về phía trước thật kiêu hãnh, để thấy mình còn đang sống, thấy mình chưa nợ đời này điều gì. Dẫu đau, dẫu mệt, mong rằng chúng ta có đủ bản lĩnh và kiên cường để dám nhìn thẳng vào tương lai mịt mù phía trước.

Nhưng trong xã hội hiện đại, khi con người ta phải che giấu cảm xúc cá nhân để đạt được sự thăng tiến, cảm xúc dần trở thành thứ bí mật rất riêng tư luôn được cất giấu. Hãy cố lên khi còn có thể, nhưng hãy mạnh mẽ để thú nhận rằng mình kiệt sức rồi. Đôi lúc, khóc cũng cần có dũng khí, là sự “cố lên” để được khẳng định mình. Bước đi mạnh mẽ và cuối cùng hãy dừng lại để hít thở.

Nếu mãi mãi đời này không huy hoàng thì sao? Chẳng sao cả. Quan trọng là chúng ta biết thương lấy mình, bảo vệ chính mình giữa xã hội quần ngư khốc liệt ngoài kia. Không là mặt trời, thì là những vì sao. Chẳng sao cả. Miễn là em luôn cố gắng để yêu thương tấm thân mình nhỏ bé.
Thêm
144
0
0
Viết trả lời...
“Chiến tranh… Là cái quái gì ấy nhỉ? Là ngày nào cũng nhìn thấy người chết nhưng lại chưa đến phiên mình?” (“Ăn mày dĩ vãng” - Chu Lai).

Những tấm huân chương chỉ “làm ấm ngực”, đằng sau những tấm huân chương ấy là nỗi đau và cả bao nhiêu mất mát mà chẳng ai có thể chữa lành được. Giữa đạn bom bị khơi lên bởi cuộc chiến tranh phi nghĩa, nhân tính đã trở thành xa xỉ phẩm, nhân dạng bị cái tàn bạo của chiến tranh giày xéo cho méo mó, cong queo. Hết kháng chiến, người lính trở về khi tâm hồn vốn đã chẳng còn nguyện vẹn. Ngày đất nước hòa bình cũng là lúc họ giày vò bản thân trong những cơn đau vô hình của tâm hồn.

Văn học thời chiến hay văn học hậu chiến chỉ là chứng tích lịch sử được con người nhận thức và phản ánh qua cái nhìn chủ quan. Văn học chiến tranh mang đặc thù và tên gọi riêng, trở thành một phong trào văn học rất tiêu biểu nhưng kì thực, nó chưa bao giờ phản ánh được trọn vẹn lịch sử chiến tranh của dân tộc. Các tác phẩm hầu hết chỉ là những lát cắt trên bề mặt nỗi đau, khiến những thứ trần trụi bị vùi đi dưới dấu ấn ngôn từ.

Chiến tranh là trang sử vàng hào hùng của dân tộc, nhưng chiến đấu để bảo vệ nền hòa bình mong manh thời ấy thì có gì hào hùng đâu? Trong “Nỗi buồn chiến tranh”, Bảo Ninh cay đắng: “Tình nguyện đi vào bộ đội ở tuổi 17 thì cao thượng hơn vào đại học ở tuổi 17 hay sao?”. Những người chiến sĩ trước khi trở thành người của đất nước, họ cũng đã từng là những chàng trai, cô gái trẻ ngày đêm mơ mộng với những giấc mơ riêng. Nhưng rồi những khía cạnh riêng tư phải dần gác lại, chỉ để tập trung cho sự nghiệp lớn của đất nước. Chiến tranh nã súng vào quyền được yêu, được sống như một con người, làm cho con người ta quên đi nhân tính mà giẫm đạp lên mạng sống của người khác.

Chiến tranh đôi khi làm cho người ta thấy ghét hòa bình. “Hừ! Hòa bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu thịt bao anh em mình, để chừa lại có chút xương. Mà những người được phân công nằm lại gác rừng le là những người đáng sống nhất”. Hòa bình là chiến thắng, là khát khao mong ước đến độ phải hy sinh tính mạng của hàng triệu người. Nhưng khi nghĩ về hòa bình, người ta không còn đủ sức để hạnh phúc hay tự hào. Bởi ai cũng hiểu, khi hòa bình lập lại cũng chính là lúc họ phải giày vò mình trong cơn đau, trong nỗi cô đơn không gì có thể bù đắp.

Những người đi giày xéo trên quê hương, đất nước của đồng loại họ, phải chăng họ cũng không có tình yêu với quê hương, đất nước của mình? Sự sống quý giá, đôi lúc phải hy sinh nhưng không phải hy sinh nó để phục vụ cho mục đích phi nghĩa. “Và ta hay Ngụy thì cũng rên như vậy”. Và ta hay bất kì ai tham gia vào cuộc chiến phi nghĩa ấy đều phải chịu đựng nỗi đau, sự mất mát, dù ai khởi xướng nên nó. Vậy tại sao, ta lại giẫm đạp lên quê hương và quyền sống của người khác?
Thêm
111
0
0
Viết trả lời...
“Người ta chỉ xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ và nước mắt là một miếng kính biến hình vũ trụ”. (Francois Coppée)

Nước mắt là thứ chất người đặc quánh bên trong mỗi con người, không thể tự tiêu tan đi mà biến thành giọt nước “rơi xuống mặt đất rồi từ đó lại vút lên đến tận trời cao” (Balzac). Còn nước mắt là còn cảm xúc, còn một phần “người” ẩn giấu bên trong. Giọt nước mắt là phép thử đến tận cùng nhân tính của con người, đẩy sự việc lên cao điểm, thổi bùng lên cảm xúc để thứ cảm xúc riêng tư trở thành cảm xúc chung. Giọt nước mắt dễ khiến người ta đồng cảm hơn nụ cười. Nhưng vì cười không được mà phải khóc, hoặc khóc không được mà phải cười.

Giọt nước mắt quý giá lắm nên đời này nhất định chỉ được đánh rơi nó vì những gì xứng đáng. Người yêu mình sẽ không khiến mình rơi nước mắt. Người thương mình sẽ lau khô nước mắt cho mình.
Thêm
187
0
0
Viết trả lời...
[NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM]

Đất nước bốn nghìn năm đứng dậy từ bùn đen, vùng lên giành lấy độc lập, hòa bình từ tay giặc, chuyển mình và phát triển theo nhịp sống toàn cầu. Theo dòng chảy lịch sử ấy, văn chương xuất hiện như một bức tranh siêu thực phản ánh toàn bộ những năm tháng hưng thịnh suy vong của đất nước Việt Nam. Lịch sử văn học cũng chính là lịch sử tâm hồn của quốc gia ấy, con người ấy. Bởi vậy, thấu hiểu dòng chảy văn học nước nhà cũng là cách để thấm đằm những kinh nghiệm, cảm xúc của cha ông ta xưa.

Văn học Việt Nam gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết.

Văn học dân gian ra đời và tồn tại trước thế kỉ X. Ở thời điểm đó, chữ viết chưa ra đời nên truyền miệng là phương thức truyền bá chủ đạo. Các sáng tác dân gian sau khi hoàn thiện thành một chỉnh thể thống nhất sẽ được lưu truyền qua nhiều thế hệ, nhiều tư tưởng cảm nhận khác nhau. Bởi thế, văn học dân gian thường tồn tại nhiều dị bản với những đặc điểm riêng. Đặc trưng nổi bật của giai đoạn văn học này là tính tập thể, không mang dấu ấn cá nhân của riêng ai. Các tác giả sáng tạo nên văn học dân gian được gọi là tác giả dân gian. Vì là sản phẩm của nhân dân quần chúng lao động, các sáng tác trong thời kỳ này không “nói chí” hay “chở đạo”. Chúng chỉ đơn thuần thể hiện tâm tư của người dân lao động, phục vụ cho những hoạt động sinh hoạt cộng đồng. Các sáng tác dân gian cũng là sự phản ánh văn hóa, tín ngưỡng của một thời, tạo tiền đề cho bước đi văn học của mọi thời. Đó là phương tiện gửi gắm những quan niêm của cha ông ta về lẽ sống, đức tin vào những giá trị có thực ở đời.

Văn học dân gian gồm nhiều thể loại như tục ngữ, câu đố, ca dao, đồng dao, hát ru, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn,... Mỗi thể loại đều mang một đặc trưng riêng, phản ánh được góc nhìn nghệ thuật riêng. Sản phẩm do quần chúng lao động sáng tạo theo phương thức truyền miệng nhưng chưa bao giờ mất đi tính hoàn chỉnh và nghệ thuật. Văn học dân gian là nền tảng thúc đẩy, phát triển những giá trị của văn học viết. Bởi vậy, trong các tác phẩm văn học viết thường kế tục những motif, tư tưởng hoặc cổ mẫu trong văn nghệ dân gian.

Văn học viết có sự phân hóa phức tạp theo từng thời kỳ, mỗi thời kỳ chịu sự ảnh hưởng của một hệ tư tưởng khác nhau. Nhìn chung, văn học viết gồm văn học trung đại (Thế kỉ X - XIX) và văn học hiện đại (Thế kỷ XX - nay). Văn học trung đại chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo. Văn học hiện đại mang sức ảnh hưởng từ phương Tây. Nhưng quan trọng hơn cả, văn học viết cũng chịu sự chi phối của văn học dân gian, khai thác đề tài, thi liệu, ngôn ngữ,.. trong tâm thế bổ sung và sáng tạo. Văn học viết mang theo hơi thở thời đại, bộc lộ rõ nét hơn cái “tôi” cá nhân thoát ra khỏi tính tập thể xưa cũ. Dù xuất hiện muộn vào thế kỉ X nhưng văn học viết lại nắm vai trò chủ đạo, giữ vị trí thống trị trong nền văn học nước nhà.

Văn học trung đại đặc trưng bởi tính phi ngã, sùng cổ, trang nhã, uyên bác, quy phạm, ước lệ, gắn liền với quan niệm văn - sử - triết bất phân. Những tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này thường mang âm hưởng hào hùng, giàu khí thế, khẳng định ý chí tung hoành Nam Bắc của bậc trí thức nước Nam.

Văn học hiện đại thể hiện nỗ lực cách tân, đào thải tư tưởng bảo thủ, phát huy những tư tưởng hợp thời, tái sáng tạo theo một cách rất riêng. Ở giai đoạn này, văn học cho phép người sáng tạo thể hiện rõ cái “tôi” cá nhân. Người sáng tạo không nhất thiết phải là người trí thức. Văn chương hiện đại chịu sự chi phối bởi văn học phương Tây, nhưng không làm mờ đi bản sắc Việt Nam.

Dù là văn học ở thời kì hay giai đoạn nào, dù là văn học dân gian hay văn học viết, chúng đều tồn tại trong mạch chảy văn chương Việt Nma, làm nền hình thái nền văn học nước nhà. Bốn nghìn năm xây dựng và phát triển cũng kéo theo một mốc thời gian dài văn chương ra đời và phát triển.
Thêm
  • VĂN HỌC TRẺ.png
    VĂN HỌC TRẺ.png
    1.6 MB · Lượt xem: 37
172
0
1
Văn học Việt Nam là một dòng chảy liên tục, phong phú và đa dạng, phản ánh sâu sắc lịch sử, văn hóa và tư tưởng của dân tộc. Dòng chảy này được chia thành hai bộ phận chính là văn học dân gian và văn học viết, song song tồn tại và ảnh hưởng lẫn nhau.

Văn học dân gian

Đây là bộ phận văn học lâu đời nhất, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, ra đời từ thời kỳ thượng cổ. Văn học dân gian là tiếng nói chung của nhân dân, thể hiện tâm tư, tình cảm, ước mơ và kinh nghiệm sống của người Việt. Các thể loại tiêu biểu bao gồm:

Truyền thuyết: Kể về các nhân vật và sự kiện lịch sử, ví dụ như Thánh Gióng, Sơn Tinh – Thủy Tinh.

Cổ tích: Kể về cuộc sống và số phận con người, thể hiện ước mơ về công lý và hạnh phúc, ví dụ như Tấm Cám, Thạch Sanh.

Truyện cười: Phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội, ví dụ như Tam đại con gà.

Ca dao, tục ngữ, thành ngữ: Những câu nói vần, ngắn gọn, chứa đựng kinh nghiệm sống và triết lý dân gian.

Văn học viết ✍️

Văn học viết bắt đầu phát triển mạnh từ thế kỷ X, khi nước Đại Việt giành được độc lập. Dòng chảy này được chia thành hai giai đoạn lớn:

1. Văn học trung đại (thế kỷ X - hết thế kỷ XIX)

Đặc điểm chính của giai đoạn này là sự phát triển của văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm.

Văn học chữ Hán: Thường do vua, quan, nhà nho sáng tác. Nội dung chủ yếu là ngợi ca đất nước, thể hiện tinh thần yêu nước và tư tưởng Nho giáo. Tác phẩm tiêu biểu: Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn).

Văn học chữ Nôm: Xuất hiện và phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XV, đặc biệt là vào cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Chữ Nôm là chữ viết do người Việt sáng tạo, dựa trên chữ Hán, để ghi âm tiếng Việt. Văn học chữ Nôm thường phản ánh đời sống nội tâm, số phận con người và tình yêu đôi lứa. Tác phẩm tiêu biểu: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm).

2. Văn học hiện đại (đầu thế kỷ XX - nay)

Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của văn học Việt Nam, chịu ảnh hưởng từ văn học phương Tây và sự ra đời của chữ Quốc ngữ.

Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945: Văn học hiện đại hóa, xuất hiện nhiều trào lưu mới.

Thơ Mới: Nổi bật với việc đề cao cái "tôi" cá nhân, phá vỡ lối thơ cũ. Tiêu biểu: Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ.

Văn xuôi hiện thực phê phán: Phản ánh hiện thực xã hội tàn khốc, lên án bất công và sự tha hóa con người. Tiêu biểu: Nam Cao (Chí Phèo), Ngô Tất Tố (Tắt đèn), Vũ Trọng Phụng (Số đỏ).

Văn học lãng mạn: Tập trung vào cảm xúc cá nhân, thoát ly hiện thực. Tiêu biểu: Nhất Linh, Khái Hưng (nhóm Tự Lực Văn Đoàn).

Giai đoạn từ năm 1945 đến hết thế kỷ XX: Văn học chủ yếu đi theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, phản ánh cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước. Nổi bật với cảm hứng sử thi và lãng mạn cách mạng. Tác phẩm tiêu biểu: Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), Vợ nhặt (Kim Lân), Việt Bắc (Tố Hữu).

Giai đoạn từ đầu thế kỷ XXI đến nay: Văn học đa dạng hơn về đề tài, phong cách và thể loại. Các tác giả trẻ mạnh dạn khám phá những góc nhìn mới về con người và xã hội, không còn bị gò bó bởi những khuôn mẫu cũ.

#vanhoc #vanhocvietnam #vanhoctre
 
Viết trả lời...
Thế giới người lớn hỗn loạn, chai lì, chồng chất những "thế hệ bận rộn" chẳng chừa cho mình một chốn dung thân. Ai cũng từng là trẻ con, nhưng lại chẳng có ai nhớ về những năm tháng ấy như một kỉ niệm. Và cũng bởi thế mà thế giới trở nên rách nát, nhân gian bị xé toạc đi bởi áp lực, gánh gồng và cả những nỗi đau. Nhưng chẳng sao cả, thế giới rách nát nhưng vẫn sẽ có người vá nó lại. Nguyễn Nhật Ánh xuất hiện giữa vòng quay văn chương hiện đại, ôm ấp những giá trị tinh thần đã trở thành xa xỉ phẩm, vá lại nỗi đau và mở ra những chương kí ức rực rỡ nhất của tuổi thơ, tuổi trẻ.

Từ năm 1984, khi tác phẩm truyện dài đầu tiên "Trước vòng chung kết" ra đời và định vị tên tuổi của Nguyễn Nhật Ánh trong lòng độc giả, ông tập trung viết cho lứa tuổi thanh thiếu niên. Đề tài thiếu niên tạo nên một phong cách sáng tác rất riêng tư của Nguyễn Nhật Ánh, mang tính chủ đạo và gắn bó ông sâu đậm với tuổi trẻ. Viết về những năm tháng kí ức rực rỡ của những đứa trẻ miền quê cũng là cách ông sống lại với thanh xuân của chính mình. Dẫu có nhiều sáng tác nổi bật đa dạng thể loại, thậm chí lấn sân sang mảng phê bình bóng đá ("Cú sút của Beckham", "Chờ xem World Cup, ngồi luận giang hồ",...) với bút danh Chu Đình Ngạn, nhưng cái tên của nhà văn vẫn được lưu dấu nổi bật với các tác phẩm hướng về thế giới tuổi thơ. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Nhật Ánh là một hành trình dài khám phá nội tâm con người, để giữa những bộn bề của cuộc sống người lớn lại cho ta được trở lại làm đứa bé thơ ngây.

"Sáng tác là đối thoại. Sáng tác là hồi đáp". Nguyễn Nhật Ánh viết không phải cho riêng mình, cho riêng ai, hay cho bất cứ thế hệ nào. Lứa tuổi nào đọc văn ông cũng thấy được một nhiệt tình sôi nổi, thấy như sống lại với những kỉ niệm đẹp nhất đời mình. Văn chương của Nguyễn Nhật Ánh là một thứ văn chương rất dễ phân biệt, không trộn lẫn vào đám văn tạp nham giữa thời đại xuất bản bùng nổ. Có thể nói, luôn có một đứa trẻ bên trong ông, khao khát được bộc lộ và thể hiện mình. Đề tài quan tâm, hiển nhiên luôn là đề tài tuổi trẻ. Bằng một cách rất tự nhiên, nhà văn khai thác sâu vào tâm lí của những người trẻ, những con người chưa trưởng thành hoặc đang học cách để trưởng thành. Đọc văn ông, ta cảm nhận được trẻ em cũng có một thế giới nội tâm rất riêng. Không phải chúng không thể hiện mình, không bộc lộ những xúc cảm riêng, chúng bộc lộ một cách riêng tư, lặng lẽ, và chỉ có ai đủ nhạy cảm mới có thể lắng nghe chúng. Trẻ em, dù ở bất cứ lứa tuổi nào, cũng đều có cái tôi riêng. Nguyễn Nhật Ánh chưa một lần thờ ơ với những đứa trẻ, luôn nhìn chúng ở khoảng cách gần để nắm bắt được những góc khuất tâm lí của chúng - mà không ai nhìn thấy.

Trong tiểu thuyết "Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh", Thiều là một cậu bé bắt đầu bước vào giai đoạn phức tạp của tuổi dậy thì. Cậu bắt đầu có những xúc cảm rất đặc trưng, biết yêu, biết ghét, biết ghen, biết giận hờn. Đôi khi, niềm yêu ghét ấy xảy ra ngay với chính đứa em trai của cậu - Tường. Trong Thiều bắt đầu nhen nhóm "tình yêu bọ xít" với cô bạn hàng xóm Mận, biết rung động khi lắng nghe câu chuyện về hoàn cảnh gia đình cô bé. Hành động của Thiều không phải là người lớn, nhưng cũng không còn là trẻ con. Cậu có cái "tôi" rất riêng trong tình thương và cả tình yêu.

Truyện dài "Cô gái đến từ hôm qua" được Nguyễn Nhật Ánh triển khai bằng cấu trúc song song giữa hai mạch truyện. Câu chuyện của nhân vật "tôi" với Tiểu Li và của nhân vật "tôi" với Việt An được kể song hành thông qua một điểm nhìn duy nhất. Và cuối cùng, Tiểu Li đáng yêu lại thấp thoáng trong bóng dáng Việt An kiêu kì. Nhân vật "tôi" bước vào những xúc cảm đầu đời với Việt An, nhưng kì thực là vẫn đang hoài mong cô bé Tiểu Li của ngày xưa. Việt An như một sự thay thế của Tiểu Li, thách thức cách xử lý của nhân vật "tôi".

Trong một lần chia sẻ cùng bạn đọc, nhà văn xứ Quảng từng tâm sự "Ngày nào tôi cũng viết, ngày nào không viết tôi cảm thấy mình chưa sống đủ - mấy chục năm như thế rồi... Bởi viết văn là công việc tự nguyện, hứng thú và đam mê". Viết văn là cách để Nguyễn Nhật Ánh tìm lại chính mình, tìm lại chút trẻ thơ đã lỡ vương vãi đâu đó giữa nhân gian. Đọc văn Nguyễn Nhật Ánh, ta như thấy chính mình trong những bối cảnh rất đỗi đời thường. Đôi khi chỉ là một lớp học, sân trường hay cánh đồng, nhưng đó lại là tuổi thơ của cả thế hệ 8X 9X. Cốt truyện không quá nổi bật, không có nhiều tình tiết "plot twist", nhưng có khả năng để lại dư âm cao. Tất cả đến từ cách Nguyễn Nhật Ánh xây dựng nhân vật và kiến tạo tình huống.

"Trẻ con tìm thấy tất cả ở những nơi chẳng có gì. Còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả". Ai chẳng từng là đứa trẻ khao khát được lớn lên, được tự do bứt thoát khỏi xiềng xích áp đặt của cha mẹ. Nhưng khi lớn lên, họ lại bước vào một vòng xiềng khác - vòng xiềng của tiền bạc. Những đứa trẻ ngày nào giờ đây bị "nô lệ hóa", cúi đầu phủ phục dưới chân đồng tiền. Họ đâu còn nhớ đến một thời kí ức đã từng ngây thơ và tươi đẹp ra sao. Các sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh cũng xuất phát từ nỗi lo lắng trước một "thế hệ bận rộn", trước những mai một của "người lớn ít nói". Trong thân hình người đàn ông trung niên với nụ cười hiền lành, ông âm thầm viết như một sự cứu cánh cho năm tháng chảy trôi. Tuổi thơ thì vẫn còn đó, chỉ là chẳng có ai ghi lại nó một cách chân thực như Nguyễn Nhật Ánh.

Trong các sáng tác của ông, thế giới không nhộn nhịp, xô bồ, tranh đua giẫm đạp lên nhau, con người có những góc khuất nội tâm để nhìn lại mình và nhìn lại thế giới. Ngay cả trong truyện dài "Con chim xanh biếc bay về", khi nói về cuộc sống mưu sinh trên đất Sài Gòn, cuộc sống ấy của Khuê và Sâm cũng không quá bộn bề, vẫn đủ để hai nhân vật chính có những khoảng lặng riêng tư. "Cái chuông nhỏ bé đó, sau này những buổi tối đi dạy thêm hay đi làm về khuya tôi vẫn buồn tay nhấn để nghe tiếng leng keng vang lên trong hẻm vắng. Để tan đi trong lòng những muộn phiền của cuộc sống mưu sinh vất vả. Để thấy đời vui hơn". "Chia tay chợ, chia tay những bạn hàng quen, dù tôi biết tôi và họ vẫn sống trong cùng một thành phố, vẫn hít thở chung một bầu không khí, vẫn ướt chung một cơn mưa, và có thể vẫn kẹt xe chung một con đường, muốn gặp nhau chỉ cần phóng xe là tới nơi nhưng sao tôi vẫn có cảm giác chia lìa, mất mát.... Tôi đã chứng kiến những tình bạn tưởng không bao giờ phai nhạt nhưng chỉ cần đặt chân qua ngã rẽ, mỗi người sẽ lập tức có những bận tâm riêng, mọi thứ cứ thế lỏng lẻo dần rồi đến một ngày những kỉ niệm thi nhau trượt vào quên lãng". Cuộc sống bình yên là chỉ cần đôi khi ta biết dừng lại để suy nghĩ, biết xót xa trước sự đổi thay của cuộc đời. Người ta dám nghĩ là đã sống được trọn vẹn cuộc đời.

Nhờ một vài người, một vài điều mà ta liền thấy cuộc đời này thật đáng sống. Hòa mình trong thế giới văn chương của Nguyễn Nhật Ánh, người đọc biết cách tự an ủi mình: Không thể quay trở lại làm trẻ con, nhưng chỉ cần tâm còn tịnh, lòng còn bình yên, tức khắc tuổi thơ lại sống dậy.

"Viết về tuổi thơ là cách duy nhất để tôi trục vớt những kỷ niệm đã chìm sâu dưới đáy thời gian, tái hiện lại những ngày tháng tươi đẹp đó và bày chúng trên trang sách như bày ra một thứ bánh ngon để hương vị quyến rũ của chúng mãi mãi ở lại với chúng ta. Cũng có thể chính tuổi thơ đã mượn tay tôi để làm tất cả những chuyện này" (Nguyễn Nhật Ánh).


download.jpg

(Nguồn ảnh: VnExpress)
Thêm
200
0
0
Viết trả lời...
"Chẳng phải phép màu, tại sao chúng ta gặp nhau?
Một người khẽ cười, người kia cũng dịu nỗi đau.."
(Phép màu)

Chúng ta là những đứa trẻ được phép màu đưa đến bên nhau. Năm tháng không đoái hoài những đứa trẻ bập bẹ học cách trưởng thành, nhưng chỉ cần bên nhau, chúng ta vĩnh viễn không cần lớn.

Những ngày đầu tiên bước chân vào LTT, mình thấy lạc lõng, bơ vơ, cảm tưởng như chỉ riêng mình một thế giới. Mình không kết nối được với ai, thấy mình bất lực trước khao khát được làm bạn cùng mọi người. Những ngày tháng ấy, mình mong có ai đó đủ dịu dàng để ở bên cạnh mình, để lắng nghe những suy tư của một con bé luôn thu mình lại. Nhưng rồi, mình vô vọng trong giấc mong ấy. Mình nhận ra, sẽ không ai đủ thánh thiện để bước đến bên một ai đó. Quan trọng là chúng ta tự đưa tay ra để họ nắm lấy. Mình phá kén thoát ra khỏi vỏ bọc của bản thân để gần gũi hơn với mọi người. Thời gian dần trôi qua, mình thấy thân quen hơn với những con người đã từng xa lạ. Kí ức trôi đi nhưng chẳng để lại dư vang gì đặc biệt. Đôi lúc mình thấy nuối tiếc khi mình đã đánh mất quá nhiều thời gian mà trên những quãng thời gian đó chẳng đọng lại chút kí ức nào. Mình muốn chúng ta rực lửa hơn, tuổi trẻ mà, nhưng mình cũng hiểu, chúng ta chưa đủ gần gũi để làm được điều đó. Năm ấy, điều hạnh phúc duy nhất của mình chính là những ngày lơ thơ ngơ ngẩn, đuổi hình bắt bóng một mảng nắng xanh dưới sân trường. LTT bao thế hệ qua đi càng thâm trầm và rực rỡ lạ, để lại mắt nắng tròn xoe trong đôi mắt cô học trò nhỏ.

Lại một mùa nắng qua đi dưới mái trường 30 năm tuổi này. Năm nay, mình chững chạc hơn. Ngày tựu trường vang những tiếng trống giục giã. Âm thanh tiếng trống đầu thu năm nào cũng thật giòn giã. Bước đi trên sân trường trong niềm vui nô nức của bè bạn, lòng mình phơi phới như lá cờ hoa tung bay trước gió. Sao mình thấy yêu không khí này đến lạ, một không khí mùa thu nào cũng trải qua, nhưng mùa thu nào cũng khiến mình bối rối. Con bé 12 tuổi cũng cứ thế ngây dại với mối tình đầu, nó yêu trường, yêu lớp, yêu thiết tha và rạo rực. Một mùa hiến chương rậm rịch đậu trước ngõ, chúng ta háo hức chuẩn bị cho tiết mục múa mừng ngày Nhà giáo Việt Nam. "Mỗi năm chỉ có một lần, giải bét cũng được chỉ cần best". Màn múa năm ấy, các bạn còn nhớ hay không, chúng ta đem sức trẻ gửi vào bài hát "Bay lên những ước mơ". Bài hát ấy như một "tuyên ngôn" riêng của chúng ta, trở thành bài hát của riêng chúng ta. Sau này, những ngày họp lớp, ta thường nhắc lại bài múa ấy như kí ức một thời để nhớ. Những giọt mồ hôi không đủ sức để chúng ta giành được giải Nhất, chúng ta dừng chân ở mức giải khiêm tốn
nhất, nhưng đứa nào cũng toe toét. Chẳng sao cả, khi ta đã cố gắng hết sức thì dù kết quả có ra sao cũng thật đáng nhớ. Giải Nhất liệu có đổi được nụ cười của chúng ta như lúc ấy không? Mình nhớ khi cô MC hỏi "Lớp nào giải Nhất?", chúng ta đã hô to "7C 7C", dù biết chắc danh dự ấy không thuộc về mình. Mùa giải đó chúng ta thua trên "chiến trường" nhưng thắng rực rỡ trong trái tim nhau.

Dừng lại một chút, một thời niên thiếu đi qua sao chỉ đọng lại trong mình nhiêu đó kỉ niệm? Chúng ta cũng tựa như những cánh bướm, lang thang mê mải theo những niềm vui tầm thường. Cả một chặng đường tuổi trẻ đi qua chỉ ợm ờ trong ta vài thước phim về những buổi học, những bài giảng, những giờ ra về. Những kí ức bên nhau vốn dĩ là rất nhỏ bé hay là tại mình đã vô tâm đến mức quên đi? Mình không quên, mình ghim chặt những kí ức đó vào tâm trí mình, chỉ là... quả thật chúng ta chẳng có nhiều kỉ niệm bên nhau.

Năm cuối dưới mái trường LTT thân yêu này, những cánh bướm vội vàng ghi lại những kỉ niệm bên nhau, chỉ sợ một ngày chuyến tàu cuối trôi qua và chúng ta là kẻ mất lượt. Không khí năm cuối áp lực nhất nhưng lại nhiều kỉ niệm nhất. Chúng ta tập giữ lại kí ức bằng những buổi tổ chức bí mật cho thầy cô. Sao mình ước được quay lại những ngày tháng đó đến thế? Vô tư, hồn nhiên, gom góp từng đồng tiền nhỏ bé để ở bên nhau. Những buổi tổ chức 20/10, 20/11 nho nhỏ xinh xinh, vốn dĩ không cầu kỳ, chỉ là dịp để lớp chúng mình được sát gần nhau thêm chút cuối. Có những cãi vã, có những bất đồng, rồi cuối cùng tất cả cùng dừng lại khi nhìn thấy nụ cười của cô giáo. Người ta nói đừng bao giờ chờ kỉ yếu, bởi sau kỉ yếu thôi là chúng ta xa nhau rồi. Mình chẳng chờ nhưng nó vẫn đến. Đến vào một ngày cuối tháng ba. Thời tiết ngày ấy thất thường, hôm nắng cháy da, hôm lạnh cắt thịt. Chúng ta đã nguyện cầu cho hôm ấy trôi qua thật yên bình, và quả thật như mình mong. 30/3 - trời đẹp, có nắng hiu hiu và chút lạnh, nhưng vẫn đủ để chúng mình được rực rỡ với những pose ảnh. Nhìn lại, chúng ta vẫn nói với nhau: trời thương. Chụp một bức ảnh chỉ mất 0.5s nhưng nó lưu lại cả bốn năm thanh xuân của chúng ta. Rực rỡ và u hoài, xin gửi trọn vào những bức ảnh cuối cùng. Chỉ sau buổi chụp kỉ yếu ấy thôi, chúng ta lại lao vào vòng xoáy của bài tập, của đề cương. Màu nắng hạ soi trọn bóng hình nỗ lực của chúng ta. Lơ đãng nhìn ra cửa sổ, thấy nắng cũng có chút ưu ái với chúng mình, mấy đứa trẻ đang oằn mình trong áp lực từ xã hội. Nhưng không lâu đâu, sau tháng 6 này, bạn sẽ trở lại là cánh bướm vô tư mà thôi. Mình từng lo chúng ta sẽ không đạt được ước mơ, bởi sự cạnh tranh quá lớn. Nhưng màu hạ này không chói chang với chúng mình: chúng ta đậu NV1 rồi! Tên của cậu rất đẹp, và cậu đã điền tên của mình - thật kiêu hãnh - vào tấm giấy báo trúng tuyển ấy. Mình vui biết bao nhiêu. Khi nhận được thông báo chúng ta đạt được giấc mơ, mắt mình rơm rớm nước mắt. Gía như khi ấy mình khóc có lẽ niềm vui sẽ trọn vẹn hơn nhỉ, giọt nước mắt của nỗ lực. Nhưng niềm vui của mình không dài lâu, mình cười rồi chợt tưng hửng: sau mùa hè này mình có còn được gặp các bạn nữa đâu? Mỗi đứa một phương trời, gieo khát vọng ở một bầu trời mới.

Đã hơn ba tháng kể từ ngày mình xa LTT, xa A3. Các bạn chắc đã quen với trường mới, lớp mới nhỉ? Chắc chỉ còn mình vẫn đơn phương. Ngôi trường mà mình học sống chết để được vào giờ đây khiến mình sợ hãi, áp lực tột cùng. Mình không thấy sự gắn bó hay kết nối, chỉ toàn là sự tranh giành và cạnh tranh. Mình muốn gác lại niềm vui trên tờ giấy báo trúng tuyển để mơ giấc mơ A3 một lần cuối. Các bạn liệu có biết không, ngày mới xa nhau, mình nhớ các bạn quay quắt. Mình mơ chúng ta cả trong giấc ngủ, thấy ta vẫn cùng nhau cười trong ấy mà? Phải chăng ta chưa từng xa nhau? Không có câu từ nào có thể nói được nỗi nhớ của mình. Mình thực sự rất nhớ mọi người. Nhưng mình nghĩ đến lúc rồi, phải dừng lại thôi. Mỗi đứa đã yên vị ở một ngôi trường mới, nói nhớ nhau hay không cũng thật khó để trở về. Vậy thì thôi, buông bỏ nỗi nhớ đi để có thể toàn tâm cống hiến trong giấc mơ riêng của các bạn. Nhớ, vẫn đành là nhớ, chỉ là ta tạm gác lại, hướng về tương lai, chờ một ngày tương phùng hội ngộ. Cầm tấm ảnh kỉ yếu trong tay, gói trong mình bao ước vọng, chờ một ngày cất cánh bay xa...
Thêm
133
0
0
Viết trả lời...