Newsfeed

forum.Vanhoctre.com | Nuôi dưỡng tình yêu văn chương, cuộc thi viết văn; học văn, những bài văn hay. Tác phẩm văn học chọn lọc, lí luận văn học, ...
Văn học là một loại hình ý thức xã hội tồn tại bên trong cấu trúc của xã hội hiện thực, bởi vậy nó ẩn chứa trong đó tất cả những biến thiên của xã hội đồng thời đặt ra trong ta câu hỏi về những " kẻ khác”. Những kẻ khác tồn tại trong văn học với vai trò vị trí của một người ở ngoại biên, bị đẩy ra vùng ngoại vi và không có tiếng nói. Văn học khi thực sự chạm đến góc cạnh sâu nhất mang tầng ý nghĩa của mình thì phải là khi mà nó cất lên tiếng nói của những kẻ khác.


Rằng khi chúng ta chưa chết, chúng ta không thể “phát biểu điều gì về cái chết”, cũng như với kẻ khác khép mình thì làm sao ta thấu về họ. Alexandre Gefen dẫn dắt chúng ta đến với lời giải đáp cho mọi vấn đề được đặt ra, cho chúng ta một câu trả lời chuẩn xác và hài long, đó là: “Và không phải ai khác, chính văn học là kẻ sẽ phải gánh vác trách nhiệm sửa chữa lại lỗi lầm đó của Đấng Tạo Hóa”. Nếu như thiếu sót của Vulcain là “không khoét một ô cửa nhỏ nơi trái tim… tâm hồn con người còn bị bó chặt và giấu kín đi trong một cái lớp vỏ dầy và mờ đục của máu và da thịt” thì chính văn học sẽ là chìa khoá giúp chúng ta đi tìm cánh cửa trái tim vô hình kia. Văn chương bởi vậy là con người, là phần người sâu thẳm nhất. Tuy vậy văn chương không chỉ là hình ảnh giống như chiếc bóng của con người đổ xuống mặt đường, đổ lên tường vách, lên cuộc đời, mà văn là con người ở mức cao hơn. Không thể có ngả đường nào khác cho hành trình của văn chương, chính là sự tham dự vào cuộc hành trình của tư tưởng và khơi dậy linh hồn. Nhà văn vì thế phải là “kẻ không căn cước, kẻ có khả năng xâm thực được trong thân xác của người khác”. Bởi vậy, khi ta cảm nhận một tác phẩm văn học cũng là lúc ta đi sâu vào thế giới của kẻ khác, nhìn họ ở khoảng cách gần hơn và cũng là lúc ta đi sâu vào tâm hồn của chính mình.


Liệu rằng có mấy ai không động lòng thương xót cho nàng Kiều bạc phận khi nhớ Truyện Kiều- Nguyễn Du? Có mấy ai không căm phẫn xã hội bất công, áp bức đẩy anh chàng Chí Phèo đến bờ vực thèm khát lương thiện? Và có mấy ai không căm thù lũ giặc cướp nước hại dân tộc khi đọc Bình Ngô đại cáo? Mỗi trang văn, mỗi tác phẩm là linh hồn, là con người bên trong, là cốt lõi của chính nhà thơ ẩn chứa bên ngoài là tấm thân xương thịt đời thường. Văn chương không phải là thứ mây ngũ sắc phiêu lãng bồng bềnh trôi trên tận tầng trời. “Khám phá, kể chuyện, cất lời ca, một cách tinh tế tinh tế hay bình dị về những cảm xúc của các cá thể. “Biến mỗi một kẻ khác ta thành một thế giới của những phép mầu, những bí ẩn…”- tác giả đã nói hộ lòng độc giả, những người đón nhận văn chương một cách trân trọng và thận trọng giữ gìn. Văn chương trở thành chiếc gương mà khi ta nhìn vào, ta thấy tâm hồn người viết trải lòng trong đó, ta hiểu về con người, đồng thời ta hiểu về chính ta. “Kẻ khác không phải là một dữ kiện, kẻ khác là một quan niệm lịch sử…”.


Hiểu và nhìn nhận về kẻ khác ở những khoảng cách gần, để không cảm thấy xa lạ với họ, để tiếng nói của họ được vang vọng lên giữa xã hội ồn ã này - đó là trách nhiệm của người nghệ sĩ. Văn chương là chân dung của cái tôi và tâm hồn của nhà văn. Không khó để mở cửa trái tim nhưng không phải ai cũng đủ trân trọng và yêu thương để thấu hiểu và hiểu một cách chân thành, sâu sắc. Chúng ta chỉ có thể khẳng định rằng văn chương là nhịp cầu hướng từ cái tôi tới cái ta, lan toả và chiếu rọi linh hồn con người. Đọc từng câu từng chữ, ta như nuốt trọn từng lời từng ý trong mỗi chữ mỗi câu. Tác giả đã mở ra một cái nhìn chân thực, một tia sáng phản tỉnh - độc giả với tâm thức tiếp nhận của nhà văn. Văn chương đã giúp ta nhìn gần hơn về
kẻ khác.
Thêm
9
0
0
Viết trả lời...
Văn học dân gian là một hình thái ý thức xã hội. Nhiều tác giả cho rằng, văn học dân gian ra đời từ thời kì công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại ngày nay.

Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, chỉ sau khi có nhà nước, mới có hai dòng văn học: văn học dân gian và văn học viết. Trước đó, chỉ có văn học cộng đồng. Theo quan niệm này, người Ê Đê, Mơ Nông… không có văn học dân gian vì chưa phát triển đến trình độ tổ chức xã hội có nhà nước.

Giáo sư Nguyễn Tấn Đắc viết: “Trong một xã hội cộng đồng như vậy, văn hoá mang tính cộng đồng và cũng chưa nhiễm tính chính trị - đẳng cấp. Chưa có sự phân biệt giữa cái chính thống, quan phương với cái dân gian, thôn dã. Tất cả chỉ là một. Không có hiện tượng hai bộ phận văn hoá. Tính cộng đồng là đặc điểm bao trùm toàn bộ đời sống của xã hội đó. Khi nói dân gian là mặc nhiên thừa nhận có cái đối lập với nó. Nhưng ở trong những xã hội này, văn hoá nói riêng cũng như xã hội nói chung chưa có sự tách đôi thành hai bộ phận “đối lập” nhau”. Ý kiến trên là đáng chú ý. Tuy nhiên, nếu chia văn học thành ba loại hình (văn học cộng đồng, văn học dân gian, văn học viết) thì chúng ta thấy, xét về phương thức sáng tác, phương thức lưu truyền và tiếp nhận, xét về mặt thi pháp, văn học cộng đồng vẫn rất gần gũi với văn học dân gian.

Nếu xét kĩ, văn học cộng đồng có điểm khác so với văn học dân gian (chẳng hạn không có sự tác động qua lại giữa hai dòng văn học khi đã ra đời nhà nước, chữ viết); nhưng nếu ta đem so sánh nó với văn học viết thì sự khác biệt còn nhiều hơn, sâu sắc hơn và dễ nhận thấy hơn. Ở cả văn học cộng đồng và văn học dân gian, dấu ấn cái tôi tác giả, dấu ấn cá tính sáng tạo không có hoặc rất mờ nhạt, phong cách tác giả hầu như không có. Ở văn học viết, dấu ấn cá tính sáng tạo, phong cách tác giả lại là một yêu cầu không thể thiếu. Văn học dân gian nhiều khi gắn liền với sinh hoạt mọi mặt của người dân và tham gia vào những sinh hoạt đó với tư cách là một thành phần, một nhân tố cấu thành. Ở các bài ca tế thần, bài hát đám cưới, hát đối đáp nam nữ, hát ru em, mối quan hệ đó biểu hiện thành mối quan hệ giữa văn học dân gian với nghi lễ, hội hè, phong tục tập quán trong sinh hoạt gia đình và sinh hoạt xã hội. Dân ca lao động nảy sinh trực tiếp từ trong quá trình lao động, được hát lên khi người ta kéo thuyền, kéo gỗ, có tác dụng làm giảm nhẹ sự mệt nhọc, bằng cách tăng cường cảm giác nhịp điệu trong công việc, góp phần tổ chức, phối hợp động tác lao động tập thể, gây sự phấn khích trong lao động bằng sự nhận thức thẩm mỹ về quá trình lao động đó5 . Nếu trong văn học viết, người sáng tác và người thưởng thức là hai đối tượng khác nhau, thì ở văn học dân gian, mối quan hệ giữa người sáng tác và người thưởng thức cũng như môi trường sáng tạo, thưởng thức có nhiều điểm khác biệt.

Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã viết: “Điều mà chúng ta có thể nhận thấy trước tiên là môi trường sinh hoạt văn học dân gian hay những hình thức sinh hoạt văn học dân gian khác nhau (thường là những sinh hoạt tập thể) tạo nên một thứ “không khí” riêng cho việc tiếp thu tác phẩm văn học dân gian, chỉ trong “không khí” đó, tác phẩm văn học dân gian mới bộc lộ được hết giá trị thẩm mĩ của nó và những tác động thẩm mĩ do nó gây ra mới toàn diện, mới đa dạng.
Thêm
7
0
0
Viết trả lời...
Video YouTube Ngâm bài thơ (phiên bản mới)


GIẤC MỘNG BUỒN

“Thơ Nhạc”

Em về giữa giấc mơ tôi
Hình trăng thuở ấy, nay thời tối đen
Chân em giữa cõi không đèn
Trùm quanh vạn khối màn đêm mịt mùng…

Sương giăng, sương trắng ngập vùng
Phần tôi lặng ngắm chẳng cùng như sương
Sương đeo, sương nhỏ quạnh trường
Còn tôi chỉ thấy ảnh hờn em đi

Mênh mang vẳng tiếng thầm thì
Ngậm ngùi chua xót níu ghì con tim
Xui chi giữa giấc mộng chìm
Này đây gặp gỡ, im lìm dư âm…

Ô hay! Khúc nhạc thâm trầm
Khiến lòng tỉnh thức tím bầm ruột gan
Ôi đau! Lỡ bẻ cây đàn
Để rồi ray rứt, ngàn cân nặng đè…

Nghiêng trở bề, dạ não nề
Đành thôi rỉ rả kéo lê cung buồn
Phũ phàng vội hất quỳnh tương
Để kia chén ngọc ngỡ ngàng, chơi vơi

Nhìn ngang khúc nhạc rã rời
Vấn vương, lưu luyến từng hồi xót xa
Chỉ còn ghép đoạn sầu ca
Góc mờ dĩ vãng để mà phôi phai

Nghẹn ngào ôi hỡi! Tình Ai
Đậm đà, tha thiết chuỗi ngày năm xưa
Giờ như ngọn gió đông lùa
Xuyên qua cửa lạnh đủ vừa tái tê…

01/1/2025
Nhất Lang

(Nguyễn Thành Sáng)

Nguồn thơ: Kênh YouTube Thơ Nhạc Nhất Lang

(Gõ từ khóa trên Google)
Thêm
11
0
1
Video YouTube Ngâm bài thơ (phiên bản mới)


CHẬP CHÙNG HƯ KHÔNG

Rồi thời gian cứ lặng trôi
Như dòng nước cuốn xa xôi bên đời.
Ngày tàn tháng cạn năm vơi
Còn ta ngồi giữa góc trời mênh mông.

Quanh ta những áng mây bồng,
Rồi cơn gió thoảng... mịt mùng lối xưa
Tay gầy trơ những ngón thưa
Níu nhân gian một đêm vừa nhớ nhau!

Gió sương nhuộm trắng mái đầu,
Lá rơi dưới cội phai màu xuân thơ
Ta đi qua những hẹn chờ
Trái tim vỡ rạn hồn xơ xác già

Cúi đầu tạ lỗi chính ta
Là trăng đã muộn hay là viễn vông ?
Soi hình bóng giữa muôn trùng
Vẫn là ta với chập chùng hư không

Thời gian! Xin chậm đôi vòng...
Để ta trút cạn tiếng lòng thiên thu.

KT


Nguồn thơ: Kênh YouTube Thơ Nhạc Nhất Lang
(Gõ từ khóa trên Google)
 
Viết trả lời...
Cuộc sống hiện đại ngày nay mở ra nhiều cơ hội để con người tự do lựa chọn con đường đi riêng, thể hiện cái tôi và cá tính của mình. Xã hội càng sống dưới những áp lực, luật lệ và nỗi đau, con người càng cần khẳng định bản sắc văn hóa riêng của mình, để trở thành một phiên bản độc nhất không hòa lẫn. Đó là khi tôi rất ấn tượng với quan điểm của Phạm Thị Hoài trong tác phẩm "Thiên Sứ": "Tôi từ chối đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào, tôi từ chối bất kỳ bộ đồ đồng phục quá chật hay quá rộng nào." Lời giãi bày ấy không chỉ mang đến một tuyên ngôn cá nhân mạnh mẽ mà còn phản ánh những suy nghĩ sâu sắc về tự do, sự độc lập và niềm tin vào giá trị cá nhân.

Lời từ chối “đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào” khiến tôi nghĩ đến sự bức bối của một con người trước những định kiến, những chuẩn mực xã hội. Phạm Thị Hoài, qua lời nói này, không chỉ muốn nói về sự phản kháng đối với những giá trị bị gắn nhãn mà còn thể hiện quan điểm về việc không muốn bị giới hạn bởi những chuẩn mực xã hội áp đặt. Trong xã hội hiện đại, đôi khi chúng ta bị đẩy vào những “khuôn khổ” mà không biết mình có thực sự thuộc về nó hay không. “Từ chối bị gắn nhãn, đóng mác” nghĩa là từ chối bị đồng hóa, từ khước việc tự xóa mờ đi dấu ấn riêng của mình. Chúng ta đang gọi những vấn đề trong đời sống người trẻ hôm nay gắn với hai từ “thế hệ”. Như vậy nghĩa là, một vấn đề của một cá nhân, một cộng đồng cũng bị quy về vấn đề của một thế hệ.

Cùng với lời từ chối thế hệ, tác giả cũng khẳng định việc từ chối “những bộ đồng phục quá chật hay quá rộng”. Bộ đồng phục ở đây không chỉ là trang phục vật lý, mà chính là những khuôn mẫu, những chuẩn mực xã hội, những quy tắc hành xử mà đôi khi chúng ta phải tuân theo. Những bộ đồng phục quá chật khiến chúng ta cảm thấy bó buộc, mất tự do, không thể cử động thoải mái theo ý muốn. Còn những bộ đồng phục quá rộng lại khiến chúng ta lạc lõng, thiếu định hướng và không thể hiện được bản thân. Cả hai đều là những điều không thể tồn tại trong một cuộc sống đích thực, nơi mà mỗi người đều có quyền chọn lựa và sống theo cách của riêng mình. Với hình ảnh bộ đồng phục, Phạm Thị Hoài khéo léo phản ánh một thông điệp rằng, trong xã hội, mỗi người cần có không gian để phát triển, không thể sống trong một cái khuôn đã được chuẩn bị sẵn. Sự tự do không phải là sự bừa bãi, nhưng cũng không thể là sự bó hẹp, gò ép. Một bộ đồ vừa vặn là khi nó vừa khít với người mặc, không chật đến mức làm ta khó thở, cũng không rộng đến mức ta không thể cảm nhận được chính mình. Tương tự, mỗi người phải biết chọn cho mình những giá trị, những lý tưởng mà mình cảm thấy đúng đắn, để từ đó phát triển và sống trọn vẹn với con người thật của mình.


Những điều mà Phạm Thị Hoài thể hiện trong tác phẩm "Thiên Sứ" chính là sự đấu tranh cho tự do cá nhân trong một xã hội đầy rẫy những ràng buộc, những áp lực từ thế hệ này đến thế hệ khác, từ gia đình, xã hội đến môi trường làm việc. Trong một thế giới mà sự đồng nhất đôi khi được đề cao, lời nói của tác giả như một lời nhắc nhở về việc tôn trọng sự khác biệt và khẳng định quyền tự do lựa chọn con đường riêng của mỗi cá nhân. Chúng ta không phải là những bản sao, và xã hội không nên bắt buộc tất cả phải tuân theo một mô hình chung. Điều này có thể hiểu như một sự phản kháng mạnh mẽ trước những chuẩn mực, những hệ thống tư tưởng đang chi phối cuộc sống của mỗi người. Đó là sự kêu gọi về quyền được sống một cuộc sống của riêng mình, theo cách mà chúng ta muốn, không phải theo những gì người khác mong đợi. Sự tự do này không chỉ đến từ việc làm những điều mà mình thích mà còn là sự dũng cảm từ chối những điều mà mình không đồng tình.



Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, mỗi con người đều có quyền tự do lựa chọn con đường đi riêng, thể hiện cái tôi và cá tính của mình. Những điều này không chỉ nằm trong phạm vi các lựa chọn nhỏ nhặt hằng ngày mà còn bao gồm cả những quyết định lớn lao về cách sống, cách nghĩ và cách thể hiện bản thân. Một trong những quan điểm sâu sắc mà tôi rất ấn tượng trong tác phẩm "Thiên Sứ" của Phạm Thị Hoài chính là lời khẳng định: "Tôi từ chối đứng chung vào bất kỳ thế hệ nào, tôi từ chối bất kỳ bộ đồ đồng phục quá chật hay quá rộng nào." Câu nói này không chỉ mang đến một tuyên ngôn cá nhân mạnh mẽ mà còn phản ánh những suy nghĩ sâu sắc về tự do, sự độc lập và niềm tin vào giá trị cá nhân.
Thêm
38
0
0
Viết trả lời...
Biển sẽ không bao giờ lặng, chúng ta là những con người cô đơn trên bãi biển hôm ấy, lửng lơ, trôi dạt trong vô định. Từng đợt sóng ồ ạt xô vào bờ, làm ướt hết trái tim ta, rồi rút lại, và liên tục như thế. Qua rất nhiều lần bị vùi chôn trong đống sóng biển cảm xúc ấy, ta đã đánh mất đi sự rung cảm của mình đối với thế giới xung quanh. Thế nhưng, bạn à, bạn có biết rằng, vô cảm còn đáng sợ hơn buồn đau.

Cảm xúc là điểm yếu lớn nhất của con người, giá như tôi là người vô cảm, giá như tôi chỉ là hòn đá trôi dạt giữa xa khơi… Không ai có thể thấm thía nỗi đau này, họ ở ngoài cuộc, chỉ trỏ vào tôi và ra lệnh: “Mày không được buồn”, “Mày không được tiêu cực”. Thế nhưng, họ đâu hiểu rằng có những nỗi đau không thể ngưng lại nhờ mệnh lệnh. Những lời ra lệnh chỉ khiến họ thêm đau, thêm một lần trầy xước. Cảm giác khi đó thật tồi tệ, cảm giác như cả thế giới quay lưng lại với mình. Mình bơ vơ và nhỏ bé giữa cuộc đời này. Đây hoàn toàn không phải là cảm giác làm người lớn mà mình đã từng mơ. Nếu biết trước có cảnh này, mình ước mình sẽ mãi là một đứa trẻ.



Càng lớn lên, chống chọi với nỗi đau càng nhiều, mình càng nhận ra là, à, mình có thể ngồi giữa đống lửa này mà. Nó là cuộc chiến của riêng mình. Và giờ đây, mình bình thản ngắm nhìn những cảm xúc của mình đi qua như những đám mây trôi. Vô định. Nhưng mình không cố để thoát ra khỏi nó nữa. Những cảm xúc tiêu cực của mình cũng đẹp như những cảm xúc tích cực vậy, cũng muôn màu, cũng rực rỡ và cũng đáng để mình trân trọng. Mình cũng là con người, vui buồn đến với mình như một cái duyên. Mình không phải con robot để được lập trình sẵn sẽ luôn vui vẻ và mãi mãi vui vẻ. Mình đã từng rất ghét sự nhạy cảm của mình, ước rằng giá như mình không có cảm xúc. Mình từng nghĩ đến chuyện cắt tuyến lệ để không bao giờ khóc nữa, nhưng mình nhận ra nếu mình làm như vậy, mình đang làm tổn thương giọt nước mắt của mình.



Và khi mình trưởng thành, mình nhận ra, nếu hôm nay, mình chỉ có thể thở thôi cũng đủ rồi. Còn hơn là khi mình vô cảm.
Thêm
25
0
0
Viết trả lời...
Bố và con không hiểu nhau, không nói chuyện nhiều cùng nhau. Mỗi ngày chỉ nói qua nói lại vài câu hỏi han “Con ăn cơm chưa”, “Con có đi học không”. Con hỏi sao bố không giống những người bố mặc vest sang trọng khác. Bố cần mẫn, yên lặng, hàng ngày chở con đi học, đón con về nhà, nói dối con khi bị ốm để con không phải lo lắng. Đôi lúc, con trách bố quá vô tâm với con, hỏi sao bố không chịu gần gũi với con như mẹ. Con muốn nói chuyện với bố nhiều hơn, thấu hiểu bố nhiều hơn nhưng rồi thấy thật khó để mở lời.



Con trách bố không chịu hiểu con. Bố ở bên con hàng ngày, đưa con đi học, nhưng lại chẳng quan tâm con nghĩ gì, con làm gì. Bố chỉ quan tâm con ăn cơm chưa, đi học chưa, đóng tiền học bao nhiêu. Những lần con bất đồng quan điểm với mẹ, muốn bố đứng về phía con nhưng bố chỉ im lặng. Con trách sao bố chỉ quan tâm những người khác nghĩ gì về con mà lại không quan tâm con cảm thấy như thế nào. Đã có lúc, con bật khóc trong im lặng vì tủi thân, vì nghĩ rằng bố chẳng yêu con.



Ngày hôm ấy, con tình cờ xỏ chân vào đôi giày vải của bố. Đôi giày theo bố đi làm, được lau sạch khi bố đi dự đám cưới. Con vốn định mua cho bố một đôi giày mới nhưng bố không muốn, bố quen với những thứ cũ kỹ hơn. Con xỏ chân vào đôi giày sờn ấy, cảm nhận thử cảm giác của bố. Đôi giày to hơn chân con rất nhiều. Bố vẫn thường mang nó lộp cộp bước trên cầu thang mỗi sáng. Chỉ vài giây thôi, con cảm nhận được ít nhiều con người bố, thấy được phần nào những nỗi khổ của bố. Đôi giày ấy ngày ngày kiếm ra những đồng mồ hôi, cho con đóng tiền học, mua cho con những cái bánh vào ngày sinh nhật. Đôi giày ấy không mềm và dễ chịu như đôi giày búp bê của con, mỏng manh và cũ kỹ.



Con thấy mình nhỏ bé trong đôi giày vải ấy. Và con ước, con ước mình vẫn mãi là đứa bé năm ấy bố ôm vào lòng. Chẳng biết từ bao giờ, con lại giữ khoảng cách với bố như thế? Từ khi con bắt đầu lớn chăng… Con rời xa bố dần, không chịu chia sẻ để thấu hiểu bố mà chỉ trách sao bố không hiểu mình. Và con biết, bố cũng không mạnh mẽ. Bố cũng yếu đuối và mỏi mệt, đôi lúc bố cũng muốn từ bỏ. Nhưng vì con, vì mẹ, vì gia đình mình, bố phải gồng mình để không được khóc. Bố phải mạnh mẽ để mẹ con con dựa vào. Xã hội đã đánh mất quyền được khóc của người đàn ông, trong khi khóc là quyền cơ bản của con người. Nếu có một điều ước, con mong sao cho những gánh nặng trên vai bố nhẹ đi một chút, cho con được mua của bố một giờ đồng hồ, để bố được về nhà sớm ăn cơm cùng con.

Những lúc chông chênh nhất, nhìn mái tóc bố bạc dần, thấy gương mặt bố xám vệt thời gian, con lại có thêm một lý do để cố gắng.
Thêm
33
0
0
Viết trả lời...
Ngày còn bé, mình chỉ mong được lớn thật nhanh, để rời khỏi căn nhà nhỏ, để tung bay trên bầu trời của riêng mình. Mình nghĩ, hạnh phúc là những điều nằm ở phía xa khơi, gia đình chỉ là nơi bến bờ để mình trở về khi mỏi mệt. Nhưng mình nào có biết rằng, có những điều tưởng như bình thường, khi đi xa mới thấy hạnh phúc. Càng lớn lên, đi xa nhiều, mình càng thấy cuộc sống người lớn không huy hoàng như mình nghĩ, không phải cứ đi thì sẽ kiếm được nhiều tiền, kiếm được hạnh phúc. Điều mình nhớ thương nhất trong mỗi chuyến đi xa vẫn luôn là nhà, là gia đình với những bữa cơm cá kho nghi ngút khói. Tết này, ở nơi xa, mình nhớ…



Từ ngày ông đi, con vẫn chưa quen với cuộc sống vắng ông. Nhiều đêm choàng tỉnh, con vẫn mơ thấy ông hiện về trong giấc mơ con. Ông vẫn là ông của ngày nào, ngồi trên tấm phản gỗ, phe phẩy quạt, mắt nhìn xa xăm. Ông đi xa từ ngày con còn bé. Ngày ông mất, trời mưa tầm tã, bố mẹ khóc đỏ mắt, bà đứng không vững, chỉ có con vẫn ngây thơ chẳng biết gì đang diễn ra. Con chưa nhận thức được rằng, cả thế giới tuổi thơ của con đã ra đi. Con nhớ ông nhiều lắm, con nhớ con đã gào khóc gọi ông đến khản cổ. Bà ôm con vào lòng, vỗ về con trong bàn tay ấm áp. Bà dặn con phải ngoan thì ông mới về. Ngày nào, con cũng cố ngoan ngoãn, chờ một ngày ông sẽ về, sẽ dẫn con đi chơi. Nhưng theo năm tháng, nỗi buồn của con nguôi ngoai dần. Dường như con đã quên đi hình bóng ông trong tâm trí con, quên mất hình dáng bàn tay ông thế nào, quên giọng nói ông trầm ấm ra sao. Gần mười năm qua kể từ ngày ông đi, tết năm nay giữa chốn phồn hoa nặng hương khói, con nhớ về ông mà mắt cứ cay cay.



Từ ngày bà mất, con bắt đầu thấy sợ thời gian. Con sợ năm tháng sẽ đưa những người con yêu đi mất. Con đã tưởng bà sẽ ở bên con thật lâu, con tưởng bà sẽ chờ đến ngày con lấy chồng. “Để bà còn bế chắt chứ”. Thế mà, bà chẳng giữ nổi lời hứa với con. Bà mất giữa những ngày con lăn lộn trên thành phố, oằn mình trước bài vở và công việc. Trước những áp lực từ cấp trên, con nín lặng, nén nỗi đau vào trong, định rằng sáng sớm mai sẽ về với bà. Thế mà đêm ấy, cuộc gọi lúc 2 rưỡi sáng của bố làm tim con lạnh ngắt, con tưởng con đã ngất vào giây phút ấy. Vậy là ông bà đều bỏ con mà đi. Ông bà chẳng chịu giữ lời hứa với con. Tại sao ông bà dạy con phải ngoan ngoãn, đến khi con đã ngoan ngoãn rồi thì ông bà lại theo hương khói bay đi mất? Giữa phố thành, trong đêm đen, trong căn nhà trọ cô quạnh không ai bên cạnh, con gục đầu vào gối khóc sướt mướt. Ông bà đi mang theo cả tuổi thơ êm đềm của con đi. Nghĩa là từ nay con mất đi một phần ngây thơ.



Có những người ở bên cạnh ta, ta cứ chờ đợi mãi mới nói lên lời yêu. Đến khi muốn nói thì đã chẳng còn cơ hội, họ đã chẳng còn bên ta nữa rồi. Mình yêu ông bà nhiều lắm, nhưng mình vẫn cứ chần chừ, không dám nói yêu ông bà bao giờ, cũng chẳng dám choàng tay ôm lấy ông bà. Có lẽ là do cái tôi của mình cao quá. Mình tưởng mình còn nhiều thời gian lắm, vậy mà, hỡi ôi, mình nào biết có những năm tháng đầy nuối tiếc như thế ở trong đời…
Thêm
23
0
0
Viết trả lời...
Virgina Satir, một chuyên gia ở Mỹ từng chia sẻ rằng: “Chúng ta cần bốn cái ôm mỗi ngày để tồn tại, tám cái ôm mỗi ngày để nuôi dưỡng, mười hai cái ôm mỗi ngày để phát triển”. Chúng ta bất hạnh vì những đớn đau, thống khổ và sự vô tình của những kẻ máu lạnh, nhưng thế giới ban cho chúng ta quyền năng được chữa lành chính nỗi buồn của mình, đó là khi ta ôm người khác. Ôm ai đó không phải việc bắt buộc, không phải nghĩa vụ bạn phải trao đi khi người khác cần. Nhưng những cái ôm quan trọng với chính bạn, là việc bạn nên làm nó mỗi ngày để nuôi dưỡng chính mình.


Con người ta chỉ có một trái tim, nhưng khi chúng ta ôm người khác, chúng ta sẽ có hai trái tim. Hai trái tim ở bên trái và bên phải khiến chúng ta vừa biết đồng cảm vừa biết yêu thương. Hai trái tim là tín hiệu của tình người, là minh chứng cho việc chúng ta vẫn còn cảm xúc. Còn biết mở rộng vòng tay ôm lấy người khác là chúng ta còn biết yêu, biết ghét. Ôm một ai đó không chỉ diễn ra khi ta ôm người thương, ôm bố mẹ, ôm những người cùng thế giới với mình. Đó còn là khi chúng ta ôm lấy một đứa bé vùng cao co ro trong giá rét, khi ta nắm lấy bàn tay một bà cụ già. Nếu như con người thực sự có khoảng cách, cái ôm sẽ đưa chúng ta đến gần nhau hơn, xóa đi mọi giới hạn.

Con người ta không giỏi nói lời yêu, không phải lúc nào cũng đủ can đảm để nói rằng “Anh yêu em”, “Con yêu bố mẹ”. Chúng ta thể hiện cảm xúc qua những hành động không lời, đó là những cái ôm. Khi tôi quẫy quại trong nỗi thống khổ, trong những giọt nước mắt, tôi không nghĩ mình sẽ đủ bình tĩnh và bước đến ôm người khác một cách bình thường, bởi ma lực của cái ôm ấy thật đáng để vội vàng. Tôi ôm một người khác không có nghĩa là nỗi buồn của tôi biến đi, nỗi buồn của tôi cũng chẳng thể truyền sang một ai đó. Chỉ đơn giản là khi tôi ôm họ, tôi thấy mình được yêu thương, thấy mình không đơn độc trên cuộc chiến đời mình. Tôi ước mình được lang thang khắp chốn nhân gian ồn ã này, và khi quay về nhà thì được tan mềm trong những cái ôm ấm ngọt.

Hôm nay, bạn đã ôm ai chưa?
Thêm
26
0
0
Viết trả lời...
Đọc cuốn sách “Bức xúc không làm ta vô can” của Đặng Hoàng Giang, tôi rất ấn tượng với chương sách: văn hóa không phải lý do khiến Quốc gia thất bại.
Ở chương này, tác giả đề cập đến việc sự quan trọng của văn hóa không bị đứt gãy, cũng không phải là nguyên nhân khiến cho một quốc gia thất bại trước toàn cầu. Tác giả mong muốn nhìn thấy người dân Việt Nam có đủ hiểu biết và sự dẻo dai về văn hóa để chèo lái trên biển toàn cầu hóa, để trở nên những công dân toàn cầu mà không bị tha hương về văn hóa, bơ vơ về bản sắc. Trước những quan điểm trái chiều về việc chúng ta cần phải thoát khỏi những quan điểm cổ hủ xưa cũ để bắt đầu hình thành nên một nền văn hóa cho riêng mình, tác giả thể hiện rõ thái độ ngán ngẩm và đặt ra câu hỏi: liệu văn hóa có phải là lý do khiến Quốc gia thất bại?


Văn hóa hoàn toàn không phải là lý do khiến Quốc gia thất bại. Việt Nam chúng ta được hình thành từ nền tảng của văn hóa Trung Quốc, từ nền tảng của đạo Khổng tử. Đó là nền móng xây dựng nên văn hóa và 4000 năm văn hiến của người Việt Nam. Và sẽ ra sao nếu như chúng ta từ bỏ hoàn toàn nguồn gốc cốt lõi của mình để theo đuổi một nền văn hóa khác được xây dựng chỉ với tuổi thọ và chục năm?


Hơn nữa, Việt Nam chúng ta không chỉ muốn thoát khỏi tầm ảnh hưởng về kinh tế hay chính trị, mà còn muốn được khẳng định tiếng nói riêng của mình không trùng lặp với ai, bởi chúng ta là một, là riêng, là duy nhất. Rất nhiều tiếng nói yêu cầu Việt Nam thoát Trung Quốc về văn hóa, trở thành một quốc gia độc bản về bản sắc. Theo họ, cước từ văn hóa Trung Quốc, tức là cước từ gốc gác của văn hóa Việt, là điều cấp thiết để Việt Nam trở nên hùng mạnh và thịnh vượng. Nhưng chúng ta đâu chỉ phụ thuộc vào văn hóa Trung Quốc để trở nên vững mạnh hơn. Và cái chính đó là phải sửa cái ruột bên trong, chứ không phải chỉ cải cách bên ngoài, theo những hình thức bên ngoài vô giá trị.


Từ tưởng tượng một tình huống khác khi nghĩ đến việc thoát Trung, nếu các trường hợp chỉ thấy cái khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn" bằng “Hãy tin vào chính bạn" - một phương châm hoàn toàn Mỹ, thì liệu nặng dạy thêm, phong bì, biếu xén, lại chạy trốn chạy điểm có bỗng dưng biến mất hay không? Nếu như thoát Trung về văn hóa thì những tệ nạn trong xã hội ngày hôm nay có bị giảm đi hay không? Và nếu như chúng ta hoàn toàn theo Mỹ thì liệu đời sống của chúng ta có được cải thiện hay không? Trả lời được câu hỏi đó cũng là lúc ta khẳng định Văn hóa không phải là lý do khiến cho một quốc gia thất bại.
Thêm
19
0
0
Viết trả lời...
Xã hội của người trẻ hôm nay xoay vần trong những áp lực. Một phần những áp lực đó đến từ bản thân họ, gia đình và bạn bè. Như một phần khác cũng đến từ văn hóa thần tượng đang diễn ra một cách sôi động trong cuộc sống của người trẻ. Thật không khó để bắt gặp hình ảnh những ca sĩ, diễn viên, người mẫu trên mạng xã hội, và những ảnh hưởng của họ không hẳn là không tác động đến người trẻ. Họ khiến cho những người trẻ cảm thấy ngưỡng mộ, thần tượng và đôi khi là cuồng loạn trước thần tượng của mình. Văn hóa thần tượng thật ra không có gì xấu, thậm chí nó còn mang ý nghĩa tốt nếu như sự thần tượng của chúng ta mang lại tác động tích cực. Tuy nhiên người trẻ hôm nay lại không biết vận dụng những tác động tích cực của nó. Văn hóa thần tượng dân vị biến chất, khiến cho câu hỏi liệu hào quang có thật sự hào nhoáng đang trở nên bức thiết hơn đối với người trẻ.


Liệu hào quang có thật sự hào nhoáng? Hào quang thường đến từ những người nổi tiếng, ca sĩ diễn viên, những người có tầm ảnh hưởng trên mạng xã hội. Họ được xã hội gắn cho những biệt danh về sự hào nhoáng, giỏi giang và gây được ấn tượng. Trong thế giới có mạng xã hội ngày nay, những người trẻ dần dần có cơ hội được tiếp xúc hơn với thần tượng của mình, nhìn thần tượng của mình ở khoảng cách gần hơn. Chúng ta có thể gặp gỡ Taylor Swift, Michael Jordan, Marilyn Monroe thông qua màn ảnh tựa như những người thân quen của mình, đó là tiếp xúc giữa thần tượng và người hâm mộ. Điều đó được gọi là para social, một từ ngữ được xem là từ ngữ quan trọng của năm 2025. Và những người thần tượng đó được gọi là những “người xa lạ gần gũi".


Tuy nhiên, Bi kịch đó là Hào quang không thật sự hào nhoáng. Đằng sau câu chuyện của người nổi tiếng là rất nhiều những bi kịch đằng sau, rất nhiều những con đường mà họ phải trải qua và gánh chịu khi đối mặt với mạng xã hội và văn hóa thần tượng. Đó là lúc người ta bàn tán về biệt thự của một ca sĩ nhiều hơn là giọng hát của cô ấy, bàn tán về cuộc ly hôn của một vận động viên hơn là về chương trình tập luyện của anh. Người nổi tiếng thường có cảm giác bị soi mói ở khoảng cách gần, mất đi quyền riêng tư, hoàn toàn bị xâm phạm và không có quyền được sống là chính mình. Khi là một người nổi tiếng, ăn cũng phải nghệ sĩ, ngủ cũng phải nghệ sĩ, uống nước cũng phải nghệ sĩ, những lời nói phải luôn đặt trong chuẩn mực để không bị xã hội lên án. Điều đó đồng nghĩa là, khi trở thành một nghệ sĩ, họ đã đánh mất đi quyền lực sống như một con người cơ bản của mình. Những biến động trong cuộc sống của họ thay đổi căn tính và những chuẩn mực của xã hội.


Danh vọng luôn quyến rũ con người như ánh sáng quyến rũ thiêu thân. Lao đầu vào thứ ánh sáng đó chưa chắc đã đem lại cho chúng ta Hào Quang, mà ngược lại chỉ biến chúng ta thành con thiêu thân. Thần tượng là xứng đáng, nhưng liệu có xứng đáng hay không khi chúng ta đánh mất phần người của mình để theo đuổi một bản sao khác của xã hội? Và câu hỏi hôm nay trong văn hóa thần tượng của người trẻ đó là liệu hào quang có thật sự hà
o nhoáng…
Thêm
26
0
0
Viết trả lời...