Newsfeed

forum.Vanhoctre.com | Nuôi dưỡng tình yêu văn chương, cuộc thi viết văn; học văn, những bài văn hay. Tác phẩm văn học chọn lọc, lí luận văn học, ...

Họa Khúc Buồn  Pexels-pixabay-326055-1-600x398


HỌA KHÚC BUỒN - (Kỷ Niệm Lưu Dấu)

"mỗi người một khổ thơ"

Trời đã khuya rồi chàng biết không
Sao chưa dỗ giấc điệp say nồng
Để em cô lẻ bên phòng vắng
Cảm thấy cô đơn lạnh lẽo lòng


Anh chưa ngủ được bởi vì em
Muốn ở gần bên trải nỗi niềm
Này cảm, này yêu, này thổn thức
Ngập tràn lai láng giữa con tim


Những lời tha thiết của Tình Lang
Đã khiến con tim đập rộn ràng
Hương sắc tình yêu ngày một thắm
Mơ màng hạnh phúc ngập phòng loan


Thắm thiết ôm mình tặng nụ hôn
Lâng lâng hai đứa thả mơ hồn
Trời mây, biển suối,dòng sông mộng
Lững thững nhẹ nhàng trải bước chân


Đêm vắng mưa rơi gió tứ bề
Phòng đơn rỉ rả giọt lê thê
Tình Lang ơi hỡi! phương trời ấy
Nỡ để lệ em tủi tái tê


Anh nào có muốn để em buồn
Canh vắng âm thầm lệ nhỏ sương
Cũng bởi duyên tình nay đã lỡ
Thôi đành vào mộng nối tơ vương


Đường trần lạnh lẽo mình em bước
Chàng có hay đâu trĩu nặng lòng
Thao thức đêm trường sầu lệ đổ
Vai gầy phải chịu cảnh phòng không


Đừng sầu trăn trở nữa Nương ơi!
Anh hiểu, anh đau khổ lắm rồi
Mệnh số do trời đâu cưỡng được
Trần gian cách biệt kiếp này thôi!...


23/4/2018
Đồng cảm họa
Nhất Lang & Tam Muội


---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

LỜI TÂM TÌNH
----------------


Tam Muội - Hồn Nương yêu dấu!

Suốt ba năm dài, em đã cùng anh bước trên con đường thơ mộng ấy. Ngoài việc trau giồi thi tứ, đôi ta còn chung một ước nguyện: gửi chút hồn thơ của mình đến với cuộc đời.

Biết bao đêm thao thức tìm ý, biết bao canh dài trăn trở với từng câu chữ. Những vất vả, nhọc nhằn ấy âm thầm in dấu trong tâm hồn em và anh như những mùa mưa nắng của một hành trình dài.

Giữa biển đời nhiều sóng gió, ngang trái và phũ phàng, sức người vốn hữu hạn. Có những điều ta muốn giữ mãi nhưng chẳng thể cưỡng lại vòng xoay của mệnh số. Rồi tất cả dần hóa thành dư hương, nhưng là dư hương còn mãi, lặng lẽ và thơm ngát giữa tháng năm.

Hôm nay nhìn lại chặng đường đã qua, anh chỉ mong những gì mình cố gắng tạo dựng được sẽ phần nào bù đắp tấm lòng yêu dấu mà em đã từng trao gửi.

Anh đã cố gắng dựng nên một dấu ấn nhỏ giữa dòng đời, không phải để vinh danh mình, mà để lưu lại một chút ánh sáng cho Tình Thơ của đôi ta. Và nếu ở một nơi nào đó giữa cõi vô cùng, Hồn Nương vẫn còn lặng lẽ dõi theo bước chân anh, thì xin hãy xem đó như một ngọn lửa ấm, sưởi nhẹ linh hồn bất tử của em giữa những nẻo đường trần còn nhiều gió lạnh...

Thương nhớ và tri ân em mãi mãi.

Ba năm đồng điệu tâm hồn, hơn 2.000 bài thơ họa nối tiếp – Nhất Lang & Tam Muội
đã viết nên một câu chuyện thi ca độc đáo, được AI Google giới thiệu.

Họa Khúc Buồn  Google-4
Thêm
19
0
0
Viết trả lời...
Tinh hoa liệu có được đào tạo nên bởi sự chọn lọc gen? Ngành khoa học di truyền đã tiến những bước dài, hỗ trợ những ý tưởng cho công nghệ y sinh góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Một số dịch vụ nghiên cứu, sàng lọc gen đã được thực nghiệm để phục vụ con người. Tuy nhiên, có một lằn ranh không thể vượt qua chính là khoảng cách giữa nghiên cứu và sự nhân đạo trong việc tôn vinh, đem đến những nghiên cứu bình đẳng cho con người.

Nếu như chúng ta sẵn sàng kì thị, bài trừ, giết chóc nhau chỉ vì màu da và sắc tộc, bộ gen sẽ lại một lần nữa tạo nên những xung đột trong việc tìm kiếm bộ gen hoàn hảo để phát triển người tinh hoa. Tôi cho rằng, phát triển người tinh hoa bằng công nghệ gen là sự cơ hóa quyền sống tự nhiên của con người, tước đoạt khỏi họ cơ hội được sống đúng nghĩa. Trí tuệ nhân tạo, công nghệ chỉnh sửa gen, hay kỹ thuật sàng lọc phôi di truyền trước khi chuyển phôi ban đầu được thiết kế như những chiếc khiên chống lại bệnh tật hiểm nghèo. Nhưng giờ đây, chúng đang bị một bộ phận giới học thuật và định chế xã hội nhìn nhận như những biện pháp tạo nên một thế hệ “siêu nhân”.

Hành vi can thiệp vào bộ gen để kiến tạo năng lực trí tuệ hay hành vi con người không đơn thuần là một thử nghiệm sinh học. Thực chất, đó là một hành động mang tính vi phạm pháp lý nghiêm trọng: tước đoạt quyền phát triển tự nhiên của một con người. Khi một đứa trẻ được lập trình sẵn để trở thành một thiên tài, quyền sống của đứa trẻ đó đã bị biến đổi từ một chủ thể tự do thành một sản phẩm được sản xuất. Nó cũng gây nên những sự lo lắng, bất an cho cha mẹ và người nuôi dưỡng chúng.

Trí thông minh là một tính trạng đa gen chịu sự chi phối của hàng ngàn biến thể gen, cộng hưởng với môi trường, giáo dục và dinh dưỡng. Tuy nhiên, con người đang rơi vào nhầm lẫn khi tin rằng có một hoặc một nhóm "gen thông minh" mà nếu sở hữu chúng, cá nhân hiển nhiên sẽ đứng vào hàng ngũ tinh hoa.

Nghiên cứu toàn diện của Savage và cộng sự vào năm 2018 trên mẫu dữ liệu khổng lồ gồm gần 270.000 cá nhân đã chỉ ra rằng mỗi biến thể gen này chỉ đóng góp một tỷ lệ ảnh hưởng cực kỳ nhỏ nhoi, thường là chưa tới 0,1% vào tổng thể sự biến thiên trí tuệ giữa các cá nhân. Do đó, không tồn tại một thực thể gọi là “gen thiên tài". Trí tuệ con người là một hệ thống từ sự vận hành đồng bộ của hàng vạn yếu tố sinh học, môi trường, y tế và dinh dưỡng. Việc cố gắng lựa chọn một vài tổ hợp gen với hy vọng tạo ra một thiên tài là hành vi đi ngược lại quy luật vận hành tự nhiên của bộ gen. Khi công nghệ cố tình can thiệp để tạo ra một tổ hợp nhân tạo, chúng ta không tạo ra thiên tài, mà đang tạo ra những rủi ro sinh học chưa thể lường trước do phá vỡ sự cân bằng di truyền đã được định hình qua hàng triệu năm tiến hóa.

Và khi đó, quyền được sinh nở tự nhiên của người phụ nữ cũng bị can thiệp, mất đi sự thiêng liêng vốn có. Quyền phát triển tự nhiên của một cá nhân bao gồm quyền được sinh ra với một tương lai mở, không bị định hình trước bởi ý chí chủ quan của bất kỳ ai khác, kể cả đấng sinh thành. Theo triết học đạo đức của Immanuel Kant, con người phải luôn được đối xử như một cá nhân tự thân, chứ không bao giờ được đối xử như một phương tiện để đạt được mục đích. Khi một đứa trẻ được tạo ra thông qua quá trình sàng lọc gen chọn lọc tinh hoa, nguyên tắc này đã bị vi phạm nghiêm trọng. Khi đó, chúng ta chỉ tồn tại như những “con cừu Dolly” bị sáng tạo ra bởi bàn tay con người.

Nhà triết học Jürgen Habermas trong tác phẩm nổi tiếng "Tương lai của bản chất con người" (The Future of Human Nature) đã cảnh báo rằng việc can thiệp di truyền làm xói mòn mối quan hệ bình đẳng giữa các thế hệ. Khi cha mẹ can thiệp vào bộ gen của con cái vì mục đích phi y tế, họ đã khiến đứa con không còn có thể xem mình là chủ thể duy nhất cho đời sống của chính mình, bởi một phần quan trọng trong năng lực và xu hướng của họ đã được định hình bởi sự lựa chọn có chủ ý của cha mẹ.

Trong thế giới hiện nay, sự bất bình đẳng giàu nghèo vốn đã tạo ra những khoảng cách rất lớn về cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế và công nghệ. Tuy nhiên, khoảng cách này vẫn có thể được san lấp phần nào qua các thế hệ nhờ vào sự nỗ lực, may mắn và các chính sách an sinh xã hội. Nhưng nếu công nghệ sàng lọc và thiết kế gen tinh hoa được thương mại hóa, một bi kịch nữa lại ra đời. Giai cấp thượng lưu, với nguồn lực tài chính dồi dào, sẽ là những người đầu tiên và duy nhất có khả năng tiếp cận các gói dịch vụ "tối ưu hóa bộ gen" cho con cái họ. Thế hệ con cái của họ không chỉ giàu có hơn nhờ thừa kế tài sản, mà còn khỏe mạnh hơn, có trí thông minh logic cao hơn, và khả năng tập trung tốt hơn nhờ vào sự can thiệp kỹ thuật. Điều này cuối cùng sẽ trở thành nguyên nhân gây nên bất bình đẳng không chỉ trong y tế mà còn trong y sinh.

Công nghệ y sinh ngày càng phát triển, đem đến nhiều cơ hội trong việc phát triển cuộc sống con người, cho con người cơ hội sống tốt và an toàn hơn. Tuy nhiên, nó cũng trở thành những mối nguy hiểm khi trở thành góc tối cho những mục đích thực dụng. Quyền được làm mẹ và quyền được sinh ra của những đứa trẻ trong môi trường tự nhiên là một quyền thiêng liêng. Đối với tôi, đó là một quá trình không thể thay thế được trên hành trình trưởng thành. Không thể tạo ra hàng loạt những thiên tài trong cùng một thế hệ. Không thể ép ai đó trở thành một thiên tài cho những mục đích cá nhân. Đó không chỉ là sự vi phạm pháp lý mà còn cản trở cách chúng ta sống như một con người. Bên cạnh nỗi sợ bị AI thay thế, giới y sinh cũng bắt đầu cảnh báo trước về một viễn cảnh nơi những “thiên tài nhân tạo” máy móc hóa những con người thuần hậu, tự nhiên.
Thêm
36
0
0
Viết trả lời...
“Chảy đi sông ơi?” xuất hiện trong một khung cảnh đẹp như miền cổ tích, ở đó có “bến đò ở ngay gốc gạo”, có “con sông bến nước mơ màng và buồn cô liêu, nửa như chờ đợi, nửa như hờn dỗi”, có “những con sáo lông đen chân vàng đậu trên sợi thép níu đò”. Cái khung cảnh ở cái miền quê thơ mộng ấy đã gợi dẫn cả một vùng kí ức rất đỗi đẹp đẽ của nhân vật “tôi” với những mơ mộng đẹp đẽ và thơ ngây về huyền thoại con trâu đen. Theo bước chân những nẻo đường quê, trong sự thân thuộc, gần gũi và nên thơ của nó, câu chuyện tuổi thơ, mà đúng hơn là những bi kịch của nhân vật được phơi bày.

Hóa ra, ở cái miền quê đẹp thơ mộng ấy là những người lầm lũi, ngu si và vô minh, khuất nấp sau sự văn minh của thời buổi hiện đại. Bóng văn minh tràn sang nước ta, nhưng chưa len lỏi đến những miền quê nơi này. Có lẽ, cái sự yên bình, nền nã của chốn thôn quê này có được là do những con người nơi đây chỉ biết lầm lũi với cái nhịp sống buồn tẻ, chênh vênh, nhiều hiểm nguy của mình, chưa dám bước ra khỏi không gian sông nước làng quê.

Nhân vật “tôi” đã đi hết tuổi thơ mình trong niềm khao khát, hy vọng và tin tưởng vào huyền thoại “con trâu đen”. “Nó ở dưới đáy lòng sông lao lên mặt nước. Toàn thân bóng nhẫy, đôi sừng cao vút, mõm thở phì phì, con trâu phi trên mặt nước như phi trên cạn. Con trâu phì bọt, nước dãi của nó tựa như trứng cá. Nếu ai may mắn hớp được bọt ấy sẽ có sức lực phi thường, bơi lặn dưới nước giỏi như tôm cá”. Những tin đồn thật ảo về con trâu đen mang sức lực phi thường đã khiến nhân vật tôi khát khao mơ ước. Dù chỉ một lần, cậu mong có thể gặp được con trâu, hớp được bọt của nó và bơi lặn dưới nước như tôm cá. Đó là niềm tin vào sự huyễn hoặc, về những điều tốt đẹp trên đời mà người ta chỉ còn thấy ở trẻ em. Việc nhân vật tôi mơ mộng, đó là hình ảnh đẹp đẽ, đáng giá nhất mà người lớn có thể cho đứa trẻ: quyền được tưởng tượng và mơ ước. Tuy nhiên, cuối cùng, những giấc mơ của cậu bị phản bội, chôn vùi và khuất lấp. Những ước mơ muốn được bay cao, muốn được lắng nghe giờ đây bị những tên như trùm Thịnh, lão Tảo giết chết. Đó là sự phản tỉnh với những niềm tin cổ tích. Đâu mất rồi một thời cô Tấm, anh Khoai, chỉ cần khóc là Bụt sẽ hiện lên cứu giúp? Đâu mất rồi hình ảnh những đứa trẻ được níu giữ giấc mơ trong suốt tuổi thơ mình? Nỗi đau của nhân vật tôi là nỗi đau bị phản bội, bị cuộc đời thực dụng ghìm sát đất. Những kẻ đã giết chết giấc mơ ấy, những kẻ đánh cá trên sông, chúng vẫn tin vào truyền thuyết Hà Bá bắt người trên sông, tin rằng không được cứu người chết đuối – những niềm tin rất trẻ thơ, cổ tích và khờ khạo, vậy mà chúng vẫn nhẫn tâm chà đạp lên nỗi đau của một đứa trẻ. Tuổi thơ của nhân vật tôi, cuối cùng đã ra đi đau đớn như vậy.

Chúng ta thường nhìn cuộc đời qua lăng kính của những câu chuyện cổ tích ngọt ngào, nơi mỗi đứa trẻ sinh ra đều đầy những mơ mộng, những phép màu, và hình ảnh một “con trâu đen” huyền thoại dưới đáy sông biết đâu sẽ có ngày lao lên mặt nước, ban phát sức mạnh phi thường cho kẻ có lòng tin. Nhưng có một thực tế nghiệt ngã rằng, không phải giấc mơ nào cũng có cơ hội được cất tiếng gọi, được định hình thành hình hài giữa dòng đời thực dụng và tăm tối. Có những giấc mơ vừa mới thành hình đã phải câm lặng, những giấc mơ không thể cất lời, bị bóp nghẹt bởi sự vô minh, tàn nhẫn của môi trường xung quanh và sự lạnh lùng của người lớn. Giấc mơ không thể cất lời là một loại chấn thương tinh thần, nơi ranh giới giữa cái đẹp đẽ cổ tích và cái tàn nhẫn thực tại bị xóa nhòa, để lại một khoảng trống đau đớn trong tâm hồn con người.

Những kẻ đánh cá trên sông, họ sống bằng nghề sông nước nhưng tâm hồn họ đã bị dòng nước đục ngầu cuốn trôi đi phần thiện lương. Khi một giấc mơ muốn được lắng nghe, muốn được bay cao xuất hiện, nó lập tức bị coi là sự dị biệt, là điều hão huyền cần phải bị tiêu diệt. Trùm Thịnh hay lão Tảo không chỉ là những đại diện cho một hệ tư tưởng cũ kỹ, độc hại ngu muội, lầm lũi và sẵn sàng dùng bạo lực tinh thần để ghìm chặt người khác xuống mặt đất, họ còn là nạn nhân của nghèo đói, thiếu tình yêu thương và sự quan tâm. Ở đó, ta thấy nghèo đói không chỉ là một vấn nạn, đó còn là tội ác. Bởi nghèo mà người ta không dám bay cao, cũng bởi nghèo mà người ta tạo ra những nạn nhân khác. Từ đó, chúng ta nhận ra rằng, giấc mơ bị phản tỉnh không có nghĩa là giấc mơ không tồn tại. Thứ phải thay đổi không phải là sự mơ mộng, mà là hiện thực khô cằn chà đạp lên con người, giết chết quyền được mơ của con người.
Thêm
46
0
0
Viết trả lời...
Tôi từng đọc ở đâu đó một câu nói rằng “Bật tivi lên là tắt cả thế giới”. Rất nhiều ý kiến cho rằng tivi là nguyên nhân gây ra sự xao lãng, mất tập trung và gây ảnh hưởng đến trí tuệ của con người. Tuy nhiên, tôi cho rằng, tivi, theo một cách nào đó lại là phương tiện kết nối gia đình, hàn gắn những khoảng trống cảm xúc mà rất nhiều gia đình hiện đại phải đối mặt. Xã hội hiện đại khiến các gia đình không có nhiều thời gian rảnh cho con cái. Cuối tuần là thời gian nghỉ ngơi thì cũng bị xem là thời gian hoàn thành công việc. Tôi nghĩ, không cần những chuyến đi xa, chỉ cần những buổi tối quây quần bên chiếc tivi là đã đủ lấp đầy những khoảng trống cô đơn của đứa trẻ.

Với những đứa trẻ như tôi, tivi trở thành kí ức khi được cùng bố mẹ quây quần, cùng thảo luận, trò chuyện. Đó là giây phút tôi thấy gia đình mình gắn kết nhiều hơn, thấy khoảng cách giữa cha mẹ và con cái được nối liền lại. Trong nhịp sống hối hả và dồn dập của thế kỷ XXI, con người ta dễ dàng bị cuốn vào vòng xoáy của những lo toan, bận rộn. Những áp lực vô hình từ cơm áo gạo tiền, từ guồng quay công việc không ngừng nghỉ đã vô tình tạo ra những khoảng cách giữa các thành viên dưới một mái nhà. Sự gắn kết này vô cùng đặc biệt vì nó diễn ra một cách tự nhiên, không gượng ép. Tivi tạo ra một "vùng đệm văn hóa" chung, nơi mà khoảng cách thế hệ giữa cha mẹ và con cái bỗng chốc được xóa nhòa. Cha mẹ hiểu được ngôn ngữ của người trẻ thông qua các chương trình âm nhạc hiện đại, còn con cái học được những bài học sâu sắc về cuộc đời thông qua những thước phim xưa cũ hay những câu chuyện thời sự chính luận. Trong những khoảnh khắc ấy, tôi cảm nhận được một sợi dây liên kết vô hình nhưng vô cùng bền chặt đang thắt chặt chúng tôi lại với nhau. Khoảng cách giữa cha mẹ và con cái đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự thấu hiểu và gắn kết sâu sắc. Chiếc tivi đã trở thành một chiếc cầu nối liền hai thế hệ, biến những buổi tối bình thường thành những ký ức lấp lánh mà dù sau này có đi xa đến đâu, mỗi khi nhớ về, lòng tôi vẫn thấy ấm áp lạ kỳ.

Tivi cũng đồng thời kiến tạo cuộc sống thông minh, mở ra rất nhiều cơ hội tiện nghi cho các gia đình hiện đại. Nhờ nó, cuộc sống gia đình trở nên tiện lợi, dễ dàng, giảm được rất nhiều áp lực cho cha mẹ trong việc chăm sóc con cái. Bước sang kỷ nguyên của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, chiếc tivi ngày nay không còn dừng lại ở vai trò của một máy thu hình truyền thống. Nó đã trở thành một "Smart TV" - trung tâm điều khiển thông minh, một trợ lý đắc lực giúp định hình và nâng tầm chất lượng sống cho mỗi gia đình hiện đại. Trong một thế giới mà thời gian được tính bằng từng giây, từng phút, sự xuất hiện của các tính năng thông minh trên tivi đã mang đến những giải pháp tiện nghi vượt bậc, trực tiếp san sẻ gánh nặng và giảm bớt những áp lực đè nặng lên vai của các bậc làm cha, làm mẹ trong hành trình nuôi dạy và chăm sóc con cái. Sự tiện nghi của công nghệ không làm xa cách con người, nếu chúng ta biết biến nó thành công cụ để phụng sự cho hạnh phúc gia đình. Không dừng lại ở đó, tivi thông minh còn kiến tạo nên một không gian học tập và giải trí ngay tại gia.

Sự áp lực, mỏi mệt trong việc chăm sóc con cái được chuyển hóa thành những trải nghiệm đồng hành đầy thú vị. Tivi không làm xao lãng con người, trái lại, khi được sử dụng một cách thông minh, nó chính là trợ thủ kiến tạo nên một lối sống hiện đại, tiện nghi, nơi công nghệ phục vụ cho sự phát triển của con người và bảo vệ sự bình yên của tổ ấm.

Ký ức về mùa giải bóng đá 2018 của đội tuyển Việt Nam vẫn khiến tôi nhung nhớ, một mảnh kỉ niệm đẹp xuất phát từ tivi. Bằng sự tiện nghi đó, gia đình, làng xóm có cơ hội kết nối với nhau, đến gần nhau hơn, kiến tạo ký ức cộng đồng đẹp đẽ khó phai mờ. Không chỉ kết nối những thành viên trong một gia đình, chiếc tivi còn gắn kết cả một xóm giềng, một cộng đồng, và rộng hơn là hàng triệu trái tim cùng chung một nhịp đập. Đối với tôi, ký ức về mùa giải năm ấy là một mảnh ký ức đẹp đẽ, chứa chan trong ấy tình làng nghĩa xóm và tinh thần tự hào dân tộc.

Chính chiếc tivi đã kiến tạo nên những khoảng không gian văn hóa cộng đồng vô giá như thế. Nó biến một chương trình thể thao thành một không gian sinh hoạt chung của tình làng nghĩa xóm. Giữa một xã hội hiện đại nơi con người ta có xu hướng thờ ơ với người sống ngay bên cạnh mình, thì chiếc tivi chính là cái cớ tuyệt vời nhất để người ta mở lòng, mời nhau vào nhà, cùng bàn luận về một trận bóng, một chương trình ca nhạc hay một bản tin thời sự. Ký ức 2018 ấy đã chứng minh rằng bằng sự tiện nghi và khả năng truyền tải thông tin đại chúng của mình, tivi không hề làm con người ta bị cô lập.

Suy cho cùng, hạnh phúc của một gia đình hiện đại không nằm ở những chuyến du lịch xa xỉ, đắt đỏ, cũng không nằm ở những giá trị vật chất hào nhoáng bên ngoài. Hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản và khiêm nhường như thế: là sau một ngày dài giông bão ngoài cuộc đời, ta được trở về nhà, thấy đèn phòng khách đã sáng, thấy mâm cơm ấm áp đã sẵn sàng, và cả gia đình lại cùng nhau quây quần bên chiếc tivi quen thuộc, cùng cười, cùng nói, cùng cảm nhận hơi ấm thiêng liêng của hai tiếng: Gia đình.
Thêm
38
0
0
Viết trả lời...
Chiến tranh là câu chuyện của quá khứ, nhưng đâu đó nỗi đau thì vẫn âm ỉ đến hiện tại. Đằng sau những tối hậu thư liên quan đến việc đưa một quốc gia trở về thời đồ đá, đó là nỗi đau của những đứa trẻ ngày ngày nghe tiếng bom rơi. Tôi còn nhớ những đứa trẻ ở Gaza cho biết chúng đã thôi không đòi kẹo ngọt, giờ đây chúng muốn được uống nước sạch hơn. Chiến tranh, cướp đi căn tính con người, giành giật nơi họ cơ hội sống và quyền được tồn tại như một con người. Quá nhiều trận chiến đi qua, quá nhiều máu đổ đầu rơi và những vết thương còn xót xa mãi, vậy mà sao người ta vẫn liên tục tạo ra những cuộc chiến vì lợi ích, để nỗi đau lại một lần nữa hiện diện?

Những cuộc chiến mang đến thương đau, cướp đi ở người ta cơ hội được sống, được yêu thương và tồn tại như một con người. Đôi khi, nó che mờ đi lý trí, khiến chúng ta quên cả tính người, lao vào cuộc sinh tồn như một con thú. Để rồi, phía sau những chiến trường, chỉ còn máu chảy với đầu rơi, chỉ còn những nỗi đau ngày đêm cháy mãi. Khi những tính toán chiến lược được đặt lên bàn cân lợi ích, giá trị của một sinh mạng bỗng chốc trở nên rẻ mạt. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, con người bị đẩy vào trạng thái khốn cùng, phải bất chấp để sinh tồn, giữ lại mạng sống. Nhìn vào những dải đất Trung Đông hoang tàn, nơi những khu phố sầm uất chỉ sau một đêm biến thành những nấm mồ tập thể, ta mới cay đắng nhận ra sự hủy diệt tàn khốc của chiến tranh. Những người mẹ mất con, những gia đình ly tán, và những thi thể không còn nguyên vẹn nằm lại dưới lớp gạch vụn. Bom đạn không phân biệt người già hay trẻ nhỏ, nó san phẳng tất cả, để lại một khoảng trống trong lòng những người ở lại - một nỗi đau dai dẳng, nhức nhối mà không một hiệp định nào có thể bù đắp nổi.

Những đứa trẻ lớn lên trong chiến tranh xem chiến tranh như một ký ức đen tối mà cả đời chúng không thể quên. Dưới những hầm trú ẩn, tuổi thơ của chúng bị tước đi tàn bạo. Chúng mất đi cơ hội được lắng nghe, được yêu thương và sống trong đủ đầy. Tuổi thơ lẽ ra phải gắn liền với trang sách, với tiếng cười và thế giới kẹo ngọt đầy sắc màu, thì nay lại bị bủa vây bởi mùi thuốc súng và khói bụi di tản. Ở những vùng tâm điểm xung đột chịu nhiều bom đạn, một thế hệ trẻ em đang phải trưởng thành trong nỗi sợ hãi tột cùng. Thay vì học cách yêu thương, chúng phải học cách trốn chạy, thay vì đòi hỏi những món đồ chơi, ước mơ duy nhất của chúng chỉ là một ngụm nước sạch, hay đơn giản là ngày mai tỉnh dậy vẫn còn nhìn thấy cha mẹ mình.

Hòa bình không chỉ là sự ngừng bặt của những tiếng pháo, tiếng bom, mà là cơ hội để con người được sống trong đủ đầy. Hòa bình thực sự phải là khi tiếng súng ngừng hẳn, là khi trẻ em được sống đúng nghĩa với tuổi thơ của chúng, là khi người lớn chung tay cùng nhau tái thiết cuộc sống. Đó là lúc người dân không còn phải sống trong những hầm trú ẩn, được tiếp cận với nguồn nước, lương thực, y tế và giáo dục một cách nhân văn. Chỉ khi con người không còn bị ám ảnh bởi cái đói và nỗi sợ hãi rình rập từ những cuộc không kích, khi họ được bảo đảm những quyền lợi cơ bản để phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tâm hồn, thì lúc đó, mầm sống mới thực sự được hồi sinh.

Hãy chấm dứt chiến tranh vì lợi ích và xung đột. Hãy giải quyết chúng bằng các biện pháp hòa bình để những đứa trẻ, một lần nữa được lớn lên trong yêu thương. Đã đến lúc nhân loại phải thức tỉnh trước những tiếng khóc xé lòng phát ra từ các vùng chiến sự. Không có bất kỳ một lợi ích chính trị, kinh tế hay tham vọng quyền lực nào có thể dùng để biện minh cho máu và nước mắt của những sinh linh vô tội. Thay vì sử dụng họng súng để hủy diệt lẫn nhau, thế giới cần giải quyết những bất đồng bằng lòng trắc ẩn, bằng sự thấu hiểu và các biện pháp ngoại giao hòa bình. Hãy trả lại bầu trời xanh cho những vùng đất đang oằn mình trong lửa đạn, hãy dẹp bỏ những toan tính ích kỷ để mở ra một con đường nhân đạo hơn. Hãy cùng nhau hành động, để những đứa trẻ ở Gaza và ở khắp nơi trên thế giới không còn phải gồng mình gánh chịu hậu quả của người lớn, mà được trả lại quyền đòi kẹo ngọt, được lắng nghe, được sống đủ đầy và lớn lên trong vòng tay yêu thương chở che của toàn nhân loại.
Thêm
32
0
0
Viết trả lời...
GĐ 1: Từ năm 1975 đến 1985: Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ văn học Cách mạng sang văn học hậu chiến
  • Sau ngày đất nước thống nhất, lịch sử Việt Nam chuyển sang một thời đại mới, nhưng văn học nghệ thuật vẫn hoạt động theo những quán tính của thời đại trước, trong đó khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn vẫn chiếm ưu thế.
  • Văn học thời đại này vẫn phát triển theo những quy luật và khuynh hướng của giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Tuy nhiên, giai đoạn ngày cho thấy những bước tiến khi nó không còn xem văn học như một công cụ để tuyên truyền cho chiến đấu mà đã có những bước phát triển mới ở cả văn xuôi và thơ.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa" (Nguyễn Minh Châu), truyện ngắn Nguyễn Khải, tập thơ “Ánh trăng" (Nguyễn Duy), tập thơ “Tự hát" (Xuân Quỳnh), tập thơ “Người đàn bà ngồi đan" (Ý Nhi).

GĐ 2: Từ năm 1986 - 1991: Đây là giai đoạn chuyển mình bứt phá của văn học Việt, đổi mới toàn diện và sôi nổi trên mọi lĩnh vực.

  • Công cuộc Cách mạng đổi mới với tiêu biểu là Đại hội VI của Đảng cùng cuộc gặp gỡ của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với giới văn nghệ sĩ đã thổi một luồng gió mới vào văn học, tạo nên cơ sở để đổi mới, thay thế toàn diện những góc nhìn, tư tưởng cũ.
  • Văn học giai đoạn này mang tinh thần đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật. Cảm hứng thế sự - đời tư cũng trở thành tinh thần chính. Người viết bộc lộ rõ cái nhìn hoài nghi, suy tư. Tuy nhiên, cảm hứng phê phán cũng đôi lúc đẩy đến mức cực đoan.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Thời xa vắng (1986) - Lê Lựu, Tướng về hưu (1987) - Nguyễn Huy Thiệp, Bến không chồng - Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma - Nguyễn Khắc Trường.

GĐ 3. Từ 1992 đến nay: Qúa trình đổi mới chậm và lắng sâu vào cuộc sống thường nhật

  • Trở về với cuộc sống thường nhật với những vấn đề bình thường.
  • Có ý thức và nhu cầu đổi mới về hình thức nghệ thuật và phương thức biểu hiện.
  • Tuy nhiên, chưa có nhiều tác phẩm tiêu biểu, gây được tiếng vang.
  • Tác phẩm tiêu biểu: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, truyện ngắn Hồ Anh Thái, thơ Vi Thùy Linh,...
Thêm
52
0
0
Viết trả lời...
Tháng 6 vừa qua, các tỉnh trên cả nước đồng loạt tổ chức kì thi tuyển sinh vào 10. Đề thi Ngữ văn ở mỗi tỉnh đều rất đa dạng, đưa ra nhiều phần, nhiều ngữ liệu có khả năng thách thức tư duy thí sinh. Đề thi cũng đồng thời cho thấy được những điều người ra đề mong muốn ở học sinh, đó là sự sáng tạo, bứt phá và khả năng kết nối vấn đề với đời sống. Với mỗi đề thi ở mỗi địa phương lại gây ra những dư luận khác nhau. Đọc đề của một số tỉnh thành, tôi nhận ra rằng có rất nhiều tỉnh thành ra đề rất hay và mới, đòi hỏi học sinh phải gắn nó với thực tế và có những suy nghĩ riêng. Song song với đó, nhiều tỉnh chỉ ra đề dựa trên những yêu cầu cơ bản như biết cách phân tích văn bản, đầy đủ bố cục. Từ sự đa dạng trong kho đề tuyển sinh vào 10, tôi bắt đầu suy nghĩ về những thách thức đối với học sinh ở môn Ngữ văn.

Nội dung học và yêu cầu mà mỗi đề thi hướng đến đều là giúp học sinh có khả năng thể hiện cảm xúc, biết cách bày tỏ tư tưởng và gắn vấn đề với đời sống. Đây cũng là điều mà các học sinh rất hy vọng, khi các em đã quá chán với việc phải viết theo bất kỳ đáp án và góc nhìn riêng của ai. Bởi vậy, đề thi mở được ra trong rất nhiều cuộc thi lớn nhỏ trong những năm gần đây dự định sẽ trở thành một sân chơi rất bổ ích, sáng tạo cho học sinh. ãy nhìn vào đề thi lớp 10 của TP.HCM, nơi thường xuyên dẫn đầu về xu hướng ra đề đổi mới. Đề thi không còn trích dẫn những văn bản hành chính khô khan, mà đưa vào những câu chuyện về sự thấu hiểu, về "áp lực đồng trang lứa" (peer pressure) hay những khoảng lặng trong kỷ nguyên số — những vấn đề mà bất kỳ một đứa trẻ 15 tuổi nào cũng đang phải đối mặt hàng ngày. Hoặc như đề thi tại Hà Nội, phần nghị luận xã hội đã khéo léo lồng ghép những thông điệp về lòng trắc ẩn, tinh thần trách nhiệm cá nhân trước cộng đồng. Thay vì áp đặt một barem có sẵn, đề thi mở đóng vai trò kích hoạt toàn bộ hệ thống tư duy phản biện, óc quan sát và trải nghiệm sống của một đứa trẻ mười lăm tuổi. Đó là độ tuổi mà thế giới quan bắt đầu định hình, cái tôi cá nhân bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ và khao khát được khẳng định mình lớn hơn bao giờ hết.

Khi người ra đề dũng cảm trả lại cho học sinh quyền được cất tiếng, học sinh lập tức có cơ hội được nói bằng giọng của chính mình. Khảo sát nhanh tại một số hội đồng thi cho thấy, hơn 70% học sinh bày tỏ sự hứng thú với các dạng đề mở vì các em không còn phải học thuộc lòng những bài văn mẫu dài dằng dặc, được giải phóng khỏi lối mòn tư duy để tự do bay bổng và khẳng định cái tôi cá nhân. Nhiều năm liền, môn văn là môn học thuộc theo những nguyên mẫu được thầy cô “xào nấu” từ rất nhiều nguồn, ép học sinh phải học thuộc, và 100 bài văn đều có 100 gương mặt giống nhau. Giờ đây, cuối cùng thì nỗi lo của các em đã được gỡ bỏ.

Tuy nhiên, song song với đó, không phải tất cả sự sáng tạo của các em đều được chấp nhận. Một số học sinh từng phản hồi rằng em thể hiện những suy tư của mình, em nói về những điều bất cập nhưng không được lắng nghe. Các thầy cô hầu như đều chỉ chấm bài thi cho học sinh theo barem điểm. Đây không chỉ là thách thức đối với học sinh mà còn là câu hỏi đối với giáo viên và cả ngành giáo dục. Thách thức lớn nhất của các em lúc này không phải là làm sao để viết thật hay, thật sâu sắc, mà là phải làm sao để "đoán ý người chấm", làm sao để "nhốt" những ý tưởng bay bổng của mình vào vừa vặn cái khuôn chữ nhật của barem điểm. Câu hỏi này nhức nhối này được đặt ra cho cả ngành giáo dục: Chúng ta thực sự muốn gì? Chúng ta muốn những robot biết viết văn theo lập trình, hay muốn những học sinh có tư duy độc lập? Nếu đội ngũ giáo viên không được cởi trói về mặt tư duy, nếu quy chế chấm thi không chấp nhận những khoảng xê dịch cho sự khác biệt, thì mọi khẩu hiệu về "đổi mới giáo dục" hay "đề thi mở" suy cho cùng cũng chỉ là một khẩu hiệu, và người chịu thiệt thòi nhất luôn là những học sinh dám nghĩ dám làm.

Khi rất nhiều môn học mang tính ứng dụng cao như toán, Tin học, tiếng Anh được ưa chuộng, nhu cầu học văn càng cần phải được nâng cao chứ không phải là bị bỏ qua. Bởi lẽ, học văn là hình thức giáo dục nhân văn, bồi đắp tư tưởng và cách sống cho học sinh mọi lứa tuổi. Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nơi công nghệ trí tuệ nhân tạo AI và các ngành khoa học dữ liệu đang lên ngôi thống trị. Phụ huynh và học sinh đổ xô vào những môn học như Toán, Tin học, tiếng Anh với niềm tin rằng đó là tấm vé thông hành duy nhất dẫn đến thành công và sự ổn định nghề nghiệp. Thế nhưng, Toán học dạy chúng ta cách tư duy logic, Tin học cung cấp cho chúng ta công cụ để kết nối thế giới, Tiếng Anh giúp chúng ta hội nhập toàn cầu, nhưng chính Ngữ văn mới là thứ giữ cho chúng ta tính người, là chiếc neo níu giữ ta lại giữa một thời buổi cạnh tranh và vô cảm.

Nhu cầu học văn cần phải được nâng cao hơn bao giờ hết vì nó chính là lá chắn bảo vệ con người trước sự xói mòn về đạo đức trong xã hội hiện đại. Làm thế nào để bảo vệ môn Ngữ Văn và tư duy độc lập của học sinh, đó là cả một câu hỏi khó mà chúng ta cần giải quyết.
Thêm
45
0
0
Viết trả lời...
Từ trước đến nay, Nho giáo thường bị xem là tác nhân gây cản trở sự phát triển của xã hội Đông Á, gò gẫm con người trong những định kiến, quy tắc và bổn phận, làm xóa mờ đi ý thức phản kháng và sự sáng tạo của họ. Điều này đã khiến cho các quốc gia Á Đông bị lu mờ trước sự bứt phá của phương Tây. Tuy nhiên, nhìn đi cũng cần nhìn lại, đó đã trở thành cội nguồn và nền tảng phát triển văn hóa đất nước ta suốt hàng nghìn năm qua.

Nho giáo đã gián tiếp gây hại đến sự phát triển của văn hóa truyền thống Việt Nam. Sau hàng nghìn năm Bắc thuộc, dân ta bị đồng hóa, bị ép buộc phải sống theo những lề thói của Nho giáo, khiến chúng ta đánh mất đi bản sắc truyền thống. Đây là phương cách “nồi nấu chảy”, giúp phương Bắc thuộc địa hóa các quốc gia như Việt Nam. Đây cũng là lý do mà thời kỳ đầu, chúng ta mất đi sự vững vàng khi tự xây dựng vị thế cá nhân. Hệ thống giáo lý Tam cương (Vua - Tôi, Cha - Con, Chồng - Vợ) và Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) ban đầu có thể là những quy phạm đạo đức để ổn định xã hội, nhưng khi bị biến tướng thành công cụ cai trị, nó đã ép buộc người dân bản địa phải tuân phục tuyệt đối vào một trật tự ngoại bang. Sự áp đặt này hoạt động theo cơ chế của một "nồi nấu chảy” văn hóa, nơi mà các giá trị bản địa cốt lõi của người Việt cổ bị xóa bỏ và thay thế hoàn toàn. Sự tổn hại lớn nhất mà Nho giáo gián tiếp gây ra chính là việc bào mòn tư duy phản biện và triệt tiêu cá tính sáng tạo của con người.

Nó ép con người phải sống theo những bổn phận và phải thực hiện những bổn phận đó. Trong bài “Thuật hoài”, Phạm Ngũ Lão đã nói về những bổn phận của thân trai dưới góc nhìn Nho giáo: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”. Trong khi phương Tây bước vào cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất (cuối thế kỷ 18) và lần thứ hai (cuối thế kỷ 19) nhờ khả năng bứt phá, thì xã hội Việt Nam thời Nguyễn vẫn loay hoay với những câu hỏi về văn minh và đi tìm văn minh.

Tuy nhiên, Nho giáo cũng đã trở thành một nền tảng giúp chúng ta xây dựng đất nước, củng cố các kĩ thuật quản lí nhà nước, là cơ sở hình thành giáo dục chính thống ở Việt Nam. Dù thời Lý - Trần, Phật giáo và Đạo giáo chiếm ưu thế lớn trong đời sống tinh thần, nhưng vai trò của Nho giáo trong quản lý hành chính đã bắt đầu được khẳng định một cách chính thức từ năm 1070, khi vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu tại Thăng Long. Sự kiện này đã đánh dấu bước phát triển quan trọng của văn học chữ Hán dưới thời Tam giáo đồng nguyên. Đến năm 1075, khoa thi Nho học đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được tổ chức nhằm tuyển chọn những người có tài đức thực sự vào bộ máy chính quyền, thay thế cho hệ thống quan liêu dựa trên huyết thống hay đặc quyền dòng tộc của tầng lớp quý tộc cũ. Chính nhờ hệ thống tư tưởng này, ua Lê Thánh Tông đã thực hiện cuộc cải cách hành chính toàn diện nhất trong lịch sử phong kiến, bãi bỏ các chức danh trung gian như Tể tướng, chia đất nước thành 13 đạo thừa tuyên và thiết lập hệ thống Lục bộ. ộ luật này không chỉ bảo vệ quyền lực tuyệt đối của nhà vua để giữ vững kỷ cương quốc gia, mà còn chứa đựng những điều khoản tiến bộ vượt bậc so với luật pháp nhà Minh, nhà Thanh đương thời, như việc thừa nhận vai trò của người phụ nữ. Như vậy, Nho giáo hoàn toàn không phải lý do triệt tiêu sự sáng tạo của người Việt. Sự củng cố về mặt thể chế và giáo dục của Nho giáo đã tạo ra một bộ khung có tính bền vững, giúp đất nước ta giữ vững được sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ qua nhiều thế kỷ biến động, đồng thời tích lũy nội lực để tiến hành các cuộc kháng chiến bảo vệ chủ quyền thành công trước các thế lực ngoại bang lớn mạnh.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ giao thoa giữa các nền văn hóa. Rất nhiều ý kiến tranh luận được đặt ra cho rằng chúng ta cần “thoát Mỹ”, “thoát Tàu” để xây dựng một nền văn hóa cho riêng mình. Tuy nhiên, tôi tin vào quan điểm của tác giả Đặng Hoàng Giang trong cuốn sách “Bức xúc không làm ta vô can”: “Tôi muốn nhìn thấy người dân Việt Nam có đủ hiểu biết và sự dẻo dai về văn hóa để chèo lái trên biển toàn cầu hóa, để trở nên những công dân toàn cầu mà không bị tha hương về văn hóa, bơ vơ về bản sắc. Họ không cần phải thoát đi đâu cả”. Trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế toàn diện của thế kỷ 21, câu hỏi về bản sắc và định vị văn hóa quốc gia lại một lần nữa trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, việc cố gắng tạo ra một thí nghiệm văn hóa hoàn toàn tách biệt khỏi các dòng chảy văn minh lớn của nhân loại là một thí nghiệm khó có kết quả.Văn hóa chưa bao giờ là một thực thể bất biến, mà nó là một hệ thống liên tục tiến hóa thông qua quá trình tiếp xúc, va chạm và tiếp biến. Sự phát triển vượt bậc mà Việt Nam chúng ta có được hôm nay là hệ quả của quá trình tiếp biến văn hóa có chọn lọc. Giới trẻ Việt Nam hiện nay cần được trang bị một nền tảng tri thức sâu sắc để nhận diện rõ ràng: cái gì là hủ lậu, lạc hậu của Nho giáo phong kiến (như tư duy trọng nam khinh nữ, lối sống gia trưởng, tâm lý sùng bái quyền lực) để kiên quyết bài trừ, và cái gì là tinh hoa bền vững (như truyền thống hiếu học, tinh thần tôn sư trọng đạo, lối sống coi trọng gia đình, coi trọng đạo đức nghĩa tình) để tiếp tục kế thừa và phát huy. Chúng ta, cuối cùng rồi sẽ đứng vững trên mảnh đất của mình để vươn tầm ra thế giới, tự tin đối thoại bình đẳng với các nền văn minh khác bằng tư thế của một dân tộc tự chủ, dẻo dai và đầy sức sống sáng tạo.
Thêm
30
0
0
Viết trả lời...
1. “Nhà văn là người kiên nhẫn nhiều năm phát hiện ra cái con người thứ hai trong mình, tìm thấy cái thế giới trong đó mình là mình. Khi tôi nói về văn chương, điều đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi không phải tiểu thuyết, thơ ca, hay văn vẻ gì, mà chính là hình ảnh một người cặm cụi trong phòng kín, đào bới chính mình”

2. “Viết, tức là biến cái đắm đuối nội tâm thành câu chữ, là khám phá cái thế giới mình tương tác với mình, cần mẫn, ương ngạnh, và say sưa”

3. “Khi tôi ngồi vào bàn, thì dù ngày tháng bao nhiêu, chữ nghĩa gò gẫm thế nào, tôi vẫn cảm thấy như thể mình đang tạo ra cả một thế giới mới, như thể tôi đang sinh ra một kẻ khác bên trong tôi, giống như ai đó xây nhà, xây cầu từ từng viên gạch nhỏ”.

4. “Thiên thần cảm hứng (cái thứ rất thất thường) rất thích ai hy vọng và liều lĩnh. Và khi nhà văn cô đơn, lụi cụi ngồi mơ về những điều có giá trị, quyết viết nên câu chuyện độc nhất vô nhị, chính là lúc vị thần ấy đang lần mò tìm đến, giúp anh ta chọn được hình ảnh và mạch nối để dựng nên thế giới anh ta mơ mộng”.

5. “Nhưng khi tôi ngắm nghía cái vali, tôi lại phát hiện thêm một điều, rằng nếu cha tôi từng trăn trở với văn chương sách vở như thế, thì liệu cha có là một người hay bị giày vò không? Giờ đây, sau nhiều năm trải nghiệm, tôi hiểu được rằng chính những sự dày vò mới là đặc điểm cốt yếu để biến ai đó thành một nhà văn”.

6. “Tôi tin văn học là kho đụn có giá trị nhất loài người gom góp được để hiểu chính mình. Xã hội, bộ lạc, hay các cộng đồng ngày càng trí thức thêm, giàu có lên, nhiều triển vọng hơn khi con người ngẫm nghĩ sâu về lời lẽ của các tác giả.”

7. “Khi nhà văn đóng cửa lại, ngồi viết sách kể lại hành trình xuyên qua chính mình, anh ta phát hiện ra cái quy tắc vĩnh hằng: phải kể chuyện mình như thể đó là chuyện của người khác, và chuyện người khác lại như chuyện của chính anh ta. Văn chương là vậy”.
Thêm
37
0
0
Viết trả lời...
Thời đại công nghệ phát triển, các cộng đồng xã hội ngày càng được nâng cao, hạ tầng được quy hoạch góp phần đô thị hóa, gia tăng các giá trị tích cực vào sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, đi song song với những giá trị đó, người ta phải chứng kiến sự mai một dần của những kết nối cộng đồng. Giờ đây, việc không biết tên hàng xóm là điều quá bình thường. Tết đến, cũng chẳng có một lý do gì để gõ cửa nhà nhau. Đi làm về, các hộ gia đình đều đóng cửa nhà, không kết nối, không giao du với ngay cả hàng xóm mình. Và cứ thế, cố kết cộng đồng bị mai một và nứt gãy đầy xót xa.

Tôi được sống trong một cộng đồng mà ở đó mọi người gắn bó với nhau bằng tình làng nghĩa xóm. Những đêm mùa hè mất điện, với những đứa trẻ như chúng tôi thường là những đêm đẹp nhất. Người lớn phe phẩy quạt, ngồi dưới trăng, uống trà, tám chuyện. Trẻ em chúng tôi thì nô đùa xung quanh. Cái khung cảnh bình dị ấy đã trở thành một kí ức êm đềm mà rực rỡ bên trong bất cứ đứa trẻ nào. Nhưng rồi, những đêm trăng ấy cũng qua đi, nhường lại cho những đêm nằm trong điều hòa tiện nghi mà thao thức về cái kí ức ngày trước.

Những năm 2018, bóng đá Việt Nam trở thành kỉ niệm không dễ gì quên được của người dân Việt Nam. Dù sáng hay đêm, cứ mỗi lần có bóng đá, xóm tôi lại quay quần bên nồi lẩu, vừa ăn vừa bàn luận. Cả những tiếng hô vang, tiếng cười nói mỗi khi bóng vào lưới cũng là điều khó có thể quên được. Vậy mà theo nhịp đô thị hóa, cái văn hóa sống ấy cũng mờ phai. Giờ đây tôi mới biết, không phải vì bóng đá ngày ấy hay, mà chỉ là vì cái không gian làng xóm ấy, mãi mãi khó có thể tìm thấy được.

Bởi vậy, tôi liên tục suy nghĩ về việc đô thị hóa, một phần đem lại những tiện nghi, nhưng cũng phần nào làm suy giảm văn hóa cộng đồng. Nó khiến người ta xa rời nhau hơn, ít kết nối, ít gắn bó. Các khu nhà mọc lên san sát khiến người ta cũng chẳng còn mong muốn được kết nối. Thời buổi khiến người ta cũng chỉ quan tâm đến lợi ích riêng mình. Sự phát triển vượt bậc của cơ sở hạ tầng, những tòa nhà cao tầng chọc trời và các khu chung cư hiện đại là biểu tượng không thể phủ nhận của một nền kinh tế đang trên đà cất cánh. Thế nhưng, đằng sau sự phát triển tiện nghi ấy lại là một nghịch lý đáng buồn: không gian sống càng thu hẹp về khoảng cách địa lý thì khoảng cách tâm lý giữa con người lại càng bị nới rộng ra. Đô thị hóa tạo ra những không gian sống khép kín, nơi mỗi căn hộ là một ốc đảo riêng biệt được canh phòng cẩn mật. Bên cạnh đó, áp lực của cuộc sống mưu sinh tại các đô thị lớn cuốn con người vào một vòng xoáy hối hả không ngừng nghỉ. Thời gian mỗi ngày bị xé nhỏ cho công việc, chạy đua với chỉ tiêu, đối phó với tắc đường và cống hiến cho những mối quan hệ xã giao mang tính lợi ích. Sự lên ngôi của công nghệ giải trí cá nhân cũng đã thay thế hoàn toàn nhu cầu chia sẻ trực tiếp. Lối sống ích kỷ, thực dụng, chỉ biết đến lợi ích riêng mình dần dần lên ngôi, đẩy những giá trị văn hóa cộng đồng gắn kết trước đây trở thành dĩ vãng.

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều thẳng thắn đưa ra quan điểm: “Chúng ta sống không chỉ cần môi trường sống đẹp, đắt tiền mà cần hơn là sự yêu thương và chia sẻ một cách thiện chí. Sự liên kết giữa con người với con người mới chính là sức mạnh tạo nên văn hóa dân tộc”. Đó chính là những giá trị cao quý bị người ta bỏ quên đi. Một báo cáo về "Chỉ số vốn xã hội tại các đô thị lớn" được công bố gần đây chỉ ra một thực trạng đáng báo động: có đến hơn 60% cư dân tại các khu chung cư cao cấp ở Hà Nội và TP.HCM thừa nhận họ không biết tên hoặc chưa bao giờ trò chuyện với người sống sát vách nhà mình. Tại Nhật Bản, quá trình đô thị hóa cực đoan và lối sống khép kín đã sinh ra hiện tượng Kodokushi (những cái chết cô độc) – nơi hàng ngàn người già qua đời trong các căn hộ tiện nghi nhưng phải mất nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng mới được phát hiện chỉ vì hàng xóm xung quanh hoàn toàn không có sự kết nối. Việc này đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, thứ mà không thể giải quyết bằng tiền bạc và những căn hộ cao tầng.

Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng: việc đô thị hóa trong thời buổi này là điều bức thiết. Thay vào những nỗi lo về việc đô thị hóa làm mất dạng kết nối cộng đồng, hãy nỗ lực xây dựng sự kết nối cộng đồng ngay trong những khu đô thị. Tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam dự kiến đạt trên 45% vào những năm cuối thập niên 2020, điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta không thể duy ý chí để quay về với nếp sống làng quê thô sơ cũ. Thay vì chìm đắm trong sự hoài niệm bất lực, giải pháp cốt lõi là phải tái cấu trúc và định hình lại không gian văn hóa cộng đồng ngay trong lòng các khu đô thị mới. Chính phủ Singapore đã bắt buộc quy hoạch tầng trệt của các tòa nhà cao tầng làm Void decks (không gian trống công cộng) - nơi đặt các bàn cờ vua, khu sinh hoạt chung và ghế nghỉ. Kết quả từ khảo sát của HĐ Phát triển Nhà ở Singapore cho thấy, hơn 85% cư dân cảm thấy gắn kết và an toàn hơn nhờ các tương tác ngẫu nhiên tại không gian này. Xây dựng sự kết nối cộng đồng kiểu mới đòi hỏi sự thay đổi từ cả tư duy quy hoạch kiến trúc lẫn ý thức hành động của mỗi cư dân. Cố kết cộng đồng không tự mất đi vì đô thị hóa, nó chỉ mất đi khi con người ngừng nỗ lực để kết nối và yêu thương.
Thêm
34
0
0
Viết trả lời...