Newsfeed

forum.Vanhoctre.com | Nuôi dưỡng tình yêu văn chương, cuộc thi viết văn; học văn, những bài văn hay. Tác phẩm văn học chọn lọc, lí luận văn học, ...
Chúng ta là những bụi sao trời, tôi đã xem được một bài đăng như thế. Trong cơ thể bạn và cơ thể tôi đang chứa đựng hàng ngàn hàng vạn hạt bụi sao nhỏ bé li ti vỡ ra từ vụ nổ của vũ trụ. Tôi không biết bạn là người thế nào, bạn ra sao và bạn là ai nhưng tôi biết, trong cơ thể bạn giờ đây đang tồn tại những hạt bụi sao của vô vàn các cá thể trước đó. Bạn có thể là linh hồn được tái sinh của một ai đó, bạn cũng có thể là sự kết hợp tuyệt đẹp của hàng triệu vệt sáng trôi dạt ngoài không gian . Và tôi dần nhận ra, quả thực trong tôi đã và đang tồn tại những thứ kì diệu và đẹp đẽ như thế. Dường như tôi không chỉ đang sống cho cuộc đời của riêng mình mà tôi còn đang sống tiếp cuộc đời của rất nhiều những con người đã hoá thành vì sao, ngả vào lòng vũ trụ và rồi men theo những bụi sao li ti khác tái sinh trong cơ thể mình. Bụi sao làm nên tôi và bụi sao làm nên bạn có lẽ đã từng ở trong lõi của một ngôi sao đã tắt, từng là bụi trôi dạt qua khoảng không lạnh giá hàng tỷ năm, không biết mình sẽ đi đâu , về đâu. Nhưng bạn ơi, giờ đây, trong cơ thể của tôi và bạn đang tồn tại những bụi sao ấy, và rằng chúng đã trải qua một quãng đường xa như vậy để trú ngụ trong cơ thể ta quả là một điều hiếm hoi phi thực. Cho nên, hãy yêu và trân trọng cơ thể bạn như cách bạn nghiêng mình trước sự tái sinh của một ngôi xa xôi đã chết từ hàng tỷ năm trước ; sự tái sinh của những con người từng là tất cả, là yêu thương , là hạnh phúc trong cuộc đời của một ai đó. Bởi cuối cùng, bạn không chỉ đang sống mà bạn còn đang mang theo ánh sáng của cả vũ trụ trong mình.
( Tìm hiểu thông qua kênh yt podcast " Vì sao thế nhỉ " )
Thêm
57
0
0
Viết trả lời...
- Bằng góc nhìn của người nữ viết về thân phận nữ giới, Võ Thị Hảo đã dựng lên một cuộc chiến riêng dành cho những người phụ nữ. Ở đó, họ bị chiến tranh và núi rừng cướp đi tính nữ, bào mòn xuân sắc, sống lay lắt trong sự chờ đợi tình yêu thương và phải bám víu vào một “chàng hoàng tử” tưởng tượng để sống sót. Chỉ có Thảo - người duy nhất sót lại của rừng Cười, cuối cùng trở về cuộc sống hậu chiến trong ám ảnh, mất mất, đau đớn và phải ra đi để tìm lại chính mình.

+ Bốn cô gái gắn bó những năm tháng chiến đấu của mình với kho quân nhu “náu mình dưới tán cây rừng Trường Sơn”. Không gian đã tách biệt bốn cô gái khỏi thế giới bên ngoài, giam nhốt họ giữa cái cô quạnh của rừng núi. Đó là nơi họ phải hy sinh, chống chịu và dựa vào nhau mà tồn tại.

+ “Bốn cô gái trẻ măng nhưng mái tóc chỉ còn là một dúm xơ xác. Dòng nước khe màu xanh đen thớ lợ đã dần dà vặt trụi tóc họ”: Chiến tranh triệt hoại nữ tính. Những người con gái sống giữa chiến tranh bị mất đi những thiên tính ban đầu. Mái tóc dày là biểu hiện của tính nữ, cuối cùng cũng bị thiên nhiên trụi hoại đi. Với người con gái, mái tóc không chỉ là dấu hiệu của bản dạng, đó còn là hình ảnh của thanh xuân, của tuổi trẻ, của người con gái đang trong độ xuân thì. Nhưng họ cũng chỉ đành bất lực trước núi rừng, chấp nhận trước dòng nước khe mang đầy độc tính.

+ “Hôm đón Thảo, cô gái thứ năm về, bốn người cũ mừng rỡ khi nhìn thấy mái tóc óng mượt dài chấm gót của cô. Họ cưng Thảo như vàng, nhất trí rằng không thể để rừng cướp mất mái tóc ấy của họ. Nhưng rừng mạnh hơn”: Mái tóc dài của Thảo làm cho bốn cô gái hoài tưởng mình của năm xưa, thấy được một phần tính nữ nảy nở giữa mảnh rừng Trường Sơn khô khốc, bạo liệt và trơ trơ vô cảm với những người phụ nữ. Sự "mừng rỡ" của họ là niềm vui ban đầu đến trước cái lo lắng, ngao ngán rằng rồi một ngày nào đó, "mái tóc óng mượt dài chấm gót của cô" cũng sẽ trở thành "một dúm xơ xác". Mái tóc của Thảo, không chỉ là dấu hiệu của người phụ nữ, của tính nữ mà còn là sự dịu dàng đến ấp ôm dải đất Trường Sơn. Bốn người phụ nữ "mừng rỡ" trước mái tóc của cô, trước mái tóc mà bất cứ người con gái nào thời ấy cũng khao khát giữ được cho thấy: chiến tranh hủy diệt tính nữ, không cho bản nguyên được bung nở.

→ Sự nỗ lực của bốn cô gái để níu kéo mái tóc của người đồng đội, níu kéo giấc mơ của chính họ về một mái tóc dài, để bảo lưu những gì dịu dàng nhất ở lại với vùng đất chết chóc này. Nhưng họ bất lực trước tự nhiên và chiến tranh - "Rừng mạnh hơn". Ở đây, dải đất Trường Sơn kia mang mẫu hình nam tính, hiện diện như phía nam giới trấn áp, triệt hoại, hủy diệt và chiếm đoạt người đàn bà. Ở đây, "mái tóc" trở thành tín vật, bảo vật thiêng liêng của người đàn bà. Đó không chỉ là mái tóc của riêng Thảo, đó là "mái tóc ấy của họ" mà họ "quý như vàng". Mái tóc là biểu tượng cho tính nữ dịu dàng được gùi gắng để giữ lại giữa chiến trường. Mái tóc không của riêng Thảo mà là đại diện cho tính nữ bên trong mọi người phụ nữ. Thiên tính nữ bị đặt vào trong một hoàn cảnh ngặt nghèo, rừng thiêng nước độc để thách thức. Ở đó, họ có thể không chiến thắng mà phải chịu thua và bị núi rừng "dần dà vặt trụi tóc họ". Một sự bé nhỏ của người phụ nữ, của con người trơ hiện trước núi xanh. Nó nói với ta về khát khao giữ lấy nhân hình, nói với ta về sắc diện bị hủy hoại, về tính nữ bị xóa nhòa. Ở đó, người phụ nữ phải gắng gỏi để giữ lấy những gì bị cướp mất.
→ Đó còn đồng thời là bi kịch sinh thái. Môi trường độc hại không chỉ công khai tước đoạt thân thể của những người nữ thanh niên xung phong, nó còn cho thấy sự bất lực của con người trước hệ sinh thái bị nhiễm độc. Đó không phải là thứ bom giết chết con người ngay tức khắc, mà là bom nổ chậm triệt hủy dần mòn từng chút một.

- “Cái sự si mê hộ người khác ấy không hy vọng cắt nghĩa nổi trong thời bình, dưới những ánh đèn mầu huy hoàng, mà chỉ những ai đã từng qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp gianh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu nổi”: Qua lời kể của Thảo, người yêu cô là một chàng sinh viên khoa Văn bay bổng, trữ tình, lại hào hiệp, thủy chung. Một tưởng tượng mờ ảo về chàng trai ấy đã khiến bốn cô gái đem lòng si mê, "nhưng không phải cho họ, mà cho Thảo". Qua lời Thảo kể, bốn cô nhận ra mình cũng đã lâu rồi chưa biết yêu một người, chưa từng trải qua một mối tình với chàng trai mà mình thương mến, cũng chẳng có được những kỉ niệm một thời mà ấp iu như Thảo. Vậy là tình yêu đã nảy sinh giữa những con người cùng "từng qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp gianh, giữa địa ngục và trần gian" ấy. Đó là tình yêu thay cho Thảo, yêu cùng Thảo để giữ lấy mối tình mong manh ấy giữa núi rừng, để bám víu vào đó mà dặn mình phải sống để còn yêu. Chỉ những ai từng bước qua nỗi cô đơn đó, hiểu được tấm lòng của người "chưa một lần yêu" mới hiểu được cảm giác của những cô con gái tuổi mười tám, đôi mươi. Núi rừng không chỉ cướp đi của họ mái tóc, thiêu rụi đi tính nữ mà còn khiến họ lãng quên đi cảm giác muốn yêu và được yêu. Câu chuyện của Thảo đã khơi dậy lại đâu đó trong tâm thức của những cô gái ấy về một tình yêu đích thực. Câu chuyện đã mở cái van tâm hồn của bốn cô gái, kéo họ ra khỏi cái nương náu với núi rừng, đẩy họ quay về với những xúc cảm trinh nguyên của đời con gái. Trong phút chốc, xuân sắc được kéo về, lôi tuột khỏi cái trơ khấc sau những tháng ngày nương náu giữa Trường Sơn. Ở đó, họ chia sẻ với nhau tình yêu, san sẻ những giá trị tinh thần để cùng nhau sống sót, khi đó tình đồng đội ở cao hơn mọi sự vị kỷ của tình yêu cá nhân.

- “Thỉnh thoảng mới có một đoàn quân tạt qua lĩnh quân trang quân dụng rồi vội vàng đi. Họ đến mang theo những câu bông đùa suồng sã, dăm ba cái cấu véo của những người đàn ông sống xa thế giới đàn bà lâu ngày có xu hướng trở thành hoang dã. Thảng hoặc cũng có những người lặng lẽ chiêm ngưỡng họ như những nữ hoàng, chăng vào lòng những cô gái bé nhỏ chút hy vọng mơ màng vương vấn như tơ nhện rồi thoắt biến, cho các cô gái càng thấm thía nỗi cô đơn”: Những người đàn ông "sống xa thế giới đàn bà lâu ngày có xu hướng trở nên hoang dã". Họ bị tách ra khỏi tình yêu, bị tước đi cảm xúc được yêu đương, khỏi giống loài trong độ tuổi trai trẻ. Do đó, họ dần trở nên đồng hóa với núi rừng, thêm suồng sã, thô ráp, quên mất cách phải dịu dàng với người phụ nữ. Giữa những người đàn ông và những người đàn bà trong mảnh đất Trường Sơn ấy có lẽ chưa đủ để hình thành một tình yêu. Những giây phút "tạt qua...rồi vội vàng đi" chỉ đủ khơi lên những khao khát chiếm hữu mỏng manh “như tơ nhện”. May mắn thay, vẫn còn những người "lặng lẽ chiêm ngưỡng họ như những nữ hoàng", họ ý thức được sâu hơn rằng những cô gái này là sinh khí của vùng rừng núi ấy, đem đến cho cái vùng đất xác xơ này tinh chất của sự dịu dàng. Bởi vậy, họ muốn nâng niu, trân quý những cô gái như những báu vật của rừng thay vì là những đối tượng của tình dục. Những cảm xúc đồng điệu chân thành ấy, đã "chăng vào lòng những cô gái bé nhỏ chút hy vọng mơ màng", để rồi cuối cùng trong sự biến mất thoắt ẩn thoắt hiện, các cô càng "thấm thía nỗi cô đơn". Đó là sự đồng cảm giữa những tâm hồn còn chưa bị núi rừng làm cho xơ xác, một chút đồng cảm rất mong manh ghé qua.

- Khung cảnh quái dị, đáng sợ khi bốn cô gái lên cơn “cười rừng”: Những tiếng cười man rợ trong trạng thái trần truồng như những “con vượn trắng” ấy là hệ quả của sự cô đơn, nỗi lo lắng trước tương lai, sự thiếu vắng kết nối với thế giới bên ngoài. Ngay trong buổi trưa mà ba người lính đến lĩnh quân trang, “một đôi tay từ đâu đã ghì chặt lấy cổ và sau gáy anh vang lên tiếng cười man dại lúc nãy”. Hành động lao vào “ghì chặt lấy cổ” anh lính đã bộc lộ trạng thái cô đơn, khủng hoảng cực hạn khi sống quá xa lạ với thế giới con người. Cái ôm ghì ấy như một sự ôm lấy, riết lấy, siết chặt, không để người lính rời khỏi vòng tay. Những cơn cười rừng không thể kiểm soát đi cùng với đó là nỗi lo sợ khi phải rời xa con người chính là biểu tượng cho nỗi đau chiến tranh. Những trạng thái tâm lý như vậy thường xuất phát từ một tinh thần yếu mềm, dễ thương tổn. Thân phận người phụ nữ trong chiến tranh luôn bị đối diện với những giới hạn của tâm lý, chịu những cú sốc tổn thương lớn nên họ khó có thể chống đỡ được trước những chấn thương tinh thần. Hình ảnh những người thanh niên xung phong trong truyện đã gợi ra một vấn đề lớn hơn đối với tâm lý con người - bệnh Hysteria. Loại bệnh này thường được nhìn nhận là căn bệnh “thiếu đàn ông” nhưng thực chất nó là chứng bệnh tạo nên do sự đả kích, chấn động quá lớn, lo sợ cao độ. → Một góc nhìn nữa từ góc độ chấn thương.

- Lòng tự trọng của người lính: “Đã dạn dày với cảnh chết chóc, mà giờ đây, khi đứng trước thân thể lõa lồ căng đầy sức sống của những người con gái, Hiên run bắn. Người đàn ông đã ngủ quên trong anh vùng vằng giẫy đạp. Trong phút chốc, Hiên muốn buông trôi, muốn quên hết”: Những cuộc chiến với bao mất mát, đau thương, trách nhiệm đã trở thành lý tưởng cao cả hơn tất cả những nhu cầu riêng tư của những người lính. Do đó, họ chấp nhận phần “người đàn ông” bên trong mình ngủ quên đi, để toàn tâm gắng sức cho cuộc chiến lớn của dân tộc. Nhưng thân thể người phụ nữ, khi đó, đã khơi gợi lại, đánh thức phần đàn ông đó sống dậy. Những nhu cầu cá nhân, những khao khát sự gần gũi da thịt xuất hiện trở lại bên trong Hiên. Đây là lúc anh đấu tranh nội tâm giữa lòng tự trọng và dục vọng. Một phần người đàn ông bên trong giẫy giụa muốn được giải thoát trong khoái cảm, để “buông trôi”, để “quên hết”. Một phần, lòng tự trọng vẫn giằng xé. Cuối cùng, tinh thần người lính, lòng tự trọng của người đàn ông đã chiến thắng. “Hiên trấn tĩnh được”. Hành động “chữa bệnh” cho bốn cô gái đang trong cơn bệnh kia là biểu hiện của tình đồng đội, là tinh thần của người chiến sĩ. → Nhân vật được miêu tả với xung đột nội tâm, đa chiều, nhiều cảm xúc và không bị gói gọn trong một cách nhìn đơn giản.

- Hình ảnh “người sót lại của rừng cười”: “Em là người sót lại của rừng cười, nhưng hạnh phúc chẳng còn sót lại nơi em”. Những người bước ra từ chiến tranh, cho dù có trở về lành lặn trong thân thể, thì cũng không tránh khỏi những tổn thương trong tinh thần. Sự tổn thương đó không chỉ là những dư chấn từ cuộc chiến với bom đạn kẻ thù, đó còn là sự tổn thương khi thấy mình lạc loài, thấy mình xa rời với nhịp sống, thấy mình khó chấp nhận được sự dịu dàng của tình yêu.
Thêm
65
0
0
Viết trả lời...

- “Mùa hoa, trên ngọn cây gạo màu đỏ xao xuyến lạ lùng. Nước lờ lững trôi, giữa tim dòng sông rạch một mũi sóng dập dồn, ở đầu mũi sóng có một điểm đen tựa như mũi giáo. Bến đò tĩnh lặng rất ít người qua lại. Mùa đông có cả những con sáo lông đen chân vàng đậu trên sợi thép níu đò căng từ gốc gạo sang phía kia sông”. → KHUNG CẢNH BẾN CỐC ĐẸP NHƯ MỘNG, GỢI DẪN MỘT MIỀN CỔ TÍCH, NƠI MÀ NGƯỜI TA KHÔNG NGHĨ ĐƯỢC RẰNG SẼ PHẢI ĐỐI DIỆN VỚI NHỮNG THỰC TẾ KINH KHỦNG, ĐỘC ÁC VÀ BUỒN THẢM BÊN TRONG. Nguyễn Huy Thiệp đã viết lại diễn biến mới cho câu chuyện về con trâu đen. Đây có thể là câu chuyện cổ tích mà không đứa trẻ nào muốn bước vào, nhưng là câu chuyện mà những người lớn cần một lần đối diện, để suy nghĩ sâu sắc hơn, để một lần nhận ra cuộc đời không hề đơn giản.

- “Tuyệt vời hơn nữa còn là truyền thuyết huyễn hoặc về con trâu đen ở khúc sông này. Những người đánh cá ban đêm quả quyết đã nhìn thấy nó”. → Những người đánh cá đêm “quả quyết đã nhìn thấy nó”. Nhưng lão trùm Thịnh, lão Tảo lại nhất quyết cho rằng con trâu đen chỉ là huyễn tưởng. Họ cùng sinh ra từ vùng sông nước ấy, trong cái mênh mông ấy của đất trời và cuộc sống tranh giành để mưu sinh, nhưng tại sao vẫn có những con người đủ tin yêu vào cuộc đời và những kẻ bất chấp rằng cuộc đời tồi tệ lắm? ĐƠN GIẢN VÌ HỌ THÍCH TIN VÀO ĐIỀU ÁC HƠN. Tin vào điều ác thì họ sẽ có cơ hội để làm điều ác. NHỮNG NGƯỜI ĐÁNH CÁ THIỆN LƯƠNG TIN CON TRÂU ĐEN THÌ CHỈ ĐƯỢC MIÊU TẢ QUA 1 CÂU VĂN, TRONG ĐÓ LÃO TẢO, TRÙM THỊNH LẠI ĐƯỢC MIÊU TẢ RÕ NÉT. BỞI LẼ, HO LÀ SỐ ĐÔNG. SỐ ĐÔNG CỦA CÁI ÁC CHIẾM LẤY KHÔNG GIAN CỦA SỰ THIỆN LƯƠNG.

- “Tao đã đánh cá trên khúc sông này sáu chục năm trời. Tao thuộc từng lạch một… Chuyện con trâu đen chỉ là chuyện đồn nhảm nhí… Mày hãy tin tao, ở bến Cốc này thì chuyện giết người ăn cướp có thực, ngoại tình có thực, cờ bạc có thực, còn chuyện trâu đen là giả”. Trùm Thịnh nhìn thấy bản chất của cuộc đời là những sự tồi tàn, tệ nạn, trong khi những chuyện huyền thoại chỉ là “chuyện đồn nhảm nhỉ”. Góc nhìn bi quan của lão về cuộc đời không đơn giản chỉ là một sự vỡ lẽ về chân lý sau câu hỏi của nhân vật “tôi”. Nó trở thành cảm quan mang tính thâm căn cố đế, là định hướng sống, là lẽ sống của lão trước cuộc đời. Khi người lớn thể hiện sự mệt mỏi, bất lực và chối bỏ huyền thoại, nghĩa là họ đang thể hiện sự bất lực trong việc nuôi dưỡng tinh thần đứa trẻ bằng không gian mơ mộng.
- Cuộc tranh giành mồi của những con thú. Đứng trước miếng ăn, những tên đánh cá hiện nguyên hình bản chất mọi rợ, thô bạo, sẵn sàng hy sinh mạng sống để giành được con mồi. Họ rơi vào bi kịch vong thân, không tìm thấy mình bởi họ phải tàn nhẫn để đuổi theo miếng ăn hàng ngày. Có lẽ, chính những trải nghiệm giành giật này chính là nguyên nhân khiến họ trở nên tha hóa.
- “Tôi muốn gào lên chua xót. Tôi bỗng nhiên thấy cuộc sống hiện giờ của tôi vô nghĩa xiết bao. Con trâu đen, con trâu đen trong thời thơ ấu của tôi nay ở đâu rồi?” Bằng niềm tin vào huyền thoại và lòng tốt cái thiện bản năng, anh ta sống mãi trong cảm giác chờ được ban thưởng, tin vào niềm tin ngây thơ rằng cứ sống tốt thì sẽ được bảo vệ. Cuối cùng, anh ta lại rơi vào bi kịch niềm tin của chính mình. Con người, cũng có thể lầm đường, chỉ vì sống với những niềm tin thơ ngây.
Thêm
43
0
0
Viết trả lời...
“Mỗi khi sáng tác tiểu thuyết, tôi chịu đựng những câu hỏi, tôi sống trong chúng” (Han Kang). Đặt câu hỏi là cách mà nhà văn bày tỏ sự phản tư trước hiện thực cuộc sống, trăn trở không ngừng về hiện thực chưa bao giờ bằng lòng, lật ngược những góc nhìn định kiến vốn có về cuộc đời. Ở đó, hiện thực được nhìn nhận lại dưới con mắt thẩm mỹ của nhà văn. Thông qua câu hỏi, nhà văn đặt ra suy tư trước thực tại để cấp nghĩa cho chúng. Những câu hỏi mà nhà văn phải “chịu đựng” là hiện thực đó đang diễn ra như thế nào, hiện thực có còn mang giá trị hay không, con người đang tồn tại như thế nào, có những con người nào không được nhìn thấy trong hiện thực,.. Đó cũng đồng thời là câu hỏi về giá trị của những gì được viết ra và trao đến người đọc.



+ Những câu hỏi trong văn học là gì? Là những trăn trở, suy tư, thắc mắc về những điều chưa biết hoặc để bộc lộ cảm xúc, để xác lập niềm tin.

+ Những câu hỏi mà nhà văn phải chịu đựng là gì? Là những trăn trở, suy tư, hoài nghi, băn khoăn của riêng nhà văn về hiện thực, con người, về những giá trị trong hiện thực.

+ Tại sao nhà văn phải chịu đựng những câu hỏi? Bởi lẽ, hiện thực luôn không đơn giản, một chiều, phiến diện mà rất bộn bề, phức tạp, ẩn chứa nhiều tầng sâu bên trong. Do đó, hiện thực luôn đòi hỏi nhà văn phải suy tư, trăn trở không ngừng để mở rộng những tầng nghĩa bên trong, để trải nghiệm hiện thực chủ quan và để người đọc cùng trăn trở. Nhà văn luôn bị chi phối bởi những câu hỏi đó, luôn không yên lòng trước hiện thực mà luôn muốn nhìn sâu hơn bởi bản chất của công việc luôn cần sự “đào sâu, tìm tòi”, đôi khi là băn khoăn, đặt câu hỏi.

+ Tại sao nhà văn lại sống trong câu hỏi? Việc sống trong câu hỏi là hành động nhà văn chấp nhận sự giày vò của câu hỏi, dùng những câu hỏi như một bước gợi mở để viết tiếp tác phẩm, viết không nhằm để trả lời mà để văn bản trở thành phương tiện trăn trở, suy tư. Nhà văn sống trong những câu hỏi bởi lẽ chúng thách thức tư duy, trở thành bước đệm để thúc đẩy nhà văn viết tiếp một điều gì mới.



- Tác phẩm:

+ Chi tiết “Lễ truy điệu tập thể 3”: Đó không chỉ là sự ra đi của một phần lớn nạn nhân một lần. Con số 3 nói lên ở đó là ba lần mà một “tập thể”, tức là rất nhiều con người phải chết cùng một lúc trong sự ngỡ ngàng, bất lực. Cái chết là một sự kiện thiêng liêng trong cuộc đời của mỗi con người. Quan niệm phương Đông luôn đi tìm cái chết trong sự thanh thản, yên bình bởi đó là dấu chấm hết cuộc đời con người. Tuy nhiên, trong cuộc bạo loạn, cái chết đến bằng những phát súng, viên đạn. “Tám mươi ba chiếc quan tài nằm ở nhà thi đấu” là tám mươi ba cái chết không toàn thây, chết đau đớn, tức tưởi. Sự chết đi của họ thậm chí còn là sự chết đi “tập thể”, theo nhóm, theo thời gian chết nên tính cá nhân trong mỗi cái chết đã bị xóa mờ. Con người không còn được đưa tiễn với cái tên riêng, mà chỉ được gọi bằng “cô gái váy trắng”, “một thanh niên”, “ông lão”..



+ Hình ảnh những nạn nhân của cuộc bạo loạn: “cô gái nhỏ nhắn khoảng mười chín hai mươi tuổi”, “cơ thể dần thối rữa và trương phình lên”, “có nhiều vết thương do lưỡi lê chém”, “xương sọ bên phải lõm xuống sâu hoắm như bị đánh bằng dùi xui, lộ cả óc bên trong”; “một thanh niên bị lưỡi lên chém ngang cổ, lòi cả lưỡi gà đỏ lòm ra bên ngoài”, “vết đạn đã xuyên thủng mạng sườn”, những xác chết chất lên xe rác, “khuôn mặt họ bị xóa sạch bằng xương trắng”.

→ Những nạn nhân.



+ Cuộc đối thoại của những linh hồn: Khi chết, Jeong Dae bị quẳng vào đống xác người chất cao, chờ bị thiêu trụi, anh đã độc thoại nội tâm với chính mình về quân đội “bọn họ”, về những người chết mặt sơn trắng xóa nằm chồng chất trên nhau, về quá khứ. Đó là những đối thoại của linh hồn Jeong Dae trước khi rời đi khỏi thân thể mình. Chính cậu cũng thắc mắc rằng “Liệu linh hồn sẽ nán lại bên thể xác bao lâu nữa nhỉ?’. Cuộc đối thoại của linh hồn Jeong Dae trước khi bị thiêu hủy là tiếng nói vọng đến từ cõi chết, là những ý thức cuối cùng của linh hồn. Ở đó, Jeong Dae nhớ về quá khứ. Jeong Dae sống trong kí ức rằng “tôi không còn là Jeong Dae nhỏ con nhất lớp nữa”, “tôi không còn là Park Jeong Dae sợ chị gái nhất trên thế gian này nữa”. Những kí ức hiện về thông qua dòng hồi tưởng. Hồi tưởng của Jeong Dae được đặt trong khi cậu đã chết, nghĩa là khi con người thường lưu luyến quá khứ, khi những kỉ niệm mà con người nhớ lại thường có ký ức sâu đậm với họ nhất. Jeong Dae không nhớ về những sự kiện lớn lao đã diễn ra trong cuộc đời cậu, cậu chỉ nhớ đến người chị thân thương và thắc mắc giờ đây “linh hồn chị cũng đang chập chờn giống như tôi, ở nơi nào nhỉ?”. Những nạn nhân đã chết, đều mang theo những kí ức rất đời thường vào giấc ngủ say của họ. Cuộc đối thoại này của linh hồn Jeong Dae đã khiến chúng ta thấy được không chỉ một hiện thực xã hội khi xác người chết chất thành tháp, dòi lúc nhúc không hở một khe nào, hình ảnh “quân đội bọn họ” châm lửa thiêu hủy những cái xác mà còn cho thấy cuộc bạo loạn ở góc nhìn nạn nhân. Để cho Jeong Dae - một nhân vật đã chết một chương riêng trong cuốn tiểu thuyết là cách Han Kang trao tiếng nói cho những nhân vật dễ bị lãng quên, những nhân vật không có cơ hội được nói. Một cuộc thảm họa, khi được nhìn từ góc độ nạn nhân, bao giờ cũng khiến ta day dứt hơn.

+ Hình ảnh quân đội: Trên mỗi cái xác “đều phủ căng một lá Quốc kỳ được buộc chặt nhiều vòng vào các góc”. Dong Ho, khi ghi lại thông tin về những cái xác trong lễ truy điệu tập thể, đã đặt câu hỏi “Tại sao lại hát Quốc ca cho những người bị quân lính giết chết nhỉ? Tại sao phải phủ Quốc kỳ lên quan tài của họ chứ. Như thể không phải chính đất nước này đã giết họ vậy”. Hai câu hỏi của Dong Ho nối liền nhau, đuổi theo nhau như xô vào bên trong trái tim mỗi người làm ta quạn thắt. Những kẻ đáng lẽ ra phải dùng mũi súng bảo vệ nhân dân thì giờ đây lại quay mũi súng đó về phía chính nhân dân của mình. Lá cờ phủ trên những xác chết oan khuất là lời khẳng định những tên lính chỉ là kẻ phản loạn, những người dân mới thực sự là công dân của đất nước này. Họ đã hy sinh cho quyền tự do, tự chủ của đất nước.



- Hình thức nghệ thuật:

+ Cấu trúc đa điểm nhìn: Góc nhìn luân phiên thay đổi qua từng nhân vật qua từng chương. Mỗi chương là lời tự thuật của các nhân vật về những trăn trở họ phải chịu đựng bằng góc nhìn một nạn nhân. Đọc mỗi chương là cách để khơi mở dậy một cuộc đời, sống trong những lời tự thuật đó. Dưới góc độ nạn nhân, bi kịch luôn hiện lên trong đau đớn nhất. Bằng cấu trúc đa thanh, Han Kang tái hiện một bi kịch mà nỗi đau không chỉ dừng lại ở một đứa trẻ (Dong Ho, Jeong Dae), một đôi bạn, một người chị, một người em, một người mẹ mà nỗi đau bao trùm trên tất cả những con người khốn khổ ấy.

+ Kiểm soát ngôn ngữ, không sa đà vào việc miêu tả cảnh máu me gây ám ảnh, tạo sự ghê sợ.

+ Những hình ảnh mang tính biểu tượng cao: hình tượng “đất nước”. Đây là một hình tượng mang đậm giá trị biểu cảm. Nếu như đất nước thực sự là nơi ta được thuộc về, được bảo vệ quyền lợi, cảm giác được yêu thương thì “đất nước” trong tác phẩm chính là tình thế mà ta phải sống chung với phiến quân, chịu đựng sự áp bức, thảm sát của chính quân đội.

+ Ngôn ngữ đậm chất thơ, ám ảnh và giàu tính thể nghiệm:



“Tôi nghĩ tới họng súng đã bắn ra viên đạn đó

Tôi nghĩ tới cò súng lạnh băng

Tôi nghĩ tới ng
ón tay ấm nóng đã bóp cò súng



Tôi nghĩ tới đôi mắt đã nhìn tôi mà ngắm bắn



Tôi nghĩ tới đôi mắt của người đã hạ lệnh nổ súng”

→ Phong cách viết của Han Kang là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ, giàu tính nhạc, với những câu chuyện trần trụi, tàn bạo và đau thương. Bà nắm bắt cảm xúc chính xác, sử dụng ngôn từ tối giản nhưng để lại ấn tượng. Trong “Người ăn chay” - Một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Han Kang, tác giả đặt ra nhiều vấn đề triết lý như: "
Tại sao chết lại là điều tồi tệ đến vậy?", "Lương tâm là thứ đáng sợ nhất trên thế gian này", "Cô ấy là một người phụ nữ tốt, anh nghĩ. Kiểu phụ nữ mà lòng tốt của họ thật áp bức". Han Kang cũng sử dụng các câu chuyện phân mảnh rời rạc và phi tuyến tính, không theo trình tự thời gian, cùng với nhiều ám dụ, buộc người đọc tập trung và suy ngẫm cẩn thận. Chủ đề phổ quát về nỗi đau, bóc tách tâm lý, khát vọng tồn tại của con người, cùng những sáng tạo về hình thức biểu hiện, khiến cho Han Kang trở thành một gương mặt nổi bật của văn học châu Á nhiều năm nay.
Thêm
52
0
0
Viết trả lời...
Chiến tranh không chừa cho người ta đường sống, không cho người ta quay về với tình yêu và tuổi trẻ. Người đọc không chỉ đối diện với tàn dư của quá khứ mà còn bị bủa vây bởi sự ám ảnh sinh thái trên hình hài của người con gái. Trong “Người sót lại của rừng Cười”, Võ Thị Hảo đã khiến tôi nhận ra một sự thật đau đớn hơn: chiến tranh không chấm dứt khi con người bước ra khỏi chiến trường. Hóa đơn của nó đến ngay sau đó. Nó tiếp tục sống trong cơ thể, trong ký ức và trong khả năng yêu thương của những người còn ở lại. Đặc biệt, khi câu chuyện được nhìn từ phía những người phụ nữ, nó trở thành một vết thương trên chính thân thể họ, nơi đáng lẽ phải lưu giữ vẻ đẹp xuân sắc của tuổi trẻ.

Chiến tranh vốn đã tước đoạt tuổi xuân của những cô gái trong Rừng Cười. Nhưng điều đáng sợ là sau khi họ sống sót, cuộc đời vẫn chưa trả lại cho họ những gì đã mất. Thiên nhiên trong tác phẩm không còn mang dáng vẻ của một người mẹ hiền lành chở che sự sống. Dòng nước mang màu “xanh đen thối lợ” trở thành một thứ chất độc âm thầm xâm nhập vào cơ thể. Những mái tóc từng gắn với vẻ đẹp nữ tính bị “vặt” thành “một dúm xơ xác”. Chỉ một động từ ấy cũng đủ làm người đọc cảm nhận sự tàn bạo của một môi trường đã bị hủy hoại đến mức quay ngược lại chống lại con người.

Thiên nhiên bị nhiễm độc không còn chỉ là một không gian chết chóc bao quanh con người. Nó trở thành tác nhân làm biến dạng chính sự sống bên trong con người. Những gì đáng lẽ phải thuộc về vẻ đẹp nữ tính lại trở thành bằng chứng của sự tàn phá. Mái tóc không còn là biểu tượng của tuổi trẻ mà trở thành dấu tích của một cơ thể đã bị môi trường chiến tranh bào mòn. Cái chết vì thế không nhất thiết phải xuất hiện bằng một tiếng nổ. Nó có thể diễn ra chậm hơn, lặng hơn, bằng sự suy kiệt từng ngày của cơ thể. Môi trường độc hại k chỉ công khai tước đoat thân thể của những người thanh niên, k chỉ cho thấy sự bất lực của con người trước hệ sinh thái bị nhiễm độc. Nó biến thân xác người nữ trở thành tàn tích đáng thương. Đó không phải là bom đạn giết chết con người, mà là bom nổ chậm triệt hoại, giết dần giết mòn tính nữ của người con gái. Tác giả đã cung cấp cho ta nhận thức rằng môi trường bị hủy hoại sẽ nhanh chóng phản vệ trước hành động bạo tàn của con người. Văn chương không chỉ giúp ta nhận thức về bi kịch chiến tranh, mà còn khiến ta thoát khỏi chứng mất trí nhớ sinh thái.

Thảo trở về từ chiến tranh với một thân thể không còn nguyên vẹn. Cô không chỉ mang thương tích. Cô mang theo cảm giác mình đã trở thành một người khác, một người không còn có thể bước vào tình yêu bằng sự tự tin của tuổi trẻ. Câu nói “Anh sẽ thấy rằng yêu một người như em là hy sinh quá lớn” đau đớn bởi Thảo đã nhìn thấy trước giới hạn của chính mình. Cô không đợi người đàn ông thương hại rồi mới nhận ra bi kịch. Cô tự ý thức được nó trước cả khi tình yêu có cơ hội cứu vớt mình. Chúng ta phải sống tiếp khi ta bị tước đi những giá trị nữ tính vốn có. Văn chương đã thực hiện chức năng khi nó cho nạn nhân tự nhận thức về chính bản án của cuộc đời mình, nhận thức về bi kịch ngày trở về.

Bốn cô gái ở lại rừng Cười đặt hy vọng vào Thảo, coi Thành như là tình yêu để có động lực sống, xem câu chuyện tình yêu để gột rửa nỗi đau, sự tự ti, bấu víu vào sự tưởng tượng về Thành mà sống tiếp. Mặc dù Thành vẫn yêu Thảo nhưng sự bào mòn của lòng bao dung cuối cùng sẽ đến, cuối cùng trở thành lòng thương hại, không còn là tình yêu thật sự. VTH dự báo về sự mong manh của các mối liên kết mong manh trong chiến tranh sẽ không thể nào tồn tại.

Những người sót lại có thể là tất cả những người bước ra từ chiến tranh, mang theo nỗi tự ti từ chiến tranh, phải đối diện với tương lai lạc lõng, trở thành phế tích của rừng sâu, không thể khớp nối trở lại với cuộc sống hậu chiến. Họ là bóng ma từ quá khứ, là khoảng trống sâu hoắm của tiếng bom đạn. VTH đã tạo ra dư chấn thẩm mỹ, dịch chuyển những điểm nhìn, dùng góc nhìn nữ nói về người nữ, dịch chuyển từ góc nhìn của người nam về với trận chiến của nữ giới. Đó là sự di chuyển từ những cuộc chiến vĩ mô về với cuộc chiến vi mô bên trong mỗi người sót lại của trận chiến. Tự nhiên đã làm bóp méo bản nguyên về giới tính, để lại nỗi ám ảnh về tình người, tình yêu.




Thêm
47
0
0
Viết trả lời...
Erving Goffman đã từng dùng hình ảnh “sân khấu” để lý giải cách con người tồn tại trong đời sống xã hội. Theo ông, mỗi người bước vào đời như một diễn viên, có lúc đứng ở “không gian trước”, nơi ánh nhìn của người khác khiến ta phải điều chỉnh từng lời nói, cử chỉ và biểu cảm, có lúc trở về “không gian sau”, nơi chiếc mặt nạ được đặt xuống để con người được thở dài, được mệt mỏi và sống với những cảm xúc vốn không thể phô bày trước đám đông. Tôi cho rằng, lý thuyết “Sân khấu” đặc biệt có sức suy tư khi đặt vào xã hội hiện đại. Bởi càng có nhiều ánh mắt hướng về mình, con người càng dễ quên mất cảm giác được sống mà không cần trình diễn. Đằng sau một nụ cười có thể là một tâm hồn đang cố gắng giữ mình khỏi đổ vỡ.

Xã hội hiện đại khiến con người ngày càng thương tổn và dễ gục ngã hơn. Mạng xã hội biến đời sống riêng thành một sân khấu khổng lồ, nơi mỗi người có thể lựa chọn phiên bản đẹp nhất của mình để đưa ra trước công chúng. Một bức ảnh được chỉnh sửa có thể khiến một ngày bình thường trông giống một cuộc đời đáng mơ ước. Một dòng trạng thái tích cực có thể che khuất những giờ phút tuyệt vọng, đảo ngược trạng thái tâm lý thực sự của người sử dụng. Thành công của người khác xuất hiện liên tục trên màn hình khiến con người dễ có cảm giác mình đang tụt lại phía sau. Theo báo cáo của Stress in America 2024 của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ, khảo sát 3.305 người trưởng thành tại Mỹ ghi nhận mức căng thẳng trung bình tự đánh giá là 6 trên 10, trong đó 73% người tham gia xem tình hình kinh tế là nguồn gây căng thẳng đáng kể. Những con số ấy không đại diện cho toàn bộ thế giới, nhưng chúng cho thấy một áp lực có thật trong đời sống hiện đại: con người đang phải thích nghi với quá nhiều bất ổn trong khi vẫn được kỳ vọng phải duy trì hình ảnh rằng mình ổn.

Tuy nhiên, đôi khi khán giả của chúng ta không còn là xã hội. Khán giả chính là bản thân mình. Ta bắt đầu tự nhìn mình bằng ánh mắt của đám đông. Có những người đã quen nói “tôi ổn” đến mức câu nói ấy trở thành phản xạ, ngay cả khi bên trong họ chẳng còn chút bình yên nào. Họ chỉ nói bởi họ đã quen như thế. Trải qua thương tổn nhiều đến mức họ quen dần với thương tổn rồi. Khi ấy, sự trình diễn trở thành một cơ chế tự vệ khiến con người che giấu chính mình khỏi chính mình.

Bởi vậy, “không gian sau” có ý nghĩa đặc biệt đối với tâm lý con người. Đó là nơi một cá nhân không cần phải chứng minh rằng mình mạnh mẽ, có thể thừa nhận mình thất bại mà không sợ giá trị bản thân lập tức bị phủ nhận, có thể khóc mà không phải giải thích vì sao mình yếu đuối, có thể im lặng mà không cần giải thích. Hậu trường giúp họ phục hồi sau những giờ phải đóng vai trước thế giới. Hậu trường là điểm mù mà thế giới không thể thấy. Nhưng chúng ta thì có thể thấy rõ mình nhất, nhận ra mình đang sống như thế nào. Đó là nơi ta rũ bỏ lớp hóa trang, thở dài, mỏi mệt, thậm chí được buông một lời chửi tục cho tất cả những áp lực mình phải chịu đựng.

Tôi nghĩ rằng trưởng thành không nằm ở khả năng diễn một vai hoàn hảo trước thế giới. Trưởng thành là khi ta có một sân khấu riêng để tỏa sáng nhưng vẫn có một hậu trường để sống trọn với cảm xúc của mình. Chúng ta, dù không muốn, cũng không thể dứt bỏ khỏi cái sân khấu đang chờ đợi và phán xét mình. Quan trọng là chúng ta cần nắm lấy ánh hào quang để tỏa sáng tự thân, để rực rỡ theo một cách riêng mà không trông đợi vào sự phán xét.
Thêm
43
0
0
Viết trả lời...
Câu chuyện về người phụ nữ Phan Thị Mười đã dừng lại bên tôi trong những tháng ngày chông chênh nhất của tuổi trẻ. Câu chuyện làm tôi tin hơn vào phẩm giá người phụ nữ và vẻ đẹp xuân thời của tuổi đôi mươi. Năm mười tám tuổi, bà Phan Thị Mười đã bước vào chiến trường Quảng Đà, Đà Nẵng với tư cách một nữ dân công hỏa tuyến. Người con gái chỉ nặng ba mươi tám, bốn mươi cân khi ấy phải gùi trên vai tám mươi đến một trăm kilôgam gạo, vượt qua những con dốc dài giữa núi rừng trong tiếng bom đạn. Tôi đã nghĩ rất lâu về hình ảnh ấy. Không phải bởi con số hàng hóa mà một thân hình nhỏ bé có thể mang theo, cũng không chỉ bởi những cung đường hiểm trở của chiến tranh. Điều khiến câu chuyện về bà dừng lại bên tôi chính là một câu hỏi về người phụ nữ và tuổi thanh xuân của họ. Một cô gái mười tám tuổi, rốt cuộc đã phải mạnh mẽ đến đâu để đi qua những năm tháng mà lẽ ra mình có quyền được yếu lòng? Và nếu tuổi trẻ vốn thường được hình dung bằng vẻ đẹp của những ngày trong trẻo, thì điều gì đã làm nên vẻ đẹp của một người phụ nữ sau khi tuổi trẻ ấy đã đi qua những mùa bom đạn?

Đằng sau dáng đứng kiên cường ấy của bà vẫn là một cô gái biết nhớ nhà, biết sợ hãi, biết chông chênh trước những con đường hiểm trở. Những cảm xúc ấy không làm bà nhỏ bé hơn. Ngược lại, chính chúng khiến lòng dũng cảm trở nên có ý nghĩa. Chỉ khi trong lòng vẫn tồn tại nỗi lo về cái chết, nỗi nhớ một mái nhà và khao khát được sống như một cô gái bình thường, việc tiếp tục bước đi mới trở thành một lựa chọn đầy sinh khí. Những cảm xúc của tuổi trẻ, khi con người dù trong biến động vẫn chọn sống thật với cảm xúc của mình; những góc khuất cảm xúc, những lần yếu lòng của người chiến sĩ trước những mối đe dọa.

Tôi nghĩ về tuổi trẻ từ đó. Có một cách rất dễ khiến chúng ta hiểu sai về những con người đã đi qua chiến tranh, đó là biến họ thành những tượng đài không biết đau, chỉ có huy chương, lời ca tụng và ánh sáng. Nhưng con người không phải tượng đài. Người phụ nữ năm mười tám tuổi vẫn có một thế giới riêng trong tâm hồn, vẫn có những khoảnh khắc muốn được trở về, muốn được sống bình yên, muốn được yêu thương. Chiến tranh đã buộc họ trưởng thành, nhưng không thể lấy đi hoàn toàn phần thiếu nữ trong họ. Có lẽ chính việc giữ được phần người mong manh ấy giữa một thời đại khốc liệt mới là điều khiến vẻ đẹp của họ trở nên sâu sắc.

Bởi lẽ bà Mười đã hát. “Nhưng hồi đó, mình có tiếng hát. Hát để át tiếng bom đạn. Mình hát để động viên anh em, để sau những giờ gùi hàng, ai cũng có tiếng cười, có thêm sức mà tiếp tục chiến đấu. Vừa làm, vừa hát thì mới thấy nhẹ lòng, mới khích lệ tinh thần, mới đi được đường dài”, bà Mười hồi tưởng. Mỗi bài hát với nữ Chính trị viên Tổng đội ấy đều là một lát cắt ký ức về đồng đội, những cung đường và một thời tuổi trẻ quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Bà không hát để kể về gian khổ, mà hát để nhớ những người đã cùng mình đi qua chiến tranh. Những câu hát lúc này trở thành một kí ức của lịch sử, văn hóa, mang chứa trong đó tiếng nói của những con người đã ngã xuống, đã hy sinh nhưng vẫn luôn yêu đời, yêu cái đẹp và trân quý những giá trị nhân văn.

Ở tuổi tám mươi, với sáu mươi năm tuổi Đảng, bà Mười vẫn miệt mài xác nhận hồ sơ để những người từng cùng mình đi qua chiến tranh được hưởng chế độ chính sách. Tôi thấy trong công việc ấy một sự tiếp nối rất đẹp của tuổi trẻ. Người phụ nữ từng gùi gạo qua những con dốc ngày nào giờ mang một trách nhiệm khác, âm thầm hơn, bền bỉ hơn. Bà giúp những người đồng đội cũ được nhìn nhận đúng với những gì họ đã cống hiến. Một đời người như thế không khép lại khi chiến tranh kết thúc. Nó tiếp tục sống trong cách con người nhớ về nhau.

Thêm
37
0
0
Viết trả lời...
Từ thời niên thiếu, bà Anjana Raja, một người phụ nữ đến từ bang California, Mỹ, đã ấp ủ mong muốn được đặt chân tới Nepal trong chuyến hành hương tới núi Kailash. Một hành trình được chờ đợi suốt nhiều năm tưởng như sẽ trở thành ký ức đẹp nhất của đời người lại bất ngờ biến thành cuộc chiến sinh tồn giữa một trận lũ quét lịch sử tại khu vực biên giới Nepal và Tây Tạng. Bà kể lại rằng những người trong đoàn phải hoảng loạn chạy lên cao, không có người dẫn đường, không biết mình đang đi về đâu, chỉ còn bản năng sinh tồn thúc giục họ bám vào những mỏm đá trơn trượt giữa bùn lầy để giữ lấy mạng sống. Câu chuyện ấy khiến ta nhận ra rằng con người vố dĩ rất nhỏ bé và rất dễ lâm nguy. Trước một cơn cuồng nộ của tự nhiên, những kế hoạch từng được tính toán cẩn thận bỗng trở nên vô nghĩa, bất lực. Con người nhỏ bé không phải vì họ yếu đuối, mà bởi tồn tại luôn chứa đựng những biến động vượt khỏi khả năng kiểm soát.

Ta thường sống với ảo tưởng rằng mình có thể làm chủ tương lai. Khủng hoảng xuất hiện đập vỡ vụn niềm tin ấy. Nó có thể đến mà không báo trước, không quan tâm con người đã chuẩn bị bao nhiêu, cũng chẳng phân biệt người đang hạnh phúc với người đang tuyệt vọng. Trước sức mạnh của thiên nhiên, một con người từng nghĩ mình đang tiến về phía giấc mơ có thể chỉ còn biết tìm một nơi để sống sót. Trong khi đó tại Tây Tạng, một chú thỏ bông phủ đầy bùn được tìm thấy trôi dạt trên bờ sông tại điểm cứu hộ gần cảng Gyirong, cửa khẩu biên giới Trung Quốc giáp với Nepal. “Dù chú thỏ đồ chơi rất nhỏ, nhưng nó mang trong mình ký ức sống động về cuộc sống. Nó từng đồng hành cùng vô số những khoảnh khắc ấm áp thường nhật, giờ đây phủ đầy bùn đất, lặng lẽ kể lại câu chuyện về sự bất ngờ của thảm họa này”, đài phát thanh và truyền hình nhà nước Tây Tạng đưa tin.

Nhưng nhận ra sự nhỏ bé không đồng nghĩa với việc chấp nhận bất lực.

Không ai biết chắc phía trước có gì. Không có một bản đồ hoàn hảo để chỉ cho họ nơi an toàn. Trong tình thế ấy, bản năng sinh tồn trở thành thứ dẫn đường cuối cùng. Khả năng chống chọi trước khủng hoảng vì thế không bắt đầu từ ảo tưởng rằng ta đủ mạnh để chiến thắng tất cả. Nó bắt đầu từ sự thừa nhận rằng mình đang yếu đuối và cần đến nhau để cùng tồn tại.

Bởi vậy, một chú thỏ bông phủ đầy bùn được tìm thấy tại điểm cứu hộ gần cảng Gyirong ở Tây là món đồ chơi nhỏ bé vốn thuộc về thế giới tuổi thơ nay bị dòng nước cuốn khỏi nơi nó từng tồn tại. Nó không thể kể câu chuyện bằng ngôn ngữ của con người, nhưng lớp bùn phủ trên thân nó dường như đã nói thay rất nhiều điều. Đằng sau một món đồ chơi bị cuốn trôi có thể là căn nhà đã bị phá hủy, một đứa trẻ không còn tìm thấy vật thân thuộc của mình, một gia đình đang kiếm tìm những thứ từng làm nên cảm giác bình yên.

Chú thỏ ấy khiến thảm họa trở nên gần với con người hơn. Một con số về lượng mưa hay mức độ thiệt hại có thể cho ta biết quy mô của thiên tai, nhưng một món đồ chơi phủ bùn lại khiến ta hình dung được thế giới tuổi thơ đã mất mát như thế nào. Trong khoảnh khắc ấy, điều bị cuốn đi không chỉ là một đồ vật nhỏ bé. Một phần bình yên của tuổi thơ cũng bị cuốn theo.

Chính vì thế, sự nhỏ bé của con người trước khủng hoảng nhắc ta về giới hạn của mỗi cá nhân để hiểu sâu hơn giá trị của cộng đồng. Khi một người không đủ sức chống lại dòng nước, bàn tay của người khác có thể trở thành điểm tựa. Khi một người không biết đường thoát, sự hiện diện của một người đồng hành có thể giúp họ không rơi vào tuyệt vọng. Giữa một thảm họa không thể kiểm soát, con người vẫn còn khả năng lựa chọn cách đối xử với nhau. “Nắm lấy tay nhau” vì thế là một hình ảnh đẹp. Đó là một thái độ sống cần thiết trước những biến động mà không cá nhân nào có thể dự đoán hết. Khủng hoảng làm con người nhận ra mình nhỏ bé, nhưng chính vì ta nhỏ bé mà ta phải “nắm lấy nhau cùng học bay”. Cánh tay cộng đồng sẽ tạo nên đôi cánh, chúng ta cùng bay, bay trong bình thản và yêu thương, vượt thoát khỏi vùng đất đầy tử khí này.
Thêm
31
0
0
Viết trả lời...
William Metzger giữ chức vụ giám đốc Sở Kiểm soát Thiệt hại DODC. Trong cuộc đối thoại với Peter Parker về mối đe dọa từ Jean Grey, nhân vật nói: “Có vẻ chúng ta phải đối mặt với một mối nguy không thể kiểm soát. Một thứ mà thậm chí còn không thể nhìn thấy”. Lời cảnh báo ấy tưởng như chỉ hướng về một thế lực siêu nhiên đang đe dọa thế giới, nhưng sự thật về William Metzger lại khiến câu nói trở thành một nghịch lý: kẻ chỉ ra cái ác vô hình cũng chính là kẻ đang giấu mình bên trong nó. Cái ác liên tục ẩn thân, chơi trốn tìm với cái thiện, khiến đôi khi cái thiện bị nghi ngờ mà cái ác thì khó để loại trừ. Chính những mối nguy hiểm vô hình đó mới thực sự đáng sợ bởi nó không thể kiểm soát. Cái ác hiểm nguy bởi nó không hiện hình, nó luôn trốn chui trốn nhủi nhưng âm thầm hủy diệt con người. Chúng ta phải bằng sự tỉnh táo và thấu hiểu mà nhận diện ra những cái ác như vậy.

Cái thiện vốn dĩ cần lòng tin để tồn tại. cũng trở thành khe hở để cái ác xâm nhập. Kẻ xấu không cần phá cánh cửa để xâm nhập nếu chúng ta tự tay mở cửa vì nghĩ rằng người đứng bên ngoài là một người tốt. William Metzger đứng ở nơi vốn được mặc định thuộc về sự bảo vệ, nói về những hiểm họa mà người khác cần đề phòng, đồng thời che giấu việc bản thân đã đứng về phía hiểm họa. Cái ác ở đây không còn đối lập với cái thiện bằng hình thức bên ngoài. Nó mượn ngôn ngữ của cái thiện để thực hiện mục đích của mình. Nó nói về an toàn trong khi gieo nguy hiểm, nói về kiểm soát trong khi âm thầm tạo ra hỗn loạn, nói về trách nhiệm trong khi lợi dụng chính niềm tin được trao cho mình.

Đó mới là lúc ranh giới thiện - ác trở nên đáng sợ hơn bao giờ hết: không phải khi nó bị xóa bỏ hoàn toàn, mà khi nó bị làm cho nhòe đi.

Con người thường có xu hướng tìm kiếm cái ác trong những biểu hiện dễ nhận biết. Nhưng cái ác tinh vi không cần xuất hiện với hình dạng ấy. Khi ấy, vấn đề không nằm ở việc con người không nhìn thấy cái ác, mà ở việc họ nhìn thấy nó nhưng đã được dạy để gọi nó bằng một cái tên khác.

Nguy hiểm nhất là khi cái ác khiến nạn nhân nghi ngờ chính khả năng phán đoán của mình. Cái ác làm người ta hoài nghi cái thiện. Cái ác làm người ta chông chênh giữa rất nhiều ranh giới, khiến cho cái ác dễ thao túng con người hơn. Nó đục khoét dần mòn vào những thành trì niềm tin của con người. Đến một lúc nào đó, ta sẽ không còn bất cứ một niềm tin nào về cái thiện. Ta sẽ đề phòng trước bất cứ những gì ta nhận được, mà chính sự đề phòng ấy lại khiến ta từ chối luôn cả những sự dịu dàng, yêu thương được ban tặng. Có lẽ, những con người còn mang cái thiện sẽ cảm thấy bất lực lắm khi mà cái thiện của họ không được nhìn thấy mà chỉ bị hoài nghi, truy vấn chỉ vì cái ác đã làm cho con người cảnh giác. Những người phụ nữ bước ra từ cuộc chiến xung đột sẽ khó có thể chấp nhận sự dịu dàng từ người đàn ông, không dám bước vào một mối quan hệ vì sợ thương tổn. Tất cả là do những cuộc chiến đã làm cái thiện hoài nghi chính mình.

Do đó, tỉnh táo chính là cách bảo vệ lòng tốt khỏi sự lợi dụng.Tha thứ cho một người không có nghĩa là trao cho họ quyền tiếp tục gây tổn thương. Tin tưởng một cá nhân cũng không đồng nghĩa với việc giao toàn bộ quyền lực cho cá nhân ấy. Cái thiện trưởng thành phải biết đặt câu hỏi. Nó cần khả năng kiểm chứng, phản biện và quan sát hậu quả của hành động thay vì chỉ bị thuyết phục bởi vẻ ngoài hay những lời hứa đẹp đẽ. Hiểu một người có thể giúp ta nhận ra vì sao họ trở nên xấu xa; điều ấy không buộc ta phải phủ nhận trách nhiệm của họ. Hiểu nguồn gốc của lòng tham không khiến hành vi chiếm đoạt trở thành đúng đắn. Nhìn thấy những tổn thương phía sau sự tàn nhẫn không đồng nghĩa với việc chấp nhận để sự tàn nhẫn tiếp tục tồn tại. Sự thấu hiểu đúng nghĩa giúp con người nhận diện cái ác từ căn nguyên, nhờ đó có thể ngăn nó phát triển trước khi nó trở thành một mối hiểm nguy không thể kiểm soát.


Thêm
30
0
0
Viết trả lời...
Tôi đã từng tin rằng siêu anh hùng chỉ là những cá thể vượt trội, ưu việt tồn tại trong niềm tin mong manh của tuổi thơ. Nhưng “Spider-Man: Brand New Day” - bom tấn điện ảnh năm 2026 của đạo diễn Destin Daniel Cretton - đã làm sống dậy những khoảng trời ký ức ấy bên trong những niềm tin tưởng như đã ngủ quên của tôi. Đằng sau hình hài của một con người có thể cứu cả thành phố là một con người không đủ sức giữ lại những người mình yêu thương. Chú Ben Parker qua đời, Harry chết, Gwen Stacy không thể sống sót, còn ở phần phim trước, dì May cũng đã mất. Những người tồn tại xung quanh người khổng lồ chưa chắc được bảo đảm về sự an nguy. Khoảnh khắc một người được trao quyền năng để trở thành anh hùng cũng là lúc những người bên cạnh họ có nguy cơ trở thành điểm yếu. Có lẽ, phía sau mỗi biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng là một sự bất lực, phía sau mỗi con người được bảo vệ là một “vật tế lễ”.

Người anh hùng sở hữu sức mạnh vượt khỏi giới hạn của con người nhưng không thể thoát khỏi những giới hạn của chính mình. Spiderman có thể ngăn chặn tội ác, đối đầu với những thế lực đủ sức đe dọa cả thành phố. Quyền năng khiến anh trở thành một biểu tượng của khả năng cứu rỗi. Thế nhưng, đằng sau quyền năng phi thường ấy là một trái tim biết yêu, một ký ức biết đau, một đời sống riêng cần được gìn giữ. Người anh hùng vẫn bị trói buộc bởi những mất mát mà không một sức mạnh nào có thể cứu chuộc.

Chủ nghĩa anh hùng vì thế không nên được hiểu đơn giản như sự chiến thắng của sức mạnh trước cái ác. Nó còn là câu chuyện về một con người chấp nhận bước vào nơi nguy hiểm dù biết bản thân không thể kiểm soát toàn bộ hậu quả. Anh hùng cứu được một đám đông nhưng có thể bất lực trước cái chết của một người thân. Họ có khả năng chống lại kẻ thù nhưng không thể ra lệnh cho số phận ngừng lấy đi những người mình yêu quý. Chính sự bất toàn đó làm nên chiều sâu của hình tượng anh hùng. Khi quyền năng luôn phải đối diện với giới hạn, hành động cứu người mới mang ý nghĩa của một lựa chọn thuộc về đạo đức.

Đó là lúc hình ảnh “vật tế lễ” xuất hiện.

“Vật tế lễ, đó là một người phải từ bỏ sự bình yên của mình để người khác có thể tiếp tục chiến đấu. Đó có thể là một gia đình sống trong sợ hãi vì người thân mang trên mình trách nhiệm lớn lao. Nhiều khi, nó diễn ra âm thầm trong đời sống của những con người chẳng hề có quyền năng. Trong phim, Spiderman phải sống cô độc, đơn lẻ, chấp nhận sống xa lạ với những người đã từng thân thiết. Spiderman cũng không thể bảo vệ được chú Ben Parker, cô May, cô người yêu Stacy và người bạn thân Harry. Người anh hùng có thể cứu được thế giới nhưng không thể cứu những người gần gũi với mình, cũng không thể tự cứu mình khỏi sự lạc loài, cô đơn.

Khi chúng ta tin vào sức mạnh của một người anh hùng, chúng ta cũng cần chấp nhận rằng mình chính là điểm yếu lớn nhất của người anh hùng đó. Bởi lẽ, sự siêu việt của người anh hùng có thể không bị lay chuyển, nhưng kẻ thù sẵn sàng lợi dụng sự an toàn của những người tồn tại xung quanh người anh hùng đó để thách thức giới hạn của người anh hùng. Chúng ta vốn dĩ đã không thể bảo vệ bản thân mình, chúng ta lại tiếp tục trở thành mối lo lắng, bận tâm của những người “khổng lồ”. Do vậy, tin rằng mình được bảo vệ không có nghĩa là mình sẽ an toàn.

Từ câu chuyện của những người đứng bên cạnh Spiderman, ta có thể mở rộng suy tưởng ấy ra ngoài màn ảnh. Mọi nền hòa bình đều có những con người phải trả giá để nó tồn tại. Trong chiến tranh, đó là những người lính nằm lại trên chiến trường, những gia đình mất đi người thân, những đứa trẻ lớn lên mà không có cha mẹ. Trong thời bình, cái giá ấy có thể mang hình dạng khác: những người chấp nhận rời quê hương, những cộng đồng phải sống với hậu quả của xung đột, những thế hệ tiếp tục mang ký ức của một cuộc chiến mà họ không gây ra. Lịch sử thường ghi tên những người chiến thắng, những nhà lãnh đạo, những vị tướng, những người tạo nên bước ngoặt. Nhưng phía dưới những trang sử ấy là vô số sinh mệnh không có cơ hội viết tên mình vào đó.
Thêm
33
0
0
Viết trả lời...