Newsfeed

forum.Vanhoctre.com | Nuôi dưỡng tình yêu văn chương, cuộc thi viết văn; học văn, những bài văn hay. Tác phẩm văn học chọn lọc, lí luận văn học, ...
Thơ hay Nhất Lang – Thơ tình – Thơ lục bát – Thơ Nhạc Lục Bát – Nguyễn Thành Sáng – Nhất Lang Thư Quán


Thơ Trích Đoạn (1) - nhat lang thu quan Bd842d42260b6a147ad752459940e642


Trích Đoạn Bài Thơ:

MỘT CÁNH CHIM BAY

Gió thổi ngang tai tiếng vụt vù
Mơ màng năm tháng những chiều thu
Đìu hiu len lỏi vào mưa lạnh
Theo thắt hồn sương, cuốn mịt mù…


Thôi rồi! Gởi lại mảnh tình quê
Phố chợ, con đường, chuỗi bước đi
Nụ thắm, môi hồng, trăng bến mộng
Dòng sông, đò nhỏ…chẳng còn chi


Rồi đây dưới bóng hoàng hôn đổ
Khách lạ phương này nhỏ vấn vương
Khắc khoải, dạ sầu, đang lững thững
Niềm thương, nỗi nhớ vượt biên cương


Hay sắc hào hoa choá ngợp đầy
Đẩy đời phiêu bạt đến gần đây
Chụp lên che khuất bầu xưa cũ
Để nhạc, cung đàn thả gió mây…


Nhất Lang
(Nguyễn Thành Sáng)


Nguồn trọn bài thơ: Thư Viện Thơ Nhất Lang Thư Quán
Từ khóa Google: nhat lang thu quan



Thơ Nhất Lang – Tuyển thơ hay – Thơ tình hay – Thơ cảm xúc – Thơ Việt Nam – Nhất Lang – Nhất Lang Thư Quán

Thêm
44
0
2

Thơ Trích Đoạn (1) - nhat lang thu quan Images?q=tbn:ANd9GcSF2KDc-PKq6KaeUfmZ9zu0WwCeCv1oQLKjtNPHsnJaDD9gRKHGmQ


Trích Đoạn Bài Thơ:

NỖI NIỀM CỦA MẸ


Năm xưa hụt hẫng chuyến đò đời
Sắc thắm nhạt dần, cõi mộng rơi
Lạc lõng, chơi vơi thuyền bến đỗ
Đành dừng ghé lại cất chèo bơi

Nào hay giữa đoạn ánh phai mờ
Mới biết nơi này chẳng có thơ
Nhưng trót cắm sào neo chỗ đậu
Thôi thì gửi gió ảnh hình mơ

Mẹ thấy nát lòng cuộc sống chung
Yêu đương nhạt nhẽo cuốn hoàng hôn
Chim đơn tịch vắng, sầu tơi hót
Vắng vẻ canh khuya, nỗi chập chờn

Vạn khúc êm đềm của trái tim
Từ lâu mẹ khóa kín im lìm
Đêm chung giường chiếu, hồn xa biệt
Hai nét lạnh lùng trải bóng đêm

Nếu như hiểu được sự tình này
Nửa độ hoa hồng có lắt lay
Cánh mỏng vật vờ theo lộng thổi
Hương ngàn con trẻ có còn say?..

Tháng 6/2016
Nhất Lang
(Nguyễn Thành Sáng)

Nguồn trọn bài thơ: Thư Viện Thơ Nhất Lang Thư Quán
Từ khóa Google: nhat lang thu quan
 
Viết trả lời...
Leonardo da Vinci hường được biết đến như một họa sĩ, một con người đa tài, có khả năng làm việc trong nhiều những lĩnh vực khác nhau. Ông là biểu tượng của một thời đại vàng son trong quá khứ và thường được gọi là "con người Phục Hưng". Ông là biểu tượng của con người nước Ý, là đại diện cho tinh thần ý, vẻ đẹp ý và những phẩm chất tinh thần của con người đất nước này. Tôi đã từng được xem những bức tranh mà ông vẽ và vô cùng ấn tượng trước sự giao thoa trong những đường nét, những mảng màu sắc tinh tế và những thông điệp biết nói truyền tải thông qua mỗi bức tranh. Đó là những bức tranh mang màu sắc cổ điển. Đó là những bức tranh về những người phụ nữ mang hình hài tuyệt mỹ, quý phái. Đó là một tinh thần của Leonardo gửi vào trong mỗi đường nét.

Theo một số câu chữ, tôi được tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời của ông, nhận ra được những tín hiệu rõ ràng hơn trong cuộc đời ông đã khiến ông có được những đường nét đó, đã có được những bức tranh mang đậm nét Leonardo da Vinci ấy.

Leonardo là người có khả năng đồng cảm với sự sống. Ông là người cảm nhận sâu sắc và tinh tế nhất những trạng thái tâm lý của sự vật. Do đó, ông bảo vệ sự sống cho chúng bằng cách ăn chay. Leonardo từ chối bất cứ món ăn nào có máu và mang sự sống. Đó là sự cự tuyệt của vị họa sĩ đa tài này trước việc giết hại tự nhiên. Ông cần đến tự nhiên, sự sống loài vật như một cách giao hòa, kết nối.

Trước đó, chưa có ai tìm thấy sự tương giao giữa con người và các loài động vật như Leonardo. Ông thường đến các khu chợ ở Ý để mua lại những con chim bị nhốt trong lồng rồi thả chúng bay về trời, hoặc mua các loài thú nhỏ để trả chúng về với tự nhiên. Những hành động của những loài động vật đối với Leonardo da Vinci không phải là bản năng của loài vật, mà là những hành động có bản sắc, có ý nghĩa. Có lẽ, ông đã dành ra rất nhiều thời gian trong cuộc đời mình để lắng nghe thông điệp từ hành động của chúng. Cụ thể, Leonardo từng lắng nghe hành động của chim sẻ thông vàng. “Người ta nói rằng,” Leonardo viết, “khi đưa loài sẻ thông vàng đến gần người bệnh, nếu người bệnh sắp qua đời, loài chim này sẽ quay đầu đi không nhìn vào người đó; nhưng nếu người bệnh có thể cứu được, thì nó sẽ không rời mắt khỏi người đó, và đây chính là điều sẽ chữa lành cho người bệnh.” Ông nhận ra đó không chỉ là một hành động tự nhiên như bản tính. Loài vật này có khả năng tương giao, kết nối với con người, do đó, nó gắn kết với sự sống (những người bệnh có thể cứu được), luôn tìm đến những cái đẹp nhân văn của đời người. Hình ảnh con chim “không rời mắt khỏi người đó” như một niềm tin từ tự nhiên dành cho sự sống của con người. Thấu hiểu được điều đó, Leonardo đã luôn chọn ăn chay trường, giữ gìn lối sống kết nối với các loài vật. Thông qua sự gắn kết này, ông không chỉ đến gần với tự nhiên mà còn khám phá ra bản chất của nhân tính: con người đôi khi còn ác hơn các loài vật. Từ góc nhìn của Leonardo, các loài vật cũng có thể mang nhân tính, trong khi con người thì lại luôn có thú tính.

Ông xem đặc tính của các loài vật này là quan niệm về đức hạnh. Từ bản chất của loài chim, ông nhìn thấy những điều sâu xa hơn. Sự sống của con người (người bệnh có thể cứu chữa, sự cứu chuộc, sự giúp đỡ) luôn gắn liền với đức hạnh, hay đúng hơn là những điều tốt đẹp. Con chim sẻ thông vàng lại là phương cách để nhận diện tình trạng bệnh và chữa lành bệnh có nghĩa là loài chim này cũng gắn liền với đức hạnh. “Nó không bao giờ nhìn vào những thứ xấu xa đê hèn, mà chỉ quấn quýt bên những gì tinh khiết và đức hạnh, tìm đến trú ẩn nơi những trái tim cao quý, giống như cách các loài chim trong rừng xanh tìm đến những cành phủ đầy hoa nở.”

Tâm hồn của Leonardo da Vinci trước thế giới tự nhiên - một thế giới rộng lớn, cởi mở, ẩn tàng nhiều bí ẩn khiến cho ta hiểu: tâm hồn người nghệ sĩ đôi khi buộc phải gắn với hiện thực, giao cảm được với những thế giới không-thể-nói.
Thêm
49
0
0
Viết trả lời...
Những ngày hôm nay, giữa thông tin về cơn lũ quét lịch sử tại Nepal và Trung Quốc, tôi tình cờ đọc được một câu chuyện vô cùng đáng yêu và cũng rất xót xa tại Tây Tạng. Khi mà các đội cứu hộ liên tục làm việc để giải thoát những người bị mất tích tại Tây Tạng, một chú thỏ bông phủ đầy bùn được tìm thấy trôi dạt trên bờ sông tại điểm cứu hộ gần cửa khẩu biên giới Trung Quốc giáp với Nepal. Đài phát thanh và truyền hình nhà nước Tây Tạng đưa tin: "Dù chú thỏ đồ chơi rất nhỏ, nhưng nó mang trong mình ký ức sống động về cuộc sống. Nó từng đồng hành cùng vô số những khoảnh khắc ấm áp thường nhật, giờ đây phủ đầy bụi đất, lặng lẽ kể lại câu chuyện về sự bất ngờ của thảm họa này".

Điều khiến cho tôi thực sự suy tư chính là những câu chuyện đáng yêu. Những điểm sáng như vậy liên tục xuất hiện trong những hoàn cảnh ngặt nghèo và biến động nhất. Đó là những hạt mầm sáng, là những sinh khí vụt lên giữa một vùng đất đầy tử khí, chết chóc và nỗi lo sợ. Những câu chuyện như vậy rất nhỏ bé, rất lặng lẽ nhưng lại len lỏi vào trong cuộc sống của chúng ta, khiến cho chúng ta cảm thấy dù trong hoàn cảnh nào con người vẫn cần giữ lấy một niềm tin. Trong câu chuyện này, chúng ta cần giữ lấy một niềm tin để bảo vệ những đứa trẻ, để bảo vệ những người yếu thế, để bảo vệ cả những chú thỏ bông mang theo những mơ ước bị trôi dạt trên bờ sông như vậy. Chú thỏ bông dính đầy bùn ấy không chỉ là một món đồ chơi với những đứa trẻ. Nếu như nhìn thấy chú thỏ bông ấy trong một vùng đất yên bình, hạnh phúc, chúng ta sẽ thấy đó là một điều rất bình thường, gắn với những đứa trẻ rất hồn nhiên. Nhưng chú thỏ bông ấy lại xuất hiện trong hoàn cảnh của cơn lũ quét lịch sử tại Nepal và Trung Quốc.

Chú Thọ không mang theo cả ký ức của những đứa trẻ, mang theo hình ảnh của những đứa trẻ. Nhưng giờ đây thì chú lại đành phải bơ vơ một mình giữa dòng thác lũ. Nhìn chú thỏ bông chơi vơi dính đầy bùn trên dòng sông ấy, tôi có thể tưởng tượng ra hình ảnh của một đứa trẻ cũng đang co ro trong dòng nước vì lạnh, vì lo sợ và chu đáo bông đó có thể đến và an ủi cô bé ấy. Tôi có thể tưởng tượng ra rất nhiều những đứa trẻ mong chờ một chút thỏ bông đến và an ủi mình nhưng không thể đạt được vì dòng đông đủ quá lớn. Cơn lũ đã cướp đi những người bạn đồng hành của những đứa trẻ.

Cơn lũ có thể khiến cho những đứa trẻ cô đơn và bơ vơ nhiều hơn khi mà những người bạn đồng hành trong tuổi thơ của chúng giờ đây lại bị bỏ lại ở nơi một vùng đất nào đó mà có lẽ chúng cũng chẳng đủ bình tĩnh để có thể suy nghĩ về người bạn ấy. Có thể nỗi nhớ thương một người bạn gấu bông có thể bị đặt đằng sau nỗi lo sợ về cái chết, giờ đây chung có thể lo lắng nhiều hơn về tương lai của chúng, về bố mẹ của chúng, những người thậm chí còn bị mất tích và chưa tìm ra dù ở một đất nước cách rất xa Nepal, tôi vẫn có thể cảm nhận được nỗi lo sợ của những đứa trẻ này và ở đó, tôi thấy được không chỉ là sự nhỏ bé của con người.

Câu chuyện về chu, thỏ bông và những đứa trẻ ấy đã khiến cho chúng ta thấy được rằng trong biến động, ai mới thực sự là người dễ bị tổn thương. Từ đó chúng ta buộc mình phải hành động để giải quyết những khủng hoảng tự nhiên, để cứu thoát con người khỏi những thảm họa.
Thêm
45
0
0
Viết trả lời...
Trong cơn lũ quét lịch sử tại biên giới Nepal và Tây Tạng Trung Quốc, những nhân chứng đã kể lại những câu chuyện vô cùng xót lòng về một dòng lũ như nước trầm cả thế giới ở Nepal. Đó là lúc mà họ phải đối diện với nguy cơ về cái chết. Họ đã thấy rất nhiều hàng xóm thiệt mạng bị cuốn trôi theo những lớp xong lúc liên tiếp đổ về. Các bác sĩ đã kể lại rằng những người sống sót được chuyển đến bệnh viện dã chiến với những loại chấn thương khác nhau, từ chấn thương đầu, gãy xương cho đến những vết thương rách da. Dù trong tầng mức vết thương ra sao, con người ở vùng lũ lịch sử ấy đã phải trải qua những tổn thương không hề nhỏ. Nó không chỉ cuốn đi nhà cửa của họ, làm trôi đi cơ nghiệp họ dựng xây một đời, mà còn để lại trong họ những di chứng chấn thương khó có thể xóa mờ được. Nhiều người cũng cần tư vấn tâm lý do những chấn thương tinh thần nghiêm trọng sau khi trải qua thảm họa.

“Cũng may mắn thoát chết, cô Tesering Lama (40 tuổi) kể lại, khi xảy ra lũ quét cô đã dốc sức chạy ra khỏi nhà, không kịp mang theo bất cứ thứ gì ngoài bộ quần áo đang mặc trên người. Cô vẫn nhớ như in cảnh dòng nước cuồn cuộn như giữ chặt lấy chân mình, nhưng cô đã cố chạy nhanh hơn.

Mất nhà cửa, mất nhiều người thân, cô cảm thấy như đang trong một “cơn ác mộng”. Cô cũng giống như nhiều người khác ở vùng thảm họa giờ đây phải đối mặt với hành trình dài và gian khổ để làm lại cuộc đời. Khả năng quay trở về làng ngay lúc này dường như là không thể đối với họ” (Báo Dân trí).

Đối với người dân Nepal và Trung Quốc, đây là sự mất mát vô cùng lớn lao đối với họ mà tất cả chúng ta đều nên nói lời chia buồn. Đây có thể nói là một trong những trận lũ kinh hoàng nhất từng xảy ra trong lịch sử. Nó cũng đồng thời là cơn thịnh nộ, là tín hiệu từ thiên nhiên cho sự biến đổi khí hậu toàn cầu, là lời nhắc nhở về những khủng hoảng thiên tai, lũ lụt, bão tố sẽ xảy ra ở khắp nơi trong tương lai. Những cơn lũ tử thần như vậy sẽ không bao giờ dừng lại nếu như con người không thể bảo vệ thiên nhiên và tự bảo vệ mình trước những khủng hoảng.

Có thể nói những trận lũ lụt tử thần như vậy khiến cho những vấn đề nguy cấp của thế giới ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chúng ta không chỉ lo lắng về những vấn đề của sự phát triển công nghệ điện tử, những nỗi lo về sự tha hóa, biến dạng nhân cách của con người mà chúng ta còn lo lắng hơn trước những vấn đề của khí hậu khi nó đang bức tử chúng ta, đang đe dọa chúng ta. Hàng nghìn mạng người thiệt mạng và mất tích được số liệu mỗi ngày đã khiến tôi khó có thể không trăn trở. Con người quá nhỏ bé! Con người quá dễ thương tổn! Đôi lúc, chúng ta phải chấp nhận rằng chúng ta luôn phải nói thua trước thế giới. Chúng ta có thể từng là chủ nhân, nhưng giờ đây chúng ta là nạn nhân.

Liệu sẽ còn biết bao cơn lũ quét, bão tố tử thần như vậy xảy ra? Và sẽ có bao nhiêu người phải chết trước những thảm họa đó? Đã đến lúc chúng ta buộc phải nâng cao cảnh giác trước những thông điệp từ tự nhiên. Những biện pháp tái thiết sau lũ là điều cần thiết để đưa người dân trở về cuộc sống bình ổn. Nhưng để đề phòng, bảo vệ họ trước lũ lụt còn quan trọng hơn gấp nhiều lần. Đây không chỉ là câu chuyện riêng của một hay một số quốc gia nào, chúng ta luôn nhận thức nó như là vấn đề của toàn thế giới - toàn bộ loài người.
Thêm
46
0
0
Viết trả lời...
Trong cơn lũ lịch sử quét qua biên giới Nepal và Tây Tạng Trung Quốc, chúng ta đã phải chứng kiến một hình ảnh vô cùng xót lòng khi đã có đến hàng nghìn người mất tích và thiệt mạng. Trước tình cảnh nguy khốn đó, người dân thực sự cần đến sự giúp đỡ và hỗ trợ. Cũng chính trong hoàn cảnh đó chúng ta thấy được rằng con người vô cùng nhỏ bé, rất dễ bị thương tổn, rất dễ trở thành nạn nhân của thế giới. Chúng ta đã không còn giữ được thế thẳng đứng, ngẩng cao đầu mà chúng ta đã phải chống chọi, gùi gắng và nỗ lực để vượt thoát ra khỏi những thảm họa tự nhiên. Đây là lúc mà có những vấn đề chúng ta cần nhìn sâu hơn và trân trọng những giá trị người còn đọng lại.

Trong tình cảnh đó, chính phủ Nepal đã từ chối những đề xuất hỗ trợ từ các đoàn cứu trợ quốc tế. Đất nước này nhận thức rõ rằng việc một lượng lớn các đội cứu hộ nước ngoài đổ vào Nepal sẽ gây ra những khó khăn cho việc quản lý, điều phối và nắm bắt tình hình đó cũng đồng thời có thể trở thành lý do cho sự cạnh tranh giữa các đoàn quốc tế. An nguy của người dân các nước quốc tế bị thiệt mạng là một điều vô cùng quan trọng. Nhưng trong trường hợp đó, để đảm bảo an toàn cho cả những người mắc kẹt và những người cứu hộ, Nepal bắt buộc phải từ chối những đề xuất hỗ trợ rất cấp thiết đó. Hành động dũng cảm từ chối sự giúp đỡ trong biến động thể hiện được tinh thần độc lập tự chủ và cái nhìn sâu rộng cho những vấn đề lớn hơn của thế giới, đó là sự an nguy của người tham gia cứu trợ và sự công bằng giữa các tổ chức.

Đây là lúc mà chúng ta thấy rõ được tầm vóc của chính phủ một quốc gia trong việc xử lý những biến động thảm họa và khủng hoảng của quốc gia đó. Vấn đề giải quyết những tàn dư của cơn lũ quét và giải cứu những người dân bị mắc kẹt, công bố thông tin về sự an toàn của những công dân quốc tế là một điều vô cùng quan trọng trong thời buổi hôm nay.

Có thể nói người dân Nepal và người dân Trung Quốc đang thực sự phải đối diện với những khủng hoảng rất lớn. Họ đang phải chứng kiến những thảm họa kinh hoàng đến từ tự nhiên, phải chịu đựng nỗi xót xa trước tính mạng của những công dân đất nước họ. Và đây không phải chỉ là câu chuyện của riêng hai quốc gia này, đây là câu chuyện của tất cả chúng ta. Đây đồng thời còn là mối nguy xót của những đất nước thường xuyên xảy ra những thảm họa và biến động. Chúng ta đã phải chứng kiến quá nhiều những thảm họa đến từ tự nhiên, và sau mỗi thảm họa đó thì hậu quả không hề nhỏ. Cái giá phải trả luôn là mạng sống của con người, sự trì trệ của các công trình, sự tạm ngưng của các hoạt động thông thường,...

Nepal đang từ chối sự giúp đỡ, nhưng không phải là sự giúp đỡ không có ý nghĩa với họ. Hôm nay, những người sống trong khủng hoảng luôn cần giúp đỡ và chúng ta bắt buộc phải trao đi sự giúp đỡ và hỗ trợ trong tình thế mà những con người đang cùng sống trên một trái đất của chúng ta phải chịu đựng những khủng hoảng và biến động không mong muốn. Chúng ta cần hướng cái nhìn về những quốc gia đang dễ bị tổn thương như vậy để cổ vũ họ, động viên họ, trao cho họ niềm tin để vượt qua những khủng hoảng của thời thế. Đây là lúc mà tinh thần đoàn kết giữa các quốc gia dân tộc được thể hiện rõ nét nhất. Chúng ta trao đi sự quan tâm không phải vì sự tò mò, chúng ta quan tâm vì đó là tinh thần đồng lòng, sự đồng cảm thật lòng trước nỗi mất mát, xót xa. Quả là con người rất nhỏ bé, và chúng ta thì luôn phải nắm lấy tay nhau để cùng tồn tại.
Thêm
42
0
0
Viết trả lời...
Với những người cha mẹ mưu sinh phải sống xa con, có những điều họ sẽ mất đi mà không thể lấy lại được. Tôi thường đọc một bài báo về một người cha kể lại rằng khi con trai ông gọi điện khoe chiếc răng cửa vừa rụng, ông đã không thể xuất hiện trước mặt con. Ông đã không thể nhìn thấy những đổi thay rất nhỏ bé từng ngày của con. Những lớn lên, những trưởng thành, gương mặt của con lúc tự làm được một điều khó. Ông nhận ra đó là sự thiếu sót trong sự hiện diện của bản thân và những ngày tuổi thơ của con. Ông nhận thấy rằng mình đã thiếu sót đi ở một nơi nào đó trong những ký ức, chỉ xuất hiện với con thông qua chiếc màn hình điện thoại.

Cuộc sống mưu sinh đôi lúc cũng khiến cho chúng ta xa nhau nhiều hơn, mất đi sự kết nối nhiều hơn, đặc biệt là những kết nối đòi hỏi sự gắn kết. Những người cha trong hoàn cảnh bắt buộc phải xa nhà sẽ khó có cơ hội được gần gũi với con mình, được thấy còn lớn lên và trưởng thành mỗi ngày. Những đứa trẻ lớn lên thiếu vắng sự hiện diện của cha mẹ chúng vẫn sẽ nhận ra rằng cha mẹ vẫn luôn ở đó, nhưng cha mẹ chỉ xuất hiện một cách nào đó thông qua chiếc màn hình điện thoại và những giây phút chung gần nhất, cha mẹ sẽ khó có thể ở bên chúng. Những giây phút chúng cảm thấy buồn bã, lo lắng, sợ sệt hay lúng túng trước một điều mới, đó là những thứ mà những người cha mẹ ở nơi xa khó có thể nhìn thấy. Điều mà họ nhìn thấy thông qua những cuộc điện thoại là niềm vui, là những câu chuyện trẻ thơ, những câu hỏi ngây ngô của con mình. Và như thế, đứa trẻ sẽ mất đi một lần những cơ hội được làm trẻ con. Cha mẹ cũng sẽ không có cơ hội được nhìn thấy những góc sâu bên trong tâm hồn đứa con bé nhỏ của mình.

Theo thời gian, đứa con sẽ có một thế giới riêng. Thế giới đó sẽ có bạn bè của con, sẽ có những người con yêu thương, sẽ có những người ở bên ngoài thế giới rộng lớn kia mà có thể bố mẹ chưa từng biết. Thế giới đó sẽ không đơn thuần chỉ có ba mẹ. Bố mẹ dù có thực sự muốn bước vào thế giới ấy nhưng cũng sẽ khó có thể mở lời đề nghị và mong muốn con hãy cho mình bước vào thế giới ấy, họ sẽ lúng túng khi không biết phải gõ cửa như thế nào. Sự lúng túng của họ là sự lúng túng khi bước vào một thế giới mới, cũng chính là sự lúng túng của những đứa con trước một thế giới quá rộng lớn mà thiếu đi sự hiện diện của cha mẹ.

Những người cha mẹ đi xa cần cho con sự đảm bảo rằng cha mẹ có thể xa về khoảng cách địa là lý nhưng cha mẹ vẫn sẽ luôn ở đó mỗi khi con cần. Con cần biết khi con cảm thấy lạc lối, bơ vơ và lo sợ, ai sẽ là người ở bên cạnh con và bố mẹ sẽ bằng một cách nào đó luôn ở bên cạnh con và tất cả những lúc mà con cần. Nhưng sự xuất hiện trong những hoàn cảnh như vậy khiến cho sự hiện diện của bố mẹ ngày càng trở nên quan trọng hơn với mỗi đứa trẻ. Điều đó không khiến cho chúng phụ thuộc hay dựa dẫm vào bố mẹ mà khiến cho chúng nó níu giữ hình ảnh của bố mẹ trong ký ức một cách sâu đậm hơn. Cho dù khi chúng lớn lên và có một thế giới mới, chúng vẫn sẽ luôn nhớ rằng trong ký ức tuổi thơ của chúng luôn có hai con người lớn lao nhất luôn hiện diện. Những ký ức như vậy có thể hình thành nên nhân cách của một đứa trẻ. Những ký ức cũng Đồng thời giáo dục chúng phải biết hướng về gia đình, biết trân trọng những kỷ niệm của gia đình và sống quan tâm hơn đến mọi người xung quanh.
Thêm
44
0
0
Viết trả lời...
Video YouTube ngâm bài thơ nhạc lục bát: " Nói Với Em - Nói Với Tôi"


1f337.png
Nguồn: Thư Viện thơ Nhất Lang Thư Quán
Gõ Google: nhat lang thu quan
Thêm
42
0
0
Viết trả lời...
Có những ngày mình cảm thấy bản thân rất dễ thương tổn, rất dễ đổ vỡ và rất bất lực trong chính những cảm xúc của mình. Đôi lúc mình không hiểu được mình đang thật sự muốn cảm nhận điều gì, mình đang thấy như thế nào. Đó là những tâm trạng của những đứa trẻ ở tuổi trưởng thành như mình. Đôi lúc mình cũng tự hỏi tại sao bố mẹ của mình họ cũng thường đi qua một tuổi dậy thì như mình, cùng bước qua một tuổi trẻ chông chênh như mình nhưng họ không có những thương tổn hay sao?

Chúng ta là những đứa trẻ lớn lên cùng những thương tổn mà mình không hề tạo ra, thậm chí cũng chẳng nhìn biết được rằng đó là thương tổn.

Chúng ta cố gắng để học cách làm một đứa trẻ ngoan, rồi dành cả tuổi trưởng thành để học lại cách yêu thương chính mình, để vụ về đứa trẻ đã luôn phải che giấu đi tiếng khóc. Trong suốt những năm tháng tuổi trẻ, mình đã tin rằng mình là một đứa không xứng đáng được yêu thương. Mình sinh ra như một cái gai trên thế giới này, nhỏ bé, cổ động và đáng ghét, chẳng ai muốn yêu thương và dành sự dịu dàng cho mình. Mình sống trong một thế giới mà chỉ có bản thân mình hiểu mình. Chỉ có bản thân mình là có thể yêu lấy những nỗi đau bên trong mình.

Đã có lúc mình nghĩ rằng nếu như thế giới cứ tàn nhẫn với mình một lần nữa thì mình sẽ chẳng thể sống mà yêu nó như trước đây được nữa. Thế giới không còn là màu hồng như mình nghĩ. Thế giới cũng phải chi thù nhau trong căn nhà mình sống, trong con đường mình vẫn đi, trong những con người mà mình hay gặp. Thế giới rộng lớn hơn nhưng cũng nhiều thương tổn hơn. Thế giới bao dung cho rất nhiều người nhưng có lẽ cũng đem đến nỗi đau cho rất nhiều người. Ngày bé nhưng nỗi buồn gửi đến và rất dễ bị xoa dịu đi bởi một tiếng cười, một trò chơi hoặc một cây kẹo. Nhưng khi lớn dần lên, mình nhận ra rằng những nỗi đau sẽ trở thành vết xước, và khi đã lưu dấu trong ký ức thì nó sẽ mãi đau như vậy. Những nỗi đau từ trong ký ức quay trở lại và ám ảnh mình, khiến cho mình không thể mỉm cười với con đường tương lai của mình được nữa. Mình thấy mình là đứa thương tổn, dễ khóc, dễ mít ướt và chẳng đáng để được yêu thương.

Đã có lúc mình trách thế giới rằng tại sao lại tàn nhẫn với mình như thế, mình đang làm gì để phải chịu những nỗi đau đến như vậy? Mình cũng chỉ muốn yêu thương cuộc đời một cách bình thường. Nhưng những nỗi đau thì có liên tục ập đến. Và những ngày mà mình cảm thấy vui nhất, yêu đời nhất, ngay khi mình vừa nở nụ cười thì những nỗi đau trong đời cứ liên tục kéo đến và dập tắt nụ cười đó của mình. Có lẽ cuộc đời muốn mình sống mà không cười, cứ sống lầm lũi như thế, sống trong im lặng, sống trong những nỗi đau mà không thể nào ngóc đầu lên. Trong hành trình đi tìm lại niềm tin vào chính mình, mình cũng trách cả những người đã sống ngay cạnh mình.

Mình trách bố mẹ nhiều lắm, trách sao những người mà mình yêu nhất thì lại là người đem đến nỗi đau cho mình, đem đến những tổn thương cho mình. Mình tránh tại sao gia đình mình là nơi mà mình kỳ vọng rất nhiều về sự gắn kết, kết nối và tình yêu thương thì cuối cùng lại chẳng có sự thấu hiểu, chẳng có ai hiểu mình, chẳng có ai lắng nghe những lúc mình khóc, những áp lực cơm áo gạo tiền cứ liên tục trút lên vai mình, chụp lên những giọt nước mắt của mình, khóc thầm trong đêm tối. Gia đình đối với mình có thể từ lâu đã không còn ở một nơi đáng tin. Có thể nói là mình sợ nơi đó, cũng có thể nói là mình ghét nơi đó, nhưng sau cùng thì mình cũng cảm thấy thấu hiểu nhiều hơn.

Mình tin rằng bố mẹ của mình cũng chỉ là những đứa trẻ bắt buộc phải lớn lên, rồi gặp gỡ một đứa trẻ khác là mình. Rồi họ phải cất giấu đi cái phần con trẻ bên trong để nuôi dưỡng, để chăm sóc một đứa trẻ khác. Họ cũng đôi lúc muốn được bé lại, muốn được quay trở về tuổi thơ, muốn được quay trở về những ngày tháng tuổi trẻ nhiệt thành nhất, nơi mà họ không bị gắn chặt với những trách nhiệm. Từ khi có mình, những nỗi lo lớn hơn, những nỗi lo chất chồng trên gương mặt bố mẹ, bố mẹ chẳng có cách nào để giải quyết những nỗi lo đó, nhưng cũng chẳng thể bắt mình gánh. Bố mẹ chỉ có thể bắt mình chịu đựng một phần, bằng cách mắng mỏ và gây nên nỗi đau trên mình. Những lần quạt mắng con, chắc bố mẹ cũng xót lòng lắm. Chắc mẹ cũng đừng ân hận và dằn vặt những khi mắng con. Con đâu hiểu cho điều đó, con chỉ thấy những lời mắng mỏ, quát tháo của mẹ. Rồi đến lúc, con cũng sẽ trở thành một người mẹ. Lúc ấy, con cũng sẽ vô tình làm tổn thương những đứa con của con. Nhưng mẹ à, con nghĩ có thể dịu dàng với chúng hơn một chút, chịu lắng nghe chồng hơn và sự bình tĩnh để thôi không chút những nỗi lo riêng nên những đứa con của mình.
Thêm
41
0
0
Viết trả lời...
Hạnh phúc mà con người hướng tới ở cuộc đời này đều phảng phất cái bi. Đôi khi, ta nghĩ mình đã chinh phục được hạnh phúc, hóa ra, điều ấy lại mở ra một cuộc hành trình ta làm nô lệ cho hạnh phúc của mình. Hạnh phúc khi đó không còn là đặc ân của tự do, mà gắn liền với nỗi sợ bị sở hữu, của sự giam cầm. Sở hữu cũng đồng nghĩa với được/ bị sở hữu.

Hạnh phúc, vốn là trạng thái tự do trọn vẹn khi con người giải phóng bản ngã khỏi những thiếu hụt tinh thần và đạt tới sự giao hòa với đời sống. Tuy nhiên, hành trình tiệm cận hạnh phúc hiếm khi tồn tại như một trạng thái đơn thuần, mà luôn mang dáng dấp của sự dằng xé giữa khát khao chiếm hữu và nguy cơ bị thao túng. Khi con người nỗ lực định hình, đo đếm và nắm giữ hạnh phúc bằng các hình thái vật chất hay danh vị, họ đã vô tình chuyển hóa một trạng thái tinh thần mang tính siêu việt thành một đối tượng để sở hữu. Từ thời điểm hạnh phúc biến thành một vật thể hay một trạng thái cần phải duy trì bằng mọi giá, bi kịch bắt đầu nảy sinh.

Bản chất của sở hữu luôn mang tính nhị nguyên: hành vi chiếm hữu một đối tượng cũng đồng thời là quá trình cá nhân tự buộc chặt bản thể vào đối tượng đó. Khi coi một trạng thái hay một tài sản là nguồn lượng tạo nên cảm giác viên mãn, con người không còn nắm giữ hạnh phúc mà chính hạnh phúc , hoặc hình mẫu do họ tự đúc kết về nó , đang quay lại kiểm soát tư duy và hành vi của họ. Nỗi sợ mất đi những gì đã nhận được tạo ra một tâm lý cảnh giác thường trực, biến cảm giác viên mãn chốc lát thành chuỗi ngày lo âu dài hạn. Hạnh phúc khi ấy tước bỏ đặc ân lớn nhất mà nó từng hứa hẹn: sự tự do nội tại. Con người trở thành nô lệ cho chính hạnh phúc do mình tạo dựng, sống trong sự giam cầm của nỗi sợ bị tước đoạt và áp lực phải bảo toàn những thành quả đã sở hữu.

Mặt khác, cái bi cũng phảng phất trong hạnh phúc. Mỗi thành tựu đạt được chỉ mang lại sự thỏa mãn tạm thời, trước khi mở ra một khoảng trống mới đòi hỏi phải được lấp đầy bằng những đối tượng lớn hơn. Sự chinh phục, vốn được kỳ vọng là điểm kết thúc của hành trình tìm kiếm sự an yên, thực chất lại là điểm khởi đầu cho một vòng lặp phụ thuộc mới. Trong mối tương quan này, con người vừa là chủ thể đi tìm kiếm tự do, vừa là nạn nhân của chính những giới hạn do khát khao sở hữu dựng nên.

Dục vọng, khi thoát khỏi sự kiểm soát của nhận thức lý trí và chuẩn mực đạo đức, sẽ biến thành một xung lực tàn phá. Những sản lượng tiêu dùng thặng dư, những phế thải công nghiệp và sự khai thác kiệt quệ tự nhiên là hiện thân cho phần dục vọng con người tạo ra trong thực tại - những tổn thương mà thời gian khó lòng khắc phục. Khủng hoảng biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay là bằng chứng cho thấy hậu quả của việc buông thả dục vọng không giới hạn.

Việc sử dụng dục vọng để tiêu thụ tài nguyên vô độ thực chất làm cách đánh đổi tương lai của những thế hệ sau này. Quyền lực khi được trao cho mà thiếu đi sự bảo vệ và những giới hạn sẽ biến thành một cơ chế làm tăng lên những sự mất cân bằng và bất bình đẳng trong xã hội. Quyền lực vốn dĩ là công cụ để tổ chức và duy trì sự ổn định của cộng đồng tuy nhiên nó dần bị thao túng bởi dung vọng cá nhân và phạm vi ảnh hưởng của nó sẽ không hề nhỏ.

Sự đan xen giữa hạnh phúc và bi kịch, giữa quyền lực và dục vọng là những thử thách căn cốt đặt ra cho sự tồn tại của con người qua mọi thời đại. Hạnh phúc sẽ mãi là một chiếc tháp ngà nếu ta tiếp tục giữ lấy nó bằng sự chiếm hữu và tâm lý sợ hãi mất mát. Đồng thời, quyền lực sẽ tiếp tục là tác nhân tàn phá nếu nó không được kiểm soát bởi sự phản tỉnh đạo đức và ý thức về giới hạn của tài nguyên. Chỉ khi con người dũng cảm bước qua những ảo tưởng của sự sở hữu, chủ động tiết chế các ham muốn vô độ và học cách tồn tại tự do trong sự hòa hợp với thế giới, chúng ta mới có thể tìm thấy một trạng thái hạnh phúc đích thực.
Thêm
48
0
0
Viết trả lời...
Ngày 16 tháng 9 năm 2025 buổi hội đàm diện mạo văn học đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh. Tại buổi hội nghị, chủ tịch hội nhà văn Việt Nam trăn trở rằng vật cản lớn nhất đối với nhà văn là chính ngọ. Người nghệ sĩ luôn không dám giấc ngủ mê và sự đui điếc để giao tiếp, đối thoại với chính mình và kẻ khác, dù cho đó là căn nguyên để thờ ca vĩ đại ra đời. Bởi vậy, thơ ca sẽ chỉ thực sự ra đời khi con người chạm tới chiều sâu của mình và ở đó chúng ta gặp một người khác.

Thôi là kết quả của sự hồi đáp giữa chính mình và tương tác với thế giới. Thơ ca. Đó là loại hình sáng tạo nghệ thuật phản ánh đời sống, diễn tả cảm xúc cá nhân bằng ngôn từ hàm súc, giàu hình ảnh. Từ ra đời từ sự chạm tới chiều sâu của chính mình, tức là khi con người thành thật, đi đến tận cùng vào lòng mình, khai phá đến cạn kiệt cảm quan cá nhân. Đây là nguồn gốc để thực ca ra đời. Khi tư tưởng rung động đòi hỏi được biểu hiện cũng là lúc nhà thơ khao khát được sáng tạo. Gặp mọi người khác, nghĩa là kết nối với những kẻ lạ, bắt gặp tiếng nói đồng điệu tri âm. Như vậy, nguồn gốc cốt lõi của thi ca chính là sự giao tiếp với chính mình và đối thoại với thế giới.

Khởi nguyên của thơ là khi con người biết giao tiếp với thế giới bên trong mình, từ sự va chạm, đối diện với phần sâu thẳm bên trong cuộc đời. Con người có khát khao cảm xúc và bắt đầu có xu hướng thể hiện nó. Với nhà văn, sự giao tiếp thể hiện trong việc sáng tác tác phẩm là ngôn ngữ của sự giao tiếp. Quá trình đối thoại với chính mình không hề đơn giản, đôi khi ép nhà thơ phải trực diện với bản ngã của bản thân. Con người là một thế giới tinh thần đầy phức tạp, nhưng nhà thơ cần phải vỗ về nó, xoa dịu nó, nắm bắt cảm xúc ở khoảng cách gần nhất để thấu hiểu. Từ sự thấu hiểu đó mà khao khát được sáng tạo ra đời.

Khi nhà văn đi đến tận cùng của lòng mình, họ sẽ gặp người khác. Hành trình đối thoại với bản thân đòi hỏi nhà thơ phải mở rộng góc nhìn để đối thoại với thế giới. Nhà thơ luôn khao khát nắm bắt được thế giới bên trong nhân loại để tiến gần hơn với họ. Có thể xem đó là hành động của đội cô đơn, nhưng nó cũng đồng thời là nỗi cô đơn mà nếu không có nó thì sẽ không có tác phẩm.

Chính sự giằng co giữa những biến động của thực tại và khát vọng tự do của bản ngã mới tạo ra xung đột nghệ thuật. Xung đột nội tâm xuất hiện khi nhà thơ tự vấn về phẩm giá, về sự vô nghĩa của kiếp sống hay những vết xước chưa lành trong tâm thức. Xung đột ngoại tâm nảy sinh khi cá nhân đứng trước những bất công, sự tha hóa hay sự im lặng của lịch sử.

Thơ ca luôn cần đến những tiếng nói cả bên trong và bên ngoài, cả những xung đột nội tâm và ngoại tâm đã đẩy nhà văn đến cùng đường phải sáng tác. Khởi nguyên của thơ ca luôn gắn liền với áp lực dồn nén từ hai phía, những va đập của thế giới khách quan bên ngoài và sự lên tiếng của những chuyển động tinh thần bên trong.

Để sáng tác nên những trang viết ở khoảng giao giữa bản thân mình và thế giới, nhà văn cần phải lắng nghe tiếng nói nội tâm và tiếng nói của những kẻ khác. Quá trình dịch chuyển từ cái "tôi" sang cái "chúng ta" này giúp ngôn từ thơ ca thoát khỏi tính chật hẹp của trải nghiệm cá nhân để mang sức chứa của đời sống cộng đồng. Bàn về bản chất của thi ca, nhà nghiên cứu văn học M. Bakhtin từng nhấn mạnh tính đối thoại của ngôn từ. Thơ ca không phải là một âm thanh đơn độc cất lên cho riêng nhà thơ, mà là nơi diễn ra sự va chạm, hồi đáp giữa nhiều giọng điệu khác nhau. Khi nhà thơ dám bước ra khỏi cái tôi để đối thoại với tiếng nói của người khác, tác phẩm mới có thể vượt qua ranh giới thời gian để sống trong tâm trí của nhiều thế hệ độc giả.
Thêm
56
0
0
Viết trả lời...