- Bằng góc nhìn của người nữ viết về thân phận nữ giới, Võ Thị Hảo đã dựng lên một cuộc chiến riêng dành cho những người phụ nữ. Ở đó, họ bị chiến tranh và núi rừng cướp đi tính nữ, bào mòn xuân sắc, sống lay lắt trong sự chờ đợi tình yêu thương và phải bám víu vào một “chàng hoàng tử” tưởng tượng để sống sót. Chỉ có Thảo - người duy nhất sót lại của rừng Cười, cuối cùng trở về cuộc sống hậu chiến trong ám ảnh, mất mất, đau đớn và phải ra đi để tìm lại chính mình.
+ Bốn cô gái gắn bó những năm tháng chiến đấu của mình với kho quân nhu “náu mình dưới tán cây rừng Trường Sơn”. Không gian đã tách biệt bốn cô gái khỏi thế giới bên ngoài, giam nhốt họ giữa cái cô quạnh của rừng núi. Đó là nơi họ phải hy sinh, chống chịu và dựa vào nhau mà tồn tại.
+ “Bốn cô gái trẻ măng nhưng mái tóc chỉ còn là một dúm xơ xác. Dòng nước khe màu xanh đen thớ lợ đã dần dà vặt trụi tóc họ”: Chiến tranh triệt hoại nữ tính. Những người con gái sống giữa chiến tranh bị mất đi những thiên tính ban đầu. Mái tóc dày là biểu hiện của tính nữ, cuối cùng cũng bị thiên nhiên trụi hoại đi. Với người con gái, mái tóc không chỉ là dấu hiệu của bản dạng, đó còn là hình ảnh của thanh xuân, của tuổi trẻ, của người con gái đang trong độ xuân thì. Nhưng họ cũng chỉ đành bất lực trước núi rừng, chấp nhận trước dòng nước khe mang đầy độc tính.
+ “Hôm đón Thảo, cô gái thứ năm về, bốn người cũ mừng rỡ khi nhìn thấy mái tóc óng mượt dài chấm gót của cô. Họ cưng Thảo như vàng, nhất trí rằng không thể để rừng cướp mất mái tóc ấy của họ. Nhưng rừng mạnh hơn”: Mái tóc dài của Thảo làm cho bốn cô gái hoài tưởng mình của năm xưa, thấy được một phần tính nữ nảy nở giữa mảnh rừng Trường Sơn khô khốc, bạo liệt và trơ trơ vô cảm với những người phụ nữ. Sự "mừng rỡ" của họ là niềm vui ban đầu đến trước cái lo lắng, ngao ngán rằng rồi một ngày nào đó, "mái tóc óng mượt dài chấm gót của cô" cũng sẽ trở thành "một dúm xơ xác". Mái tóc của Thảo, không chỉ là dấu hiệu của người phụ nữ, của tính nữ mà còn là sự dịu dàng đến ấp ôm dải đất Trường Sơn. Bốn người phụ nữ "mừng rỡ" trước mái tóc của cô, trước mái tóc mà bất cứ người con gái nào thời ấy cũng khao khát giữ được cho thấy: chiến tranh hủy diệt tính nữ, không cho bản nguyên được bung nở.
→ Sự nỗ lực của bốn cô gái để níu kéo mái tóc của người đồng đội, níu kéo giấc mơ của chính họ về một mái tóc dài, để bảo lưu những gì dịu dàng nhất ở lại với vùng đất chết chóc này. Nhưng họ bất lực trước tự nhiên và chiến tranh - "Rừng mạnh hơn". Ở đây, dải đất Trường Sơn kia mang mẫu hình nam tính, hiện diện như phía nam giới trấn áp, triệt hoại, hủy diệt và chiếm đoạt người đàn bà. Ở đây, "mái tóc" trở thành tín vật, bảo vật thiêng liêng của người đàn bà. Đó không chỉ là mái tóc của riêng Thảo, đó là "mái tóc ấy của họ" mà họ "quý như vàng". Mái tóc là biểu tượng cho tính nữ dịu dàng được gùi gắng để giữ lại giữa chiến trường. Mái tóc không của riêng Thảo mà là đại diện cho tính nữ bên trong mọi người phụ nữ. Thiên tính nữ bị đặt vào trong một hoàn cảnh ngặt nghèo, rừng thiêng nước độc để thách thức. Ở đó, họ có thể không chiến thắng mà phải chịu thua và bị núi rừng "dần dà vặt trụi tóc họ". Một sự bé nhỏ của người phụ nữ, của con người trơ hiện trước núi xanh. Nó nói với ta về khát khao giữ lấy nhân hình, nói với ta về sắc diện bị hủy hoại, về tính nữ bị xóa nhòa. Ở đó, người phụ nữ phải gắng gỏi để giữ lấy những gì bị cướp mất.
→ Đó còn đồng thời là bi kịch sinh thái. Môi trường độc hại không chỉ công khai tước đoạt thân thể của những người nữ thanh niên xung phong, nó còn cho thấy sự bất lực của con người trước hệ sinh thái bị nhiễm độc. Đó không phải là thứ bom giết chết con người ngay tức khắc, mà là bom nổ chậm triệt hủy dần mòn từng chút một.
- “Cái sự si mê hộ người khác ấy không hy vọng cắt nghĩa nổi trong thời bình, dưới những ánh đèn mầu huy hoàng, mà chỉ những ai đã từng qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp gianh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu nổi”: Qua lời kể của Thảo, người yêu cô là một chàng sinh viên khoa Văn bay bổng, trữ tình, lại hào hiệp, thủy chung. Một tưởng tượng mờ ảo về chàng trai ấy đã khiến bốn cô gái đem lòng si mê, "nhưng không phải cho họ, mà cho Thảo". Qua lời Thảo kể, bốn cô nhận ra mình cũng đã lâu rồi chưa biết yêu một người, chưa từng trải qua một mối tình với chàng trai mà mình thương mến, cũng chẳng có được những kỉ niệm một thời mà ấp iu như Thảo. Vậy là tình yêu đã nảy sinh giữa những con người cùng "từng qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp gianh, giữa địa ngục và trần gian" ấy. Đó là tình yêu thay cho Thảo, yêu cùng Thảo để giữ lấy mối tình mong manh ấy giữa núi rừng, để bám víu vào đó mà dặn mình phải sống để còn yêu. Chỉ những ai từng bước qua nỗi cô đơn đó, hiểu được tấm lòng của người "chưa một lần yêu" mới hiểu được cảm giác của những cô con gái tuổi mười tám, đôi mươi. Núi rừng không chỉ cướp đi của họ mái tóc, thiêu rụi đi tính nữ mà còn khiến họ lãng quên đi cảm giác muốn yêu và được yêu. Câu chuyện của Thảo đã khơi dậy lại đâu đó trong tâm thức của những cô gái ấy về một tình yêu đích thực. Câu chuyện đã mở cái van tâm hồn của bốn cô gái, kéo họ ra khỏi cái nương náu với núi rừng, đẩy họ quay về với những xúc cảm trinh nguyên của đời con gái. Trong phút chốc, xuân sắc được kéo về, lôi tuột khỏi cái trơ khấc sau những tháng ngày nương náu giữa Trường Sơn. Ở đó, họ chia sẻ với nhau tình yêu, san sẻ những giá trị tinh thần để cùng nhau sống sót, khi đó tình đồng đội ở cao hơn mọi sự vị kỷ của tình yêu cá nhân.
- “Thỉnh thoảng mới có một đoàn quân tạt qua lĩnh quân trang quân dụng rồi vội vàng đi. Họ đến mang theo những câu bông đùa suồng sã, dăm ba cái cấu véo của những người đàn ông sống xa thế giới đàn bà lâu ngày có xu hướng trở thành hoang dã. Thảng hoặc cũng có những người lặng lẽ chiêm ngưỡng họ như những nữ hoàng, chăng vào lòng những cô gái bé nhỏ chút hy vọng mơ màng vương vấn như tơ nhện rồi thoắt biến, cho các cô gái càng thấm thía nỗi cô đơn”: Những người đàn ông "sống xa thế giới đàn bà lâu ngày có xu hướng trở nên hoang dã". Họ bị tách ra khỏi tình yêu, bị tước đi cảm xúc được yêu đương, khỏi giống loài trong độ tuổi trai trẻ. Do đó, họ dần trở nên đồng hóa với núi rừng, thêm suồng sã, thô ráp, quên mất cách phải dịu dàng với người phụ nữ. Giữa những người đàn ông và những người đàn bà trong mảnh đất Trường Sơn ấy có lẽ chưa đủ để hình thành một tình yêu. Những giây phút "tạt qua...rồi vội vàng đi" chỉ đủ khơi lên những khao khát chiếm hữu mỏng manh “như tơ nhện”. May mắn thay, vẫn còn những người "lặng lẽ chiêm ngưỡng họ như những nữ hoàng", họ ý thức được sâu hơn rằng những cô gái này là sinh khí của vùng rừng núi ấy, đem đến cho cái vùng đất xác xơ này tinh chất của sự dịu dàng. Bởi vậy, họ muốn nâng niu, trân quý những cô gái như những báu vật của rừng thay vì là những đối tượng của tình dục. Những cảm xúc đồng điệu chân thành ấy, đã "chăng vào lòng những cô gái bé nhỏ chút hy vọng mơ màng", để rồi cuối cùng trong sự biến mất thoắt ẩn thoắt hiện, các cô càng "thấm thía nỗi cô đơn". Đó là sự đồng cảm giữa những tâm hồn còn chưa bị núi rừng làm cho xơ xác, một chút đồng cảm rất mong manh ghé qua.
- Khung cảnh quái dị, đáng sợ khi bốn cô gái lên cơn “cười rừng”: Những tiếng cười man rợ trong trạng thái trần truồng như những “con vượn trắng” ấy là hệ quả của sự cô đơn, nỗi lo lắng trước tương lai, sự thiếu vắng kết nối với thế giới bên ngoài. Ngay trong buổi trưa mà ba người lính đến lĩnh quân trang, “một đôi tay từ đâu đã ghì chặt lấy cổ và sau gáy anh vang lên tiếng cười man dại lúc nãy”. Hành động lao vào “ghì chặt lấy cổ” anh lính đã bộc lộ trạng thái cô đơn, khủng hoảng cực hạn khi sống quá xa lạ với thế giới con người. Cái ôm ghì ấy như một sự ôm lấy, riết lấy, siết chặt, không để người lính rời khỏi vòng tay. Những cơn cười rừng không thể kiểm soát đi cùng với đó là nỗi lo sợ khi phải rời xa con người chính là biểu tượng cho nỗi đau chiến tranh. Những trạng thái tâm lý như vậy thường xuất phát từ một tinh thần yếu mềm, dễ thương tổn. Thân phận người phụ nữ trong chiến tranh luôn bị đối diện với những giới hạn của tâm lý, chịu những cú sốc tổn thương lớn nên họ khó có thể chống đỡ được trước những chấn thương tinh thần. Hình ảnh những người thanh niên xung phong trong truyện đã gợi ra một vấn đề lớn hơn đối với tâm lý con người - bệnh Hysteria. Loại bệnh này thường được nhìn nhận là căn bệnh “thiếu đàn ông” nhưng thực chất nó là chứng bệnh tạo nên do sự đả kích, chấn động quá lớn, lo sợ cao độ. → Một góc nhìn nữa từ góc độ chấn thương.
- Lòng tự trọng của người lính: “Đã dạn dày với cảnh chết chóc, mà giờ đây, khi đứng trước thân thể lõa lồ căng đầy sức sống của những người con gái, Hiên run bắn. Người đàn ông đã ngủ quên trong anh vùng vằng giẫy đạp. Trong phút chốc, Hiên muốn buông trôi, muốn quên hết”: Những cuộc chiến với bao mất mát, đau thương, trách nhiệm đã trở thành lý tưởng cao cả hơn tất cả những nhu cầu riêng tư của những người lính. Do đó, họ chấp nhận phần “người đàn ông” bên trong mình ngủ quên đi, để toàn tâm gắng sức cho cuộc chiến lớn của dân tộc. Nhưng thân thể người phụ nữ, khi đó, đã khơi gợi lại, đánh thức phần đàn ông đó sống dậy. Những nhu cầu cá nhân, những khao khát sự gần gũi da thịt xuất hiện trở lại bên trong Hiên. Đây là lúc anh đấu tranh nội tâm giữa lòng tự trọng và dục vọng. Một phần người đàn ông bên trong giẫy giụa muốn được giải thoát trong khoái cảm, để “buông trôi”, để “quên hết”. Một phần, lòng tự trọng vẫn giằng xé. Cuối cùng, tinh thần người lính, lòng tự trọng của người đàn ông đã chiến thắng. “Hiên trấn tĩnh được”. Hành động “chữa bệnh” cho bốn cô gái đang trong cơn bệnh kia là biểu hiện của tình đồng đội, là tinh thần của người chiến sĩ. → Nhân vật được miêu tả với xung đột nội tâm, đa chiều, nhiều cảm xúc và không bị gói gọn trong một cách nhìn đơn giản.
- Hình ảnh “người sót lại của rừng cười”: “Em là người sót lại của rừng cười, nhưng hạnh phúc chẳng còn sót lại nơi em”. Những người bước ra từ chiến tranh, cho dù có trở về lành lặn trong thân thể, thì cũng không tránh khỏi những tổn thương trong tinh thần. Sự tổn thương đó không chỉ là những dư chấn từ cuộc chiến với bom đạn kẻ thù, đó còn là sự tổn thương khi thấy mình lạc loài, thấy mình xa rời với nhịp sống, thấy mình khó chấp nhận được sự dịu dàng của tình yêu.
+ Bốn cô gái gắn bó những năm tháng chiến đấu của mình với kho quân nhu “náu mình dưới tán cây rừng Trường Sơn”. Không gian đã tách biệt bốn cô gái khỏi thế giới bên ngoài, giam nhốt họ giữa cái cô quạnh của rừng núi. Đó là nơi họ phải hy sinh, chống chịu và dựa vào nhau mà tồn tại.
+ “Bốn cô gái trẻ măng nhưng mái tóc chỉ còn là một dúm xơ xác. Dòng nước khe màu xanh đen thớ lợ đã dần dà vặt trụi tóc họ”: Chiến tranh triệt hoại nữ tính. Những người con gái sống giữa chiến tranh bị mất đi những thiên tính ban đầu. Mái tóc dày là biểu hiện của tính nữ, cuối cùng cũng bị thiên nhiên trụi hoại đi. Với người con gái, mái tóc không chỉ là dấu hiệu của bản dạng, đó còn là hình ảnh của thanh xuân, của tuổi trẻ, của người con gái đang trong độ xuân thì. Nhưng họ cũng chỉ đành bất lực trước núi rừng, chấp nhận trước dòng nước khe mang đầy độc tính.
+ “Hôm đón Thảo, cô gái thứ năm về, bốn người cũ mừng rỡ khi nhìn thấy mái tóc óng mượt dài chấm gót của cô. Họ cưng Thảo như vàng, nhất trí rằng không thể để rừng cướp mất mái tóc ấy của họ. Nhưng rừng mạnh hơn”: Mái tóc dài của Thảo làm cho bốn cô gái hoài tưởng mình của năm xưa, thấy được một phần tính nữ nảy nở giữa mảnh rừng Trường Sơn khô khốc, bạo liệt và trơ trơ vô cảm với những người phụ nữ. Sự "mừng rỡ" của họ là niềm vui ban đầu đến trước cái lo lắng, ngao ngán rằng rồi một ngày nào đó, "mái tóc óng mượt dài chấm gót của cô" cũng sẽ trở thành "một dúm xơ xác". Mái tóc của Thảo, không chỉ là dấu hiệu của người phụ nữ, của tính nữ mà còn là sự dịu dàng đến ấp ôm dải đất Trường Sơn. Bốn người phụ nữ "mừng rỡ" trước mái tóc của cô, trước mái tóc mà bất cứ người con gái nào thời ấy cũng khao khát giữ được cho thấy: chiến tranh hủy diệt tính nữ, không cho bản nguyên được bung nở.
→ Sự nỗ lực của bốn cô gái để níu kéo mái tóc của người đồng đội, níu kéo giấc mơ của chính họ về một mái tóc dài, để bảo lưu những gì dịu dàng nhất ở lại với vùng đất chết chóc này. Nhưng họ bất lực trước tự nhiên và chiến tranh - "Rừng mạnh hơn". Ở đây, dải đất Trường Sơn kia mang mẫu hình nam tính, hiện diện như phía nam giới trấn áp, triệt hoại, hủy diệt và chiếm đoạt người đàn bà. Ở đây, "mái tóc" trở thành tín vật, bảo vật thiêng liêng của người đàn bà. Đó không chỉ là mái tóc của riêng Thảo, đó là "mái tóc ấy của họ" mà họ "quý như vàng". Mái tóc là biểu tượng cho tính nữ dịu dàng được gùi gắng để giữ lại giữa chiến trường. Mái tóc không của riêng Thảo mà là đại diện cho tính nữ bên trong mọi người phụ nữ. Thiên tính nữ bị đặt vào trong một hoàn cảnh ngặt nghèo, rừng thiêng nước độc để thách thức. Ở đó, họ có thể không chiến thắng mà phải chịu thua và bị núi rừng "dần dà vặt trụi tóc họ". Một sự bé nhỏ của người phụ nữ, của con người trơ hiện trước núi xanh. Nó nói với ta về khát khao giữ lấy nhân hình, nói với ta về sắc diện bị hủy hoại, về tính nữ bị xóa nhòa. Ở đó, người phụ nữ phải gắng gỏi để giữ lấy những gì bị cướp mất.
→ Đó còn đồng thời là bi kịch sinh thái. Môi trường độc hại không chỉ công khai tước đoạt thân thể của những người nữ thanh niên xung phong, nó còn cho thấy sự bất lực của con người trước hệ sinh thái bị nhiễm độc. Đó không phải là thứ bom giết chết con người ngay tức khắc, mà là bom nổ chậm triệt hủy dần mòn từng chút một.
- “Cái sự si mê hộ người khác ấy không hy vọng cắt nghĩa nổi trong thời bình, dưới những ánh đèn mầu huy hoàng, mà chỉ những ai đã từng qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp gianh, giữa địa ngục và trần gian mới hiểu nổi”: Qua lời kể của Thảo, người yêu cô là một chàng sinh viên khoa Văn bay bổng, trữ tình, lại hào hiệp, thủy chung. Một tưởng tượng mờ ảo về chàng trai ấy đã khiến bốn cô gái đem lòng si mê, "nhưng không phải cho họ, mà cho Thảo". Qua lời Thảo kể, bốn cô nhận ra mình cũng đã lâu rồi chưa biết yêu một người, chưa từng trải qua một mối tình với chàng trai mà mình thương mến, cũng chẳng có được những kỉ niệm một thời mà ấp iu như Thảo. Vậy là tình yêu đã nảy sinh giữa những con người cùng "từng qua chiến tranh, trải nỗi cô đơn đặc quánh, qua cảm giác đang cựa quậy giữa chốn giáp gianh, giữa địa ngục và trần gian" ấy. Đó là tình yêu thay cho Thảo, yêu cùng Thảo để giữ lấy mối tình mong manh ấy giữa núi rừng, để bám víu vào đó mà dặn mình phải sống để còn yêu. Chỉ những ai từng bước qua nỗi cô đơn đó, hiểu được tấm lòng của người "chưa một lần yêu" mới hiểu được cảm giác của những cô con gái tuổi mười tám, đôi mươi. Núi rừng không chỉ cướp đi của họ mái tóc, thiêu rụi đi tính nữ mà còn khiến họ lãng quên đi cảm giác muốn yêu và được yêu. Câu chuyện của Thảo đã khơi dậy lại đâu đó trong tâm thức của những cô gái ấy về một tình yêu đích thực. Câu chuyện đã mở cái van tâm hồn của bốn cô gái, kéo họ ra khỏi cái nương náu với núi rừng, đẩy họ quay về với những xúc cảm trinh nguyên của đời con gái. Trong phút chốc, xuân sắc được kéo về, lôi tuột khỏi cái trơ khấc sau những tháng ngày nương náu giữa Trường Sơn. Ở đó, họ chia sẻ với nhau tình yêu, san sẻ những giá trị tinh thần để cùng nhau sống sót, khi đó tình đồng đội ở cao hơn mọi sự vị kỷ của tình yêu cá nhân.
- “Thỉnh thoảng mới có một đoàn quân tạt qua lĩnh quân trang quân dụng rồi vội vàng đi. Họ đến mang theo những câu bông đùa suồng sã, dăm ba cái cấu véo của những người đàn ông sống xa thế giới đàn bà lâu ngày có xu hướng trở thành hoang dã. Thảng hoặc cũng có những người lặng lẽ chiêm ngưỡng họ như những nữ hoàng, chăng vào lòng những cô gái bé nhỏ chút hy vọng mơ màng vương vấn như tơ nhện rồi thoắt biến, cho các cô gái càng thấm thía nỗi cô đơn”: Những người đàn ông "sống xa thế giới đàn bà lâu ngày có xu hướng trở nên hoang dã". Họ bị tách ra khỏi tình yêu, bị tước đi cảm xúc được yêu đương, khỏi giống loài trong độ tuổi trai trẻ. Do đó, họ dần trở nên đồng hóa với núi rừng, thêm suồng sã, thô ráp, quên mất cách phải dịu dàng với người phụ nữ. Giữa những người đàn ông và những người đàn bà trong mảnh đất Trường Sơn ấy có lẽ chưa đủ để hình thành một tình yêu. Những giây phút "tạt qua...rồi vội vàng đi" chỉ đủ khơi lên những khao khát chiếm hữu mỏng manh “như tơ nhện”. May mắn thay, vẫn còn những người "lặng lẽ chiêm ngưỡng họ như những nữ hoàng", họ ý thức được sâu hơn rằng những cô gái này là sinh khí của vùng rừng núi ấy, đem đến cho cái vùng đất xác xơ này tinh chất của sự dịu dàng. Bởi vậy, họ muốn nâng niu, trân quý những cô gái như những báu vật của rừng thay vì là những đối tượng của tình dục. Những cảm xúc đồng điệu chân thành ấy, đã "chăng vào lòng những cô gái bé nhỏ chút hy vọng mơ màng", để rồi cuối cùng trong sự biến mất thoắt ẩn thoắt hiện, các cô càng "thấm thía nỗi cô đơn". Đó là sự đồng cảm giữa những tâm hồn còn chưa bị núi rừng làm cho xơ xác, một chút đồng cảm rất mong manh ghé qua.
- Khung cảnh quái dị, đáng sợ khi bốn cô gái lên cơn “cười rừng”: Những tiếng cười man rợ trong trạng thái trần truồng như những “con vượn trắng” ấy là hệ quả của sự cô đơn, nỗi lo lắng trước tương lai, sự thiếu vắng kết nối với thế giới bên ngoài. Ngay trong buổi trưa mà ba người lính đến lĩnh quân trang, “một đôi tay từ đâu đã ghì chặt lấy cổ và sau gáy anh vang lên tiếng cười man dại lúc nãy”. Hành động lao vào “ghì chặt lấy cổ” anh lính đã bộc lộ trạng thái cô đơn, khủng hoảng cực hạn khi sống quá xa lạ với thế giới con người. Cái ôm ghì ấy như một sự ôm lấy, riết lấy, siết chặt, không để người lính rời khỏi vòng tay. Những cơn cười rừng không thể kiểm soát đi cùng với đó là nỗi lo sợ khi phải rời xa con người chính là biểu tượng cho nỗi đau chiến tranh. Những trạng thái tâm lý như vậy thường xuất phát từ một tinh thần yếu mềm, dễ thương tổn. Thân phận người phụ nữ trong chiến tranh luôn bị đối diện với những giới hạn của tâm lý, chịu những cú sốc tổn thương lớn nên họ khó có thể chống đỡ được trước những chấn thương tinh thần. Hình ảnh những người thanh niên xung phong trong truyện đã gợi ra một vấn đề lớn hơn đối với tâm lý con người - bệnh Hysteria. Loại bệnh này thường được nhìn nhận là căn bệnh “thiếu đàn ông” nhưng thực chất nó là chứng bệnh tạo nên do sự đả kích, chấn động quá lớn, lo sợ cao độ. → Một góc nhìn nữa từ góc độ chấn thương.
- Lòng tự trọng của người lính: “Đã dạn dày với cảnh chết chóc, mà giờ đây, khi đứng trước thân thể lõa lồ căng đầy sức sống của những người con gái, Hiên run bắn. Người đàn ông đã ngủ quên trong anh vùng vằng giẫy đạp. Trong phút chốc, Hiên muốn buông trôi, muốn quên hết”: Những cuộc chiến với bao mất mát, đau thương, trách nhiệm đã trở thành lý tưởng cao cả hơn tất cả những nhu cầu riêng tư của những người lính. Do đó, họ chấp nhận phần “người đàn ông” bên trong mình ngủ quên đi, để toàn tâm gắng sức cho cuộc chiến lớn của dân tộc. Nhưng thân thể người phụ nữ, khi đó, đã khơi gợi lại, đánh thức phần đàn ông đó sống dậy. Những nhu cầu cá nhân, những khao khát sự gần gũi da thịt xuất hiện trở lại bên trong Hiên. Đây là lúc anh đấu tranh nội tâm giữa lòng tự trọng và dục vọng. Một phần người đàn ông bên trong giẫy giụa muốn được giải thoát trong khoái cảm, để “buông trôi”, để “quên hết”. Một phần, lòng tự trọng vẫn giằng xé. Cuối cùng, tinh thần người lính, lòng tự trọng của người đàn ông đã chiến thắng. “Hiên trấn tĩnh được”. Hành động “chữa bệnh” cho bốn cô gái đang trong cơn bệnh kia là biểu hiện của tình đồng đội, là tinh thần của người chiến sĩ. → Nhân vật được miêu tả với xung đột nội tâm, đa chiều, nhiều cảm xúc và không bị gói gọn trong một cách nhìn đơn giản.
- Hình ảnh “người sót lại của rừng cười”: “Em là người sót lại của rừng cười, nhưng hạnh phúc chẳng còn sót lại nơi em”. Những người bước ra từ chiến tranh, cho dù có trở về lành lặn trong thân thể, thì cũng không tránh khỏi những tổn thương trong tinh thần. Sự tổn thương đó không chỉ là những dư chấn từ cuộc chiến với bom đạn kẻ thù, đó còn là sự tổn thương khi thấy mình lạc loài, thấy mình xa rời với nhịp sống, thấy mình khó chấp nhận được sự dịu dàng của tình yêu.