Newsfeed

forum.Vanhoctre.com | Nuôi dưỡng tình yêu văn chương, cuộc thi viết văn; học văn, những bài văn hay. Tác phẩm văn học chọn lọc, lí luận văn học, ...
Eureka!

Giữa các vì sao ngàn ánh sáng
Vang vọng từng khúc vũ liên thanh
Ta cùng ngân hà hòa làm một
Dòng chảy đưa ta cứ thế trôi

Giữa dòng thời gian trôi lơ lửng
Hiện tại, quá khứ hay tương lai?
Bản thân ta cũng không rõ nữa
Chỉ biết tiếng vang khúc ta ở…

Ở nơi không gần cũng không xa
Trái đất vốn dĩ rất tròn mà?
Liệu rằng người có đang nhìn thấy
Điểm giao quyền lực của đôi ta?

Eureka! Eureka! Eureka!
Ở ngã ba đường thiêng liêng ấy
Liệu người có đang nhìn thấy không
Chúng đang dần dần hòa làm một

Ta đã bước đến khoảng trời đó
Khoảng trời có người luôn đứng đợi
Và rồi đôi ta hòa làm một
Nhất bản thể nhất thiên hà

Eureka! Eureka! Eureka!
Ý niệm bất biến trung ngân hà…

31/3/2026, Viên Tôn Tuệ Hân
-----------------------------
Thông tin về tác phẩm
- Tên đầy đủ: Eureka!
- Tác giả: Viên Tôn Tuệ Hân
- Sáng tác, chỉnh sửa và hoàn thiện vào: 31/03/2026
- Đăng trên cộng đồng Văn học trẻ vào: 31/03/2026

Screenshot 2026-03-31 133027.png
Thêm
20
0
0
Viết trả lời...
Đứng giữa phố đông người qua, trên cả nhân gian mà ở xa kia là đồng loại của ta đấy, sao ta chẳng tìm được một người để sẻ chia? Ta đứng giữa đám đông mà thấy mình như một kẻ vô hình, chẳng biết chia sẻ cùng ai, cũng chẳng tìm được một bờ vai nào đủ tin cậy để tựa vào. Đó là lúc nỗi cô đơn không còn là một trạng thái, mà nó hóa thành một thực thể hiện hữu, bủa vây và thắt chặt lấy tâm hồn vốn đã quá mệt mỏi vì những gồng gánh bấy lâu.

Cái cảm giác bơ vơ và trơ trọi ấy đôi khi đến vào một buổi chiều tà, khi ánh nắng cuối ngày tắt lịm và bóng tối bắt đầu lan trên những bức tường lạnh lẽo. Ta thèm một tiếng người, thèm một cái nắm tay, hay chỉ đơn giản là một câu hỏi han. Đáng sợ nhất là khi tỉnh dậy lúc xế chiều, căn phòng tối sập, thấy chung quanh chẳng có ai, chẳng có ai chờ cơm, đó là lúc cô độc mà người ta muốn khóc nhất. Ta thèm được trút bỏ cái lớp vỏ mạnh mẽ mà hằng ngày để đổi lấy một phút giây được yếu lòng, được khóc, được vỗ về như một đứa trẻ. Sự "thèm người" ấy thực chất là một tiếng kêu cứu của trái tim, là khát vọng được kết nối giữa những tâm hồn đang dần xa cách trong thế giới ảo hào nhoáng này.

Lúc ấy, con chỉ ước ông trời cho con một người ở bên cạnh. Con chỉ ước có một gia đình để an ủi, vỗ về con mỗi khi buồn. Càng thấy cô đơn càng thấy nhớ nhung gia đình da diết. Nước mắt là thứ dễ bị nước mắt gợi ra nhất. Bởi suy cho cùng, con người dù có kiên cường đến đâu cũng có lúc yếu đuối, mỏi mệt và cần được yêu thương.

Nhưng trong khi chờ đợi một "ai đó" xuất hiện, có lẽ điều duy nhất ta có thể làm là tự ôm lấy chính mình. Hãy để đôi tay mình xoa dịu những bận lòng của ngày hôm nay, để trái tim mình tự vỗ về những vết thương chưa kịp khép miệng. Cô đơn không phải là một hình phạt, mà có thể là một khoảng lặng để ta học cách đối thoại với chính mình một cách chân thành nhất. Lời cầu nguyện gửi đến trời xanh có thể chưa được hồi đáp ngay lập tức, nhưng cứ yêu và tin, chờ ngày ông trời hồi đáp. Không sợ cô đơn, chỉ sợ mình không đủ yêu mình..
Thêm
31
0
0
Viết trả lời...
Vùng ký ức xưa ta còn nhau còn đâu em hỡi... Nắng thanh xuân rực rỡ và chói lọi. Một mùa nắng đi qua, một kí ức ở lại. Nhưng có những đứa trẻ vẫn mãi mãi không thoát ra khỏi được vùng trời áy.. chúng sống mãi dưới vòm trời ấy để hồi niệm quá khứ mà có đâu biết rằng chẳng bao giờ có thể quay lại năm tháng ấy nữa.

Đó là vùng ký ức về những năm tháng thanh xuân, nơi ta đã từng có nhau, từng tin rằng thế giới này là màu hồng và ta mãi mãi là những đứa trẻ. Nhưng khi mùa nắng ấy đi qua, điều duy nhất ở lại chỉ là những mảnh vỡ của kỷ niệm, óng ánh và sắc lẹm, cứa vào lòng người.

Hóa ra, trưởng thành không phải là lớn lên, mà là học cách từ biệt những "đứa trẻ" vẫn còn đang mải miết rong chơi bên trong mình. Có những người trong chúng ta, vẫn mãi mãi mắc kẹt ở một quãng sân trường, một góc phố quen hay một buổi chiều tà rực nắng của nhiều năm về trước. Họ sống bằng hồi ức, hít thở bằng bầu không khí của quá khứ và nuôi nấng những hy vọng viển vông về một ngày được quay lại. Họ là những đứa trẻ không chịu lớn, hay đúng hơn, là không nỡ rời xa cái vùng trời trong vắt mà ở đó chia xa là vết xước trong tim.

Những năm tháng ấy giống như một thước phim âm bản, càng soi vào ánh sáng rực rỡ của hiện tại thì càng thấy nó xa xăm. Đôi lúc, giơ tay ra, cứ tưởng rằng có thể nắm lấy những mảng kí ức, chẳng ngờ nó hóa thành sương mai, tan thành khói bụi. Vùng ký ức xưa, nơi có tiếng cười trong trẻo và những lời hứa hẹn bạc đầu, giờ đây chỉ còn là một khoảng không vắng lặng. Người ta vẫn thường nói "nắng thanh xuân không bao giờ trở lại hai lần", không phải vì mình không còn nhớ, mà vì người đứng dưới nắng đã chẳng còn là đứa trẻ của ngày xưa.

Sống mãi dưới vòm trời hoài niệm là một cách để vỗ về lòng mình, nhưng cũng là một loại chối bỏ thực tại. Bởi khi ta cứ đắm mình trong cái chói lọi của quá khứ, ta sẽ chẳng bao giờ thấy được vẻ đẹp của những mùa nắng mới. Ký ức nên là một điểm tựa để ta vững bước, chứ không phải là một chiếc lồng giam cầm khát vọng. Năm tháng ấy đã qua, người cũ đã xa, và vòm trời ấy giờ chỉ còn là vùng kí ức xưa ta xa nhau.
Thêm
33
0
0
Viết trả lời...
"Những đứa trẻ rồi sẽ đi xa nhà/ Có rất nhiều hành trình qua trong đời...". Rồi ai cũng phải đi xa nhà, xa nơi mái ấm mình đã từng lớn lên. Có những hành trình rực rỡ đã bước qua tuổi trẻ, nhưng lại làm mất đi của mình một cơ hội được quay về nhà. Mình sợ nhất là cảm giác ngày chia xa… Cuộc đời cũng như một tiếng thở dài đầy thổn thức của một người con vừa bước chân ra khỏi "vùng sáng" rực rỡ của tuổi trẻ để ngoái nhìn về mái nhà xưa. Cảm giác ấy thật lạ, vừa ấm áp vì sự đoàn viên, lại vừa xót xa vì nhận ra dấu vết của thời gian trên những gương mặt thân quen.

Tuổi trẻ thường thúc giục chúng ta lao về phía trước, chinh phục những đỉnh cao, chạm tay vào những hào quang xa lạ. Chúng ta gọi đó là sự trưởng thành, là khẳng định bản thân. Khi đôi chân ta càng đi được xa, khi đôi mắt ta càng được chiêm ngưỡng những rực rỡ của nhân gian, thì con đường trở về nhà dường như lại càng dài thêm. Nhưng đôi khi sự rực rỡ ấy lại vô tình tước đi của chúng ta những cơ hội quay về. Quay về không chỉ đơn giản là một chuyến xe, một tấm vé máy bay. Quay về là sự hiện diện trọn vẹn của tâm hồn trong những khoảnh khắc đời thường nhất. Khi càng bước qua giông gió, con người càng cần đến một trạm dừng chân.

Rất lâu rồi mình mới quay trở về nhà ăn đám giỗ ông nội, mình thấy hình ảnh đoàn viên gia đình mà phải rất lâu rồi mình mới thấy được. Những nụ cười ấy, ánh mắt ấy, những câu hỏi han ấy bao lâu rồi mới có được? Và liệu sau này nếu mình không được thấy nó nữa thì sao? Liệu sau này, khi thời gian khắc nghiệt mang đi những người thân yêu, ta còn có thể tìm thấy những ánh mắt ấy, những nụ cười ấy ở đâu giữa cõi đời mênh mông này?

Có lẽ, trong suốt những năm tháng bôn ba, chúng ta đã quá quen với những gương mặt lạnh lùng nơi phố thị, với những câu hỏi mang tính xã giao đầy toan tính. Chỉ khi đứng giữa những con người mang tên gia đình, ta mới nhận ra mình đã cô đơn như thế nào. Những nụ cười ấy, gương mặt vẫn ở đó, vẫn bao dung như thế, chỉ có chúng ta là đã đi quá xa để rồi khi nhìn lại, thấy mọi thứ quý giá dường như đã nhuốm màu thời gian.

Nỗi sợ lớn nhất của một người con xa nhà không phải là sự vất vả nơi đất khách, mà chính là cảm giác của ngày chia xa. Mẹ mình bảo “Ai mượn mi về sớm làm chi nờ. Giờ đi buồn chết”. Đã bám hơi quê, làm sao bảo quên là quên ngay được. Cả năm biền biệt nơi đất khách, chìm ngập trong cuộc sống mưu sinh, cứ mỗi lần về quê lại thấy mình bé trở lại. Và mỗi lần xa quê lại một lần thêm nhung nhớ. Trên thành phố, con nhớ món rau muống xào tỏi của mẹ quay quắt. Thấy sao đĩa rau xào với bát canh vắt quất mà làm con nhớ nhung đến thế.

Có lẽ, cái giá của sự trưởng thành chính là việc ta phải học cách đối diện với sự hữu hạn của cuộc đời. Ta đi xa để lớn lên, nhưng trái tim lại luôn khao khát được bé lại trong vòng tay gia đình. Để rồi sau mỗi chuyến đi, sau mỗi lần trở về, ta lại càng thấu hiểu hơn giá trị của hai chữ "vị nhà".
Thêm
25
0
0
Viết trả lời...
Có một nỗi buồn lặng lẽ cứ thấm đẫm vào từng trang viết của Thạch Lam, tựa như thứ hương hoa hoàng lan được chưng cất từ cuộc đời. Văn ông phảng phất hương vị buồn từ cuộc đời, thứ buồn mênh mang của kiếp sống. Giữa phiên chợ văn chương vốn quá nhiều ồn ào, bao chứa cả bao nhiêu nỗi đời, văn Thạch Lam hiện lên như một điểm đến và chốn trở về. Trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ", điều khiến người ta đau đớn nhất không phải là cái đói hay cái cuộc sống nghèo khổ, mà là bi kịch của những kiếp người đang bị mài mòn trong sự đơn điệu và bị lãng quên ngay giữa cõi nhân gian này.

Bi kịch của họ là bi kịch bị tạo ra bởi cái nghèo, do cuộc sống lạc hậu và cũng chính do tư duy luôn sống trong tạm bợ, luôn chờ đợi một niềm hy vọng mà không chủ động tạo ra nó. Ngay từ khi sinh ra, họ đã quen với cái nghèo. Họ sống trong cái nghèo như một người bạn vong niên, sống cùng nó và chấp nhận nó. Cũng như trong “Nhà mẹ Lê”, nhà văn đã viết về cuộc đời của bác Lê đầy đau xót: “Ngay từ khi sinh ra, bác đã thấy cái nghèo rồi…”. Cũng bởi vậy, họ quen với cuộc sống tạm bợ, sợ sự thay đổi và thấy cuộc sống tẻ nhạt mà họ đang sống là chỗ trú an toàn.

Phố huyện hiện lên như một góc khuất của thế giới, nơi mà không thời gian ngập tràn trong bóng tối và nghèo khổ. Mỗi ngày của chị em Liên, của mẹ con chị Tí hay gia đình bác Xẩm đều là một bản sao nhợt nhạt của ngày hôm trước. Họ bày biện những món hàng đơn sơ, rồi lại thu dọn khi bóng tối phủ kín, tất cả lặp đi lặp lại như một thói quen. Cái nghèo ở đây không chỉ là sự thiếu thốn về vật chất mà còn là sự trống rỗng về tinh thần, khi con người ta cứ sống như những bóng ma dật dờ trong chính cuộc đời mình.

Thạch Lam đã chạm đến tận cùng của nỗi đau nhân sinh khi đặt ra câu hỏi về ranh giới giữa sống và tồn tại. Những con người nơi phố huyện ấy dường như đang bị cầm tù bởi một thực tại tù đọng và quá đỗi bình lặng. Chị Tí dẫu biết hàng nước của mình chẳng được bao nhiêu khách vẫn cứ dọn ra, bác Siêu vẫn gánh phở đi trong đêm đen dù chẳng mấy ai mua nổi, và bà cụ Thi điên vẫn cứ cười khanh khách rồi chìm vào bóng tối. Họ đang chờ đợi một điều gì đó, một điều mơ hồ mà chính họ cũng không thể gọi tên. Sự chờ đợi ấy không phải để thay đổi số phận hay mưu cầu vinh hoa, mà thực chất là một nỗ lực tuyệt vọng để cảm thấy mình vẫn còn tồn tại, vẫn còn chút liên hệ mỏng manh với thế giới rực rỡ ngoài kia.

Bi kịch lớn nhất của một kiếp người chính là sự mòn mỏi của tâm hồn. Khi người ta đã quá quen với bóng tối và sự im lặng, trái tim dễ trở nên chai sạn và cảm xúc bắt đầu lịm dần. Những đứa trẻ nhặt nhạnh rác rưởi ở chợ chiều, hay chính Liên với đôi mắt ngập đầy bóng tối, tất cả đều đang bị dòng chảy nghiệt ngã của thời gian lãng quên. Họ giống như những hạt bụi nhỏ nhoi rơi vào hư vô, không ai biết đến và cũng chẳng ai hay nếu một ngày họ biến mất. Chuyến tàu đêm đi qua dù chỉ trong chốc lát nhưng đó là khoảnh khắc duy nhất họ thực sự thức tỉnh, để rồi khi ánh sáng ấy vụt tắt, phố huyện lại chìm sâu vào giấc ngủ mệt mỏi và nhẫn nhịn.

Thạch Lam đã dùng một ngòi bút đầy xót thương để phác họa nên bức tranh về sự mắc kẹt của con người trong cõi nhân gian. Ông nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống sẽ thật đáng sợ nếu chỉ là những vòng lặp vô nghĩa và nếu con người không còn đủ sức để mơ về một ánh sáng khác ngoài bóng tối vây quanh. Những kiếp người nhỏ bé kia chính là lời cảnh tỉnh về sự tàn nhẫn của thói quen và sự tĩnh lặng đến đáng sợ của một cuộc đời thiếu vắng khát vọng.
Thêm
30
0
0
Viết trả lời...
Giữa những thước phim ồ ạt trên mạng xã hội, tôi dừng lại trước video về một người đàn ông trong vùng chiến tranh di cư đến Trung Quốc. Anh gọi một bàn đồ ăn lớn, háo hức thưởng thức từng món ăn, gọi hết món này đến món khác. Và khi tiếng pháo hoa vang lên, anh giật thót, cứng đờ lại… rồi thở phào nhẹ nhõm. Hóa ra đây không phải đất nước mình. Những hình ảnh nhỏ bé thoáng qua ấy đã để lại dư âm, tạo nên một nốt trầm cho những người đang ngày ngày phải tiếp nhận những thông tin về chiến tranh. Chiến tranh của thời đại nào cũng vậy. Đằng sau những lời bình luận sôi nổi của hàng ngàn người vừa thấp thỏm âu lo vừa tò mò lo lắng là hàng ngàn con số về chết chóc, thương vong, giá xăng tăng, hàng loạt vấn đề về kinh tế và phát triển xã hội.

Hậu quả của chiến tranh chưa bao giờ dừng lại ở bãi chiến trường. Nó không đơn thuần chỉ là sự tổn thất về thiết bị, vũ khí, của nhà cửa, mà còn là mạng sống. Cay đắng hơn, nó là mạng sống của những con người đang ngày ngày quen với một cuộc sống bình yên. Tội nghiệp nhất vẫn là những đứa trẻ đang mang theo niềm hy vọng được cầm bút, được cắp sách đến trường và được yêu đời. Chiến tranh, suy cho cùng, là một nhát cắt tàn bạo vào mạch sống của nhân loại, mà vết sẹo của nó chẳng bao giờ mờ đi theo thời gian. Khi tiếng súng lặng yên, khi khói bom đã tan vào hư không, người ta bắt đầu đếm những đổ nát. Nhưng làm sao đếm được những khoảng trống trong lòng người? Làm sao đo được độ dài của nỗi đau nơi những đôi mắt trẻ thơ đã vĩnh viễn mất đi ánh nhìn trong trẻo, thay vào đó là bóng tối của sự sợ hãi và mất mát? Hậu quả của chiến tranh còn là sự đứt gãy của các giá trị nhân văn. Hy vọng, vốn là thứ ánh sáng rạng rỡ nhất của con người, giờ đây trở nên thật mong manh và dễ vỡ.

Là một người Việt Nam đã đi qua đống đổ nát của chiến tranh, nhìn thấy hết những nỗi đau của nhân dân mình, tôi càng nhận ra giá trị cao quý của hòa bình. Hòa bình là thứ có thể nắm bắt được nhưng người ta lại dễ đánh mất nó. Chỉ khi hòa bình trở lại, người ta mới thấy những đứa trẻ được học tập, được yêu thương, được gọi tên, được sống như một đứa trẻ. Chỉ khi đó, những trường học mới mở cửa, các gia đình được sống trong trọn vẹn. Như vậy thì, hòa bình đâu phải thứ mặc nhiên. Nó là thành quả của cả một quá trình thấu hiểu, yêu thương, sẻ chia và hợp tác.

Hòa bình chỉ thực sự vững chãi khi nó được xây dựng trên nền tảng của sự thấu hiểu. Khi chúng ta chọn cách ngồi lại cùng nhau, thay vì đối đầu, chọn sẻ chia một ổ bánh mì, thay vì tranh giành từng tấc đất, chọn dùng ngôn ngữ của trái tim để xóa tan những định kiến và hận thù. Đó là một quá trình gian nan, đòi hỏi mỗi người phải hạ thấp cái tôi cá nhân để nâng tầm cái ta chung của nhân loại. Bởi suy cho cùng, nỗi đau của một dân tộc này cũng chính là vết thương của cả thế giới, và niềm hạnh phúc của một đứa trẻ ở phương xa cũng là niềm hy vọng chung cho tất cả chúng ta.

Mỗi chúng ta hãy là một sứ giả của hòa bình, để những đống đổ nát của quá khứ mãi mãi nằm lại phía sau, nhường chỗ cho tri thức và những tiếng cười rộn rã dưới ánh nắng tự do. Tất cả chúng ta… tất cả… đều muốn được hít thở dưới bầu trời xanh.
Thêm
26
0
0
Viết trả lời...
“Hào khí cha ông ta muôn đời
Bao la bao la nước non quê hương Việt Nam ơi..”

‘‘Việt Nam tôi ’’

Cha ông ta ngàn xưa đã ngã xuống, hy sinh không tiếc đời mình. Họ cúi đầu trườn qua những dãy Trường Sơn hiểm trở cho hôm nay ta ngẩng cao đầu kiêu hãnh trong hòa bình. Chúng ta hôm nay, đều là con cháu, là tương lai của họ, là hiện thân cho những kí ức rực rỡ của một thời. Chúng ta hôm nay, thừa hưởng ở đất nước ta một kí ức lịch sử thật hào hùng, một trang kỉ niệm đầy vẻ vang của dân tộc. Và đã đến lúc, chúng ta suy tư sâu sắc về trách nhiệm của mình – tro tàn của kí ức, ngọn lửa của tương lai.

Chúng ta là "tro tàn" không có nghĩa là sự tàn lụi, mà đó là sự kết tinh của một thời. Tro tàn là những tinh hoa còn lại sau một cuộc cháy sáng hết mình của những thế hệ đi trước. Để chúng ta có được cái "ngẩng cao đầu kiêu hãnh" giữa màu xanh hòa bình hôm nay, cha ông ta đã phải cúi đầu trườn qua những dãy Trường Sơn đầy bom đạn, mang theo lòng nhiệt huyết và ý chí kiên cường.

Mỗi chúng ta hôm nay chính là sự tiếp nối của những người đã ngã xuống. Chúng ta sống thay cho họ, là hiện thân và là tương lai của họ. Bởi vậy, cuộc sống này đẹp hơn bao giờ hết bởi chúng ta được kết tinh từ sự ngã xuống của hàng ngàn thế hệ quang vinh. Chúng ta mang trong mình hệ gen của lòng quả cảm, mang trong tâm trí những câu chuyện kể về một thời khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt. Trách nhiệm đầu tiên của "tro tàn" chính là sự thấu cảm và tri ân. Nếu không biết trân trọng những gì đã hóa thành bụi đất để bồi đắp nên hình hài tổ quốc, chúng ta sẽ chỉ là những thực thể vô định, thiếu vắng gốc rễ và bản sắc.

Nếu tro tàn là quá khứ và dĩ vãng, chúng ta phải trở thành ngọn lửa rực cháy để viết tiếp tương lai cho thế hệ mình. Chúng ta không thể chỉ ngồi mãi bên đống tro tàn để hoài niệm; trách nhiệm của chúng ta là phải từ đống tro ấy mà nhen mà nhóm lên ngọn lửa mới. rong thời đại hội nhập, "chiến trường" không còn tiếng súng nhưng lại đầy rẫy những cuộc đua về trí tuệ và công nghệ. Trách nhiệm của mỗi cá nhân là biến hào khí cha ông thành động lực để học tập, sáng tạo, đưa cái tên "Việt Nam" rạng danh trên bản đồ thế giới. Khi tri thức Việt tìm được con đường trên địa đồ nhân loại, ta có nhiều hơn một cơ hội đưa những kí ức hào hùng của dân tộc sang trang. Để rồi, trước anh linh những người đã ngã xuống, ta có thể tự hào, con đã dâng tuổi trẻ mình cho Tổ quốc.

Giữa dòng chảy của văn hóa ngoại lai, việc giữ gìn bản sắc dân tộc, từ tiếng nói, chữ viết đến những giá trị đạo đức truyền thống chính là cách chúng ta giữ cho ngọn lửa thiêng không bị lụi tàn. Càng hòa nhập, càng phát triển, người ta càng dễ đánh mất mình trên biển toàn cầu hóa. Diều đó khiến những người Việt Nam đôi khi bị bơ vơ về bản sắc, bị tha hương về văn hóa. Càng mong lửa cháy, càng phải giữ cho tiếng nói truyền thống bên trong mình không bao giờ tàn.

Trách nhiệm của chúng ta là làm sao để "tro" và "lửa" luôn hòa quyện. Quá khứ tiếp thêm độ dày cho trải nghiệm, còn tương lai mở ra không gian cho những hoài bão. Một dân tộc biết nhìn lại quá khứ bằng lòng biết ơn và nhìn về tương lai bằng sự tự tin là một dân tộc bất diệt.
Thêm
53
0
0
Viết trả lời...
Mùa gió nồm thổi về trên con phố xưa. Mỗi bước đi, một kỉ niệm. Đã lâu lắm rồi, tôi không về bên cha bên mẹ trên con phố cổ đậm tình ấy.

Đó là ngôi nhà cũ kỹ ông tôi để lại. Căn nhà là tất cả cơ ngơi và tâm huyết của ông một đời. Từ ngày bà đi, ông gắng gượng nuôi sáu người con lớn lên thành người chẳng phải dễ. Căn nhà trần cao, tuy đã cũ kỹ nhưng vẫn luôn là ngôi nhà thân thương của tôi năm nào. Tôi nhớ, có những ngày nhà dột ngay trên giường, không ngủ được. Mẹ tôi phải bế tôi trên tay, ru tôi ngủ cho ông với bố chèo chống lại căn nhà. Ông bảo khi nào có tiền, ông xây lại cái nhà, sau cho tôi về ở. Nhưng tôi thấy, ông chẳng xây lại bao giờ, có lẽ là sợ đổ vỡ những kỷ niệm..

Phố cổ xưa nay với tôi đều hiện lên với dáng vẻ của những con người Thủ đô thân thương ấy. Tôi vẫn còn nhớ cái đêm hôm nào, nghe tiếng rao hàng bắp nướng bảng lảng trong đêm, tôi đã nằm thao thức mãi. Tiếng chị giao hàng khàn khàn đục đục, đôi lúc run run mỗi khi gió thoảng qua. Nằm trong chăn ấm, tôi nghĩ đến đôi vai liêu xiêu của chị đang bươn bải cho những đứa con ở nhà. Có một sợi dây nối những con người rất xa nhau lại gần nhau, những con người đi cùng một con đường, ướt chung một cơn mưa.

Gió nồm vẫn thổi, mang theo vị mặn mòi xen lẫn cái hanh hao của phố cũ. Tôi đứng lặng trước cánh cửa gỗ bạc màu, những vết rạn nứt như những nếp nhăn thời gian trên khuôn mặt ông tôi năm nào. Ngôi nhà vẫn vậy, trầm mặc giữa sự ồn ào vội vã của Thủ đô đang chuyển mình thay áo mới. Mùi gỗ cũ, mùi ẩm mốc đặc trưng của những căn nhà cổ, và cả mùi hương trầm thoang thoảng từ bàn thờ ông, tất cả ùa về, ôm lấy tôi như vòng tay ấm áp của mẹ ngày xưa.

Tiếng then cửa lạch cạch khô khốc vang lên, cắt đứt dòng suy tưởng của tôi. Cánh cửa mở ra, để lộ dáng vẻ gầy gò của bố. Thời gian chẳng chừa một ai, mái tóc bố đã bạc trắng, đôi mắt trũng sâu nhưng vẫn ấm áp nhìn tôi:

- Về rồi đấy à con? - Giọng bố khàn khàn, lúc nào cũng thế.



Gia đình tôi, một gia đình truyền thống điển hình của phố cổ, vốn trọng lễ nghi, gia phong. Bố tôi, người con trai cả, thừa hưởng ngôi nhà và cả gánh nặng gìn giữ nếp nhà từ ông. Tối hôm đó, mẹ tôi nấu bữa cơm đoàn viên, bữa cơm mà phải lâu lắm rồi mới có sự góp mặt đầy đủ của các cô chú, những người con mà ông tôi đã vất vả nuôi khôn lớn. Không khí vốn đang ấm cúng, vui vẻ, ngập tràn trong những câu hỏi thân thương thì chú Ba tôi bỗng lên tiếng:

- Anh cả, em nghĩ đến lúc chúng ta phải bàn việc sửa sang lại cái nhà này. Cứ để thế này, mùa mưa dột nát, mùa hè nóng nực, sống sao nổi. Mà anh xem, mảnh đất này bây giờ có giá, bao nhiêu người dạm ngõ mua, hoặc cho thuê, mình xây lên mấy tầng, vừa có chỗ ở khang trang, vừa có đồng ra đồng vào.

Lời chú Ba vừa dứt, không khí bỗng chốc trở nên ngột ngạt. Bố tôi đặt chén rượu xuống bàn, tiếng "cạch" khô khốc vang lên. Ánh mắt ông đanh lại, nhìn chú Ba chằm chằm:

- Sửa? Xây mới? Chú định phá bỏ tất cả tâm huyết cả đời của bố ư? Căn nhà này là nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm của gia đình mình. Chú quên rồi sao?

- Anh Cả, em hiểu ý anh. Chú Ba phân bua. Nhưng kỷ niệm thì để trong tim, còn mình phải tập trung vào cuộc sống của mình chứ. Căn nhà này đã quá cũ kỹ, xập xệ rồi. Mình cứ bám lấy nó mãi, liệu ông có vui không khi thấy con cháu sống khổ sở không?

- Chú nghĩ thế nào thì nghĩ. Bảo sửa nhà mà coi được. Căn nhà tâm huyết của bố để lại thế này…

Tôi ngồi lặng lẽ, lắng nghe những thanh âm quen thuộc, những tiếng cãi vã, những lời trách móc của mọi người. Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhận ra rằng, xung đột trong chuyện này không chỉ là chuyện sửa nhà, mà là sự va chạm giữa hai quan niệm sống, giữa truyền thống và hiện đại, giữa những giá trị cũ và mới. Và chúng tôi, những đứa trẻ lớn lên trong sự truyền thống này, thấy sợ cảnh mất mát quá đỗi. Sợ rằng khi ông bà mất, căn nhà thêm trống trải, và những câu chuyện trong bữa cơm chỉ còn là chuyện sửa nhà, bán đất.
Thêm
63
0
0
Viết trả lời...
Thơ ca là một thế giới nghệ thuật mà không thể nào lí giải, bởi nó được đặt trong tương quan của quá nhiều các quan điểm nghệ thuật. Mỗi nhà phê bình có một cách nhìn nhận, đánh giá và cảm nhận theo góc nhìn riêng. Mỗi cách phê bình đều cho thấy được một góc độ riêng về thơ ca. thế nhưng, đôi khi người ta lại phải trăn trở về giá trị và phẩm giá đích thực của thơ ca, khi mà nó đang bị thiêng liêng hóa. Thơ ca đã và đang bị đồng hóa với tôn giáo, với một thứ tôn chỉ cần được tôn thờ. Các nhà thơ xuất hiện như một vị thần tạo ra thế giới thiêng, đem đến khả năng đưa con người thoát khỏi buồn thương và thống khổ trên đời. Tôi cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần giải thiêng cho thơ ca.

Từ "ngôi đền thiêng", đã đến lúc thơ trở về với bản thể đời thường, hồn nhiên nhất của nó. Trong tâm thức của nhiều thế hệ, thơ ca luôn được đặt trên một bệ thờ trang trọng. Người ta coi thơ là "nghi lễ" của ngôn từ, có vạn năng để thay đổi cuộc sống, còn thi sĩ là những vị tư tế tạo ra một thế giới huyền hoặc. Người ta coi “thơ là một tôn giáo không kỳ vọng” (Jean Cocteau), là “thần hứng” (Platon). Tuy nhiên, khi thơ ca bị đẩy lên mức độ "tôn giáo hóa", nó vô tình tạo ra một khoảng cách dặm trường với cuộc sống vốn dĩ là rất nhiều thống khổ. Đã đến lúc chúng ta cần thực hiện một cuộc "giải thiêng" - không phải để hạ thấp giá trị của thơ, mà để đưa thơ trở về đúng với phẩm giá đích thực của nó: một hình thái nghệ thuật vị nhân sinh.

Khi thơ bị thiêng liêng hóa, nó đẩy cao lên hình tượng người nghệ sĩ vạn năng có khả năng thay đổi thế giới. Nhà thơ khi ấy như một vị thượng đế trên những tác phẩm nghệ thuật của mình, nắm cả “tạo hóa nằm trong tay anh” (Hữu Thỉnh). Khi đó, vị trí của người đọc trở nên bị nhòe mờ, vô tác dụng, mang thế bị động trong việc tiếp nhận thơ. Có lẽ, chính sự sùng bái này đã khiến thơ trở nên xa lạ. Độc giả tiếp cận thơ với tâm thế của một tín đồ chiêm bái hơn là một người tìm kiếm sự đồng điệu. Khi ấy, giá trị của thơ dần xa lạ với những tiếng thét khổ đau phát ra từ cuộc sống lầm than kia.

Nỗ lực “giải thiêng” là nỗ lực cởi bỏ lớp áo choàng hư ảo để nhìn thẳng vào bản chất của sáng tạo. Giải thiêng giúp thơ trở về đúng với nguyên bản của nó, không cần nói về những điều vĩ mô, xa lạ. Thơ cần có mặt ở nơi có giọt nước mắt, có nụ cười, có những bữa cơm thân thuộc. Đó là khi thơ ca thực sự cất tiếng thay cho hồn người và cả một thế hệ. Khi thơ ca không còn là ngôi đền chân lý, người nghệ sĩ được tự do sáng tạo theo phong cách riêng của mình. Họ không phải hóa thân thành ai khác, chỉ cần là chính họ, một người bộ hành cô độc, một kẻ suy tư đầy khiếm khuyết.

Khi huyền thoại về sự thần thánh mất đi, thơ ca không hề nghèo nàn đi mà trái lại, nó trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Phẩm giá của thơ không nằm ở việc nó có thể đưa con người "thoát ly" thế giới, mà ở việc nó giúp con người "thấu hiểu" và "chấp nhận" thế giới này một cách sâu sắc hơn. Thơ ca, sau cùng, là một hình thái ngôn ngữ đặc biệt để diễn tả những rung động tinh vi nhất của tâm hồn. Việc "hóa giải huyền thoại" cho thơ ca là một tất yếu của tiến trình phát triển nghệ thuật. Khi cánh cửa ngôi đền thiêng mở ra, thơ sẽ ùa ra phố thị, len lỏi vào từng ngõ ngách của tâm hồn con người. Thơ ca vẫn sẽ đẹp, nhưng đó là vẻ đẹp của sự chân thực, của sự thấu thị thế giới bằng cảm quan nghệ thuật. Nếu thơ mãi mãi ngồi trên bệ thờ, nó sẽ xa lạ với những con người “bị cái ác dồn đến chân tường”, sống nhẫn nhục, vô minh, vô đạo lắm.
Thêm
58
0
0
Viết trả lời...
" Nó khóc gắt mẹ, không chịu ti mẹ rồi."
" Mẹ nó bế mà khóc như con gì cắn."
" Suốt ngày bắt nó ngủ ru rú trong phòng."
Đó là một trong số những câu nói "thẳng mà thật" mà mình được nghe vào dịp Tết rồi khi hai mẹ con về ở cùng nhà nội.
Hành trình làm mẹ chưa bao giờ là dễ dàng, mà còn khó khăn hơn với mình khi bao nhiêu ánh mắt và lời nói đổ dồn vào việc chăm sóc thằng "cháu cưng" của cả nhà.
Tết đến, hai mẹ con phải đi ăn cỗ từ nhà này đến nhà khác, từ buổi sáng đến buổi trưa. Em chẳng được ngủ, mà mẹ cũng chẳng được ôm bé nhiều. Vì ai cũng yêu thương em nên cứ bồng bế chơi cùng, em thức lâu quá, và em khóc gắt ngủ thì trả cho mẹ... mẹ bế ru lại càng khó vì bé ngửi mùi sữa, vừa đói vừa buồn ngủ nên càng khóc to hơn phải nhờ bà bế ru ngủ. Rồi bằng cách tự nhiên nhất, những câu nói cay đắng ấy ập đến với mình - người cũng chỉ mới lần đầu làm mẹ, từ những người cô, người dì thân thương ấy.
Để làm mẹ, mình đã đọc sách và học hỏi thật nhiều từ những người đi trước, rảnh ra còn trò chuyện cùng con chat gpt để hỏi về những vấn đề của bé. Mình đã học nhiều thứ để sẵn làm mẹ, nhưng lại quên học cách đối diện với thị phi. Để đến khi gặp phải, mình đi vào vũng lầy, rồi cố vùng vẫy tìm cách thoát ra nhưng lại càng lún sâu vào đấy. Người ta nói xong thì quên, chẳng ảnh hưởng gì đến họ. Người nghe hữu ý, nhớ mãi chẳng phai...
Ai cũng đã từng làm mẹ, tại sao có thể lại nói người phụ nữ khác như thế được nhỉ? Mình vừa nghĩ vừa khóc. Những áp lực vô hình, những lời nói vô tình làm sụp đổ tinh thần của người mẹ sau sinh. Sự nhạy cảm được được phóng đại lên không biết bao nhiêu lần. Nối dài sau đó là những đêm mất ngủ, là những buổi cơm một mình chan cùng nước mắt, là những lần nhìn con trộm khóc. Mình đã tệ nhiều đến mức mất sữa, bỏ tất cả để về nhà ngoại vì không chịu được nhưng rồi cũng phải quay lại, vì con và những trách nhiệm. Khi người lớn ích kỉ, người tội nhất là đứa bé mới sinh còn chưa kịp hiểu điều gì.
Làm mẹ thật khó, nuôi con vất vả. Giá mà mẹ được thông cảm và thấu hiểu, được san sẻ và yêu thương thì hành trình ấy sẽ nhẹ nhàng hơn biết bao nhiêu...IMG_2960.webp
Thêm
102
0
0
Viết trả lời...