Mạng xã hội Văn học trẻ

[CHUYÊN MỤC: CHUYÊN VĂN VÀ HƠN THẾ NỮA]

NGÔI NHÀ NGHỊ LUẬN - TỪ DÀN Ý ĐẾN NGHỆ THUẬT LẬP LUẬN

Trong quá trình rèn luyện học sinh giỏi Văn, việc hình thành dàn ý không chỉ là thao tác kỹ thuật mà còn là một hoạt động tư duy sáng tạo. Nếu coi dàn ý như một bảng gạch đầu dòng khô khan, học sinh sẽ dễ thấy nặng nề. Nhưng nếu hình dung nó như việc kiến tạo một ngôi nhà, các em sẽ tiếp cận bài viết bằng tâm thế hứng thú, vừa khoa học vừa nghệ thuật.

Một ngôi nhà hoàn chỉnh có nền móng, khung sườn, phòng ốc, nội thất, mái che và cửa thoát hiểm. Cấu trúc ấy chính là hình ảnh trực quan để các em hình dung về một bài văn nghị luận chặt chẽ.

1. Nền móng: khởi đầu cho sức bền

Nền móng chính là bước đọc – hiểu đề. Học sinh cần nắm rõ yêu cầu, xác định vấn đề trọng tâm, từ đó rút ra luận điểm chính làm trục tư tưởng nâng đỡ toàn bộ bài viết. Đồng thời, nền móng phải được củng cố bằng cơ sở lí luận: tại sao vấn đề đó đáng bàn, có ý nghĩa gì với đời sống.

2. Khung nhà, bức tường: hệ thống luận điểm

Khung sườn tương ứng với các luận điểm lớn. Chúng phải đủ vững để chống đỡ toàn bộ lập luận. Mỗi luận điểm là một “trụ cột”, liên kết chặt chẽ, tránh đứt gãy. Nếu khung xiêu vẹo, bài văn sẽ rời rạc, thiếu logic.

3. Phòng ốc: luận cứ triển khai

Một ngôi nhà chỉ khung mà không có phòng thì không thể sử dụng. Tương tự, luận điểm chỉ có giá trị khi được triển khai bằng luận cứ. Mỗi phòng chính là một đoạn văn, làm sáng tỏ cho một khía cạnh của vấn đề. Bố cục hợp lý giúp toàn bộ lập luận trở nên rõ ràng và dễ tiếp nhận.

4. Trang trí nội thất: giọng văn và cá tính

Ngôi nhà sẽ trống rỗng nếu thiếu nội thất. Trong văn nghị luận, đó là giọng văn, phong cách diễn đạt và khả năng sáng tạo ngôn từ. Chính điều này tạo nên cá tính riêng của người viết, giúp bài văn không chỉ đúng mà còn đẹp, không chỉ thuyết phục mà còn có sức cuốn hút.

5. Mái nhà: kết thúc và mở ra

Mái nhà giúp toàn bộ công trình trở nên hoàn chỉnh. Trong nghị luận, kết bài không chỉ dừng lại ở việc tổng kết mà còn có chức năng nâng cao và mở rộng, gợi cho người đọc một tầm nhìn rộng hơn về vấn đề.

6. Cửa thoát hiểm: tư duy phản biện

Một ngôi nhà hiện đại không thể thiếu cửa thoát hiểm. Bài văn nghị luận cũng vậy: cần một lối ra bằng khả năng phản biện. Nhìn nhận ý kiến trái chiều giúp người viết thể hiện sự tỉnh táo, khoa học, tránh áp đặt, đồng thời làm cho bài viết có sức thuyết phục hơn.

✅Kết luận
“Ngôi nhà nghị luận” không chỉ là một hình ảnh gợi mở mà còn là một phương pháp dạy – học hiệu quả. Khi được dẫn dắt theo mô hình này, học sinh không chỉ học cách viết đúng, viết đủ, mà còn biết viết hay, viết có phong cách. Mỗi bài văn nghị luận vì thế trở thành một công trình trí tuệ, có nền móng, có cấu trúc, có hồn và có bản lĩnh.
Thêm
146
0
0
Viết trả lời...
VĂN HỌC TRÊN HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ CÁI ĐẸP
________________________________________
Khi tôi đi làm về vào một chiều lất phất mưa, bước vào căn phòng chưa thắp đèn, nhìn thấy chút nắng cuối ngày xuyên làn mưa hắt qua khung cửa sổ, chiếu xuyên ly nước thủy tinh uống dở còn để trên bàn, tôi tìm được cái đẹp trong ánh sáng ướt át mong manh đó
________________________________________
Văn học là một trong nhiều phương tiện giúp con người vươn mình đến nhiều chiều kích tồn tại, mở rộng biên độ xúc cảm để sống trong thế giới tinh thần phong phú, sáng tạo. Trên hành trình đó, văn học đã đồng hành cùng con người trong sự khám phá cái đẹp, nâng cao nhận thức và tôi luyện sự nhạy cảm của những trái tim trước vẻ đẹp cuộc sống
________________________________________

1. Cái đẹp nơi chúng ta sống và cái đẹp sống trong chúng ta

Một buổi sớm khi những màn sương chưa vội tan, những vệt nắng ấm áp khẽ khàng chiếu xuyên qua khóm hoa dại bên đường rồi xuyên thẳng xuống mặt đất. Trong giây phút mơ màng đó, tôi nhận ra cái đẹp bình dị của một buổi sớm mai, một buổi sớm như bao buổi thường có mỗi ngày. Hình như, cái đẹp hiện diện khắp nơi trong thế giới sống của chúng ta. Từ nơi đồng quê gió lộng đến chốn thị thành lao xao, từ nơi cao nguyên nắng gió đến những bãi vàng e ấp sóng vỗ bờ,… cái đẹp hiện diện với đa dạng sắc thái khác nhau. Đó là cái đẹp tự nhiên, cái đẹp xã hội, cái đẹp của bản thân con người và cả cái đẹp của thế giới nghệ thuật. Chỉ cần một cái ôm ấm áp giữa sân ga, một ánh mắt lấp lánh nơi phố vắng… đủ để con người cảm thấy bản thân sống trong cái đẹp và cái đẹp sống trong chính cuộc sống con người.

2. Văn học như phương tiện giúp con người nhạy cảm với cái đẹp

Dù cái đẹp hiện diện bên cuộc sống con người nhưng đôi khi vì những lo toan cuộc sống, những tất bật của cuộc mưu sinh khiến con người quên lãng những vẻ đẹp xung quanh. Vì thế, để tận hưởng cái đẹp; trước hết con người cần phải tìm cách khám phá ra nó. Và văn học nghệ thuật chính là một trong nhiều dấu chỉ để con người khám phá cái đẹp.

Trong văn học, nhà văn thực hiện công việc dẫn lỗi người đọc vào thế giới của cái đẹp như công việc của một hướng dẫn viên. Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn học là sự tái hiện và tái tạo cái đẹp của cuộc sống. Đắm chìm trong đó là đắm say trong thế giới của cái đẹp. Nhà văn đôi khi đồng hành cùng người đọc trên hành trình đó nhưung cũng có khi ẩn mình đi, trao truyền cho bạn đọc quyền năng khám phá và sáng tạo thế giới cái đẹp thông qua chính sáng tác của mình. Đọc tiểu thuyết của các nhà văn Xô Viết vĩ đại, người đọc khám phá ra cái đẹp hiện diện trong phẩm chất anh hùng của một dân tộc ngoan cường. Đọc truyện ngắn Pautopsky, người đọc khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người xứ sở Bạch Dương lãng mạn, hào hoa và giàu chất nhân văn. Đọc tác phẩm văn học là hành trình tìm về những vẻ đẹp cuộc sống được lưu giữ thông qua những xúc động của ngôn từ. Đó là hành trình nhân văn bởi không chỉ hiển lộ những vẻ đẹp của cảnh mà còn là của lịch sử nhân loại qua những thăng trầm lịch sử.

3. Tái hiện và tái tạo, lưu giữ và kiến thiết cái đẹp thông qua văn học

Để đưa cái đẹp của đời sống vào tác phẩm văn học, nhà văn trước hết phải nhạy cảm trong công cuộc khám phá cái đẹp. Kim Lân tìm thấy cái đẹp nơi giọt nước mắt quý giá của người mẹ nghèo thương con trong truyện ngắn Vợ Nhặt. Thạch Lam trân quý vẻ đẹp của bản chất lương thiện trong sáng của hai chị em Sơn trong trước cái se sắt của Gió lạnh đầu mùa. Tô Hoài đã tìm thấy cái đẹp nơi khát vọng sống mãnh liệt của người phụ nữ vùng cao trong giây phút quyết liệt vùng lên chạy trốn khỏi bạo tàn trong Vợ chồng A Phủ. Mỗi trái tim nhà văn là một sự khám phá cái đẹp, là sự phát hiện vẻ đẹp lấp lánh nơi những bụi mờ cuộc sống đã khuất lấp đi.

Tuy nhiên, cái đẹp trong cuộc sống không phải chỉ là cái đẹp của sự tái hiện mà còn là tính thẩm mỹ của cái đẹp được tái tạo trong tác phẩm. Từ cái đẹp của đời sống, nhà văn xây nên những hình tượng nghệ thuật, làm nên cái đẹp của những tác phẩm văn học nghệ thuật. Nhà văn, nhà thơ trong lao động nghệ thuật là sự thăng hoa của khối óc, giác quan và trái tim. Vì lẽ đó, nó tạo điều kiện cho nhưng hư cấu nghệ thuật, cho khát vọng thẩm mỹ của nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật.

Thông qua sự kiến tạo cái đẹp trong tác phẩm văn học, nhà văn có thể phục dựng lại những cái đẹp đã mất trước những bước đi của thời gian. Lúc này, văn học trở thành chất keo gắn kết, phục dựng lại những hài hoà đã mất giữa con người và tự nhiên, con người và xã hội.

Ngày nay, vẫn còn đó trên thế giới những cuộc chiến tranh phi ngã, vẫn còn đó những giọt nước mắt mẹ mất con, vợ xa chồng; vẫn còn đó những ánh mắt lấp lánh mong muốn ngày hoà bình; vẫn còn đó những nỗi đau mà thiên tại, địch hoạ để lại,… Trước những cuộc khủng hoảng như thế, văn học và hành trình tìm kiếm cái đẹp có thể làm gì để kích thích và giáo dục con người hướng đến phục dựng những gì đã mất? Câu hỏi đó bao giờ chưa được trả lời rốt ráo, bấy giờ văn học và cái đẹp vẫn tiếp tục phát huy giá trị của mình….
___________________________________
Thêm
124
0
0
Viết trả lời...
"Sau bao nhiêu năm mới có ngày hòa bình
Dù hòa bình ấy cũng đã lấy đi bao máu xương dân mình..."

IMG_1887.jpeg


Những năm tháng khói lửa chiến tranh khốc liệt ấy đã có hàng triệu, hàng triệu thanh niên xung phong khắp ba miền tổ quốc xung phong "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh". Họ có thể là một người nông dân đến từ vùng quê nghèo "đất cày nên sỏi đá" như anh Tạ. Là những chàng thanh niên Hà thành "gác bút nghiêng theo việc đao cung" như Cường, Tấn... Và có cả những người lính còn rất trẻ như Tú - những con người không tiếc tuổi xuân xanh của mình, sẵn sàng khai gian tên tuổi để thực hiện lý tưởng độc lập non sông....

Mùa hè năm ấy hi sinh nhiều lắm, toàn là lính trẻ...

Một chuyến tàu lăn bánh là mang theo bao khát vọng hòa bình, tự do, mang theo những lý tưởng cao đẹp của biết bao con người nơi chiến trường khói lửa và cả những con người thầm lặng nơi hậu phương.

Thành cổ đã giữ được, đất nước đã trọn vẹn niềm vui thống nhất, hòa bình. Thế mà giờ đây... Có những tình yêu mãi mãi chia ly như mối tình vừa chớm nở đã vội lụy tàn của Cường và Hồng; như tình yêu của hai con người cùng lý tưởng nơi Xuân Dục, Đoài Đông...

"Mới tới đầu ao, tin sét đánh
Giặt giết em rồi, dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
Em sống trung thành, chết thuỷ chung!

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông, bờ có, con đường quen.
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn đôi mà anh mất em!"

Những lời hứa hẹn “ngày hòa bình anh sẽ về”, “mẹ ơi, hãy đợi con trở lại…” Thế nhưng, chiến tranh qua đi, còn mấy người giữ trọn lời hứa ấy? Có những lời hẹn vĩnh viễn hóa thành gió bụi, bỏ lại phía sau những mái nhà chờ mỏi mắt, những trái tim rỉ máu, đau xót trong vô vọng

Mùa hè ấy, bao người ra đi với niềm tin giản dị: hòa bình rồi sẽ đến, và họ sẽ trở về tiếp tục cuộc sống thường ngày – làm ruộng, dạy học, xây cầu, hay đơn giản là chăm sóc cha mẹ già nơi làng quê. Thế nhưng, có những người đã trở về trong di ảnh, trên tấm bia khắc tên giữa nghĩa trang liệt sĩ lộng gió.

Hòa bình hôm nay là sự hiện hữu từ những mất mát không sao đong đếm. Là tiếng cười trẻ thơ trong buổi sáng yên bình, là nhịp sống phố phường không còn nặng nề bởi tiếng bom rơi đạn nổ. Nhưng sâu trong lòng đất, nơi mạch ngầm ký ức vẫn chảy, là bao điều còn bỏ ngỏ: những lời hứa không kịp thực hiện, những giấc mơ tuổi trẻ vĩnh viễn bị chôn vùi trong làn mưa đạn.

Thêm
  • Like
Reactions: Thích Văn Học
274
1
2
Xem xong Mưa đỏ, thật sự mình ngồi lặng đi rất lâu. Bộ phim không chỉ tái hiện một trận đánh khốc liệt, mà còn đưa người trẻ như mình bước vào thế giới đầy máu lửa của cha ông, để cảm nhận rõ hơn cái giá của hòa bình hôm nay.


Những thước phim chiến trường rực lửa, những khuôn mặt lấm lem bùn đất, những đôi mắt sáng rực niềm tin của những người lính trẻ… tất cả như còn vang vọng đâu đây. Họ – những chàng trai đôi mươi, tuổi đời còn quá trẻ – đã bỏ lại sau lưng mái nhà, mẹ cha, người thương để cầm súng ra trận. Có người chưa kịp một lần nắm tay người mình yêu, chưa kịp thực hiện giấc mơ bình dị là cấy cày trên mảnh ruộng quê hương… nhưng đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Càng nghĩ, mình càng thấy vừa tự hào vừa nghẹn ngào.


Mưa đỏ không hề lý tưởng hóa hay lãng mạn hóa chiến tranh. Bộ phim đi vào những chi tiết chân thực, đau xót: cái chết bất ngờ, những thân xác ngã xuống, những tiếng gọi đồng đội giữa bom đạn… Nhưng giữa khung cảnh khốc liệt ấy, tình đồng chí, đồng đội lại hiện lên chan chứa, nâng đỡ con người đi qua ranh giới sống chết. Chính điều đó khiến mình – một người trẻ sinh ra trong hòa bình – càng trân trọng hơn giá trị của hai chữ “hòa bình” hôm nay.


Ngồi trong rạp, nhiều khoảnh khắc mình thấy cay mắt khi nghĩ: thế hệ chúng ta hôm nay có quá nhiều điều kiện hơn cha anh. Chúng ta có mạng xã hội để kết nối, có tự do để chọn nghề, chọn nơi đi học, chọn ước mơ để theo đuổi. Nhưng tất cả những điều tưởng như hiển nhiên ấy đều được đánh đổi bằng máu, bằng sự hi sinh thầm lặng của hàng triệu người. Mưa đỏ nhắc mình rằng hòa bình không bao giờ là điều tự nhiên có sẵn, mà là món quà vô giá được giữ gìn bằng máu và nước mắt.


Với tư cách một người trẻ, mình cảm thấy trách nhiệm của thế hệ hôm nay không chỉ là biết ơn, mà còn phải sống sao cho xứng đáng. Sống có trách nhiệm với bản thân, với gia đình, với cộng đồng. Biết yêu thương, biết sẻ chia, biết trân trọng những điều giản dị của cuộc đời. Có lẽ, đó cũng là cách chúng ta “nối dài” tinh thần của thế hệ cha anh, trong một thời đại mới không còn tiếng súng, nhưng vẫn đầy thử thách.


Mưa đỏ cũng làm mình nghĩ nhiều đến sức mạnh của nghệ thuật trong việc khơi dậy tình yêu nước và ý thức lịch sử. Không chỉ là những trang sách hay những giờ học trên lớp, mà bằng ngôn ngữ điện ảnh, câu chuyện của quá khứ có thể chạm tới trái tim người trẻ nhanh hơn, sâu hơn. Khi những giọt nước mắt rơi cùng nhân vật, khi trái tim mình đập thình thịch theo từng cảnh bom rơi đạn nổ, thì lịch sử không còn xa lạ, khô khan nữa – nó sống động, gần gũi và thôi thúc chúng ta tự hỏi: “Mình có thể làm gì cho đất nước hôm nay?”


Có lẽ, cảm xúc lớn nhất mình mang theo sau bộ phim là niềm biết ơn và tự hào. Biết ơn những người đã ngã xuống, biết ơn những người đã sống sót để kể lại câu chuyện, và tự hào vì mình là con cháu của một dân tộc kiên cường đến thế.


Nếu một ngày nào đó, có bạn trẻ nào hỏi “Yêu nước là gì?”, mình nghĩ, chỉ cần dẫn họ đi xem Mưa đỏ, để trái tim họ tự trả lời.

st
 
Viết trả lời...
TÁC PHẨM :"Vết Xước " phần 1+2



PHẦN I: GỐC RỄ TỔN THƯƠNG – BÓNG TỐI ĐẦU ĐỜI

Mỗi người đều có những tổn thương của riêng mình. Mỗi hoàn cảnh, mỗi biến cố đi qua đều để lại trong tâm hồn ta những vết xước – có cái mờ nhạt theo thời gian, có cái âm ỉ chẳng thể lành. Tôi cũng vậy. Và hôm nay, khi ngồi đây viết ra những dòng tâm sự này, tôi coi đó là cơ hội để giãi bày nỗi lòng – một cách để tôi đối diện với chính mình, học cách chấp nhận thực tại và buông bỏ quá khứ đầy tổn thương. Bởi chỉ khi dám buông, ta mới có thể bước tiếp những chặng đường mới – nơi có hi vọng, có ánh sáng.

Nhưng những vết xước trong tôi – không đơn thuần chỉ là những nỗi đau thoáng qua. Chúng là thứ đã ăn sâu vào máu thịt, vào cả cái cách tôi nhìn cuộc đời và nhìn chính mình. Tôi từng sống như thể mình là một cái bóng thừa thãi, một nhánh cây dại mọc sau bờ rào, không ai vun trồng, không ai mong đợi. Tôi đi học thường ngồi lặng lẽ ở góc lớp, chưa từng dám giơ tay phát biểu – không phải vì tôi không biết, mà vì tôi sợ. Sợ bị cười, sợ ánh mắt ái ngại, sợ cả tiếng thì thầm mà tôi biết chắc đang nhắm đến mình. Tôi dần học cách thu mình lại, như một vết thương tự khâu kín miệng để khỏi bị tổn thương thêm lần nữa.

Vết xước lớn nhất có lẽ không phải cả những trận đòn hay cơn sốt triền miên thời thơ ấu. Vết xước lớn nhất – là khi bạn bắt đầu tin rằng: mình không xứng đáng để được yêu thương.Và khi bạn tin điều đó đủ lâu, bạn sẽ không còn dám đón nhận bất kỳ tình cảm nào nữa. Dù có người đưa tay ra, bạn cũng tự động lùi lại. Dù có ai đó nói yêu bạn, bạn cũng nghĩ: chắc họ nhầm rồi. Tất cả như một phản xạ – một cơ chế tự vệ méo mó mà tôi phải sống cùng trong suốt những năm tháng tuổi thơ.

Tôi sinh ra trong một gia đình không được may mắn như bao người khác. Người ta vẫn kể, bố tôi từng là một chàng trai khiến cả làng ngưỡng mộ – đẹp trai, thông minh, khéo léo, vẽ đẹp, hát hay, lại chăm chỉ và khỏe mạnh. Nhưng tất cả những điều đó, tôi chỉ được nghe kể lại. Khi tôi đủ lớn để nhận thức, bố đã không còn là người mà họ nhắc đến trong quá khứ nữa. Điều khiến tôi ám ảnh hơn cả không phải là hình ảnh của một người cha tài hoa ngày xưa, mà là câu chuyện đã làm thay đổi cuộc đời ông – và cũng là điều âm thầm khắc lên tuổi thơ tôi một vết sẹo chẳng thể lành.

Người ta vẫn bảo, tài năng thường đi kèm bất trắc. Có lẽ đúng…hoặc cũng có lẽ là cách người ta an ủi cho những số phận lỡ làng.Bố tôi – một chàng trai nổi bật. Không phải kiểu đẹp trai khiến người ta ngoái nhìn, mà là thứ hào quang khó gọi tên , pha chút thông minh, chút ngang tàng, và cả một nụ cười nửa như kiêu bạc, nửa như thách thức cuộc đời. Ông sống như thể luôn bước trên một sợi dây mỏng giữa tài năng và nổi loạn – hấp dẫn, nhưng cũng dễ gãy đổ.

Có người bảo ông “có số làm nên chuyện”. Người khác thì bảo: “Thằng đó sớm muộn cũng dính tai ương vì cái tính ngông cuồng.” Mỗi lời đều có phần đúng. Bố tôi mang trong mình một nội lực âm ỉ – như ngọn lửa luôn sẵn sàng bùng lên dữ dội, nếu gặp đúng cơn gió. Tiếc là, cơn gió năm ấy lại là một trận say….Bố tôi – trong một khoảnh khắc mất kiểm soát đã có hành vi thiếu chừng mực với một cô gái trong làng, người thuộc về một gia đình “có quyền, có tiếng”.Gia đình cô gái ấy không dễ dàng để yên. Cơn giận dữ từ những người quyền thế được trút xuống bằng những cú đánh dữ dội và tàn nhẫn – như thể muốn xóa sổ một con người chỉ trong một trận đòn. Bố tôi, khi ấy còn rất trẻ, không chống đỡ nổi cơn cuồng nộ ấy – cả về thể xác lẫn tinh thần.Không ai biết rõ chuyện đúng sai ra sao. Người lớn trong nhà không kể hết, còn tôi,sau này chỉ biết loáng thoáng qua những lời kể thì thầm nửa thực nửa hư. Có thể đó là một sự hiểu lầm, cũng có thể là sai lầm tuổi trẻ, hoặc là một điều không ai còn muốn nhắc lại. Nhưng dù sự thật là gì, bố tôi vẫn phải gánh chịu một hậu quả quá nặng nề.Sau biến cố ấy, bố tôi không còn là chính mình nữa. Tôi không rõ là vì những trận đòn tàn nhẫn đã khiến ông tổn thương thần kinh, hay vì nỗi nhục thấu trời cùng sự mặc cảm ghê gớm đã đánh gục tinh thần một người đàn ông từng kiêu hãnh. Có lẽ là cả hai.

Tôi chỉ nhớ qua những lời truyền miệng vô căn cứ, chắp vá từ những câu rì rầm không đầu không cuối – thứ ký ức mơ hồ mà tôi nhặt nhạnh được từ lúc bắt đầu biết nhận thức.Lúc ấy,thay vì trở về nhà dưỡng thương, bố tôi đã chọn rời đi – lặng lẽ trốn tránh tất cả. Ông ở nhờ nhà một người bạn, sống trong im lặng và bóng tối. Không ai đến tìm. Không ai hỏi han. Không một ai bận tâm ông đang sống – hay đang dần tàn lụi.

Trong quãng thời gian dài ấy, ông vừa gánh chịu cơn đau thể xác, vừa đối mặt với sự lạnh lẽo tuyệt đối của một thế giới không còn chỗ dành cho mình. Có lẽ chính sự cô độc ấy – âm ỉ như vết thương không bao giờ lành – đã khiến ông nghĩ quẩn… và đánh mất thần trí từ lúc nào, chẳng một ai hay biết.

Ngày ông trở về, đã không còn là người đàn ông năm xưa nữa. Mà là một bóng dáng nhợt nhạt, khép nép, câm lặng. Một kẻ thi thoảng bật cười vu vơ, vô hồn, như đang sống trong một thế giới nào khác – nơi mà không ai có thể bước vào,bố tôi không còn là người đàn ông rạng rỡ trong những lời kể nữa. Ông trở thành một cái bóng – lặng lẽ sống trong căn nhà cũ, không nói, không giận dữ, cũng chẳng còn khao khát.Người ta gọi ông là “bệnh”, là “thần kinh”, dù chẳng ai thật sự biết: điều gì đã gãy gập trong tâm trí của một con người từng rực rỡ.Còn tôi – lớn lên dưới cái bóng ấy – chưa từng biết đến một “người cha” đúng nghĩa.Sinh ra sau biến cố ấy cả chục năm trời,trong ký ức của tôi, bố chưa từng là một người đàn ông rực rỡ như lời người ta kể. Những hình ảnh về một chàng trai thông minh, sắc sảo, ngang tàng – tôi chỉ được nghe qua những mẩu chuyện truyền miệng rời rạc. Mà kỳ lạ thay… tất cả những điều đó, tôi chưa từng nhìn thấy nơi ông – dù chỉ một thoáng.

Trong mắt tôi, bố luôn là một bóng người im lìm, nhợt nhạt. Một dáng ngồi câm lặng nơi hiên nhà, ánh mắt thất thần nhìn vào khoảng không, thi thoảng bật ra một tiếng cười vu vơ đến rợn người.Tôi lớn lên cùng sự im lặng ấy – thứ im lặng không có nổi một lời khuyên răn, một vòng tay ấm, một cái nhìn quan tâm. Ông hiện diện, nhưng như một cái bóng – có hình mà không có hồn, có thở nhưng chẳng sống.Tôi chưa từng được ông dạy điều gì. Chưa từng thấy ông nổi giận. Cũng chưa từng cảm nhận được thứ tình cảm mơ hồ mang tên “tình cha”.

Người ta vẫn bảo bố tôi từng là niềm tự hào của cả dòng họ. Rằng ngày xưa ông thông minh, tháo vát, ăn nói đâu ra đấy. Nhưng tất cả những điều ấy – với tôi – chỉ như một huyền thoại xa xôi, chẳng khác gì một câu chuyện cổ tích được thêu dệt để khỏa lấp thực tại khuyết thiếu và bẽ bàng.Tôi đã từng tự hỏi: người đàn ông trong những lời kể ngày xưa – liệu có thật không? Hay tất cả chỉ là một câu chuyện cũ, mà ai đó bịa ra để an ủi cho một thực tại quá đỗi đau lòng?

Lẽ ra dù đó là thực hay hư,tôi cũng có thể mặc kệ,thản nhiên mà sống.Nhưng không,điều khiến tôi đau lòng nhất – là khi dần nhận ra: cuộc đời của bố, với tất cả những tổn thương và vết nhơ năm ấy, đã trở thành một cái bóng âm thầm đè nặng lên chính cuộc đời tôi.Người ta không nhìn tôi như một đứa trẻ bình thường – mà là “con của người đàn ông ấy”.Tôi lớn lên trong ánh mắt e dè của người lớn, trong lời xì xào của họ hàng, và trong khoảng cách lặng lẽ mà bạn bè cùng trang lứa dựng lên quanh mình.Có lẽ, từ rất sớm, tôi đã biết thế nào là cảm giác bị bỏ lại phía sau – không phải vì tôi làm điều gì sai… mà chỉ vì tôi đã sinh ra trong một gia đình như thế.

Khó tin nhỉ – một người đàn ông đã đánh mất cả quá khứ lẫn chính mình, sống lặng câm giữa bóng tối của những năm tháng dở dang – lại có thể một ngày nào đó... được một người phụ nữ bước vào đời. Một người vẫn còn nguyên vẹn giấc mơ làm vợ, làm mẹ. Nhưng duyên số, đôi khi trớ trêu như thế – chẳng cần lý do, chẳng màng logic. Nó cứ thế đưa người ta đến với nhau, giữa vô vàn ngã rẽ khác.. Mẹ tôi bước vào cuộc đời bố – nhẹ nhàng như một làn gió, nhưng đủ sâu để in dấu cả một kiếp người.Mẹ không xinh đẹp. Nhỏ nhắn, gầy guộc, dáng người lẫn vào đám đông chẳng ai ngoái nhìn. Nhưng ông nội tôi ,sau vài lần trò chuyện đã nhìn ra ở mẹ một vẻ đẹp khác: sự dịu dàng, nhẫn nại, tháo vát và thông minh-những phẩm chất không lấp lánh như nhan sắc, nhưng đủ bền để nâng đỡ một gia đình.Ông ngỏ ý muốn cưới mẹ tôi về làm dâu trong nhà.

Nhưng phía ngoại phản đối. Người ta khuyên mẹ tôi đừng bước chân vào một cuộc đời không lành. Bố tôi – một người đàn ông mang bệnh với quá khứ nhơ nhuốc– không phải là chốn bình yên cho một người con gái ngoan hiền như mẹ.Có người thương mẹ, bảo rằng bà xứng đáng có một mái ấm đủ đầy, bên người chồng mạnh mẽ, tử tế. Nhưng cũng có người nói: mẹ tôi là người có phúc, vì dù bệnh tật, bố tôi vẫn là người hiền lành, chăm chỉ, chưa từng làm điều gì khiến ai phải sợ.Lời ra tiếng vào, đúng – sai – dở – hay, ai cũng có lý. Nhưng rốt cuộc… chỉ có mẹ là người duy nhất sống trong cuộc đời ấy, mang lấy lựa chọn ấy – như một vết xăm chẳng thể tẩy. Không ai sống thay bà một ngày nào, để hiểu hết phần can đảm và đánh đổi phía sau hai chữ “lấy chồng”.

Ngày mẹ lên xe hoa, bà cũng có váy cưới trắng, có bó hoa trong tay, có tiếng nhạc rộn ràng vang lên giữa sân nhà. Nhìn từ bên ngoài, đó là một đám cưới đủ đầy – có lễ lạt, có khách khứa, có tiếng cười… Nhưng thực chất, tất cả chỉ là để giữ thể diện.Giữ thể diện cho một gia đình từng mang tiếng vì có người con trai lỡ làng. Giữ thể diện cho một người đàn ông từng được ca tụng, rồi trở thành cái bóng câm lặng khiến ai cũng e dè. Và cũng để giữ thể diện cho mẹ – người con gái đã gật đầu trước một cuộc hôn nhân mà không ai dám tin là sẽ có hạnh phúc.

Đằng sau nụ cười e lệ và tấm áo cưới trắng – mà sau này tôi mới được nhìn qua một tấm ảnh cũ – tôi tin rằng không phải là giấc mơ hồng như bao cô gái vẫn hằng ao ước. Đó là một tấm lòng đã chuẩn bị sẵn để hy sinh. Là đôi tay đã sẵn sàng gánh vác. Là một trái tim đủ mạnh mẽ để đồng hành cùng một người mà cả thế gian đều dè dặt.Tôi không biết mẹ đã nghĩ gì khi khoác lên mình chiếc váy cưới hôm ấy – có lẽ là niềm tin, có lẽ cũng là sự lo âu. Nhưng mẹ vẫn bước đi. Dịu dàng và lặng lẽ. Chọn lấy một con đường mà ai cũng khuyên bà nên tránh xa.

Mẹ không chỉ lấy một người chồng mắc bệnh.Mẹ đã lựa chọn gắn bó với một cuộc đời đầy những vết nứt, những ngày dài vô định, những tháng năm mà hạnh phúc luôn ở bên kia ngưỡng cửa.Mẹ sống cùng những ánh mắt lạc lõng vô hồn của bố, những đêm không ngủ vì lo sợ một điều gì đó không gọi thành tên.Mẹ chọn từ bỏ tuổi trẻ – cái tuổi đáng ra phải được mộng mơ, được yêu thương, được nâng niu như một bông hoa vừa chớm nở. Nhưng mẹ đã gấp gọn cả thanh xuân của mình, để đánh đổi lấy sự bình yên mong manh cho một người đàn ông mà cả thế giới đều ngoảnh mặt quay lưng.Mẹ không một lời than vãn ,không một lần trách móc số phận.Mẹ đứng sau, lặng lẽ như một tán cây già – che mưa che nắng, che luôn cả những gió giật trong lòng một người đàn ông không đủ vững vàng để tự mình đi hết đoạn đường đời.

Những tưởng rằng, khi đã chấp nhận một cuộc hôn nhân thiệt thòi về tình cảm, thì ít nhất cuộc sống cơm áo gạo tiền sẽ dịu dàng hơn với mẹ. Rằng đời sẽ có phần bù đắp – như trong những bộ phim vẫn hay kể: chọn một người chồng khờ dại thì sẽ được yêu thương bằng vật chất, được an nhàn trong chốn nhà chồng.

Nhưng không. Thực tại đã phũ phàng tạt vào mẹ tôi bằng những nắm đất thô ráp nhất. Mẹ không chỉ thiệt thòi về tinh thần – khi sống cạnh một người đàn ông gần như không còn đủ tỉnh táo để sẻ chia – mà còn trở thành người gánh vác mọi thứ trong đại gia đình. Mẹ vừa là vợ, là dâu, vừa là lao động chính. Cả phần việc của những người khác – im lặng dồn cả về phía mẹ.

Tôi không biết mẹ bắt đầu gồng gánh từ khi nào. Tôi cũng chưa kịp ra đời để chứng kiến những năm tháng đó. Tất cả những gì tôi biết – là qua lời kể chắp vá của những người xung quanh, qua vài tấm ảnh cũ, và cả qua ánh mắt mẹ những năm sau này – lúc tôi đủ lớn để hiểu rằng: chính mẹ là người âm thầm giữ cho cả gia đình khỏi chệch khỏi đường ray.

Từ miếng ăn, áo mặc, thuốc men cho người già, đến những khoản chi tiêu không ai đứng tên… tất cả đều được bù đắp từ đôi bàn tay gầy guộc ấy. Không ai giúp mẹ. Không ai đỡ mẹ. Và cũng chẳng ai từng hỏi mẹ có mệt không.

Mẹ làm mọi việc để nuôi cả nhà – một gia đình mà đôi khi, chẳng một ai thật sự bận tâm mẹ sống thế nào, nghĩ gì, hay có còn đủ sức để bước tiếp hay không. Nhưng mẹ vẫn chịu. Chịu như một thói quen, như một thứ bổn phận không được phép từ chối. Như thể nếu mẹ buông tay, mọi thứ sẽ sụp đổ.

Tôi không biết mẹ giữ lại cho mình được gì trong những tháng ngày ấy. Có lẽ là không gì cả. Không một đồng, không một món đồ. Không có khoảng lặng nào cho riêng mẹ, cũng chẳng có lấy một không gian đủ để bà thở ra nhẹ nhõm. Mẹ sống như một dòng nước lặng – cứ âm thầm chảy qua những vùng đất cằn cỗi, qua những con người vô tâm… mà không một lần ngoảnh lại tìm cho mình một bến đỗ.

Rồi tôi ra đời.Kỳ lạ thật – một đứa trẻ như tôi lại hiện diện giữa cuộc đời này. Không phải là kết tinh của yêu thương, mà như một phép thử nghiệt ngã của số phận. Một sinh linh được sinh ra giữa nghèo đói, giữa một cuộc hôn nhân rỗng tuếch.Kỳ lạ, bởi lẽ… bố tôi không bình thường.Không chỉ là bệnh tật thể xác, mà cả tâm hồn ông cũng như một cánh cửa đóng kín. Ông sống lặng câm, thờ ơ, vô định – như thể mọi biến động của gia đình chẳng hề liên quan đến ông. Tôi lớn lên mà chẳng biết một cái ôm, chẳng nhớ nổi một câu nói tử tế từ người mang danh “cha”.Nực cười thật.Người ta sinh con vì yêu thương, vì khát khao vun đắp một mái ấm. Còn mẹ tôi… sinh tôi trong một cơn mỏi mệt tận cùng, giữa những ngày chỉ có nước mắt và thở dài làm bạn. Một đứa trẻ ra đời trong nghèo đói, trong cô đơn, trong sự lạnh lẽo đến tê người của những bức tường im lặng.

Tôi hiểu: tôi không đến với thế giới này như một phép màu nhiệm – mà như một hệ quả buồn bã của những tháng ngày mưu sinh triền miên, của một người mẹ đã kiệt quệ .Tôi không được chào đón như một món quà. Bởi nhà tôi khi ấy vẫn còn khó khăn. Tôi – một đứa trẻ đến không đúng thời điểm lại được chẩn đoán trước là yếu ớt,khó sống.Không có tiếng vỗ tay chào đón, chẳng một lời chúc mừng – chỉ có ánh mắt mẹ nhìn con.Có thể nói,cả nhà,ngoại trừ mẹ,chẳng một ai thích sự tồn tại của tôi.

Đã vậy,tôi chào đời khi còn chưa kịp thành hình một kiếp người trọn vẹn – non tháng, bé xíu như một nắm lá héo trong mưa.Da dẻ nhăn nhúm, tím tái, hơi thở nhẹ như sương khói. Không khóc, không la – chỉ thở khe khẽ, yếu ớt như thể đang dần học cách làm quen với sự sống.Người ta nhìn tôi mà ái ngại. Không ai dám chắc đứa bé bé tẹo ấy sẽ sống được bao lâu, có đủ sức mà đi hết đoạn đường gian khó hay không.Vậy mà mẹ tôi – người đàn bà vừa trải qua cơn vượt cạn như xé toạc cả thể xác lẫn linh hồn – vẫn cố mở mắt, đưa tay nắm lấy tay tôi.Chỉ một cái nắm tay mỏng manh… mà như tiếp thêm cho tôi cả một dòng máu sống.

Nhưng rồi… tôi lớn lên, trong hình hài của một đứa trẻ không ai mong đợi.Một gánh nặng – nhỏ bé nhưng dai dẳng .Cơ thể tôi yếu ớt như ngọn cỏ gặp gió. Bệnh tật cứ bủa vây không ngơi nghỉ: sốt từng đêm, ho từng cơn, viêm họng, tiêu chảy, dị ứng…Chỉ cần một mùa gió trở mình, là mẹ lại phải thức trắng theo tiếng thở khò khè của tôi..

Tôi – một đứa con vừa bệnh tật, vừa yếu ớt, lại xấu xí đến mức chính tôi cũng từng thấy sợ hãi khi nhìn mình trong gương. Tôi không khỏe mạnh, không lanh lợi như những đứa trẻ người ta thường mong đợi. Nhưng tệ hơn cả – là ngoại hình tôi. Nếu phải dùng những lời nhẹ nhàng nhất để diễn tả, có lẽ đó chỉ là một sự vụng về của tạo hóa.

Cả khuôn mặt như thể được nặn ra trong một phút giây cẩu thả – thiếu đi sự nâng niu, thiếu luôn cả ý định hoàn chỉnh. Mỗi lần soi gương, tôi lại thấy một gương mặt xa lạ – méo mó, gượng gạo, đến chính tôi cũng chẳng thể yêu thương nổi. Không một nét nào từ cha – người từng được kể là phong nhã, khôi ngô. Cũng chẳng vương lại chút gì từ mẹ – người đàn bà lam lũ nhưng ánh nhìn luôn rực rỡ thứ nội lực khiến người ta phải cúi đầu nể phục.

Tôi... chỉ là một bản nháp lỗi. Một sản phẩm bị bỏ quên giữa dòng đời – rồi bị số phận lặng lẽ phủi bụi, quay lưng đi.

Và hình như… không chỉ có tạo hóa.

Ngay cả những người thân ruột thịt quanh tôi – không ai nói ra, nhưng tôi vẫn cảm nhận được cái cách họ nhìn lướt qua tôi – như nhìn một món đồ cũ kỹ, lạc lõng giữa căn nhà vốn đã chật chội, không biết đặt vào đâu cho khỏi vướng víu.

Còn người ngoài thì tàn nhẫn hơn. Họ không chỉ miệt thị vẻ ngoài nhăn nhúm, tím tái của một đứa trẻ mới sinh, mà còn khinh bỉ cái gốc gác mà nó mang theo. Họ chẳng thèm gọi tôi bằng tên. Với họ, tôi chỉ là “con của cái ông ấy” – cái ông từng là nỗi ô nhục, là vết sẹo âm ỉ trong ký ức của làng. Và tôi, dù chưa từng làm gì, cũng bị gán cho đủ loại ánh nhìn xa lánh – như thể tôi là kẻ thừa kế của một điều gì xấu xa, lây lan và đáng bị né tránh.Và điều đau đớn nhất, là có những lúc tôi cũng bắt đầu tin như họ: rằng tôi không thể khác. Rằng máu trong tôi đã định sẵn tôi sẽ là một người đáng xấu hổ. Rằng dù tôi cố đến đâu, người ta cũng sẽ không nhìn tôi như một đứa trẻ – mà chỉ như di chứng của một tội lỗi không bao giờ được xóa sạch.

Tuổi thơ tôi – đã bắt đầu như thế. Với những vết xước âm ỉ, những cái nhìn lạnh nhạt, và một nỗi cô đơn chưa từng gọi thành tên. Nhưng rồi… đó mới chỉ là sự khởi đầu. Vì thế giới bên ngoài còn khắc nghiệt hơn thế – rất nhiều....



PHẦN II: TUỔI THƠ KHÔNG MÀU – NHỮNG VẾT XƯỚC KHÔNG CHẢY MÁU

Tôi cứ nghĩ, tổn thương lớn nhất đời mình là việc được sinh ra trong một gia đình có người cha đã đánh mất chính mình, có một người mẹ luôn sống giữa lam lũ và cam chịu. Tôi nghĩ, chỉ cần gói mình trong vòng tay mẹ, là đủ để lặng lẽ lớn lên, nép khỏi bão giông.

Nhưng hóa ra, thế giới ngoài kia còn khắc nghiệt hơn nhiều. Không cần đòn roi. Không cần ai hét lên. Chỉ bằng vài ánh mắt, vài câu nói tưởng chừng vô thưởng vô phạt người ta có thể tạo nên những vết thương sâu hơn bất kỳ lưỡi dao nào.

Nếu những năm đầu đời, tôi học cách tồn tại trong thiếu vắng yêu thương... thì tuổi thơ tôi – lại là cuộc chiến khốc liệt để sinh tồn trong những cái nhìn miệt thị và lời nói tàn nhẫn.Đó là lúc tôi bước ra khỏi mái hiên nhà – để đối mặt với một thế giới không dành cho những đứa trẻ “khác biệt”.

Có lẽ… nếu chỉ sống với những tổn thương trong nhà, tôi vẫn có thể tìm được cách để chấp nhận. Nhưng khi bước ra khỏi cánh cửa kia – nơi ánh mắt người đời không dịu dàng như mẹ, nơi những đứa trẻ khác không biết kiêng dè, nơi từng lời nói là một lưỡi dao – tôi mới hiểu: hóa ra, có những vết xước không nằm trong máu mủ, mà được sinh ra từ ánh nhìn của thế giới.

Tôi bắt đầu đi học. Ba tuổi,tôi bước chân ra khỏi ngưỡng cửa nhà – nơi tôi đã quen nép mình như một chiếc lá cong dưới gió – và ngỡ rằng: bên ngoài kia sẽ là một thế giới khác. Ở đó, sẽ có tiếng cười, có bạn bè, có những cái nắm tay, có một ai đó chịu ngồi cạnh mình mà không rút tay lại khi chuông vào lớp vừa vang lên.Tôi đã từng mong như thế. Ngây thơ tin rằng, chỉ cần thoát ra khỏi bức tường lặng câm của ngôi nhà ấy, tôi sẽ có cơ hội bắt đầu lại – như những đứa trẻ khác. Nhưng không… tôi đã nhầm. Nhầm đau đớn.

Thế giới ngoài kia không dịu dàng. Nó không cần quát mắng, không cần đánh đập – mà chỉ cần một ánh mắt cũng đủ khiến người ta rụng rời. Những đứa trẻ cùng lớp không cần lý do để ghét tôi. Chúng không cần biết tôi là ai, càng không muốn biết. Chúng chỉ cần nhìn thấy tôi – là đã đủ để ném ra những lời độc địa, đủ để kéo nhau cười phá lên như thể sự có mặt của tôi là một trò hề không ai mời mà vẫn cứ xuất hiện.

Tôi nhận ra mình khác biệt – không phải qua gương, mà qua ánh mắt của người khác. Ánh mắt ấy như một chiếc gương cong – bóp méo hình ảnh tôi theo một cách tàn nhẫn, soi rõ mọi vết xước, phóng to mọi khuyết điểm, và đẩy tôi ra xa khỏi bất kỳ vòng tròn nào có tên gọi là “bạn bè”.Những câu nói như gai thép, những cái lườm đầy hàm ý, những cái vờ như không thấy khi tôi đứng ngay đó – tất cả dần hình thành một thế giới riêng biệt, nơi tôi là kẻ bị loại bỏ.

Nếu như trong căn nhà nhỏ kia, tôi là đứa trẻ sống lặng lẽ bên bóng mẹ – thì ở trường, tôi trở thành một chiếc bóng không ai muốn đứng gần. Một thứ hiện diện khiến người khác ngượng ngùng, khó chịu, và sẵn sàng xua đuổi.Và thế là... tôi bắt đầu học thêm một kỹ năng sống mới: học cách chịu đựng ánh mắt của người khác, học cách nuốt vào trong tất cả những uất ức mà chẳng ai buồn lắng nghe, học cách tồn tại mà không ai dạy tôi cách để được yêu thương.

Những ánh nhìn lạnh lẽo, soi mói, ái ngại – như thể tôi là một vết lỗi ai đó vô tình để lại giữa cuộc sống vốn đang phẳng lặng.Nhưng tàn nhẫn nhất, lại là ánh mắt của những đứa trẻ cùng trang lứa.Chúng không cần lý do để cười vào mặt tôi.Không cần phải hiểu tôi để biết rằng… tôi khác biệt.Không ai muốn đứng gần tôi.Không ai muốn chơi cùng.Không một cái nắm tay, không một tiếng gọi thân quen – chỉ là những tiếng xì xào, những lời thì thầm như kim châm rỉ máu.Trẻ con đôi khi tàn nhẫn đến độ khiến cả người lớn cũng phải rùng mình.
“Ê, mày bị ghẻ hả? Nhìn phát gớm!”
“Chắc mẹ mày lượm mày từ bãi rác về quá!”
Và ác nghiệt nhất – câu nói như một bản án rắn lạnh trút xuống đầu một đứa trẻ chẳng hiểu nổi mình đã làm gì sai:
“Mày không phải con của bố mày đâu. Nhìn cái mặt là biết lạc loài!”

Tôi đã nghe tất cả. Từng chữ một. Không sót.
Như từng mảnh thuỷ tinh vỡ cứa vào lòng tự trọng bé nhỏ, những lời ấy không tan theo gió – chúng ghim lại trong tôi, nằm im như đá tảng dưới đáy sông, càng lớn lên càng nặng trĩu.Cả tuổi thơ tôi là một cuộc chạy trốn trong lặng lẽ. Trốn khỏi ánh mắt khinh thường. Trốn khỏi tiếng cười gằn sau lưng. Trốn khỏi cái cảm giác mình không thuộc về bất cứ nơi đâu.

“Nhìn nó là biết sau này chẳng nên cơm cháo gì.”
“Cha nó nghe nói có vấn đề, đẻ ra con kiểu đó cũng phải.”
“Nhà đó… kỳ lắm. Con cái chẳng giống ai.”

Tệ hơn cả là những câu nói nửa thì thầm, nửa cố tình để tôi nghe thấy:
“Nó không giống cha, chẳng giống mẹ. Lạ lắm. Ai biết được...”

Họ không cần nói hết. Câu nói bỏ lửng, ánh mắt đưa đẩy và nụ cười nhếch mép đã đủ để châm lên trong tôi một nỗi hoang mang bẽ bàng. Tôi còn nhỏ, nhưng tôi không ngu ngơ đến mức không hiểu họ đang ám chỉ điều gì. Họ gieo nghi ngờ như người ta gieo muối lên vết thương chưa kịp lành – cay xè, buốt nhói.Tôi chỉ là một đứa trẻ. Vậy mà đã phải sống với cảm giác mình là cái bóng sai lệch, là một tồn tại bất thường, là thứ bị đem ra bàn tán như một đề tài giải trí rẻ tiền.Không ai hỏi tôi có đau không. Không ai bận tâm tôi có hiểu những lời đó nghĩa là gì. Bởi họ mặc định: tôi không đáng để được bảo vệ.Và điều tàn nhẫn nhất – là tôi không thể trách ai. Bởi tôi chẳng biết trút giận vào đâu ngoài chính bản thân mình.



Tôi từng nghĩ, chỉ có trẻ con mới vô tâm – nhưng không… người lớn còn có thể tàn nhẫn hơn gấp bội.
Họ cấm con mình chơi với tôi, như thể tôi là mầm bệnh – một thứ ô uế cần phải tránh xa để giữ gìn “thuần khiết” cho gia đình họ.
Họ nhìn tôi bằng ánh mắt lạnh buốt, nửa dè chừng, nửa xua đuổi – như thể sự hiện diện của tôi là sai lầm, là một sự lạc loài không nên tồn tại giữa cộng đồng này.

Tôi không trách lũ trẻ – chúng còn nhỏ, chúng bắt chước thế giới của người lớn, và ngây thơ đến mức không biết rằng một câu nói cũng có thể cào rách một tâm hồn non nớt.
Nhưng người lớn thì sao? Những kẻ từng kinh qua bao va vấp, từng nếm đủ vị đắng của cuộc đời, lại không ngần ngại lôi một đứa trẻ ra làm trò tiêu khiển trong những cuộc trà dư tửu hậu.
Họ – những người miệng thì chép chép thương hại, nhưng ánh mắt lại lạnh lẽo và sắc như dao: thứ ánh nhìn khiến tôi hiểu rằng mình không bao giờ được chấp nhận.

Họ không biết – hoặc tệ hơn, họ biết nhưng không quan tâm – rằng những lời xì xào ấy, khi rơi vào tai một đứa trẻ, sẽ hóa thành gông cùm siết chặt lấy tâm hồn.Họ nói về tôi như nói về một định mệnh đã hỏng ngay từ trứng nước – như thể tôi là kết quả của một sai lầm nào đó mà cả làng đều có quyền phán xét.Họ không gọi tên tôi, nhưng tôi biết… trong ánh mắt ấy, tôi là “cái đứa đó” – cái đứa làm người ta thấy xấu hổ khi đứng cạnh, cái đứa khiến họ rùng mình vì cảm tưởng như nhìn vào tôi là thấy rõ những điều bất toàn mà họ cố chối bỏ trong chính mình.Dần dần, tôi hiểu rằng…Đòn roi không phải thứ khiến một đứa trẻ đau nhất.Chính là lời nói.
Những lời nói tưởng như vô thưởng vô phạt, nhưng được lặp đi lặp lại, tẩm độc và rót xuống từng ngày, từng ngày…Chúng giết chết lòng tự trọng của tôi trong im lặng – từng chút một.

Tôi đứng đó. Tay nắm chặt, môi mím lại, mắt cụp xuống đất như thể chỉ cần ngẩng lên thôi là nước mắt sẽ tràn mi. Tôi không dám khóc. Không phải vì tôi mạnh mẽ… mà vì tôi sợ. Sợ nếu mình khóc, họ sẽ càng tin rằng tôi yếu đuối, rằng tôi đúng là đứa con “khác thường” mà họ vẫn rỉ tai nhau.

Tôi quen rồi… quen với việc giả vờ không nghe thấy. Quen với cảm giác nghẹn lại ở cổ họng như có đá tảng chặn ngang, nhưng vẫn phải nuốt vào trong – từng lời cay nghiệt, từng ánh mắt hoài nghi.Tôi chỉ là một đứa trẻ thôi mà… Một đứa trẻ cũng biết đau, cũng biết tủi. Tôi đâu có ước gì to tát. Tôi chỉ muốn – chỉ mong – được gọi đúng bằng cái tên của tôi. Chứ không phải là cái bóng lạc lõng, đứng nép ở một góc nhà mà lòng cứ chông chênh, không biết mình có thực sự được sinh ra để được yêu thương… hay chỉ là một sự nhầm lẫn của số phận.

Những câu nói đó – không giết tôi như một nhát dao bén.Chúng cứa chậm, day dứt, vào tận gốc rễ của một đứa trẻ vốn đã quen sống trong mặc cảm.Tôi không phản kháng. Không biết phản kháng thế nào.Tôi chỉ biết thu mình lại, như một cái bóng rút sâu vào xó tối, mong người ta quên mình hiện diện trên đời.Càng lớn, tôi càng ít nói.Càng ít nói, tôi càng mờ nhạt.Và rồi, tôi không khóc nữa – không phải vì không còn đau, mà bởi tôi hiểu:Có những nỗi đau, nước mắt cũng trở nên vô nghĩa.

Mỗi lần tôi trở về nhà trong im lặng, ánh mắt lạc lõng, môi mím chặt vì không dám khóc, mẹ đều biết. Mẹ không cần hỏi vì bà đã quá quen với những ngày con mình trở về trong dáng vẻ gục xuống mà không ngã.Bà chỉ nhẹ nhàng ngồi xuống bên tôi, vòng tay ôm lấy đứa con đang rạn vỡ mà chẳng nói một lời to tát.Chỉ là bàn tay vuốt tóc tôi, run run như muốn xoa dịu cả một thế giới đang quay lưng.“Không sao đâu con. Không chơi với người này thì chơi với người khác. Mình sống tử tế, trời thương.”

Trời thương…
Câu nói ấy tôi nghe không biết bao nhiêu lần, đến mức thuộc lòng. Nhưng lòng tôi thì… không tin.Vì tôi hận.Tôi hận lũ trẻ đã gọi tôi bằng những cái tên không phải của mình.Hận những ánh mắt háo hức chứng kiến tôi khổ sở như đang xem một trò tiêu khiển.Hận cả sự im lặng của người lớn – những kẻ đã không nói gì, không làm gì, khi một đứa trẻ bị tổn thương ngay trước mắt họ.

Tôi hận… dù tôi biết hận là sai.Dù tôi biết chúng chỉ là trẻ con.Nhưng chính những đứa trẻ ấy đã gieo vào tôi một nỗi hận đầu đời, và thứ hạt giống đó không lớn lên như hoa – mà như một loại gai, bám rễ trong tim tôi từ lúc nào không rõ.Tôi đã tự khép lại.Ít nói. Ít cười. Ít dám bước ra khỏi cái thế giới nhỏ của riêng mình.Tôi trở thành một cái bóng. Một vệt mờ lặng lẽ tồn tại sau lưng mẹ – người vẫn luôn cố giấu đi ánh mắt buồn khi thấy con mình ngày càng trầm lặng.

Tôi – một đứa trẻ lớn lên với một tâm hồn méo mó và nhân cách đầy những góc khuất. sự tổn thương chồng chất đã dần bào mòn phần trong sáng còn sót lại, để rồi hình thành nên một con người với tâm tính xấu xí – như thể phản chiếu đúng cái vẻ ngoài kém ưa nhìn của mình. Tôi – một đứa con gái sớm biết căm ghét, biết thù hằn, biết nuôi trong lòng những vết sẹo không chịu lành.Trong lòng tôi không có sự hồn nhiên ngây thơ như những đứa bạn đồng trang lứa.Vì sao ư?Vì tôi chưa từng được sống đúng nghĩa với hai chữ ‘tuổi thơ’. Bởi lẽ, ngay từ những năm tháng đầu đời, tôi đã buộc phải học cách chịu đựng thay vì tin tưởng, học cách im lặng thay vì cất tiếng khóc, học cách giấu nước mắt vào trong thay vì đòi hỏi một cái ôm an ủi.Tôi không được ai dạy cách yêu thương bản thân, cũng không ai dạy tôi rằng mình xứng đáng được yêu thương. Những lời lẽ cay nghiệt, những ánh mắt miệt thị, những cái nhìn khinh rẻ – tất cả đổ lên đầu tôi như bão tố dồn dập, xé rách lớp da non nớt mà một đứa trẻ đáng lý phải được bảo bọc.

Bọn trẻ con ấy – những đứa trẻ chẳng biết gì ngoài tiếng cười vô tư – chúng không hề hay rằng, những câu nói tưởng như vô thưởng vô phạt của chúng lại có sức hủy diệt như thuốc độc nhỏ giọt vào tâm hồn một đứa trẻ khác. Chúng nói. Rồi chúng cười phá lên, lăn lộn trong niềm vui dã man mà chính chúng cũng chẳng hiểu.

Còn tôi, đứng đó – câm lặng như một cái bóng. Cổ họng nghẹn đắng, không thể khóc, không thể phản kháng. Mỗi lời, mỗi chữ, như đang róc thịt, moi ruột tôi ra từng mảnh. Chúng ném vào tôi những tiếng cười như đá cuội ném xuống mặt nước – gợn lên những đợt sóng u uất trong tâm hồn mà chẳng ai buồn đoái hoài.

Tôi ngước mắt lên, hy vọng một ánh nhìn thấu hiểu từ người lớn – những người lẽ ra phải dạy dỗ lũ trẻ biết yêu thương, biết cảm thông. Nhưng không… họ đứng đó, khoanh tay trước ngực, im lặng như thể tất cả chỉ là một trò tiêu khiển vô hại. Có người cười mỉm, gật gù như thể đang chứng kiến một màn kịch hài. Có người lắc đầu cảm thán, nhưng chẳng ai lên tiếng ngăn lại. Họ chỉ nhìn tôi như nhìn một vết nhơ trong cái cộng đồng nhỏ bé mà họ ra sức giữ gìn ,như thể tôi không phải một đứa trẻ biết buồn, biết tổn thương, mà chỉ là một mảnh ghép dị dạng, thừa thãi trong thế giới của họ.Trong những ngày tháng đó, tôi học được một bài học mà đáng ra chẳng đứa trẻ nào nên học quá sớm: Rằng không phải vết thương nào cũng chảy máu. Và không phải người lớn nào cũng tốt.

Tôi – trong mắt đám trẻ con đó , và trong mắt cả những người lớn vô tình kia – chỉ là một thứ thừa thãi. Một cái bóng vô nghĩa lạc lõng giữa cuộc đời.Chúng đâu biết rằng, có những đêm, khi ánh đèn trong xóm đã tắt, tôi ngồi bó gối nơi góc giường lạnh ngắt, nghĩ về cái chết như một lối thoát – duy nhất và yên bình. Chúng đâu biết rằng, những câu đùa của chúng lại âm thầm gieo mầm dữ trong tôi – một con quái vật lặng lẽ lớn lên, biết hận, biết thù, biết rình rập từng cơ hội để cắn trả cái thế giới đã từng vùi dập mình không thương tiếc.

Tôi đã không chết. Nhưng phần hồn trong tôi thì… đã rữa ra từ lâu rồi – từ lúc những lời cay độc đầu tiên chạm vào tim tôi non nớt. Tôi sống, nhưng không còn là tôi.

Cứ vậy tôi lớn lên với một trái tim sần sùi vì tổn thương, một tâm hồn đầy gai nhọn để tự vệ. Dần dà, phần người trong tôi bị ăn mòn bởi chính những điều lẽ ra phải nâng đỡ tôi. Tôi căm ghét. Tôi thù hằn. Tôi không ngại chua chát, không ngại cay độc – bởi tôi đã quá quen với việc bị thế giới này quay lưng. Và khi người ta gọi tôi là ‘xấu xí’, tôi không phản kháng. Bởi lẽ, tôi biết mình đúng là như thế – không chỉ ở vẻ ngoài, mà còn trong những phần tối tăm nhất của nhân cách mình.Tôi đã không chết. Nhưng phần hồn trong tôi thì đã rữa ra từ lâu rồi – rữa ra từ những ngày tôi ngồi một mình trong bóng tối, ước được biến mất khỏi thế giới này. Rữa ra từ từng lời sỉ nhục, từng ánh mắt hắt hủi, từng tiếng cười vô tâm như nhát dao cùn cứa vào lòng.

Tôi không còn phân biệt được đâu là ánh sáng, đâu là bóng tối trong chính mình nữa. Nhân cách tôi – nếu còn có thể gọi là nhân cách – đã mốc meo, mục nát, bốc mùi của oán hận, tự ti, và cả những cơn thèm khát trả thù cuộc đời.Thế nhưng… giữa cái thế giới mục ruỗng đó, vẫn có một điều duy nhất chưa từng mục nát: mẹ tôi.

Mẹ – người phụ nữ với đôi tay chai sần, ánh mắt lúc nào cũng ươn ướt vì gió, vì khói, hay vì buồn mà tôi chẳng bao giờ dám hỏi. Người không bao giờ nói nhiều, nhưng luôn là người duy nhất lặng lẽ lau đi nước mắt tôi khi tôi tưởng không ai thấy. Người duy nhất không bao giờ nhìn tôi bằng ánh mắt thương hại hay khinh miệt, mà chỉ có một thứ duy nhất: thương.

Tôi thương mẹ. Thương đến nghẹn. Thương đến đau. Nhưng tôi vẫn hận. Tôi hận cuộc đời vì đã khiến mẹ phải sinh tôi ra trong một thế giới độc ác đến thế. Một thế giới nơi lòng tốt bị nghiền nát dưới gót giày thực dụng, nơi vẻ ngoài quyết định giá trị, và nỗi đau của kẻ yếu chỉ là trò tiêu khiển cho đám đông.

Tôi hận – không phải vì mẹ sai. Mà vì mẹ đúng quá. Nhẫn nại quá. Hi sinh quá. Đúng đến mức khiến tôi cảm thấy mình thật đáng thương... vì chẳng thể làm gì để xứng đáng với tình yêu quá đỗi lớn lao đó.

Những câu nói đó không chảy máu, nhưng chúng rơi vào tai tôi như từng giọt dấm đổ xuống vết thương chưa kịp lành.Tôi sợ ánh mắt của những người lớn – luôn nhìn tôi như thể tôi là một món đồ thừa, một vật thể lạc loài không biết phải đặt vào đâu để đỡ chướng mắt.Tôi thu mình lại.Sống như thể mình mang nợ cả thế giới. Câm lặng.Len lén đi qua từng góc nhà như một bóng mờ tội lỗi.Tôi cúi đầu như đang xin lỗi… chỉ vì mình đã được sinh ra.

Tôi sống lặng lẽ, len lỏi giữa thế giới này bằng một sự có mặt mong manh – chẳng đủ rõ ràng để ai phải chú ý, cũng chẳng đủ đặc biệt để ai đặt niềm tin. Tôi tồn tại như một khoảng lặng bị bỏ quên giữa cuộc trò chuyện ồn ào của cuộc đời.Người thân trong gia đình tuy không ai nói ra, nhưng tôi biết… tôi là một sự hiện diện khiến người ta không nỡ chối bỏ – bởi vì tôi là máu mủ – nhưng cũng chẳng thể thật lòng yêu thương. Họ đối xử với tôi bằng thứ cảm xúc lưng chừng: vừa đủ để không mang tiếng nhẫn tâm, nhưng chưa từng đủ để khiến tôi cảm thấy mình được thật sự mong đợi. . Không có những cái ôm, không lời thủ thỉ vỗ về, không một ánh mắt ấm áp hay một cái vuốt tóc dịu dàng. Chỉ là những cái gật đầu chiếu lệ, những lời nhắc nhở khô khốc, những ánh nhìn lướt qua như thể tôi chưa bao giờ thật sự hiện hữu trong thế giới của họ.

Tôi là đứa trẻ mà họ không thể vứt bỏ – bởi vì tôi là máu mủ. Nhưng cũng không ai tình nguyện giữ tôi lại bằng tình thương. Và chính cái cảm giác bị “giữ lại cho có” ấy – không hẳn là chối bỏ, cũng chẳng phải chấp nhận – mới là thứ khiến tôi rã rời. Nó không như một vết dao sắc lạnh, mà giống như một giọt axit nhỏ đều đặn vào lòng tự trọng, bào mòn dần ý niệm về giá trị bản thân. Tôi tồn tại, nhưng không thuộc về.

Cứ thế, tôi sống lặng lẽ giữa hai phía: một bên là gia đình với thứ tình thương hờ hững, một bên là thế giới bên ngoài đầy những ánh mắt soi mói và miệt thị. Tôi lớn lên như một cái bóng, quanh quẩn bên mẹ – người duy nhất không bao giờ nhìn tôi bằng ánh mắt lạnh lẽo.Tôi không biết mình sẽ đi đến đâu. Không biết liệu những vết xước từng khắc vào tâm hồn có thể lành lại, hay sẽ mãi âm ỉ như vết bỏng không bao giờ nguôi. Nhưng trong những ngày tháng u tối nhất, có một điều duy nhất đã giữ tôi lại: đó là tình thương của mẹ – âm thầm, bền bỉ, không lời. Và chính điều ấy đã cứu rỗi tôi khỏi vực sâu của ý nghĩ biến mất khỏi cuộc đời này.

Có thể tôi chưa tha thứ được cho những gì đã qua. Cũng chưa đủ dũng cảm để bước ra khỏi bóng tối. Nhưng tôi đã không chọn kết thúc. Tôi còn ở đây. Còn sống. Còn thở.Và đâu đó, rất khẽ, tôi bắt đầu tự hỏi: liệu có thể nào… sau tất cả, một đứa trẻ lớn lên trong im lặng và tổn thương như tôi, vẫn còn cơ hội để viết tiếp câu chuyện đời mình – theo một cách khác?


IMG_0058.jpeg
Thêm
297
0
0
Viết trả lời...
[Tình cảm trong thơ liệu có cần sự nâng đỡ bởi trí tuệ?]

Tình cảm bao đời nay vốn là sinh mệnh của thơ ca. Bước vào thế giới của thi ca tức là bước vào thế giới của những giai điệu - những khúc nhạc lòng của tâm hồn, là được chứng kiến những ngóc ngách bí ẩn trong sâu thẳm nội tâm của chính mình, là được bày tỏ nỗi niềm tri âm, tri kỉ với những tấc lòng đồng điệu. Thế nhưng, sự hấp dẫn của thi ca liệu có phải chỉ đến yếu tố tình cảm? Tình cảm là khởi nguồn của thi ca nhưng thứ khiến thơ ca có thể tồn tại qua nhiều năm tháng, bất chấp những thăng trầm của thời gian và cuộc đời chính là trí tuệ. Nói cách khác, cảm xúc trong thơ cần sự nâng đỡ đến từ sức mạnh của chất triết lí. Mỗi nhà thơ vừa là một thi nhân nhưng đồng thời cũng vừa phải là một triết nhân. Anh phải là người biết cân bằng cán cân cảm xúc trong mình, làm sao để tác phẩm của mình không trở nên ủy mị, yếu đuối vì chỉ dung chứa những cảm xúc hời hợt, dễ dãi và cũng phải làm sao để không biến thi phẩm của mình trở thành một bài tuyên ngôn khô khan, đơn điệu chỉ vì đưa ra những bài học, những cách ứng xử đạo đức cứng nhắc, giáo điều. Làm được điều đó âu cũng là một thách thức với người sáng tạo nghệ thuật.

Trí tuệ trong thơ ở đây thực chất là muốn đề cập đến những triết lí, những thông điệp, những cách nhìn mà nhà thơ muốn gửi gắm trong tác phẩm. Trên thực tế, tình cảm và trí tuệ luôn có mối quan hệ gắn kết bền chặt trong thi ca. Vì thơ ca dẫu là sản phẩm tinh thần của nhà thơ, kết tinh những điều gan ruột, khắc khoải nhất trong tâm hồn nhà thơ thì đích đến sau cùng của nó vẫn là người đọc. Tình cảm thơ ca vì thế mang tính cá nhân chứ không có tính cá biệt, đơn lẻ như những ốc đảo cô độc. Muốn làm được điều đó, tình cảm mà nhà thơ truyền tải cũng không thể nhỏ bé, giản đơn, tầm thường mà cần gửi gắm qua đó những giá trị sống, những kinh nghiệm phổ quát của nhân sinh để chạm đến cõi lòng của muôn người, muôn đời. Khi ấy, rõ ràng tình cảm đã được trí tuệ soi rọi và nâng đỡ. Trí tuệ đã trở thành phương tiện đắc lực giúp cho thơ ca thâm nhập sâu vào đời sống tinh thần của một cộng đồng, một dân tộc thậm chí là đời sống của cả nhân loại. Bên cạnh đó, tôi cho rằng mỗi nhà thơ bước lên văn đàn bao giờ cũng muốn khẳng định tài năng và tầm vóc của mình, do đó lẽ dĩ nhiên họ sẽ luôn mong muốn tình cảm mà mình thể hiện trong thơ được phát huy hết những chiều kích rộng lớn của nó. Tình cảm khi được mở rộng tận độ giới hạn sẽ chạm đến trí tuệ. Nghĩa là nhà thơ sẽ mượn tình cảm để đem đến những nhận thức mới cho người đọc, khai mở những tầng sâu mới của trí tuệ.

Xuân Diệu trong suốt hành trình sống của mình luôn bị ám ảnh bởi sự trôi chảy của thời gian. Đối với ông, thời gian là hữu hạn, mỗi khoảnh khắc trôi qua cũng đồng nghĩa với sự tàn lụi, biến mất. Thơ ca vì thế là hình thức để thi nhân chống trả lại trước sự trôi chảy của thời gian và mở rộng biên độ sống của chính mình. Nỗi lòng trân quý cuộc sống của nhà thơ đã được nhà thơ nâng lên thành những triết lí về thời gian vô cùng sâu sắc:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”
hay
“Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Hiếm có ai đưa ra triết lí về thời gian độc đáo như Xuân Diệu. Ông nhìn thấy cái sắp xảy ra, sẽ xảy ra trong cái chưa xảy ra và đang xảy ra: xuân đang tới nhưng cũng đồng nghĩa với xuân đã qua, xuân đang còn non cũng đồng nghĩa với xuân đang già. Con người ấy không đợi đến nắng hạ mới hoài xuân mà đã cảm thấy nhớ thương và tiếc nuối mùa xuân ngay trong chính khoảnh khắc mùa xuân căng tràn nhất. Thậm chí ngay trong khoảnh khắc “tay trong tay” với người yêu, cảm giác chia lìa và dự cảm xa cách đã choán ngợp tâm hồn thi nhân: “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt/ Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài”. Với một con người ham sống đến vô biên, tuyệt đích thì có lẽ chăng, điều mà Xuân Diệu lo sợ nhất chính là những điều đẹp đẽ trong cuộc đời mình sẽ biến mất. Xuân Diệu không chỉ sống trong hiện tại, ông chạy đua với tương lai. Vì ý thức được sự thay đổi của thời gian nên nhà thơ mới khao khát được chống trả nó bằng việc tăng cường độ sống, tốc độ sống và hơn cả là nuôi dưỡng tình yêu và khát vọng sáng tạo nghệ thuật. Triết lí về thời gian của Xuân Diệu chính là điều khiến cho thơ ca của ông không bao giờ cũ mòn mà vẫn rất thiết thực với con người muôn thế hệ.

Tình cảm thiết tha trong thơ kết hợp cùng chiều sâu trí tuệ sẽ tạo nên sự sâu sắc trong cảm xúc. Tình cảm trong thơ vì thế đem đến cho người đọc những cảm xúc “thực hơn cả đời thực”, giúp ta được sống thêm nhiều cung bậc, nhiều khả thể trong tâm hồn. Giữa những diễn ngôn về nữ quyền ngày này, nơi người nữ được khẳng định là độc lập về mặt cảm xúc và không còn phụ thuộc vào tình yêu thì khi quay trở về những thập niên 80 của thế kỉ trước, đắm chìm trong những vần thơ tình của Xuân Quỳnh, người ta lại thấy một góc nhìn rất khác. Triết lí về tình yêu trong thơ của chị độc đáo ở chỗ chị dám thành thực thừa nhận khát khao của mình, những yếu đuối của mình mà không chối bỏ nó. Với Xuân Quỳnh, tình yêu là nguồn sống, là toàn bộ cuộc đời của chị. Vì thế, dù có trải qua nhiều mất mát, tổn thương và cay đắng trong tình yêu, chị vẫn sẵn sàng hiến dâng trái tim của mình:

Em trở về đúng nghĩa trái-tim-em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

Nữ quyền đôi khi không chỉ là việc người nữ khẳng định vị thế của mình mà nữ quyền còn là việc người nữ sẵn sàng sống chân thực với cảm xúc và bản ngã của mình, sẵn sàng trao đi tình yêu và được yêu. Trái tim yêu thiết tha đem lại cho Xuân Quỳnh nhiều đau khổ nhưng bên cạnh đó, nó cũng khiến cho cảm nhận được ý nghĩa của cuộc sống một cách trọn vẹn. Như vậy, triết lí về tình yêu của Xuân Quỳnh đã giúp người nữ trân trọng tiếng nói và khát khao của mình, dám sống với những giá trị mình đang có.

Giãi bày cảm xúc trong thơ thì dễ dàng nhưng để nâng cảm xúc ấy lên thành trí tuệ, thành những đúc kết có tính phổ quát thì không phải là chuyện dễ dàng. Điều này đòi hỏi nhà thơ phải là người sống sâu sắc, giàu chiêm nghiệm về đời sống và biết khái quát những điều mình trải qua thành những triết lí muôn thuở. Sự đan kết giữa một trái tim giàu cảm xúc và một trí tuệ đầy sắc sảo sẽ làm nên một nhà thơ vĩ đại và tầm vóc. Tình cảm và trí tuệ vì thế không tách rời mà luôn cần đến nhau, bổ sung cho nhau và nâng đỡ nhau.
Thêm
199
0
0
Viết trả lời...
Dẫn chứng NLXH đáng tham khảo

1. Tuổi trẻ cần sống khác biệt , suy nghĩ của giới trẻ về bình đằng giởi

H’Hen Niê là một cô gái có mái tóc tém, làn da ngăm... hoàn toàn khác với mẫu số chung về cái đẹp của phụ nữ Việt Nam. Ở nơi mà tiếng nói của người phụ nữ thấp bé, người phụ nữ chỉ quẩn quanh đồng rẫy, bếp núc... H'Hen Niê đã chọn cho mình một thái độ sống khác. Cô từ chối lấy chồng vào năm 13 tuổi như những bé gái dân tộc Ê đê; H’Hen đã lựa chọn con đường học vấn. Sự khác biệt đúng đắn trong tư duy đã mở ra cho cho cô nàng Ê đê rất nhiều cơ hội, thành tích mà nổi bật nhất là danh hiệu Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2018.

2. Lòng yêu nước, lòng dũng cảm, sự cống hiến

Anh hùng La Văn Cầu khao khát được giải phóng đất nước, La Văn Cầu mới 16 tuổi khai tăng lên 18 tuổi để được vào bộ đội. Anh đã tham gia chiến đấu 29 trận trong các cương vị chiến sĩ và chỉ huy. Tấm gương La Văn Cầu cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công và thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua sử dụng bộc phá công đồn, một hình thức chiến thuật mới quân đội ta mở ra từ chiến dịch Biên giới 1950.

3. Sự kiên trì nỗ lực - Theo đuổi ước mơ, tự tin vào chính mình - Người truyền cảm hứng, tài năng

Khánh Vy - cô gái trẻ được biết đến với danh xưng “hot girl 7 thứ tiếng”.Hiện tại, cô nàng đang là biên tập viên, một nhà sáng tạo nội dung nổi tiếng sở hữu kênh Youtube với hàng triệu người theo dõi. Bên cạnh đó, cô còn là một MC của nhiều chương trình trên sóng truyền hình tiêu biểu là “Đường lên đỉnh Olympia”. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, cô luôn là một học sinh xuất sắc. Tốt nghiệp loại giỏi ngành Quan hệ quốc tế của Học viện Ngoại Giao. Cô nàng rất năng nổ tham gia các hoạt động ngoại khóa, ngoài ra cũng đạt được những thành tích rất đáng nể trong học tập. Dù đạt được thành tích như vậy nhưng cô vẫn không ngừng dừng lại, luôn nỗ lực làm mới mình để thoát cái mác “hot girl” và giờ đây cô đã trở thành MC nổi tiếng khi tuổi đời còn rất trẻ, bên cạnh đó cô thường xuyên chia sẻ lối sống tích cực đến các bạn trẻ qua các kênh của mình.

4. Quan niệm về lòng yêu nước của “ Tuổi trẻ “

19 tuổi, anh Đậu Văn Hiếu (19 tuổi, quê ở Nghệ An) xung phong ra Trường Sa, nhận nhiệm vụ ở đảo Cô Lin với tâm nguyện được hiến dâng sức mình cho công cuộc bảo vệ đất nước, anh chia sẻ: "Tuổi trẻ rất đáng giá vì được thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, giữ bình yên cho đất nước. Ở nhà, bố mẹ tự hào về mình lắm. Qua đây cho tôi gửi lời nhắn về với gia đình: Mẹ ơi, con nhớ mẹ. Con cũng nhớ bố nữa". Chính tình yêu nước đã giúp anh vơi đi nỗi nhớ nhà, vững tay súng, chắc tay lái để ở nơi muôn trùng sóng gió vẫn nở nụ cười rắn rỏi đầy lạc quan mặc cho "nắng bỏng da, mưa rát mặt", vẫn hiên ngang giữa trời canh gác: "Đen hết cỡ rồi, bây giờ nắng phải sợ mình, chứ mình không sợ nắng nữa”

5. Tinh thần tương thân tương ái của giới trẻ - Tuổi trẻ ước mơ, đam mê và khát vọng

Đen Vâu (Nguyễn Đức Cường) là một trong 10 gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2023, được vinh danh ở lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Anh từng một công nhân công ty vệ sinh môi trường ở tỉnh Quảng Ninh, với tình yêu âm nhạc, đã trở thành rapper hàng đầu Việt Nam và truyền đi cảm hứng sống và cống hiến cho cộng đồng với nghệ danh Đen Vâu. Đặc biệt, tác phẩm được dư luận quan tâm, đánh giá cao trong năm 2023 là MV "Nấu ăn cho em" đã thu về được hơn 418 triệu đồng chỉ sau một tháng ra mắt. Bài hát “Nấu ăn cho em” truyền tải thông điệp tích cực của dự án “Nuôi em”.

Trong lễ trao giải “Làn sóng xanh năm 2023”, Trần Minh Hiếu (Hiếu Thứ Hai) vinh dự được nhận giải “Nam ca sĩ được yêu thích nhất”, anh đã phát biểu với câu nói truyền cảm hứng rằng: “Ước mơ chỉ là mơ ước cho tới lúc nó thành hiện thực. Đừng quan tâm ước mơ của mình lớn lao thế nào, mình nhỏ nhoi ra sao vì ai rồi cũng phải bắt đầu từ đâu đó”.

6. Tuổi trẻ và vấn đề khởi nghiệp, Tuổi trẻ và việc vượt qua giới hạn

CEO Nguyễn Thị Thu Hoa (sinh năm 1992 tại Phú Thọ) được biết đến là nữ founder và CEO của Trường Foods. Sau khi lập gia đình, chị Nguyễn Thị Thu Hoa được tiếp cận và đam mê với nghề làm thịt chua truyền thống của gia đình nhà chồng. Nhưng với ước mơ đưa thịt chua đi xa hơn đến mọi miền Tổ quốc, cô đã mạnh dạn bỏ thương hiệu cơ sở Nghị Thịnh - cơ sở nhà chồng, để xây dựng hiệu mới của chính mình. Hiện tại, sản phẩm của công ty chị Hoa chiếm 40% thị phần thịt chua trên toàn tỉnh Phú Thọ. Tính đến tháng 9/2023, Trường Foods bán ra thị trường khoảng 2,5 triệu sản phẩm, duy trì hơn 8.000 điểm bán trên khắp các tỉnh, thành. Sản phẩm của chị Hoa được Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Doanh nghiệp châu Á công bố danh sách Thương hiệu số 1 Việt Nam năm 2023.

7. Lòng yêu nước - Lòng tự hào về lịch sử, đất nước - Năng lực sáng tạo, hợp tác

Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam là một trong sáu bảo tàng quốc gia và là bảo tàng đứng đầu hệ thống các bảo tàng trong quân đội. Công trình có diện tích 38,6ha và là nơi lưu giữ, trưng bày hơn 150.000 hiện vật. Trong tháng 11 và 12 vừa qua, Bảo tàng đã mở cửa, miễn phí vé vào; chưa đầy 1 tháng, hơn 200.00 lượt khách đã tới tham quan. Nguyễn Hồng Định (19 tuổi) chia sẻ khi tham quan Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam. "Suốt chiều dài phong kiến tới những đợt kháng chiến gian khổ, tôi tự hào khi thấy bóng hình cha ông nghìn năm dựng và giữ nước".

Đội ngũ truyền thông nhà tù Hỏa Lò là những người trẻ yêu lịch sử, biến những thứ tưởng là “khó nhằn” trở nên viral hơn. Họ xây dựng kênh truyền thông về lịch sử Việt Nam được các bạn trẻ đặc biệt quan tâm với cách tiếp cận hóm hỉnh, nội dung được cố vấn bởi đội ngũ có chuyên môn khiến Di Tích Nhà Tù Hỏa Lò trở nên vô cùng gần gũi với công chúng. Các nội dung của Fanpage được đội ngũ truyền thông chia làm 2 hình thức: bài đăng chuyên môn và bài đăng tương tác. Các bài đăng được xoay quanh thông tin về Di Tích Nhà Tù Hỏa Lò là chủ yếu. Bên cạnh đó, chủ đề chiến tranh Việt Nam nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung cũng được khai thác.
Thêm
1K
0
0
Viết trả lời...
ĐỀ ÔN THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN (Có đáp án chi tiết)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đ̣ ̆ ̉ :
HƯƠNG VỊ QUÊ NHÀ
Con bây giờ thèm những bữa canh chua
Mà mẹ nấu trong ngày hè nắng cháy
Vị quê ơi, sao mà ngon đến vậy?
Đi suốt đời vẫn ngọt mãi trong tim...

Cá chạch đồng cha bắt được, mẹ rim
Con học về đã thơm từ đầu ngõ
Đêm quê hương, theo cha con xách giỏ
Cánh đồng xa, xiêu vẹo ánh trăng gầy...

Đêm giêng hai, thầm lặng cánh vạc bay
Trong cơn mưa kéo qua ngày giáp hạt
Chẳng thể quên những năm nhà đói khát
Để bây giờ vẫn khắc khoải... trong mơ...

Thương ao làng, những năm tháng tuổi thơ
Theo chân anh, hôi con tôm, con cá
Kho tương gừng sao mà ngon đến lạ?
Xa quê rồi, đọng mãi vị nồng cay....

Canh cua đồng, mẹ nấu với rau đay
Thêm cà muối, vị quê thành nỗi nhớ
Quê hương ơi! Bao tâm tình tuổi nhỏ
Gọi con về ... thương nhớ một miền quê...
(Vũ Tuấn- “Khúc ru quê”-NXB hội nhà văn Việt Nam, năm 2022)
* ́ ́:
- Nhà thơ, nhà giáo Vũ Tuấn sinh năm 1977 quê ở xã Đỗ Xuyên, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, những bài thơ của anh chủ yếu viết về tình yêu quê hương, đất nước, về những kỉ niệm tuổi thơ, về mẹ…. với giọng thơ nhẹ nhàng, đằm thắm, ngọt ngào.
- Bài thơ “Hương vị quê nhà” tác giả viết về hương vị của quê hương trong nỗi nhớ da diết.
̛̣ ̣̂ ́ ̂ ̂̀:
̂ 1. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
̂ 2. Chỉ ra và gọi tên một thành phần biệt lập trong khổ thơ cuối cùng?
̂ 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong hai câu thơ sau:
“Canh cua đồng, mẹ nấu với rau đay
Thêm cà muối, vị quê thành nỗi nhớ”
̂ 4. Nêu ý nghĩa của sự kết hợp từ đặc biệt trong nhan đề bài thơ ?
̂ 5. Đọc bài thơ, em thấy mình cần phải làm gì để thể hiện trách nhiệm của bản thân với quê hương? (Trình bày từ 5-7 dòng).
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
̂ 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích hai khổ thơ đầu trong bài thơ “Hương vị quê nhà” trong phần đọc hiểu:
"Con bây giờ thèm những bữa canh chua
Mà mẹ nấu trong ngày hè nắng cháy
Vị quê ơi, sao mà ngon đến vậy?
Đi suốt đời vẫn ngọt mãi trong tim...

Cá chạch đồng cha bắt được, mẹ rim
Con học về đã thơm từ đầu ngõ
Đêm quê hương, theo cha con xách giỏ
Cánh đồng xa, xiêu vẹo ánh trăng gầy..."
̂ 2 (4,0 điểm): Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ nêu suy nghĩ của em về vấn đề tự học của học sinh hiện nay và đề xuất những giải pháp để phát huy ý thức tự học của học sinh.
Đ́ ́ ̂́
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
̂ 1: Thể thơ tám chữ
̂ 2:
- Thành phần biệt lập: “ơi”
- Thành phần gọi đáp
̂ 3:
- BPTT: Liệt kê “canh cua đồng", "rau đay”, “cà muối”
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt
+ Gợi tả sự phong phú của những món ăn dân dã đậm đà hương vị quê hương
+ Tác giả bày tỏ tình yêu và nỗi nhớ quê da diết, sự trân trọng, niềm tự hào về hương vị quê hương.
̂ 4:
- Trong nhan đề có sự kết hợp từ ngữ đặc biệt. Từ hương vị thường được kết hợp với các từ ngữ chỉ sự vật cụ thể (có hương vị) như hương vị nước giải khát, hương vị bánh kẹo,... Trong câu thơ, nhà thơ dùng hương vị kết hợp với quê nhà, một cụm từ chỉ sự vật trừu tượng.
- Tác dụng của sự kết hợp từ ngữ đặc biệt đó là vừa khẳng định những món ăn dân dã ( canh chua, trạch đồng, tôm, cá kho tương gừng,…) là mùi vị của đặc sản quê nhà, vừa mang nghĩa trừu tượng một sắc thái, đặc trưng của quê hương.
̂ 5: Một số hành động, việc làm thể hiện trách nhiệm của bản thân đối với quê hương:
+ Luôn yêu mến, trân trọng, tự hào về quê hương.
+ Học tập, rèn luyện bản thân để sau này góp một phần nhỏ bé xây dựng quê hương.
+ Giới thiệu, quảng bá về con người, những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, những cảnh quan tiêu biểu của quê hương đến bạn bè trong và ngoài nước.
+ Bảo vệ, tôn tạo cảnh quan quê hương làm cho quê hương ngày một xanh sạch đẹp.
II. PHẦN VIẾT
̂ 1: ̂́ đ̣ ̆ (̉ 200 ̛̃) ̂ ́ ̂̉ ̛ đ̂̀ ̀ ̛ “̛̛ ̣ ̂ ̀” ̂̀ đ̣ ̂̉
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn phân tích một đoạn thơ:
- Mở đoạn giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn thơ và nội dung chủ đề; thân đoạn phân tích đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ để làm rõ được nội dung chủ đề; kết đoạn khái quát, tổng hợp lại.
- Đoạn văn đảm bảo dung lượng
b. Xác định đúng yêu cầu phân tích: nỗi nhớ quê hương da diết của tác giả
c. Phân tích, làm rõ được:
- Nội dung chủ đề: nỗi nhớ quê hương da diết của tác giả
+ Nhớ về những kỉ niệm tuổi thơ gắn với những món ăn đậm đà hương vị quê hương: canh chua mẹ nấu trong những ngày hè nắng cháy, cá chạch đồng mẹ rim…
+ Nhớ về những kỉ niệm tuổi thơ gắn với hình ảnh của mẹ, cha.
- Đặc sắc nghệ thuật: Liệt kê, câu hỏi tu từ, nhân hóa,…
* Yêu cầu: HS phải biết khai thác các tín hiệu nghệ thuật để làm nổi bật được nội dung chủ đề.
d. Chính tả, ngữ pháp:
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về đoạn thơ, có cách diễn đạt sáng tạo, mới mẻ.
̂ 2: ̂́ ̀ ̆ ̣ ̣̂ ̉ 600 ̛̃ ̂ ̃ ̉ ̂̀ ̂́ đ̂̀ ̛̣ ̣ ̉ ̣ ̣̂ ̀ đ̂̀ ̂́ ̛̃ ̉ ́ đ̂̉ ́ ́ ̛́ ̛̣ ̣ ̉ ̣ .
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài.
Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vấn đề tự học của học sinh hiện nay.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận:
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề: Tinh thần tự học đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học tập và phát triển của mỗi học sinh. Trong bối cảnh xã hội không ngừng phát triển, tri thức ngày càng mở rộng, việc tự học không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn mà còn là nền tảng vững chắc để đạt được thành công trong tương lai.
- Nêu vấn đề NL: Vậy tự học có ý nghĩa như thế nào đối với học sinh? Và làm thế nào để xây dựng thói quen tự học hiệu quả?
2/Thân bài:
a. Bản chất và biểu hiện của tự học
- Tự học là gì? Tự học là quá trình tự bản thân chủ động tìm hiểu, khám phá và tiếp thu kiến thức mà không phụ thuộc hoàn toàn vào sự hướng dẫn của giáo viên hay người khác.
- Biểu hiện của tự học: Tinh thần tự học được thể hiện qua sự chủ động tìm tòi tài liệu, đặt câu hỏi và tự giải quyết vấn đề, kiên trì rèn luyện kỹ năng và không ngừng học hỏi từ thực tiễn cuộc sống.
b. Sự tác động tích cực của tự học đối với học sinh
- Trước hết, tự học giúp học sinh hoàn thiện bản thân. Khi tự học, các em rèn luyện được tính tự giác, kỷ luật và khả năng quản lý thời gian, từ đó phát triển tư duy độc lập và sáng tạo.
- Bên cạnh đó, tự học giúp học sinh tìm thấy hứng thú trong việc học tập, biến quá trình học trở thành niềm vui thay vì là gánh nặng.
- Khi tự học, các em được tự do lựa chọn phương pháp phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả tiếp thu và nhớ bài lâu hơn. Hơn nữa, tự học góp phần cải thiện kết quả học tập, bởi khi chủ động học hỏi, học sinh sẽ nắm chắc kiến thức và ứng dụng linh hoạt hơn.
- Không chỉ dừng lại ở phạm vi học đường, tinh thần tự học còn là yếu tố quan trọng giúp các em đạt được thành công trong tương lai, bởi xã hội luôn đòi hỏi con người phải không ngừng cập nhật kiến thức và kỹ năng mới.
- Ngoài ra, mỗi cá nhân có ý thức tự học sẽ góp phần thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xã hội, bởi tri thức là nền tảng của mọi thành công.
D/chứng: Học sinh có thể lấy ví dụ về những cá nhân nổi bật, những tấm gương của tinh thần tự học và thành công để minh họa cho bài viết của mình. Các ví dụ như Edison, Steve Jobs, hoặc các nhà khoa học, nghệ sĩ nổi tiếng là những người đã luôn tự học và vượt qua khó khăn để đạt được thành tựu lớn.
c. Ý kiến trái chiều và phản bác
- Ý kiến trái chiều: Một số người cho rằng nếu không có sự giúp đỡ và hướng dẫn cụ thể của giáo viên thì người học sẽ khó tìm ra được hướng đi đúng, dễ dẫn tới sai sót hoặc hiểu không đúng, đủ vấn đề.
- Phản bác: Có rất nhiều những kênh thông tin hỗ trợ HS trong vấn đề tự học (Sách, Internet,…). Hơn nữa, không phải lúc nào GV cũng có thể bên cạnh để hướng dẫn và giúp đỡ học sinh trong quá trình học tập.
d. Đề xuất các giải pháp khả thi để phát huy ý thức tự học của học sinh
- Để khắc phục tình trạng này, mỗi học sinh cần nhận thức rõ ràng rằng tự học mang lại rất nhiều lợi ích, không chỉ giúp tích lũy kiến thức mà còn hình thành các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống. Trước hết, học sinh cần hiểu rằng tự học là nền tảng để phát triển bản thân và đạt được thành công lâu dài. Khi nhận thức được điều này, các em sẽ có động lực để chủ động học tập.
- Tiếp theo, học sinh cần xác định mục tiêu học tập cụ thể, rõ ràng. Việc đề ra những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn sẽ giúp các em định hướng rõ ràng cho quá trình học tập và không bị chán nản.
- Và khi đã có mục tiêu thì các bạn học sinh cần xây dựng kế hoạch học tập chi tiết theo từng giai đoạn, phân bổ thời gian hợp lý giữa học tập và giải trí, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.
- Đặc biệt, trong thời đại công nghệ phát triển, học sinh nên tận dụng internet và các nền tảng mạng xã hội như YouTube, Google, các khóa học trực tuyến để mở rộng kiến thức và học hỏi thêm kỹ năng mới.
3. Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề: Tinh thần tự học là yếu tố vô cùng quan trọng đối với mỗi học sinh, đặc biệt trong thời đại hiện nay. Tự học không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả mà còn là hành trang vững chắc để bước vào tương lai.
- Liên hệ bản thân: Chúng ta cần nhận thức rõ vai trò của tự học, chủ động rèn luyện và không ngừng nỗ lực để phát triển bản thân.
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
--------------------------
Thêm
947
0
0
Viết trả lời...
Không có sự bén duyên giữa tôi với sự viết, đây có lẽ là sự chọn lựa lẫn nhau. Văn chương chẳng bao giờ lựa chọn ai dù làm người hầu hay ông chủ của mình, mỗi người tự ướm mình vào cõi thiêng liêng này. Tôi chọn việc viết văn vì tôi là kẻ phù phiếm, thích nghĩ ngợi, tưởng tượng và bằng đủ mọi cách ném mình khỏi lốt trần tục, qua những giấc mơ. Đọc sách với tôi cũng là một phương pháp để trí tưởng được mở ra, loại bỏ hết ấn phong, khiến mọi lỗ chân lông giãn nở, tiếp nhận hết sức mạnh từ thiên nhiên, vũ trụ. Tôi từng cầm cọ, để vẽ. Sau này tôi thôi cây cọ để cầm bút viết, nhưng cọ hay cây viết cũng là bút, viết văn hay vẽ cũng đều là nghệ thuật. Chọn lấy việc viết, tức là tôi đã tự chọn cho mình một số phận khác, khó khăn, đầy bất trắc.

Trong đầu tôi luôn sinh sôi đủ thứ kỳ quái, những hình khối hỗn độn, các khuôn mặt mờ tỏ cắm xuyên vào nhau đòi hỏi được lên tiếng. Tôi cũng nghĩ rằng nếu mình chỉ sống cuộc đời duy nhất, sẽ thật thiệt thòi dù có thọ trăm năm. Cái tôi này cần phải đi thêm nhiều con đường, sống nhiều cuộc người, thỏa chí trong mọi vai diễn trên sân khấu cuộc đời này. Mộng mơ chưa đủ, tưởng tượng chưa đủ, tôi viết. Sáng tạo ra những hình hài mới từ mình vẫn chỉ là một phần nhỏ trong việc viết của tôi. Đam mê và lớn hơn thế, là sự lên tiếng, nhát búa công lý giáng xuống kết án đủ thứ tội lỗi của mình. Đời sống này, ai cũng thế thôi, luôn có những tội lỗi bằng nhiều lý do khác nhau, chúng ta phủ nhận. Làm sao để có trách nhiệm với không chỉ những người mình thân, quen biết hoặc có cảm tình. Khi cứu một người trên đường, sẽ thiệt hại đến thời gian, lắm khi mất đi công việc béo bở, để cứu một con chim dưới móng vuốt mèo, ta sẽ phải đánh đuổi con mèo mà không biết rằng đã khiến con vật bị đói. Vừa rồi trên mạng xã hội có phát tán một video, đám người mổ trâu giữa đường lớn sau khi con vật chết vì tai nạn xe tải. Phải đánh giá vấn đề này thế nào? Một bầy người đói khát, man rợ giữa đường lớn. Tôi không nghĩ những người này thích/đã quen chuyện này, có thể họ đói thật hoặc không biết làm gì với con trâu đã chết nên đành xẻ xác để giao thông không ách tắc. Con vật thì chết rồi, còn đám đông này, liệu sẽ kết tội họ thế nào đây? Hô hoán đừng làm thế hay xông xáo vào đám người, đoạt lại từng miếng thịt còn nóng để đắp lại cho con vật, mong nó được toàn thây? Tôi đã không biết phải ứng phó thế nào, thế thôi, đành viết xuống. Những dòng dài, như điếu văn cho chú trâu tội nghiệp, những dòng dài để kết tội mình đã im lặng và những dòng dài hơn như một lời sám hối cho đám người đã “không biết việc mình làm”.

Rất nhiều người khuyên tôi bỏ viết, tôi vẫn viết. Cũng nhiều người bảo tôi đừng viết như thế này nữa, tôi vẫn viết theo ý mình. Có lẽ viết đã trở thành công việc của riêng tôi. Một trách nhiệm khó rũ bỏ chăng? Tôi cũng quên mình bắt đầu viết từ bao giờ. Rõ ràng không từ việc đọc quá nhiều sách hay từng học ở nơi có liên quan đến văn chương (thời gian đấy, viết với tôi chỉ là sự trả bài, tôi không quan trọng, chẳng quan tâm cho đến khi rời khỏi môi trường đấy). Có lẽ, hãy vứt béng sự kiểm thảo về thời gian, hoàn cảnh hay những thôi thúc dẫn dắt. Quan trọng là tôi đang cầm bút và chưa lúc nào lười biếng.
Thêm
  • Like
Reactions: Thích Văn Học
561
1
1
Viết trả lời...
THAM KHẢO: ÔN THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN (Có đáp án chi tiết)

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản:

(1) Bất kỳ điều gì con người tưởng tượng ra và tin tưởng sẽ đạt được đều có khả năng trở thành hiện thực. Niềm tin là nền tảng của mọi thành công. Chỉ cần có niềm tin, bạn nhất định sẽ chiến thắng. Câu chuyện về những tấm gương thành công tự cổ chí kim đều chuyển tải thông điệp về sức mạnh của niềm tin.

(2) Để xây dựng niềm tin, trước hết bạn phải tin tưởng ở chính mình. Khi làm được điều này, bạn sẽ thấy tin tưởng hơn vào con đường mình đã chọn, cũng như kết quả mà bạn sẽ đạt được sau đó. Chỉ khi mất niềm tin, người ta mới rơi vào thất bại. Từ cầu thủ giao bóng, anh lính trên chiến trường, hay nhà chính khách, nhà quản lý doanh nghiệp cho đến anh công nhân,... tất cả đều chỉ có thể hướng về phía trước và nỗ lực hết sức khi họ có niềm tin. Trước hết bạn phải có niềm tin, rồi niềm tin đó sẽ lan truyền sang những người xung quanh bạn – những người thân cận và thuộc cấp của bạn – và họ sẽ đặt sự tin tưởng vào bạn.

(3) Niềm tin luôn là phần không thể thiếu trong thắng lợi của bất kỳ ai. Khoảng cách giữa một anh công nhân bình thường với vị trí của người quản đốc chẳng là gì nếu anh ta có niềm tin và biết vượt lên chính mình bằng niềm tin ấy.

(4) Hãy nuôi dưỡng niềm tin. Lặp đi lặp lại một sự khẳng định nào đó cũng giống như việc đưa ra mệnh lệnh cho tiềm thức của bạn. Đây là phương pháp hữu hiệu có thể giúp con người phát triển niềm tin một cách chủ động.
(George Matthew Adams, Không gì là không thể, Thu Hằng dịch NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2023, tr.24,25)

Thực hiện yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định luận đề của văn bản trên.

Câu 2 (0,5 điểm): Trong đoạn (4), tác giả đã dùng lí lẽ nào để khẳng định: Hãy nuôi dưỡng niềm tin.

Câu 3 (1,0 điểm). Nêu vai trò của bằng chứng được sử dụng trong đoạn (2).

Câu 4 (1,0 điểm). Em hiểu gì về thái độ của tác giả khi bàn về vấn đề trong văn bản trên?

Câu 5 (1,0 điểm). Bài học ý nghĩa nhất em rút ra cho bản thân từ văn bản trên là gì? Vì sao?

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em sau khi đọc xong bài thơ:
Mẹ (Viễn Phương)
Con nhớ ngày xưa mẹ hát:
...“Hoa sen lặng lẽ dưới đầm
Hương hoa dịu dàng bát ngát
Thơm tho không gian, thời gian”...

Mẹ nghèo như đoá hoa sen
Tháng năm âm thầm lặng lẽ,
Giọt máu hoà theo dòng lệ
Hương đời mẹ ướp cho con.

Khi con thành đoá hoa thơm
Đời mẹ lắt lay chiếc bóng,
Con đi… chân trời gió lộng
Mẹ về… nắng quái chiều hôm.

Sen đã tàn sau mùa hạ
Mẹ cũng lìa xa cõi đời,
Sen tàn rồi sen lại nở
Mẹ thành ngôi sao trên trời.
(Trích Nhà văn và tác phẩm văn học trong nhà trường,
Viễn Phương, Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm, NXB Giáo dục Việt Nam, 1999)
* Chú thích: Viễn Phương ( 1928- 2005) tên thật là Phan Thanh Viễn, quê ở An Giang. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, ông hoạt động ở chiến trường Nam Bộ, là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. Tác phẩm chính: “Anh hùng mìn gạt”, “Như mây mùa xuân”, “Lòng mẹ”,… Thơ của Viễn Phương giàu cảm xúc nhưng không bi lụy mà nền nã, thì thầm, bâng khuâng.

Câu 2 (4,0 điểm): Viết bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề cần giải quyết: "Là một học sinh, em nghĩ làm thế nào để bản thân biết cách đối mặt và vượt qua thử thách?”

ĐÁP ÁN
̂ 1: Luận đề của văn bản trên: Sức mạnh của niềm tin.
̂ 2: Lí lẽ: Lặp đi lặp lại một sự khẳng định nào đó cũng giống như việc đưa ra mệnh lệnh cho tiềm thức của bạn. Đây là phương pháp hữu hiệu có thể giúp con người phát triển niềm tin một cách chủ động.
̂ 3: * Bằng chứng: Từ cầu thủ giao bóng, anh lính trên chiến trường, hay nhà chính khách, nhà quản lý doanh nghiệp cho đến anh công nhân,… tất cả đều chỉ có thể hướng về phía trước và nỗ lực hết sức khi họ có niềm tin.
* Vai trò của bằng chứng:
- Giúp cho lập luận chặt chẽ, logic, giàu sức thuyết phục, tăng độ tin cậy cho bài viết.
- Làm sáng tỏ luận điểm: Để xây dựng niềm tin, trước hết bạn phải tin tưởng ở chính mình. Từ đó, góp phần làm nổi bật luận đề của văn bản: Sức mạnh của niềm tin.
̂ 4: Thái độ của tác giả:
- Ca ngợi sức mạnh của niềm tin trong cuộc sống.
- Khẳng định, đề cao vai trò của niềm tin trong cuộc sống, niềm tin là nền tảng dẫn đến thành công.
- Mong muốn chúng ta nhận thức đúng đắn về sức mạnh của niềm tin.
- Mong muốn mọi người tạo dựng và nuôi dưỡng niềm tin cho bản thân trong bất cứ hoàn cảnh nào để luôn thành công trong cuộc sống.
- Qua đó cũng lên án, phê phán những con người sống bi quan, tự ti, thiếu niềm tin vào bản thân, vào cuộc sống.
̂ 5: - Hs nêu một bài học phù hợp với nội dung của văn bản. (Gợi ý: Cần nhận thức được vai trò, sức mạnh của niềm tin trong cuộc sống; hãy tạo dựng cho mình niềm tin trong cuộc sống; đừng đánh mất niềm tin vào cuộc sống....)
- Lí giải một cách hợp lí, thuyết phục.
VẾ
̂ 1
a.Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng đoạn văn
Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, song song, phối hợp.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:
Cảm nghĩ về nội dung và nghệ thuật về bài thơ Mẹ của tác giả Viễn Phương
c. Xác định được hệ thống ý phù hợp làm rõ nội dung trọng tâm của đoạn văn:
* Xác định được các ý phù hợp để tập trung làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
- Giới thiệu nhan đề, tác giả và nêu cảm nghĩ chung về bài thơ.
- Trình bày cảm nghĩ về nét độc đáo của bài thơ trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật:
+ Trình bày cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp...) của bài thơ: Bài thơ viết về tình mẹ thiêng liêng và vĩ đại. Bài thơ mang đến những hình ảnh và cảm nhận sâu sắc về tình mẹ về sự hy sinh vô điều kiện của mẹ dành cho con. Qua đó thể hiện được tình yêu, tấm lòng kính trọng và biết ơn mẹ....
+ Cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật: thể thơ sáu chữ; hình ảnh chọn lọc, tinh tế; ngôn ngữ giàu sức biểu cảm; phép tu từ nhân hoá, ẩn dụ, so sánh được sử dụng hiệu quả… và tác dụng của chúng trong việc biểu đạt nội dung;
- Khái quát cảm nghĩ về bài thơ.
* Sắp xếp được hệ thống các ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn.
d.Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Lựa chọn được phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai những nội dung đã xác định.
- Trình bày rõ cảm nghĩ và hệ thống các ý.
- Sử dụng đa dạng các hình thức trích dẫn; kết hợp phân tích với nhận xét, đánh giá và bộc lộ cảm nghĩ về bài thơ.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện cảm nghĩ sâu sắc về bài thơ; có cách diễn đạt mới mẻ.
̂ 2: Viết bài văn
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
- Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Là một học sinh, em nghĩ làm thế nào để bản thân biết cách đối mặt và vượt qua thử thách.
c. Đề xuất hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết
- Xác định được các ý chính của bài viết.
- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
1. Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
2. Triển khai vấn đề nghị luận:
a. Giải thích vấn đề nghị luận:
+ Thử thách là những khó khăn, trở ngại, hoặc tình huống bất lợi mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống. Chúng có thể đến từ nhiều khía cạnh khác nhau như học tập, công việc, mối quan hệ, sức khỏe hoặc hoàn cảnh gia đình.
+ Đối mặt và vượt qua thử thách là quá trình chúng ta nhận thức, chấp nhận và tìm cách giải quyết những khó khăn đó để đạt được mục tiêu hoặc vượt qua nghịch cảnh.
b. Thể hiện quan điểm của người viết về vấn đề nghị luận, có thể theo một số gợi ý sau:
- Thực trạng: Trong xã hội hiện đại, giới trẻ đang phải đối mặt với nhiều áp lực và thử thách mới. Áp lực học tập, cạnh tranh trong công việc, khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu và dịch bệnh là những thách thức lớn mà thế hệ trẻ phải đối mặt. Tuy nhiên, không phải ai cũng có đủ kỹ năng và sự chuẩn bị để đối mặt với những khó khăn này. Nhiều bạn trẻ dễ nản lòng, bỏ cuộc hoặc rơi vào trạng thái tiêu cực khi gặp thử thách.
- Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc giới trẻ gặp khó khăn trong việc đối mặt và vượt qua thử thách. Một số nguyên nhân chính bao gồm:
+ Thiếu kỹ năng sống: Giáo dục hiện nay chưa chú trọng đầy đủ đến việc trang bị cho học sinh các kỹ năng sống cần thiết như kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng tư duy phản biện.
+ Sợ thất bại: Nhiều bạn trẻ sợ thất bại và không dám đối mặt với thử thách vì lo ngại sẽ bị đánh giá hoặc mất mặt.
+ Thiếu sự hỗ trợ: Một số bạn trẻ thiếu sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè hoặc thầy cô khi gặp khó khăn.
+ Ảnh hưởng của mạng xã hội: Mạng xã hội có thể tạo ra áp lực đồng trang lứa và khiến giới trẻ so sánh bản thân với người khác, dẫn đến cảm giác tự ti và thiếu tự tin.
- Hậu quả của thực trạng trên: Không dám đối mặt và vượt qua khó khăn thử thách có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với học sinh:
+ Kết quả học tập kém: Học sinh ngại khó khăn thử thách trong học tập thường quyết tâm trong việc học và làm bài nhất là khi gặp bài khó, đơn vị kiến thức mới, dẫn đến việc không nắm vững kiến thức và kết quả học tập kém.
+ Mất niềm tin vào bản thân: Học sinh không dám đối mặt với khó khăn, lâu dần khó khăn thử thách dù nhỏ cũng trở thành rào cản không dám vượt qua. Từ đó dễ trở nên tự ti, mất niềm tin vào khả năng của bản thân
+ Dễ gặp thất bại trong cuộc sống: Không vượt qua khó khăn thử thách sẽ dễ nản chí, làm gì cũng sợ thất bại. Vì vậy khó có cơ hội thành công.

- Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện về vấn đề…
- Đề xuất được một vài giải pháp khả thi, có sức thuyết phục để đối mặt và vượt qua thử thách. Có thể là:
+ Rèn luyện tư duy tích cực.
+ Xây dựng mục tiêu rõ ràng và kế hoạch hành động cụ thể.
+ Tìm kiếm sự hỗ trợ từ người thân, bạn bè và chuyên gia.
+ Học hỏi và phát triển không ngừng
- …
* Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.
* Lưu ý: Học sinh đề xuất được ít nhất hai giải pháp, trình bày theo nhiều hướng, bảo đảm hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Triển khai được ít ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng.
Lưu ý: Học sinh có thể trình bày suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
---------------------
Thêm
  • Like
Reactions: Văn Học Trẻ
1K
1
0
Viết trả lời...
Sau này con có thể quên nhiều thứ
Nhưng một điều con phải nhớ, đừng quên
Có những người ta chẳng thể biết tên
Nhưng con ơi, họ làm ra Đất Nước.

Dẫu phong ba cũng không hề lùi bước
Giữa mặt trận họ quyết chọn hi sinh
"Tiếc tuổi trẻ rồi cũng tiếc thân mình
Ai cũng tiếc thì còn đâu Tổ Quốc?"

Họ đi mãi, đi về nơi phía trước
Nơi bom đạn vùi lấp những thanh xuân
Để sau lưng dáng mẹ đứng ân cần
Gửi giấc mộng một thời chưa kịp lớn.

Có người lính rời quê khi trời sớm
Chưa kịp về đã hoá khói, sương bay
Bức thư kia gói gọn cả tháng ngày
Tới tay mẹ đã đẫm màu nước mắt.

Có cô gái tuổi xuân thì ngây ngất
Đã khoác màu áo lính dưới "trời mưa"
Gửi tâm tư vào cả những bài thơ
Rồi nằm lại giữa rừng sâu, gió hú.

Có những người vô danh trên bia mộ
Chẳng ai hay họ đã đến từ đâu
Chỉ biết rằng mỗi tấc đất cắm sâu
Là xương thịt của bao người nằm xuống.

Con phải nhớ máu xương là con suối
Chảy âm thầm nuôi sự sống hôm nay
Mỗi bước chân đi trên đất cỏ dày
Là dấu tích những người không trở lại.

Họ nằm đó, dưới bầu trời xanh mãi
Chẳng đợi ai cất vang tiếng ngợi ca
Nhưng quê hương - nơi sông suối, gầm hoa
Là bằng chứng họ làm ra Đất Nước.

Trái tim họ vốn đã nhiều vết xước
Họ không sợ ta không biết là ai
Họ chỉ sợ trong ngày tháng trôi dài
Ta sẽ quên công lao người đã khuất.

Không chỉ nhớ mỗi ông cha đã mất
Phải nhớ người phụ nữ đã hi sinh
Nuôi Cộng Sản nào có tiếc thân mình?
Tạo tiền đề cho một ngày chiến thắng.

Năm bảy lăm, cả Sài Gòn giải phóng
Bắc Trung Nam thống nhất kể từ đây
Con phải nhớ nơi con sống hôm nay
Chôn máu xương của những người Yêu Nước.


IMG_5272.jpeg
Thêm
  • Like
Reactions: Thúy Vũ
386
1
0
Viết trả lời...
Em là b útch ì

Anh l à cụctẩ y

-----------------------------------------

Em như bút chì vẽ đời rực rỡ,
Tầng mây thơ phiêu lãng giữa trời xanh.
Mỗi sớm mai, em tô màu hy vọng,
Mỗi chiều về, em điểm nụ cười anh.

Em yêu nắng, yêu mưa, yêu mùa gió,
Yêu cuộc đời dù lắm lúc chông chênh.
Em là em — một mảnh hồn son trẻ,
Chưa từng ngừng tin vào những điều lành.

Còn anh bên em — như cục tẩy âm thầm,
Cứ lặng lẽ xóa đi bao vệt nhớ.
Xóa ngây thơ, xóa ước mơ… dang dở,
Xóa nụ em cười lấp lánh trang thơ.

Anh có biết — tình em đâu dễ tẩy,
Dẫu bao lần anh gắng xóa không thôi.
Nét bút chì vẫn hằn sâu nhức nhối,
Dẫu nhòe đi... vẫn chẳng thể mờ phai.

Bởi em sống bằng con tim nồng ấm,
Còn anh tham lam, ôi tro bụi hoang vu.
Cứ bội bạc, cứ quay lưng lạnh lẽo,
Bút chì em vẫn phác thảo sắc màu.
Thêm
361
0
0
Viết trả lời...
Cảm ơn má đã không biến ba con thành nhân vật phản diện,


Hồi nhỏ, ba là anh hùng trong mắt tôi, ba rất tuyệt vời.

Thời niên thiếu, ba trở thành hình mẫu người đàn ông tốt mà tôi đặt ra cho bạn trai tương lai.

Lúc trưởng thành, từng mảng tối trong gia đình bắt đầu hé lộ, ba tôi là người ba tốt nhưng không phải là người chồng tốt.

Ba chưa bao giờ đánh đập má tôi, ba đi làm lo tài chính gia đình. Chắc đó là hai điểm tốt duy nhất mà ở khía cạnh một người chồng mà ba tôi đã làm được.

Ba tôi gia trưởng. Đối với ba, đàn ông làm việc lớn ở ngoài, đàn bà lo việc trong nhà. Tuy sau này, má tôi cùng ra đi làm với ba, nhưng khi trở về nhà, mọi việc nhà cửa, cơm nước, lo con cái, đều là má tôi làm. Ba không hề xắn tay phụ lấy. Kể cả khi má tôi bệnh, mệt, ba cũng không quan tâm. Chỉ duy nhất khi má tôi sinh con, nằm cữ, không thể ra nấu cơm, giặt giũ, ba mới làm.

Ba tôi độc đoán. Trong nhà, những việc lớn liên quan tài chính, ba tôi tự quyết định. Có lần Tết, ba tôi đánh bài thua sạch tiền, sẵn tiện, ba bán luôn đám mía non với giá rẻ để lấy tiền đánh bài tiếp. Và má tôi không có quyền lên tiếng dù mấy đám mía đó là tài sản, công sức của cả hai vợ chồng.

Ba tôi là người chồng vô tâm. Trong ký ức tuổi thơ, mỗi lần Tết đến, nhà nhà đều đi chụp hình gia đình, riêng gia đình tôi, chỉ duy nhất có hai lần chúng tôi chụp hình đủ mặt cả nhà. Còn lại, toàn là má tôi bồng bế, chở bốn anh em xuống studio để chụp hình. Mỗi năm, mới đầu tháng chạp, còn cả tháng nửa mới tới Tết, ba tôi đã có mặt ở các sòng bài từ sáng đến khuya, ăn ngủ luôn ở sòng bài. Thậm chí đến sáng mùng một, ba cũng không hề về nhà. Chỉ có mấy má con lủi thủi với nhau đón tết. Ngày Tết, mặc cho má một mình lo toan mọi thứ, dọn dẹp nhà cửa, dẫy cỏ mộ ông ngoại, gói bánh tét, đúc bánh chưng, làm mức, lo cúng ông công, ông Táo, lo cúng tất niên, giao thừa, lại thêm coi sóc bốn đứa nhỏ leo nheo. Ba tôi vẫn tàng tàng ăn ngủ rồi đi đánh bài, hiếm hoi lắm, hôm nào đánh bài thua, hết tiền sớm, ba mới về sớm được một bữa, thế mà cả nhà vui như hội. Có năm, nửa đêm giao thừa, đợi mấy đứa con ngủ say, má đi tới từng sòng bài kiếm ba. Tìm được ba, năn nỉ ba về nhà đón mùng một với cả nhà, nhưng ba bỏ mặc. Má một mình, đi bộ về nhà, nửa đường, tủi thân ngồi khóc ở ống cống.

Những điều đó, má chưa bao giờ kể cho chúng tôi nghe. Những gì má kể, chỉ là ba làm lụng vất vả thế này, ba làm lụng vất vả thế kia để tụi tôi thấy được sự hy sinh cao cả của ba, nhưng lại không thấy được sự hy sinh lặng thầm của má. Chúng tôi lớn lên trong một gia đình êm ấm. Tôi vô cùng biết ơn má vì điều đó. Tuổi thơ tôi trôi qua trong êm đềm, không phải thấy cảnh mâm bay, chén rơi trong giờ ăn, không phải thấy cảnh người lớn đánh đập, chì chiết nhau. Cũng bởi vì, má tôi cố nhịn nhục và giấu nước mắt vào trong.

Khi trưởng thành, tôi dần dần nhận ra những góc khuất ấy, đã dần thấy được những lần má khóc thầm. Má cũng dần dần mở lòng hơn để kể với tôi, những câu chuyện má giấu rất lâu rồi. Vì má biết, tôi đủ trưởng thành để hiểu.

Tôi vô cùng biết ơn má, đã cho tôi một tuổi thơ hoàn hảo, không sứt mẻ để tôi có thể trưởng thành một cách trọn vẹn về nhân cách và cảm xúc. Tôi vô cùng cảm ơn má, má đã không biến ba thành nhân vật phản diện trong mắt những đứa trẻ là bọn tôi.
Thêm
507
0
0
Viết trả lời...
IMG_5178.jpeg


Dưới bóng thời gian, làng Đại Bái từng một thời vang danh bốn cõi với những tiếng búa, tiếng đe vang vọng từ sáng sớm đến chiều tà. Bao thế hệ người thợ đúc đồng đã hun đúc nơi đây không chỉ những pho tượng, trống đồng, lư hương, mà còn đúc cả hồn cốt của một làng nghề ngàn năm trân quý. Từng thớ đất, từng giọt mồ hôi của cha ông thấm vào thau đồng đỏ chói, ánh lên những sắc màu lịch sử và văn hóa.



Thế nhưng, như một khúc tráng ca bị ngắt quãng giữa chừng, làng nghề ấy giờ đây lặng lẽ bước vào hoàng hôn của mình. Đất chật, người đông, những dòng kênh xanh xưa kia nay đã đặc quánh phù sa lẫn tro bụi, hóa chất. Khói than, mùi đồng cháy âm ỉ, bao năm vẫn âm thầm len lỏi vào từng nếp nhà, từng phế quản của người làng.



Khi quyết định dỡ bỏ những lò đúc, ống khói được ban hành, lòng người Đại Bái trĩu nặng như có ai vừa hạ hồi chuông đoạn tuyệt. Những khuôn đúc, nồi nấu, đe búa từng là niềm kiêu hãnh của bao gia đình bị cất vào ký ức. Con đường làng từng mòn chân người thợ, nay chỉ còn trơ lại bụi đỏ và những mảng tường lở lói. Bao nhiêu tâm huyết, bao nhiêu tinh hoa nghề cổ giờ hóa thành hoài niệm.



Nhưng cũng phải thôi. Mảnh đất không thể thở nổi nữa. Những mầm bệnh, những tổn thương môi trường chồng chất buộc người ta phải lựa chọn. Giữ nghề thì mất người. Bỏ nghề thì mất hồn. Giữa đôi bờ ấy, Đại Bái buộc phải chấp nhận buông tay.

Dẫu cho lửa lò đã tắt, tiếng búa đã im, nhưng tinh thần của người Đại Bái chưa bao giờ chịu ngủ yên. Trong sâu thẳm những bàn tay từng chai sần vì đồng đỏ lửa hồng, trong ký ức của những đứa trẻ từng lớn lên bên lò nung, ngọn lửa nghề vẫn còn âm ỉ cháy. Có người sẽ mang khuôn đúc, mang kỹ nghệ xưa lên những vùng đất mới, lập lên những xưởng nhỏ xa làng cũ, tiếp tục đúc đồng bằng cách thức thân thiện hơn với đất trời. Có người miệt mài khôi phục những hoa văn cổ, gìn giữ bí quyết nghề để dạy lại cho con cháu sau này.



Đại Bái hôm nay có thể không còn vang tiếng lò đúc như xưa, nhưng hồn nghề vẫn lặng lẽ chảy trong từng mạch máu của người làng. Biết đâu đó, một ngày không xa, khi con người tìm được cách hài hòa giữa truyền thống và môi trường, tiếng búa Đại Bái sẽ lại vang lên — không còn là tiếng đập xuống một chương cũ, mà là nhịp ngân vút lên một khúc ca hồi sinh.

Bắc Ninh,8/5/2025
Thêm
443
0
0
Viết trả lời...
HẠNH PHÚC NỞ HOA


Hàng trăm tia nước mát lành đang rửa trôi lớp bụi trắng mỏng trả lại màu xanh mỡ màng cho những chiếc lá hạnh phúc. Mấy cành dài vươn mình đón nắng khẽ rung rinh, nhảy nhót. Tôi như nghe được cả tiếng cười khúc khích phát ra từ tàng cây. Dưới chùm nắng non buổi sớm, những giọt nước li ti trong suốt đọng trên lá hắt ra thứ ánh sáng lung linh, tinh khiết. Vừa tưới cây, tôi vừa vuốt ve, ngắm nghía từng chiếc lá. Sáng sớm là khoảng thời gian tôi cho phép mình được thư thả, không lo nghĩ bất cứ chuyện gì, chỉ tập trung vào những giọt nước, những cơn gió, những chiếc lá, những bông hoa và mọi thanh âm thân thuộc của một ngày bình thường. Đó là tiếng xe chạy hối hả, tiếng rao thu mua đồ cũ, tiếng chim hót ríu rít, tiếng tắc kè nhà ai nuôi và cả tiếng trực thăng bay lượn trên bầu trời.

Chỉ khi thực sự yêu thứ gì đó, người ta mới cảm nhận được giá trị thời gian ít ỏi mà họ phải cố xén ra giữa guồng quay cơm áo gạo tiền để toàn tâm toàn ý dành cho niềm đam mê ấy. Tôi không mê trà nên chẳng thể hiểu được cái thú khi những người yêu trà ngồi mân mê pha và thưởng thức một tách trà nhỏ xíu. Cũng như ai không yêu cây sẽ chẳng hiểu được cảm giác mân mê từng chiếc lá, ngắm nghía từng chồi xanh, hì hục nhổ đi từng cây cỏ… có thể gây nghiện như thế nào. Ngày nào cũng ngắm, cũng soi từng chi tiết trên cây thế mà vẫn có lúc ngỡ ngàng tự hỏi cái chồi này nảy lên từ khi nào, cái cành kia sao bỗng dưng dài thế nhỉ.

Hôm nay, tôi phát hiện cây hạnh phúc của mình ra hoa. Nếu không chú ý, tôi đã chẳng nhìn thấy chùm nụ màu xanh nhạt hơn màu cốm ẩn sâu trong mấy cành um tùm lá cũng màu xanh kia. Điều làm tôi bất ngờ không phải là việc mình vô tình tìm ra bí mật của cây mà là “hạnh phúc”, một loại cây yêu thích của tôi cũng có thể ra hoa. Hoá ra, tôi vẫn chưa hiểu hết đặc tính của cái cây mà tôi đã phải lòng cách đây năm năm. Tôi tưởng rằng mình thấy bản thân yêu nó, chăm sóc nó mỗi ngày, lau từng cái lá của nó… thế là yêu. Mà tôi quên mất rằng yêu là phải hiểu cặn kẽ, hiểu chi tiết, là phải biết nó cần gì, muốn gì, nó có yêu mình không. Tôi cũng chưa bao giờ tự hỏi mình yêu nó như vậy đã đủ chưa? Chỉ thấy lá vẫn xanh, chồi mới vẫn lên là ung dung tự hào về tình yêu của mình. Hay là tôi yêu hạnh phúc chỉ vì “trend”?

Có một dạo, người ta đổ xô đi mua hạnh phúc vì nghe nói trồng hạnh phúc sẽ hạnh phúc và hạnh phúc dễ chăm, dễ sống. Thật vậy, hạnh phúc ưa sáng nhưng ở nơi không có ánh nắng trực tiếp, cây vẫn có thể phát triển bình thường. Hạnh phúc có tán sum suê, lá màu xanh đậm, căng bóng rất đẹp. Vì vậy, hạnh phúc thường được chọn để trang trí cho các văn phòng, sảnh lễ tân ở ngân hàng, khách sạn hay để tạo thêm không gian xanh cho phòng khách, phòng làm việc ở nhà. Hạnh phúc không khó tính, đỏng đảnh, không rực rỡ, sắc màu, không toả ra mùi thơm gì hết nhưng màu xanh mướt của hạnh phúc mang lại cảm giác sức sống căng tràn. Nếu thực sự ngắm màu xanh của hạnh phúc, hẳn ai cũng sẽ thấy lòng mình dịu lại.

Chỉ cần có đủ ánh sáng dù là ánh sáng nhân tạo, hạnh phúc cũng lặng lẽ sống “hạnh phúc” như cái tên của nó. Ở mỗi cành, hạnh phúc sẽ ra các chùm nhỏ gồm ba lá xếp thành hình trái tim. Tuy không ai trồng hạnh phúc để lấy hoa hay hương nhưng người ta vẫn chọn hạnh phúc. Người ta chọn hạnh phúc bởi cái tên của nó làm người ta hi vọng hay người ta chỉ đơn giản muốn chọn một cái cây ưa nhìn mà dễ tính như lời người bán tư vấn? Mà suy cho cùng, dù lý do là gì, miễn sau đó người ta vẫn chăm sóc tốt cho nó là được. Phải không nhỉ? Yêu hay không có quan trọng không?

Cái tên hạnh phúc của nó có lẽ do một người yêu nó thực sự đặt cho. Thật ra, tôi chưa từng tìm hiểu hay nghiên cứu nghiêm túc về nó. Vậy mà tôi luôn tự nhận mình yêu nó. Xấu hổ thật! Giờ thì tôi suy đoán bằng cảm giác, một cảm giác thật lòng khi tôi nghĩ về hạnh phúc chứ không phải bằng sự hiểu biết của tôi về nó. Phải chăng bởi hạnh phúc toả ra thứ tình yêu thuần khiết trong từng cành từng lá của mình nên người ta mới gọi nó là hạnh phúc. Cái gì đi từ trái tim sẽ dễ chạm đến trái tim. Hạnh phúc đã chinh phục tôi bằng chất mộc đơn sơ của mình như thế. Mà có lẽ, chính bởi sự “dễ tính” của mình nên ít ai mang hạnh phúc ra trồng ở ngoài trời, nơi có nắng. Thành phố mà, chen nhau để sống, những nơi có nắng như vậy đâu có nhiều. Và cho nên, những nơi có nắng hiếm hoi ấy phải để dành cho những cây cần nắng mới sống được. Chắc là… hạnh phúc hiểu điều đó dù sống trong nhà, nó sẽ khó mà trổ bông. Thực vật hoá ra cũng giống con người - cần thay đổi và thích nghi, sẵn sàng chấp nhận được mất, hài lòng với hiện tại thì mới có thể “hạnh phúc” sống và cống hiến cho đời.

Đến hôm nay, khi vô tình nhìn thấy những nụ hoa hạnh phúc đầu tiên, tôi mới giật mình mở máy vào mạng tra cứu thông tin về hạnh phúc. Càng tìm hiểu tôi càng ngỡ ngàng nhận ra mình chưa bao giờ hiểu hết về hạnh phúc. Hoá ra, trước giờ tôi chưa đủ yêu hạnh phúc như tôi vốn tự hào và vốn tưởng. Vì chưa đủ yêu nên chưa đủ hiểu. Tôi chẳng hề biết rằng hạnh phúc nếu sống ở ngoài tự nhiên có thể cao tới 30m, y học phương Đông còn dùng nó như một vị thuốc trị sốt, trị thương và một số bệnh khác. Tôi chẳng hề biết rằng nếu được sống trong môi trường lý tưởng, được hấp thụ đủ nắng, đủ dinh dưỡng, hạnh phúc cũng có thể ra hoa… Không ra hoa, hạnh phúc vẫn xanh lá nhưng có phải ra hoa thì sẽ trọn vẹn hơn không? Sống một đời, ít nhất cũng được một lần ra hoa chứ nhỉ? Phải vậy thì cuộc đời mới biết thêm một loài hoa - hoa hạnh phúc.

Nói chuyện cây lại nghĩ chuyện người. Đọc đến đây bạn có tự hỏi “hạnh phúc” mà chúng ta vẫn thường nói đến, thường mơ đến liệu đã nhận đủ “nắng” để ra hoa chưa? Chúng ta đã yêu ai đó, thứ gì đó đủ chưa? Liệu tôi còn chưa đủ yêu những gì nữa?
Thêm
387
0
1
Viết trả lời...
HẠNH PHÚC NỞ HOA


Hàng trăm tia nước mát lành đang rửa trôi lớp bụi trắng mỏng trả lại màu xanh mỡ màng cho những chiếc lá hạnh phúc. Mấy cành dài vươn mình đón nắng khẽ rung rinh, nhảy nhót. Tôi như nghe được cả tiếng cười khúc khích phát ra từ tàng cây. Dưới chùm nắng non buổi sớm, những giọt nước li ti trong suốt đọng trên lá hắt ra thứ ánh sáng lung linh, tinh khiết. Vừa tưới cây, tôi vừa vuốt ve, ngắm nghía từng chiếc lá. Sáng sớm là khoảng thời gian tôi cho phép mình được thư thả, không lo nghĩ bất cứ chuyện gì, chỉ tập trung vào những giọt nước, những cơn gió, những chiếc lá, những bông hoa và mọi thanh âm thân thuộc của một ngày bình thường. Đó là tiếng xe chạy hối hả, tiếng rao thu mua đồ cũ, tiếng chim hót ríu rít, tiếng tắc kè nhà ai nuôi và cả tiếng trực thăng bay lượn trên bầu trời.

Chỉ khi thực sự yêu thứ gì đó, người ta mới cảm nhận được giá trị thời gian ít ỏi mà họ phải cố xén ra giữa guồng quay cơm áo gạo tiền để toàn tâm toàn ý dành cho niềm đam mê ấy. Tôi không mê trà nên chẳng thể hiểu được cái thú khi những người yêu trà ngồi mân mê pha và thưởng thức một tách trà nhỏ xíu. Cũng như ai không yêu cây sẽ chẳng hiểu được cảm giác mân mê từng chiếc lá, ngắm nghía từng chồi xanh, hì hục nhổ đi từng cây cỏ… có thể gây nghiện như thế nào. Ngày nào cũng ngắm, cũng soi từng chi tiết trên cây thế mà vẫn có lúc ngỡ ngàng tự hỏi cái chồi này nảy lên từ khi nào, cái cành kia sao bỗng dưng dài thế nhỉ.

Hôm nay, tôi phát hiện cây hạnh phúc của mình ra hoa. Nếu không chú ý, tôi đã chẳng nhìn thấy chùm nụ màu xanh nhạt hơn màu cốm ẩn sâu trong mấy cành um tùm lá cũng màu xanh kia. Điều làm tôi bất ngờ không phải là việc mình vô tình tìm ra bí mật của cây mà là “hạnh phúc”, một loại cây yêu thích của tôi cũng có thể ra hoa. Hoá ra, tôi vẫn chưa hiểu hết đặc tính của cái cây mà tôi đã phải lòng cách đây năm năm. Tôi tưởng rằng mình thấy bản thân yêu nó, chăm sóc nó mỗi ngày, lau từng cái lá của nó… thế là yêu. Mà tôi quên mất rằng yêu là phải hiểu cặn kẽ, hiểu chi tiết, là phải biết nó cần gì, muốn gì, nó có yêu mình không. Tôi cũng chưa bao giờ tự hỏi mình yêu nó như vậy đã đủ chưa? Chỉ thấy lá vẫn xanh, chồi mới vẫn lên là ung dung tự hào về tình yêu của mình. Hay là tôi yêu hạnh phúc chỉ vì “trend”?

Có một dạo, người ta đổ xô đi mua hạnh phúc vì nghe nói trồng hạnh phúc sẽ hạnh phúc và hạnh phúc dễ chăm, dễ sống. Thật vậy, hạnh phúc ưa sáng nhưng ở nơi không có ánh nắng trực tiếp, cây vẫn có thể phát triển bình thường. Hạnh phúc có tán sum suê, lá màu xanh đậm, căng bóng rất đẹp. Vì vậy, hạnh phúc thường được chọn để trang trí cho các văn phòng, sảnh lễ tân ở ngân hàng, khách sạn hay để tạo thêm không gian xanh cho phòng khách, phòng làm việc ở nhà. Hạnh phúc không khó tính, đỏng đảnh, không rực rỡ, sắc màu, không toả ra mùi thơm gì hết nhưng màu xanh mướt của hạnh phúc mang lại cảm giác sức sống căng tràn. Nếu thực sự ngắm màu xanh của hạnh phúc, hẳn ai cũng sẽ thấy lòng mình dịu lại.

Chỉ cần có đủ ánh sáng dù là ánh sáng nhân tạo, hạnh phúc cũng lặng lẽ sống “hạnh phúc” như cái tên của nó. Ở mỗi cành, hạnh phúc sẽ ra các chùm nhỏ gồm ba lá xếp thành hình trái tim. Tuy không ai trồng hạnh phúc để lấy hoa hay hương nhưng người ta vẫn chọn hạnh phúc. Người ta chọn hạnh phúc bởi cái tên của nó làm người ta hi vọng hay người ta chỉ đơn giản muốn chọn một cái cây ưa nhìn mà dễ tính như lời người bán tư vấn? Mà suy cho cùng, dù lý do là gì, miễn sau đó người ta vẫn chăm sóc tốt cho nó là được. Phải không nhỉ? Yêu hay không có quan trọng không?

Cái tên hạnh phúc của nó có lẽ do một người yêu nó thực sự đặt cho. Thật ra, tôi chưa từng tìm hiểu hay nghiên cứu nghiêm túc về nó. Vậy mà tôi luôn tự nhận mình yêu nó. Xấu hổ thật! Giờ thì tôi suy đoán bằng cảm giác, một cảm giác thật lòng khi tôi nghĩ về hạnh phúc chứ không phải bằng sự hiểu biết của tôi về nó. Phải chăng bởi hạnh phúc toả ra thứ tình yêu thuần khiết trong từng cành từng lá của mình nên người ta mới gọi nó là hạnh phúc. Cái gì đi từ trái tim sẽ dễ chạm đến trái tim. Hạnh phúc đã chinh phục tôi bằng chất mộc đơn sơ của mình như thế. Mà có lẽ, chính bởi sự “dễ tính” của mình nên ít ai mang hạnh phúc ra trồng ở ngoài trời, nơi có nắng. Thành phố mà, chen nhau để sống, những nơi có nắng như vậy đâu có nhiều. Và cho nên, những nơi có nắng hiếm hoi ấy phải để dành cho những cây cần nắng mới sống được. Chắc là… hạnh phúc hiểu điều đó dù sống trong nhà, nó sẽ khó mà trổ bông. Thực vật hoá ra cũng giống con người - cần thay đổi và thích nghi, sẵn sàng chấp nhận được mất, hài lòng với hiện tại thì mới có thể “hạnh phúc” sống và cống hiến cho đời.

Đến hôm nay, khi vô tình nhìn thấy những nụ hoa hạnh phúc đầu tiên, tôi mới giật mình mở máy vào mạng tra cứu thông tin về hạnh phúc. Càng tìm hiểu tôi càng ngỡ ngàng nhận ra mình chưa bao giờ hiểu hết về hạnh phúc. Hoá ra, trước giờ tôi chưa đủ yêu hạnh phúc như tôi vốn tự hào và vốn tưởng. Vì chưa đủ yêu nên chưa đủ hiểu. Tôi chẳng hề biết rằng hạnh phúc nếu sống ở ngoài tự nhiên có thể cao tới 30m, y học phương Đông còn dùng nó như một vị thuốc trị sốt, trị thương và một số bệnh khác. Tôi chẳng hề biết rằng nếu được sống trong môi trường lý tưởng, được hấp thụ đủ nắng, đủ dinh dưỡng, hạnh phúc cũng có thể ra hoa… Không ra hoa, hạnh phúc vẫn xanh lá nhưng có phải ra hoa thì sẽ trọn vẹn hơn không? Sống một đời, ít nhất cũng được một lần ra hoa chứ nhỉ? Phải vậy thì cuộc đời mới biết thêm một loài hoa - hoa hạnh phúc.

Nói chuyện cây lại nghĩ chuyện người. Đọc đến đây bạn có tự hỏi “hạnh phúc” mà chúng ta vẫn thường nói đến, thường mơ đến liệu đã nhận đủ “nắng” để ra hoa chưa? Chúng ta đã yêu ai đó, thứ gì đó đủ chưa? Liệu tôi còn chưa đủ yêu những gì nữa?
Thêm
387
0
1
Viết trả lời...
MÙI CỦA YÊU THƯƠNG

Trong vô vàn hành trình khứu giác của đời người, có lẽ không mùi hương nào đeo bám dai dẳng, khắc sâu vào tiềm thức như cái gọi là "mùi của mẹ". Đó không chỉ là một mùi hương đơn thuần, mà là cánh cổng mở về một miền ký ức xa xôi, nơi gói trọn cả bình yên, yêu thương và những tháng năm không thể tìm lại. Mùi hương ấy không thể định nghĩa bằng bất cứ loại nước hoa đắt tiền nào, không thể mua được ở bất cứ cửa hàng nào trên thế giới. Nó là độc bản, là duy nhất, là thứ hương thơm được tôi luyện qua dòng chảy thời gian, qua nhọc nhằn và tình yêu không lời. Chỉ cần một thoáng vấn vít, cả một thế giới thân thuộc lại ùa về, ấm áp, bồi hồi, và đôi khi, cay sè sống mũi.

Mùi của mẹ không phải là một nốt hương đơn lẻ. Nó dịu dàng và chân thật, được tạo nên từ những gì mộc mạc nhất, đời thường nhất. Có mùi mồ hôi mặn mòi vương trên tấm áo bà ba bạc màu sau buổi làm đồng. Đó là mùi của sự tảo tần, của những giọt mặn thấm đẫm đất đai, của lưng còng uốn mình gánh gồng nắng mưa. Tôi nhớ như in, mỗi khi mẹ về từ chợ sớm hay từ mảnh vườn sau nhà, tấm áo cũ vương mùi đất ẩm, mùi sương mai và lẫn vào đó là thứ mùi đặc trưng của riêng mẹ – không thơm thoang thoảng, mà đậm đà, chân chất, nói lên cả một câu chuyện về cuộc đời lam lũ. Rồi có mùi dầu gió, mùi thuốc Nam mẹ hay dùng mỗi khi trở trời đau nhức. Cái mùi nồng nồng ấy giờ đây không còn khiến tôi khó chịu như ngày bé, mà trở thành ký ức về những lần mẹ xoa bóp, những đêm mẹ thức trắng bên cạnh khi tôi ốm. Nó là mùi của sự chăm sóc, của đôi bàn tay chai sạn xoa dịu nỗi đau.

Làm sao có thể quên mùi khói bếp vấn vít trên mái tóc hoa râm của mẹ mỗi chiều? Góc bếp nhỏ với cái kiềng ba chân cũ kỹ, nơi mẹ thổi bùng lên ngọn lửa từ rơm khô hay củi mục. Mùi khói ấy quyện với mùi cơm chín tới, mùi cá kho tộ sôi liu riu, mùi hành phi thơm lừng cả gian nhà. Đó không chỉ là mùi của thức ăn, mà là mùi của sự no đủ, của bữa cơm gia đình đầm ấm, nơi tiếng cười nói, nơi những câu chuyện vụn vặt được sẻ chia sau một ngày dài. Nó là mùi của căn bếp ấm cúng, của người phụ nữ dành cả đời để vun vén cho tổ ấm. Ngay cả mùi vải áo cũ, tấm chăn sờn màu phảng phất nắng sau khi phơi, cũng mang mùi của mẹ. Mỗi sợi vải như giữ lại hơi ấm của mẹ, mùi hương quen thuộc trở thành một vật bảo hộ vô hình. Cái mùi ấy gắn liền với hơi ấm và sự hiện diện của mẹ trong những khoảnh khắc được chở che nhất, khi vòng tay mẹ khép lại quanh tôi, và cả thế giới bên ngoài dường như dừng lại.

Mùi hương ấy, hơn cả một giác quan đơn thuần, là chiếc chìa khóa mở ra cả một rương báu ký ức. Nó gắn liền với những không gian thân thuộc và những khoảnh khắc không thể nào quên, hít hà mùi hương đặc trưng ấy mỗi khi sợ hãi hay tủi thân. Như lần tôi bị ngã xe trầy đầu gối, khóc ré lên vì đau và sợ hãi. Mẹ vội vàng chạy đến, bế xốc tôi lên, và ngay khi vùi mặt vào chiếc áo sờn vai của mẹ, ngửi thấy mùi hương quen thuộc ấy, nước mắt cứ thế chảy dài nhưng lòng lại dịu lại đến lạ. Nỗi đau thể xác dường như được xoa dịu bởi sự an ủi từ mùi hương ấy.

Những buổi trưa hè oi ả, nằm trên chiếc giường tre cạnh mẹ, nghe tiếng quạt nan phe phẩy, và hít hà mùi hương từ mái tóc còn vương mùi dầu gội bồ kết. Cái mùi ấy gắn liền với giấc ngủ trưa bình yên, với những câu chuyện cổ tích mẹ kể bằng giọng nhỏ nhẹ, trầm ấm. Không gian chỉ đơn giản là gian nhà cấp bốn cũ kỹ, cái giường tre ọp ẹp, nhưng dưới sự hiện diện và mùi hương của mẹ, nó trở thành nơi chốn an toàn nhất, hạnh phúc nhất trên đời. Hay những đêm đông lạnh giá, mùi chăn bông mẹ đắp cho tôi, mùi hơi ấm từ cơ thể mẹ khi mẹ nằm sát bên, xua tan đi cái lạnh buốt giá. Đó là mùi của tình yêu sưởi ấm, của sự hy sinh âm thầm.

Sức mạnh của mùi hương này không chỉ nằm ở khả năng gợi nhớ, mà còn ở sự trường tồn và độc nhất. Đã bao lần tôi đi qua những con phố đông đúc, ngửi thấy mùi khói bếp từ một căn nhà nào đó, mùi thuốc Bắc từ hiệu thuốc cổ, hay mùi mồ hôi của những người lao động... thoáng chốc, tim lại thắt lại vì một nét tương đồng vụn vặt với mùi của mẹ. Những khoảnh khắc "hao hao" ấy không làm tôi nhầm lẫn, mà chỉ càng khẳng định thêm sự độc đáo không thể sao chép của mùi hương ấy. Chỉ mẹ mới có mùi hương đó, bởi nó được dệt nên từ chính cuộc đời mẹ, từ những năm tháng mẹ sống, làm việc và yêu thương chúng tôi.

Đi đâu xa, dù đặt chân đến những vùng đất mới lạ với bao nhiêu mùi hương hấp dẫn, cái mùi của mẹ vẫn như một sợi chỉ vô hình nối tôi về với nguồn cội. Nó là nơi neo đậu tâm hồn, là "nhà", là cảm giác thân thuộc nhất giữa bộn bề cuộc sống. Dù mẹ không còn ở cạnh mỗi ngày, dù khoảng cách địa lý hay cả những khoảng cách không gian và thời gian có thể ngăn chia, mùi hương ấy vẫn sống động trong tiềm thức. Nó không phai nhạt theo năm tháng, trái lại, càng được khắc sâu hơn bởi nỗi nhớ và sự trân trọng. Có những lúc mệt mỏi, chỉ cần nhắm mắt lại và hình dung về mùi hương ấy, tôi lại cảm thấy như được tiếp thêm sức mạnh, như có mẹ ở bên cạnh vỗ về.

Mùi của mẹ - Nó là hiện thân của tình yêu vô điều kiện, của sự hy sinh thầm lặng, là cội rễ mà ta không thể lìa xa. Đó là mùi của sự sống, của lòng bao dung, của sự tần tảo và nhẫn nại. Nó là mùi của bình yên, của hạnh phúc giản đơn, của tất cả những gì ấm áp và thiêng liêng nhất trong trái tim mỗi người con. Mùi hương ấy không chỉ là ký ức, nó là sự sống động, là hiện diện không thể xóa nhòa. Nó là lời nhắc nhở thường trực về người phụ nữ vĩ đại đã tạo nên cuộc đời mình, về tình yêu không bao giờ vơi cạn. Và cái mùi ấy, mãi mãi còn phảng phất đâu đó trong tâm hồn ta, như một dấu ấn không phai của những tháng năm thiêng liêng.
Thêm
342
0
0
Viết trả lời...
KỂ CHUYỆN THÁNG TƯ
Tháng Tư, những cơn mưa đầu mùa kéo mây đen ùn ùn đến giăng kín bầu trời. Màn mây nặng nề ấy như bà bầu bụng chửa vượt mặt, đi lệnh khệnh trên tấm trần ọp ẹp, chỉ chực chờ tiếng sấm nổ uỳnh lên như phẫn uất, vỡ bầu ối xả nước ào ạt xuống mặt đất.
Phía trên thảm mây, tiếng sấm vần ì ầm rền vang, lúc đùng đoàng đanh gắt như pháo bắn, lúc thì như hàng chục người vần đám thùng phi rỗng lăn lục cục trên nền mây xám đen.
Ngày mưa tháng Tư như thế, đất trời như chuyển dạ. Dưới thì nóng, trên thì lạnh, làm tấy lên những vết thương của chú tôi. Mấy mảnh đạn còn nằm ẩn sâu trong đường gân thớ thịt như bị tiếng sấm sét kích động, ngóc lên cắn xé làm gương mặt chú nhăn lại, tạo rãnh hằn sâu chạy ngang trán, lan xuống hai đuôi mắt, kéo đến tận thái dương.
Giao mùa như thế, cơ thể chú tôi nổi loạn đau nhức, sưng tấy, không đi làm được. Chú thường ở nhà và kể cho bọn trẻ nghe về đời lính chiến của mình.
Dù ngày đầu chú không muốn kể, vì toàn gian khổ, khói lửa đạn bom, chết chóc, nhưng sau này chú lại kể. Kể cho chính mình nghe về những kỷ niệm của thời thanh xuân kiêu hùng, khi được cùng lớp lớp đoàn quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Kể để lớp trẻ hiểu thế hệ ông cha đã hy sinh nhường nào. Kể để thế hệ sau hiểu được sự tàn khốc của chiến tranh mà nâng niu, trân trọng lấy hòa bình.
Nền hòa bình, độc lập ấy phải đánh đổi bằng tính mạng của biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ, bằng thịt xương của hàng triệu thương binh, để lại một phần thân thể nơi chiến trường. Là cái chết của người phía bên kia, nhưng đều là máu đỏ da vàng con Lạc cháu Hồng:
"Khi viên đạn xuyên vào một người lính, dù thuộc bên nào đi nữa, nó cũng xuyên qua trái tim người mẹ."
Thời thế thế thời, họ cũng chỉ là những người lựa chọn sai con đường, cần được thông cảm khi điều kiện, hoàn cảnh xô đẩy họ vào cuộc chiến, buộc phải cầm súng chống lại đồng bào.
Dòng máu nóng của hàng triệu người Việt đổ xuống, thấm vào lòng đất mẹ, hòa tan vào đất để ươm lên mầm xanh hòa bình cho cháu con, để Tổ quốc bừng sáng lên mùa xuân. Một mùa xuân của độc lập, tự chủ, hòa bình, mong sao mùa xuân ấy luôn mãi mãi trường tồn.
Cơn mưa ào ạt tháng Tư như ào ạt kỷ niệm chảy về với chú. Mắt chú long lanh sáng lên, át đi cơn đau trên thân thể, và giọng kể bật lên hào hùng về trận đánh long trời lở đất nơi phòng tuyến Xuân Lộc, cửa ngõ Sài Gòn.
Giây phút sung sướng nghẹn ngào, chú hướng súng lên trời, xả cả băng đạn khi biết tin giải phóng.
Chú tôi, người con quê lúa, ra đi với sự thảnh thơi, nhẹ nhàng trong suy nghĩ: khi có giặc đến dày xéo đất nước thì cầm súng đánh giặc; giặc tan thì về quê cày cấy trên mảnh ruộng cha ông để lại. Cái chết có đến cũng chẳng nặng nề, vì đã xác định:
"Chết xanh cỏ, sống đỏ ngực."
Niềm tự hào trào dâng khi đi giữa Sài Gòn rực rỡ cờ hoa mừng chiến thắng, được nghe tiếng người dân Sài Gòn trầm trồ:
"Quân giải phóng có tên lửa to lớn như thế kia, khí thế quân đội mạnh mẽ thế này nên ông Thiệu thua là phải."
Câu chuyện kể tháng Tư của chú cũng không thiếu những nốt trầm. Ngày nằm hầm tránh B52 rải thảm, chú nằm trong cùng. Nắm cơm anh nuôi đưa từ cửa hầm vào đến tay chỉ còn một mẩu, vì cứ qua tay chuyền một người là lại bị cắn bớt đi một ít.
Cầm nắm cơm tí hon mà phát khóc vì tủi thân vì đói. Nhưng cũng đồng đội ấy, khi chú dính mảnh cối bị thương, đã thay nhau cõng chú vượt qua bãi B52 pháo kích về trạm phẫu thuật tiền phương. Cũng vì thế mà bị thương, nhưng chữa lành rồi chú lại tiếp tục chiến đấu.
Có lúc, trong hầm, chú từng định đứng dậy giơ tay cao mong dính đạn để được phục viên. Cũng là đôi tay chú vuốt mắt cho người bạn đồng hương, trước khi người ấy, trong giây phút cuối đời, còn cố móc gói lương khô đưa cho bạn mình.
Hàng tháng trời hành quân vượt Trường Sơn. Ngày nay, ngồi máy bay chưa đầy hai tiếng đã tới, nhưng ngày đó gần sáu tháng ròng rã mới vượt núi băng rừng về đến nơi tập kết.
Hàng tháng trời thiếu gạo, thiếu thức ăn, chỉ có sắn với khoai, rau môn thục, tàu bay. Sốt rét, da vàng, ruồi vàng, bọ chó... Người chiến sĩ quân giải phóng vẫn đi. Trên trời máy bay chực chờ dội bom, dưới đất thú dữ, côn trùng, biệt kích, cạm bẫy, gai chông, bãi mìn... Người chiến sĩ quân giải phóng vẫn đi.
Cực nhọc, khổ ải chả bút mực nào tả xiết. Cái đói cồn cào gan ruột, súng đạn ba lô nặng trĩu trên vai, nhưng ý chí vẫn ngoan cường, quyết tâm:
"Đi không dấu, nấu không khói,"
để đến được nơi tập kết.
Câu chuyện về cánh rừng nguyên sinh thâm u, chưa có dấu chân người, nơi thú dữ còn ngơ ngác khi thấy con người. Con suối trong veo đẹp như cổ tích, cua cá đầy ắp, nhưng cũng có những người vì đánh mìn, đánh lựu đạn bắt cá làm thực phẩm mà bị thương, thậm chí hy sinh.
Có cả câu chuyện người mẹ dắt con lên đòi chế độ. Người bạn chú thật thà khai bị thương lúc đi đánh cá cải thiện cho đơn vị, chứ không phải trong chiến đấu, nên ban chính sách từ chối công nhận thương binh. Bà mẹ kéo con đứng giữa phòng:
"Không giải quyết chế độ thì tôi giả lại con tôi cho các vị. Tôi đẻ con tôi ra lành lặn, kiến tha nó vào tận Trường Sơn mà làm cụt tay à? Đi đánh cá để cải thiện cho đơn vị cũng là chiến đấu, 'thực túc thì binh cường', sao lại không coi đó là chiến đấu?"
Ấy thế mà cuối cùng, cũng được công nhận thương binh.
Lịch tháng Tư mỏng dần đi, thì niềm tự hào về ngày chiến thắng, thống nhất đất nước lại dày lên. Thế hệ trẻ chúng tôi, may mắn không phải chịu đựng khói lửa chiến tranh, vẫn luôn tri ân thế hệ đi trước, trân trọng và hết sức giữ gìn nền hòa bình quý giá của dân tộc.
Đơn giản thôi:
Hòa bình ấy phải đánh đổi bằng máu xương của bao người, trong đó có cả người thân của chúng tôi.
Thêm
269
0
0
Viết trả lời...
IMG_4937.jpeg

KỂ CHUYỆN THÁNG TƯ
Tháng Tư, những cơn mưa đầu mùa kéo mây đen ùn ùn đến giăng kín bầu trời. Màn mây nặng nề ấy như bà bầu bụng chửa vượt mặt, đi lệnh khệnh trên tấm trần ọp ẹp, chỉ chực chờ tiếng sấm nổ uỳnh lên như phẫn uất, vỡ bầu ối xả nước ào ạt xuống mặt đất.
Phía trên thảm mây, tiếng sấm vần ì ầm rền vang, lúc đùng đoàng đanh gắt như pháo bắn, lúc thì như hàng chục người vần đám thùng phi rỗng lăn lục cục trên nền mây xám đen.
Ngày mưa tháng Tư như thế, đất trời như chuyển dạ. Dưới thì nóng, trên thì lạnh, làm tấy lên những vết thương của chú tôi. Mấy mảnh đạn còn nằm ẩn sâu trong đường gân thớ thịt như bị tiếng sấm sét kích động, ngóc lên cắn xé làm gương mặt chú nhăn lại, tạo rãnh hằn sâu chạy ngang trán, lan xuống hai đuôi mắt, kéo đến tận thái dương.
Giao mùa như thế, cơ thể chú tôi nổi loạn đau nhức, sưng tấy, không đi làm được. Chú thường ở nhà và kể cho bọn trẻ nghe về đời lính chiến của mình.
Dù ngày đầu chú không muốn kể, vì toàn gian khổ, khói lửa đạn bom, chết chóc, nhưng sau này chú lại kể. Kể cho chính mình nghe về những kỷ niệm của thời thanh xuân kiêu hùng, khi được cùng lớp lớp đoàn quân tiến vào giải phóng Sài Gòn. Kể để lớp trẻ hiểu thế hệ ông cha đã hy sinh nhường nào. Kể để thế hệ sau hiểu được sự tàn khốc của chiến tranh mà nâng niu, trân trọng lấy hòa bình.
Nền hòa bình, độc lập ấy phải đánh đổi bằng tính mạng của biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ, bằng thịt xương của hàng triệu thương binh, để lại một phần thân thể nơi chiến trường. Là cái chết của người phía bên kia, nhưng đều là máu đỏ da vàng con Lạc cháu Hồng:
"Khi viên đạn xuyên vào một người lính, dù thuộc bên nào đi nữa, nó cũng xuyên qua trái tim người mẹ."
Thời thế thế thời, họ cũng chỉ là những người lựa chọn sai con đường, cần được thông cảm khi điều kiện, hoàn cảnh xô đẩy họ vào cuộc chiến, buộc phải cầm súng chống lại đồng bào.
Dòng máu nóng của hàng triệu người Việt đổ xuống, thấm vào lòng đất mẹ, hòa tan vào đất để ươm lên mầm xanh hòa bình cho cháu con, để Tổ quốc bừng sáng lên mùa xuân. Một mùa xuân của độc lập, tự chủ, hòa bình, mong sao mùa xuân ấy luôn mãi mãi trường tồn.
Cơn mưa ào ạt tháng Tư như ào ạt kỷ niệm chảy về với chú. Mắt chú long lanh sáng lên, át đi cơn đau trên thân thể, và giọng kể bật lên hào hùng về trận đánh long trời lở đất nơi phòng tuyến Xuân Lộc, cửa ngõ Sài Gòn.
Giây phút sung sướng nghẹn ngào, chú hướng súng lên trời, xả cả băng đạn khi biết tin giải phóng.
Chú tôi, người con quê lúa, ra đi với sự thảnh thơi, nhẹ nhàng trong suy nghĩ: khi có giặc đến dày xéo đất nước thì cầm súng đánh giặc; giặc tan thì về quê cày cấy trên mảnh ruộng cha ông để lại. Cái chết có đến cũng chẳng nặng nề, vì đã xác định:
"Chết xanh cỏ, sống đỏ ngực."
Niềm tự hào trào dâng khi đi giữa Sài Gòn rực rỡ cờ hoa mừng chiến thắng, được nghe tiếng người dân Sài Gòn trầm trồ:
"Quân giải phóng có tên lửa to lớn như thế kia, khí thế quân đội mạnh mẽ thế này nên ông Thiệu thua là phải."
Câu chuyện kể tháng Tư của chú cũng không thiếu những nốt trầm. Ngày nằm hầm tránh B52 rải thảm, chú nằm trong cùng. Nắm cơm anh nuôi đưa từ cửa hầm vào đến tay chỉ còn một mẩu, vì cứ qua tay chuyền một người là lại bị cắn bớt đi một ít.
Cầm nắm cơm tí hon mà phát khóc vì tủi thân vì đói. Nhưng cũng đồng đội ấy, khi chú dính mảnh cối bị thương, đã thay nhau cõng chú vượt qua bãi B52 pháo kích về trạm phẫu thuật tiền phương. Cũng vì thế mà bị thương, nhưng chữa lành rồi chú lại tiếp tục chiến đấu.
Có lúc, trong hầm, chú từng định đứng dậy giơ tay cao mong dính đạn để được phục viên. Cũng là đôi tay chú vuốt mắt cho người bạn đồng hương, trước khi người ấy, trong giây phút cuối đời, còn cố móc gói lương khô đưa cho bạn mình.
Hàng tháng trời hành quân vượt Trường Sơn. Ngày nay, ngồi máy bay chưa đầy hai tiếng đã tới, nhưng ngày đó gần sáu tháng ròng rã mới vượt núi băng rừng về đến nơi tập kết.
Hàng tháng trời thiếu gạo, thiếu thức ăn, chỉ có sắn với khoai, rau môn thục, tàu bay. Sốt rét, da vàng, ruồi vàng, bọ chó... Người chiến sĩ quân giải phóng vẫn đi. Trên trời máy bay chực chờ dội bom, dưới đất thú dữ, côn trùng, biệt kích, cạm bẫy, gai chông, bãi mìn... Người chiến sĩ quân giải phóng vẫn đi.
Cực nhọc, khổ ải chả bút mực nào tả xiết. Cái đói cồn cào gan ruột, súng đạn ba lô nặng trĩu trên vai, nhưng ý chí vẫn ngoan cường, quyết tâm:
"Đi không dấu, nấu không khói,"
để đến được nơi tập kết.
Câu chuyện về cánh rừng nguyên sinh thâm u, chưa có dấu chân người, nơi thú dữ còn ngơ ngác khi thấy con người. Con suối trong veo đẹp như cổ tích, cua cá đầy ắp, nhưng cũng có những người vì đánh mìn, đánh lựu đạn bắt cá làm thực phẩm mà bị thương, thậm chí hy sinh.
Có cả câu chuyện người mẹ dắt con lên đòi chế độ. Người bạn chú thật thà khai bị thương lúc đi đánh cá cải thiện cho đơn vị, chứ không phải trong chiến đấu, nên ban chính sách từ chối công nhận thương binh. Bà mẹ kéo con đứng giữa phòng:
"Không giải quyết chế độ thì tôi giả lại con tôi cho các vị. Tôi đẻ con tôi ra lành lặn, kiến tha nó vào tận Trường Sơn mà làm cụt tay à? Đi đánh cá để cải thiện cho đơn vị cũng là chiến đấu, 'thực túc thì binh cường', sao lại không coi đó là chiến đấu?"
Ấy thế mà cuối cùng, cũng được công nhận thương binh.
Lịch tháng Tư mỏng dần đi, thì niềm tự hào về ngày chiến thắng, thống nhất đất nước lại dày lên. Thế hệ trẻ chúng tôi, may mắn không phải chịu đựng khói lửa chiến tranh, vẫn luôn tri ân thế hệ đi trước, trân trọng và hết sức giữ gìn nền hòa bình quý giá của dân tộc.
Đơn giản thôi:
Hòa bình ấy phải đánh đổi bằng máu xương của bao người, trong đó có cả người thân của chúng tôi.
Thêm
1
0
0
THỜI GIAN CÓ CHỜ AI BAO GIỜ!



Thuở ấu thơ, ta ngóng trông ngày mình khôn lớn. Đến khi trưởng thành, ngoảnh đầu nhìn lại, mới giật mình nhận ra những ngày thơ bé ấy là quãng thời gian tươi đẹp nhất của cuộc đời. Những ngày tháng vô tư, hồn nhiên, chẳng lo âu phiền muộn, chỉ đong đầy niềm vui và những giấc mơ trong trẻo.



Tuổi thơ tôi là những mùa hè rực rỡ, là cánh đồng bát ngát trải dài đến tận chân trời, là tiếng cười giòn tan vang vọng giữa triền đê. Thuở ấy, tôi là đứa trẻ quê, những ngày nghỉ học là những ngày phụ giúp ba mẹ. Nhưng niềm vui lớn nhất vẫn là được cùng đám bạn rong ruổi trên những cánh đồng. Mỗi buổi sớm mai, mỗi buổi chiều tà, chúng tôi lùa đàn bò ra bờ ruộng, mặc cho nắng cháy rám da, mặc cho gió đồng hầm hập phả hơi nóng. Những con bò gầy gò thong dong gặm cỏ, còn lũ trẻ chúng tôi túm tụm lại, tíu tít kể chuyện trên trời dưới biển. Ngày nào cũng gặp nhau, vậy mà câu chuyện cứ nối dài bất tận, như dòng suối nhỏ róc rách chảy qua miền ký ức. Chúng tôi kể chuyện ngày xửa ngày xưa, chuyện ma trêu người, chuyện người lớn, rồi lại phá lên cười nghiêng ngả.



Những câu chuyện dường như không bao giờ dứt và khi đã cạn chuyện, cả bọn lại lao vào những trò chơi dân gian: đánh trổng, bắn lệnh, u quạ, nhảy dây, trốn tìm… Tuổi thơ nghèo khó, chẳng có đồ chơi đắt tiền, chẳng có công nghệ hiện đại, nhưng niềm vui khi ấy lại giản dị và trọn vẹn biết bao.



Nhớ có hôm, vì mải mê vui chơi mà đàn bò đi lạc vào làng, phá nát vườn rau của nhà ai đó. Đứa nào không may bị bắt gặp thì lãnh ngay mấy roi đau điếng. Tối về, ba mẹ biết chuyện, thế là thêm một trận đòn roi nữa. Những giọt nước mắt tủi hờn rơi xuống, nhưng chỉ cần sáng hôm sau gặp lại nhau, cả bọn lại cười vang như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Trẻ con là thế, những nỗi đau rồi cũng chóng qua, chỉ có niềm vui là cứ đọng lại mãi trong tim.



Buổi trưa, khi ba mẹ đã chợp mắt, chúng tôi lại rủ nhau ra vườn dừa đầu xóm. Những tàu lá dừa bỗng hóa thành cả một thế giới kỳ diệu: lá dừa thắt thành đồng hồ, nhẫn, vòng cổ; chong chóng quay vù vù trong gió; cào cào, châu chấu được tỉ mỉ tạo nên từ những bàn tay bé nhỏ. Gần đó, cây mít già đứng trầm mặc qua bao mùa mưa nắng. Chúng tôi trèo lên, hái lá kết thành mũ mão, xiêm y, rồi hóa thân thành những nhân vật tuồng cải lương. Đứa cao hứng cất giọng vọng cổ, đứa lại nhại những câu thoại sân khấu quen thuộc. Dưới bóng cây xanh mát, lũ trẻ quê nghèo như lạc bước vào một thế giới khác, thế giới của mộng mơ và sáng tạo.



Và khi màn đêm buông xuống… những đêm trăng sáng là những đêm rộn ràng nhất. Cả xóm tụ tập trên bãi đất trống ven đường, dưới ánh trăng vằng vặc như dát vàng lên những mái nhà tranh. Ngày ấy, làng quê chưa có điện, trăng chính là nguồn sáng duy nhất. Và cũng chính vì vậy, trăng trở thành tâm điểm của mọi niềm vui. Lũ trẻ con, thanh niên, người già, tất cả quây quần bên nhau, cùng hòa mình vào những câu chuyện, những trò chơi, những tiếng cười trong trẻo. Chúng tôi mải mê vui chơi đến tận khuya, chỉ đến khi đôi mắt trĩu nặng vì buồn ngủ mới luyến tiếc chia tay. Trăng vẫn còn lơ lửng trên đỉnh đầu, dõi theo từng bước chân nhỏ dẫn về tận ngõ. Đêm ấy, tôi mang theo cả niềm vui của một ngày dài vào giấc mơ.

Nhưng dòng chảy của thời gian nào có ngừng lại bao giờ… Tuổi thơ cũng lùi xa dần, như cánh diều bay khuất giữa bầu trời ký ức. Những trưa hè trốn ngủ dưới tán dừa, những buổi chiều thả bò trên cánh đồng, những đêm trăng sáng rộn ràng tiếng cười… Tất cả giờ đây chỉ còn là những mảnh ký ức đẹp đẽ của một thời đã qua.



Làng quê cũng đổi thay nhiều. Những cánh đồng xưa kia giờ đã nhường chỗ cho những ngôi nhà mái ngói. Đường làng bê tông thẳng tắp, không còn dấu chân lấm lem của lũ trẻ ngày nào. Trăng vẫn treo lơ lửng trên bầu trời, nhưng ánh sáng của nó không còn là tâm điểm của làng quê nữa, bởi những ngọn đèn cao áp đã rực sáng suốt đêm dài. Bạn bè thuở ấy cũng phiêu bạt mỗi người một nơi, người lập nghiệp phương xa, người vùi mình trong vòng xoáy cơm áo gạo tiền, hiếm khi có dịp gặp lại. Chỉ còn những ký ức lặng lẽ nằm im trong ngăn kéo thời gian. Đôi khi bất chợt mở ra, ta mới giật mình nhận ra tim mình vẫn thổn thức trước những điều xưa cũ.

Có lẽ ai trong chúng ta cũng có một vùng trời tuổi thơ để nhớ, để thương. Có những lúc giữa bộn bề cuộc sống, ta chợt thèm được trở về những ngày thơ ấu, nơi hạnh phúc chỉ đơn giản là một trận cười giòn tan giữa đồng, một cánh diều bay cao trong gió, hay một đêm trăng sáng chan chứa bao giấc mơ đẹp.



Nhưng thời gian có bao giờ chờ đợi ai? Tuổi thơ, cũng như gió, như mây, ta có thể cảm nhận, có thể nâng niu trong tâm trí, nhưng chẳng thể nào nắm giữ được. Thứ duy nhất còn lại với ta chính là những ký ức, mãi mãi là một phần của ta, vẹn nguyên như thuở ban đầu.
Thêm
346
0
0
Viết trả lời...
CỐI XAY BỘT và MẸ


Giờ đây, trong thời buổi công nghệ hiện đại, nhà máy, siêu thị mọc lên san sát, thay thế cho những ruộng lúa, nương ngô… Đồng thời, thực phẩm tiêu dùng hàng ngày cho bà bầu, trẻ em, người ốm đau… được cung cấp không thiếu: sữa, ngũ cốc và nhiều thực phẩm chức năng khác với vô số thương hiệu nhan nhản, tràn lan trên thị trường, cùng nguồn cung thật – giả lẫn lộn (600 loại sữa bột giả trôi nổi trên thị trường Hà Nội bốn năm nay, giờ mới được phát hiện).

Tôi lại nhớ về mẹ, người đã gắn bó với cối xay bột suốt mấy chục năm cuộc đời.

Đầu tiên phải kể đến chiếc cối đá xay bột nước. Trước khi lấy bố, mẹ làm bên dệt thảm hợp tác xã Hữu Nghị. Rồi liền lúc mẹ sinh hai con, gái là tôi và một em trai. Sinh xong, mẹ chỉ nghỉ vài ngày thì tiếp tục một mình gồng gánh đi làm: một bên gánh là nguyên liệu, bên kia là con, hàng ngày từ nhà đến nơi làm việc. Cho đến năm 1972, thị xã Thái Bình (nay là thành phố) cũng bị ảnh hưởng của cuộc chiến tranh, khi quân Mỹ rải bom vào khu vực; mọi gia đình trong vùng phải sơ tán về các miền quê, trong đó có gia đình tôi. Các công ty, xí nghiệp đóng cửa, mẹ lại về quê giở nghề tráng bánh cuốn, bánh đa – nghề của ông bà ngoại để lại.

Ông bà ngoại vốn ở thị xã Hải Dương, nên chứng minh thư của mẹ ghi là người Hải Dương, sinh ra ở Thái Bình. Ông ngoại là thầy đồ nghèo, bà ngoại đông con không có ruộng vườn nên làm đủ nghề từ nấu xôi, nấu chè, tráng bánh tráng, nấu rượu… Chính nghề nấu rượu đã khiến ông bà bị bắt, tịch thu hết đồ nghề. Lúc đó hai ông bà cùng các con di cư sang thị xã Thái Bình, bắt đầu lại cuộc sống nấu xôi, chè, bánh tráng và sau này là làm giấy tiền.

Chiếc cối xay bột nước đã theo mẹ suốt những năm 70. Bột tráng bánh cuốn mẹ chọn trước hết phải là loại gạo của mậu dịch; gạo để lâu có độ nở, bánh sẽ không bị đứt như gạo mới. Bánh tráng ra nóng hổi, trắng mịn, thoa một muỗng hành phi vàng ươm trên mặt bánh thơm ngậy, kích thích thị giác và khứu giác người thưởng thức.

Ngày đó, trong thời buổi chiến tranh sơ tán về vùng quê, đồ dùng và nhu yếu phẩm không nhiều, người dân không có tiền; họ thèm ăn cũng chỉ biết lấy thóc, gạo mang ra đổi bánh ăn, nhưng số lượng có hạn. Bố tôi lúc đó làm điện ở xí nghiệp, khi sơ tán còn kiêm nghề sửa đài. Công lao động được người dân trả bằng mớ tôm, mớ cá, có khi cả một xe thồ gạch mới nung. Bánh cuốn mẹ tráng ra ế, bố đạp xe về quê nội đổi gạo giúp mẹ. Cũng thời gian này, mẹ mang thai em gái thứ ba, trong thời loạn lạc, gạo khan, củi hiếm, mẹ bàn với bố bỏ thai. Ngày đó không có thuốc phá thai, mẹ xin được thuốc sốt rét của anh bộ đội uống vì nghe một chị mách bảo, nhưng kết quả mẹ ốm nặng mà thai vẫn không ra. Bà cô – vợ chú ruột, không có con – thương xót, khuyên mẹ đừng nghĩ đến nữa, bồi dưỡng sức khỏe rồi sinh con sẽ đỡ vất vả. Hàng tháng bố về chở bánh, bà cô lại gói gém gạo, thóc, khoai… cho bố mang về. Em gái thứ ba ra đời may mắn không bị dị tật, chỉ nhỏ và yếu một chút.

Mẹ chuyển sang tráng bánh đa phơi khô, quạt nướng mang ra chợ phiên bán. Khi thị xã yên bình trở lại, mẹ vẫn tiếp tục tráng bánh cuốn thêm một thời gian nữa. Tôi còn nhớ lúc đó ba bốn chú, trước từng làm cùng bố ở Công ty Bảo đảm Hàng hải Hải Phòng, có việc đến Thái Bình ghé nhà chơi. Một trong các chú là chú Bằng – anh hùng gác đèn biển, người bố từng đề xuất lúc bố làm bí thư đoàn trên tàu. Mẹ đãi các chú bánh cuốn; hôm đó củi hết, tôi phải tỉa mái nhà lợp lá tranh và phên nứa làm củi đun cho đủ. May còn con gà công nghiệp bố nuôi để tiếp khách. Bố tiễn các chú ra tận bãi đậu ô tô; khi về, các chú tặng bố một can dầu và gói kẹo cho các cháu.

Mẹ chuyển sang nhận xay bột cho trẻ em sau khi một lần đi chơi phát hiện có người dân cho gạo vào cối đá kéo như kéo thóc, mẹ chợt nhớ nỗi vất vả ngày trước phải nuôi chúng tôi khốn khó thế nào. Đẻ con đúng năm kháng chiến, mẹ không có sữa phải cho con ăn dặm sớm. Ngâm gạo qua đêm nên chua, giã không mịn, bột không sánh ngon, con dễ bị vấn đề về đường ruột. Mẹ tìm tòi rồi mua được chiếc cối để xay. Nhà tôi ở mặt đường, rất đông người tìm đến xay bột cho các cháu nhỏ. Cối đá to, kéo rất nặng, khi kéo tốn sức, bụng thóp lại; mùa nóng mồ hôi ướt hết người mẹ.

Đến năm 1975, sau giải phóng miền Nam, hai người bạn thân của bố – trước học cùng bố, đã có gia đình ở trong Nam ra Bắc chơi, vào thăm. Thấy mẹ dáng người nhỏ bé, gồng mình vất vả với chiếc cối đá, hai chú bày cách cho bố biến chiếc máy xay cà phê bằng điện của Mỹ mà hai chú thấy trong Nam thành cối xay bột cho trẻ em. (Còn tôi, nhớ mãi hai chú vì đã tặng tôi – con gái bố – một em búp bê mặc váy lộng lẫy, có cặp mắt xanh biếc chớp mở được. Đó là món quà vô giá, không ở đâu có bán.)

Nhờ sự giúp đỡ của hai chú, máy xay cà phê trong Nam được chuyển ra Bắc qua bưu điện, tháo rời để đóng vào hộp bìa vận chuyển. Về đến nơi, bố lắp ghép lại. Thật tuyệt vời, máy xay cà phê cũng xay gạo thành bột trắng ngần. Tất nhiên phải qua ba lần xay thì mới như bột mì ngày nay. Phần bánh xe trong máy nếu xay nhiều sẽ mòn; mẹ nghĩ cách mua dũa về dũa cho sắc, xay nhanh và nhỏ hạt hơn.

Lúc đó nhà tôi rất đông khách đến xay bột cho trẻ em, để làm bánh nếp, bánh giò, bánh khúc, bánh gai, bánh trôi chay… Nhất là những ngày Tết, khách đến xếp hàng dài. Một ngày hai ba chục khách, mỗi người một vài đến hàng chục ký gạo. Các chú chuyển thêm ra Bắc hai ba máy xay bột nữa; nhà tôi lúc này đã có bốn máy. Mẹ thao tác hai máy, tôi viết phiếu chờ cho khách, sau này cũng thao tác được hai máy y hệt mẹ. Hai mẹ con vận hành bốn máy để đáp ứng nhu cầu.

Những năm 80, điện rất khan hiếm, hay mất luôn. Ngày Tết, dân quanh vùng phải đi trước cả tháng, xay gạo dự trữ để khỏi chờ đợi mất thời gian.

Rồi bố tôi thuê thợ đúc gang, mua mô-tơ về tự đóng dựng máy bán cho nhiều người; các thợ đó lại tự đóng dựng máy bán tiếp, nên máy xay bột càng ngày càng phổ biến.

Nhưng mẹ tôi vẫn đông khách nhất, vì bột nhỏ mịn, sạch sẽ. Mẹ rất cầu kỳ, cẩn thận. Mệt thì mệt, nóng tính thì nóng tính, nhưng khách vẫn không bỏ. Các hàng kem Minh Hương, Hải Yến… hàng ngày mang bao lớn bao nhỏ cho mẹ xay, nhất là vào mùa hè nắng nóng. Rồi có vài cô ở xí nghiệp bánh kẹo làm thêm bánh dẻo, bánh nướng cũng mang hàng yến gạo cho mẹ xay mỗi ngày. Ngày đó tôi đi đâu họ cũng biết tôi là con gái bà xay bột, vì tôi đi học về hay phụ mẹ xay. Nhiều bạn bè tôi lúc đó, tự hào khoe có mẹ là bác sĩ, kỹ sư, giáo viên; còn tôi tự hào vì mẹ là một bà xay bột, được người dân quanh vùng biết đến. Sao lại không – vì các cô bác sĩ, cô giáo của tôi, cô trong ngành điện, ngành nước, đều thân thiết với mẹ chỉ để được ưu tiên xay bột nhỏ mịn trước.

Mẹ luôn vượt trội hơn người khác, ở chất lượng công việc bình thường nhất, bằng tất cả sự tận tâm của mình.

Đó là những khách xay bột để bồi dưỡng sức khỏe lúc ốm, mang cho con học ôn, con học đại học, mang cho người trong tù… những loại bột ấy được phối đủ thành phần: gạo nếp, đỗ đen, đỗ xanh, hạt sen, dược liệu… sao rang vàng ươm. Ngày nay người ta gọi là ngũ cốc dinh dưỡng.

Viết đến đây, chắc mọi người nghĩ nhà tôi làm khép kín từ xay bột đến đóng máy bán nên giàu lắm. Không đâu, bố tôi vẫn đi làm thợ điện ở nhà máy hàng ngày, chủ yếu để cả nhà có gạo, lương của bố chỉ đủ tiêu, thuốc lá (bố tôi nghiện) và rượu ngày ba chén. Tiền công xay một ký gạo mẹ lấy thấp, chỉ bằng một nửa hoặc hai phần ba người khác, nhất là xay hàng nhiều thì giá rẻ hơn. Vừa phải chăng, vừa đảm bảo bột nhỏ mịn, nên mẹ mới thu hút đông khách.

Máy xay bột phục vụ gia đình năm người ăn uống, học hành, lễ lạt. Mẹ rất hào phóng, bà con, họ hàng thiếu thì cho mượn, các cháu đến mẹ luôn để sẵn tiền lẻ phân phát, nhiều cháu thích đến chơi vì thế.

Sau này nhiều hàng kem mua máy xay, làm khép kín, không ra xay của mẹ nữa. Các hàng bánh xay nhiều chuyển sang hàng máy xát lớn hơn, chỉ còn một số ít người xay bột trẻ em quen đến mẹ.

Năm 2012, mẹ tôi bị tai biến rồi nghỉ xay bột. Giờ mẹ đã không còn nữa. Chiếc máy xay bột đã đi với mẹ một chặng đường thật dài; tuy nhỏ bé nhưng nhờ nó chúng tôi lớn lên, nhiều gia đình nhờ nó cũng phát triển kinh tế. Nhiều trẻ em nhờ ăn bột xay mà cao khỏe, nhiều người đẩy lùi bệnh tật, có sức khỏe làm việc và học tập. Trong thời kỳ bao cấp thiếu thốn đủ bề, bột từ chiếc máy xay nhỏ bé ấy cũng góp một phần đáng kể.
Thêm
283
0
0
Viết trả lời...