Thiên tình sử của chàng Bôn Lang và nàng Thị Chanh - Phần 3

Thiên tình sử của chàng Bôn Lang và nàng Thị Chanh - Phần 3

C
chuducthuan
CHƯƠNG 3: HUYẾT CHIẾN LÀNG BÀN – TRỐNG ĐỒNG RƠI LỆ, NON SÔNG NỨC NỞ


Dị tượng kinh thiên, cuồng phong áp đỉnh


Tiết trời Làng Bàn bước vào cuối thu, vốn dĩ theo lẽ tự nhiên phải là lúc gió heo may thổi mơn man qua những thảm lúa vàng ươm, nhịp chày giã cốm vang lên rộn rã dưới từng đêm trăng thanh bình. Mùi cốm mới, mùi nếp thơm quyện với hương hoa bưởi nhẽ ra phải lấp đầy lồng ngực của những con người hiền hòa nơi đây.
Thế nhưng, mùa thu năm ấy, bầu trời trên vùng đất phương Nam của người Việt lại mang một vẻ u sầu, bức bối đến nghẹt thở. Thiên nhiên dường như cũng cảm nhận được thứ sát khí ngùn ngụt đang thành hình từ biên ải xa xăm. Nước dòng sông Thao bỗng dưng đục ngầu, sôi sùng sục, cuộn lên những lớp sóng ngầm quái gở đập ầm ầm vào bờ đất lở.Trên vòm trời u ám không một gợn mây trắng, hàng đàn chim Lạc hoảng loạn vỗ cánh bay thành từng vòng tròn vô định, cất tiếng kêu thảng thốt, bi ai rồi đồng loạt lao vút về phía Nam như đang chạy trốn một cơn đại hồng thủy của tử thần.
Điềm dữ ấy không phải vô cớ. Từ các chòi canh chót vót trên đỉnh những rặng núi biên giới phía Bắc, khói lửa báo nguy đốt bằng phân sói và củi tươi bỗng cuồn cuộn bốc lên. Cột khói đen đặc, thẳng đứng và sắc lẹm như một lưỡi gươm khổng lồ đâm toạc bầu trời. Không chỉ một ngọn, mà hàng chục, rồi hàng trăm cột khói nối tiếp nhau rực sáng chạy dọc theo dãy núi biên cương, báo hiệu một thảm họa mang tính tuyệt diệt.
Cuồng phong từ phương Bắc đã thực sự ập đến!
Mấy chục vạn đại quân nhà Hán, mang theo sát khí của một đế chế vừa tắm máu chư hầu để thống nhất vùng Trung Nguyên, đang tràn xuống lãnh thổ Âu Lạc như một cơn sóng thần màu đen. Dẫn đầu đạo quân xâm lược ấy là viên đại tướng khét tiếng tàn bạo với trái tim sắt đá, đôi mắt rắn độc và hai bàn tay đã nhuốm máu vạn sinh linh. Đạo quân của chúng không giống bất kỳ đội quân nào mà người Việt từng đối mặt thuở Tần Đồ Thư. Đó là một cỗ máy nghiền thịt khổng lồ, được trang bị đến tận răng.
Đi tiên phong là hàng vạn kỵ binh "Thiết Kỵ", cả người lẫn ngựa đều khoác áo giáp vảy sắt kín mít, chỉ chừa lại những đôi mắt hung hãn đỏ ngầu. Tiếp sau là những cỗ chiến xa bọc da trâu cao lừng lững, gắn những chiếc nỏ máy khổng lồ có thể bắn ra những mũi tên to bằng thân cây tre, đủ sức xuyên thủng ba gốc cổ thụ. Cuối cùng là hàng chục vạn bộ binh vác giáo dài, đao nhọn, bước chân rầm rập theo nhịp trống trận làm rung chuyển cả núi rừng, đất lở đá lăn.
Giặc Hán đi đến đâu, cỏ cây hóa tro tàn, xóm làng hóa biển lửa. Những bản làng của người Việt ở vùng biên giới chưa kịp rút lui đã bị cỗ máy chiến tranh ấy nghiền nát trong chớp mắt. Lũ giặc áp dụng triệt để chính sách giết sạch, đốt sạch để răn đe! Trai tráng bị chặt đầu xếp thành gò cao làm trò mua vui, phụ nữ và trẻ thơ bị dồn vào những nếp nhà sàn rồi châm lửa thiêu sống. Tiếng kêu gào thấu tận trời xanh, khói đen bốc lên che khuất cả mặt trời, máu đỏ nhuộm đặc làm nghẽn dòng cả những con suối hiền hòa nhất.

Tế cáo Đất Trời, lời thề máu Rồng Tiên

Nhận được tin cấp báo từ biên ải, tại trung tâm Làng Bàn – thành lũy tinh hoa kiên cố của nòi giống trên đất Phong Châu – một cuộc hội thề sinh tử đã lập tức diễn ra. Trước thềm ngôi miếu cổ thờ Đức Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ,hàng vạn ngọn đuốc nhựa thông được thắp lên, cháy rực sáng cả một khúc sông Thao.
Âm thanh của những chiếc trống đồng sấm sét vang lên từng hồi dồn dập, gắt gao. Nhịp trống không còn thư thả, khoan thai như ngày hội mùa, mà hối hả, rát bỏng, thúc giục những người con Lạc Việt buông tay cày, rời khung cửi, nắm chặt lấy giáo đồng và cung nỏ.
Vị Bồ Chính của Làng Bàn, dẫu tuổi đã ngoài năm mươi, râu tóc lốm đốm bạc màu sương gió, nay khoác lên mình bộ áo chiến bằng da hổ uy nghi. Lồng ngực trần vạm vỡ xăm hình giao long uốn lượn của ông phập phồng theo từng nhịp thở hào sảng. Ông bước lên đài đá cao, rút con dao găm bằng đồng sắc lẹm, dứt khoát rạch một đường sâu trên bắp tay mình để dòng máu tươi đỏ thắm nhỏ từng giọt xuống chén rượu thề:
"Hỡi những người con của giống nòi Rồng Tiên! Hỡi anh linh của các bậc tiền nhân đại tộc Bách Việt đã ngã xuống nơi núi thẳm đèo cao!" Giọng vị Bồ Chính sang sảng như chuông đồng, đập vào vách núi dội lại rền vang. "Lũ giặc phương Bắc lại cất quân sang cướp nước ta! Lần này, chúng không chỉ vơ vét ngà voi, sừng tê, châu ngọc, mà chúng muốn lấy mạng của hết thảy bà con chúng ta! Chúng muốn đập nát trống đồng, thiêu rụi thẻ tre kinh sách, muốn nhổ tận gốc rễ văn hóa và xóa sổ tiếng nói của tổ tiên ta! Cha ông ta thuở trước đã phải dứt ruột rời bỏ hồ Động Đình, máu nhuộm đỏ đèo Ngũ Lĩnh, nuốt hờn lùi về vùng đất Phong Châu – sông Thao cuối trời này để giữ gìn huyết mạch. Nay, phía sau lưng chúng ta là biển Đông mênh mông sóng vỗ, tuyệt đối không còn đường lùi nữa! Kẻ nào sợ chết, hãy vứt gươm mà cúi đầu làm trâu ngựa cho giặc Hán. Còn ai mang trong ngực dòng máu Rồng Tiên, là con Lạc cháu Hồng kiêu hãnh, hãy cùng ta uống cạn chén rượu máu này! Sống cùng giữ đất, chết cùng hóa thần bảo vệ non sông!"
"Quyết tử! Quyết tử! Quyết tử!"
Tiếng hô của hàng ngàn trai tráng Lạc Việt vang rền như sấm nổ, đứt ruột vỡ gan, làm rung chuyển cả mặt sông Thao.Âm vang ấy mang sức mạnh của một ngọn núi lửa đã bị dồn nén suốt hàng ngàn năm, nay bùng lên dữ dội. Bôn Lang đứng sừng sững ở hàng đầu tiên của đội xạ thủ nỏ Liên Châu; thân hình anh vạm vỡ, làn da ngăm đen bóng nhẫy dưới ánh lửa đuốc bập bùng. Anh đón lấy bát rượu pha máu, ngửa cổ uống cạn một hơi, đôi mắt rực lên ngọn lửa căm thù sáng quắc.
Trước giờ xuất trận, Bôn Lang xin phép rời hàng quân trong chốc lát, bước nhanh về phía bến sông dưới gốc đa cổ thụ, nơi có một bóng dáng thanh mảnh đang lặng lẽ đứng đợi. Đó là Thị Chanh.
Đêm nay, người con gái đẹp nhất Làng Bàn không còn khoác lên mình tấm váy lĩnh thêu hoa rực rỡ ngày hội, mà vận bộ áo vải thô nhuộm màu củ nâu mộc mạc. Ống tay áo xắn cao để lộ đôi cổ tay trắng ngần đang thoăn thoắt tước những cuộn vải gai, giã lá thuốc rừng chuẩn bị cầm máu, trị thương cho các chiến binh. Giữa khói lửa ngập trời sắp ập đến, tuyệt nhiên không có những lời nỉ non ướt át, không có giọt nước mắt yếu mềm. Thị Chanh bước lại gần, lấy từ trong ngực áo ra chiếc bùa hộ mệnh đan bằng chỉ năm màu tết vào mảnh nanh hổ có khắc hình chim Lạc, kiễng chân đeo vào cổ người thương. Đôi mắt cô trong vắt, tĩnh lặng mà sâu thẳm vô cùng:
"Anh Bôn ơi... Chuyến này anh ra trận, đao kiếm vô tình, giặc Bắc lại đông như kiến cỏ. Em ở lại phía sau cùng chị em lập trạm cứu thương, đun nước mài tên, quyết không để anh phải vướng bận trong lòng. Nếu chẳng may Làng Bàn thất thủ, nếu vận nước đã đến lúc ngặt nghèo... anh đừng quay đầu lại tìm em! Hãy bằng mọi giá giữ lấy mạng sống của mình! Bởi dòng máu chảy trong ngực anh Bôn là tinh hoa ngàn năm của tổ tiên truyền lại, tuyệt đối không thể để tuyệt diệt theo đám cháy này!"
Bôn Lang nắm chặt lấy đôi bàn tay nhỏ nhắn nhưng kiên cường của Thị Chanh, áp lên lồng ngực xăm hình Rồng thiêng đang đập rộn ràng của mình. Anh cúi xuống, đặt một nụ hôn thật sâu lên mái tóc thoang thoảng hương hoa bưởi của người con gái mình yêu hơn mạng sống, giọng trầm ấm mà đanh thép:
"Em Chanh ở lại giữ mình! Anh đi đây! Đợi ngày chém bay đầu tướng giặc, lấy nước sông Thao rửa sạch máu thù, anh Bôn sẽ mang chiếc khèn bầu năm cũ đến bến nước này, thổi khúc giao duyên để rước em Chanh về làm vợ!"

Trận huyết chiến trên bùn lầy sông Thao

Mờ sáng hôm sau, khi màn sương mù đặc quánh còn giăng kín đôi bờ sông Thao, sự tĩnh lặng của vùng đất trung du Lạc Việt bỗng bị xé toạc. Tiếng tù và sừng thú của quân Hán rú lên man rợ, lanh lảnh như tiếng gọi hồn của quỷ dữ. Mặt đất rùng rùng chuyển động. Hàng ngàn tên Thiết Kỵ giáp sắt phi ngựa nước đại, gầm thét húc đổ những hàng rào gỗ vòng ngoài, rầm rập lao qua bãi bồi để đánh thốc vào cổng chính của Làng Bàn.
Thế nhưng, người Lạc Việt tuy ít hơn về quân số, vũ khí không nhiều sắt thép bằng giặc, nhưng lại nắm giữ trí tuệ binh pháp uyên thâm của giới tinh hoa Bách Việt kết hợp với sự am hiểu tường tận địa hình đầm lầy phương Nam. Vị Bồ Chính dày dạn trận mạc không cho quân dàn hàng ngang đối đầu trực diện với kỵ binh, mà áp dụng kế sách dụ rắn độc vào bẫy lầy!
Khi đội Thiết Kỵ kiêu ngạo của quân Hán ồ ạt phóng ngựa qua khúc sông cạn và bãi lầy ven bờ sông Thao, chúng bỗng đối mặt với một cái bẫy tử thần. Ngay dưới lớp bùn non tưởng chừng êm ái ấy là hàng vạn chiếc cọc gỗ lim đã được vót nhọn hoắt, nướng qua lửa cho cứng như sắt và tẩm đầy nhựa cây độc kết hợp nọc rắn hổ mang, được trai tráng Làng Bàn bí mật cắm ngầm từ đêm trước!
Ngựa chiến đang đà phóng mạnh bỗng sụp chân xuống bùn sâu, cọc lim đâm xuyên thủng móng sắt, máu tuôn xối xả.Hàng trăm con ngựa chiến hí lên thảm thiết rồi ngã nhào, hất văng lũ kỵ binh mặc giáp sắt nặng trịch xuống bùn. Càng giãy giụa, sức nặng của bộ giáp sắt càng kéo chúng lún sâu hơn vào lớp bùn đặc quánh của sông Thao, biến đội quân tiên phong hung hãn nhất của nhà Hán thành những tấm bia sống bất động!
"Bắn!!!" Tiếng thét xung phong của Bôn Lang vang lên như sấm dậy từ trên gò cao.
Tức thì, từ trong những lũy tre gai dày đặc và những bãi lau sậy ngụy trang dọc hai bên bờ sông, hàng ngàn xạ thủ Lạc Việt mình trần đóng khố đồng loạt bật dậy như thần binh từ lòng đất chui lên! Trên tay họ là những chiếc nỏ Liên Châu uy lực truyền thừa từ thời thành Cổ Loa nước Âu Lạc.
Phập! Phập! Phập!
Tiếng lẫy nỏ bật vang rền. Hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh sắc lẹm xé gió lao đi như một cơn mưa rào, găm chính xác vào những khe hở không có giáp che trên cổ họng, dưới nách và xuyên thẳng vào hốc mắt của quân thù!
Quân Hán kêu la thảm thiết, xác người xác ngựa ngổn ngang chồng chất lên nhau, máu tươi loang đỏ đặc cả một khúc sông Thao. Đợi cho loạt tên đồng vừa dứt, Bôn Lang rút phắt ngọn giáo đồng dài, gầm lên một tiếng long trời lở đất rồi dẫn đầu đội quân cảm tử phóng mình từ trên bờ cao xuống bãi lầy, xông vào đánh giáp lá cà!
Bôn Lang tả xung hữu đột giữa vòng vây quân giặc. Ngọn giáo đồng trong tay anh múa tít như rồng bay phượng múa, loang loáng ánh chớp; mỗi nhát đâm ra là một tên lính Hán gục xuống bùn đen. Thân hình vạm vỡ của chàng trai trẻ nhuốm đầy máu giặc, dũng mãnh và uy nghiêm chẳng khác nào hiện thân của Đức Cha Lạc Long Quân thuở hồng hoang đang trồi lên từ sóng dữ để trừng phạt lũ yêu ma xâm phạm bờ cõi.
Suốt ba ngày ba đêm ròng rã, đại quân Hán dẫu đông gấp mấy chục lần, dẫu điên cuồng thúc quân xông lên hết đợt này đến đợt khác, vẫn bị chặn đứng trước lũy tre và bãi lầy sông Thao. Nước sông đỏ ngầu máu thịt, mùi tanh nồng nặc bốc lên nghẹt thở. Người chiến binh Lạc Việt này ngã xuống, người phía sau lập tức bước lên thay thế, quyết không lùi nửa bước. Từ trên sân đình Làng Bàn và các gò đất cao, những chiếc trống đồng cỡ lớn vẫn được các tráng sĩ gồng mình thúc dùi vang dội không ngơi nghỉ. Tiếng trống đồng xuyên qua khói lửa, truyền thêm sinh lực ngàn năm của tổ tiên vào huyết quản những người đang cầm giáo, giữ vững linh hồn bất khuất của Làng Bàn.

Biển lửa ngập trời, thành đất vỡ cờ rơi

Thế nhưng, một đàn hổ dũng mãnh đến đâu cũng khó lòng chống chọi mãi với một bầy sói đói hàng chục vạn con vây cắn ngày đêm không nghỉ. Viên đại tướng nhà Hán đứng trên đồi cao quan sát, tức giận đến mức đập gãy nát cán roi ngựa khi thấy đội Thiết Kỵ tinh nhuệ bị đầm lầy và tên đồng Lạc Việt tiêu diệt quá nửa. Nhận ra không thể khuất phục được ý chí sắt đá của người Làng Bàn bằng lối đánh thông thường, tên tướng giặc liền sử dụng đến thủ đoạn đê hèn, tàn độc và vô nhân tính nhất: Lấy dân lành làm bia đỡ tên và dùng máy bắn lửa!
Sáng ngày thứ tư, quân Hán đột nhiên ngừng tấn công. Tiếng tù và rợn ngợp lại cất lên. Từ phía sau trận tuyến giặc, hàng ngàn người dân Việt vô tội bị bắt từ các bản làng lân cận bị lùa ra đi trước mũi quân tiên phong! Đó là những cụ già lưng còng tóc bạc, những người phụ nữ đang mang thai, và cả những đứa trẻ thơ đang khóc ngất vì kinh hãi. Lũ giặc Hán mất hết nhân tính dùng đao kiếm sắc lẹm đâm vào lưng những người đi chậm, ép hàng ngàn đồng bào máu mủ ấy phải tiến lên làm "lá chắn sống" để đỡ tên đồng cho chúng tiến sát lũy tre Làng Bàn!
Đứng trên bờ lũy đất nện phía sau rặng tre, Bôn Lang và hàng ngàn xạ thủ Lạc Việt đồng loạt sững sờ, hai cánh tay đang giương nỏ bỗng buông thõng xuống. Những bàn tay từng không chút run rẩy khi chém đầu giặc Bắc nay run lên bần bật!Nước mắt đau đớn trào ra trên những gương mặt sạm đen vì khói lửa. Bôn Lang cắn chặt môi đến bật máu tươi. Bắn sao được? Làm sao những người con Lạc Việt có thể nhẫn tâm bóp lẫy nỏ, bắn những mũi tên đồng tẩm độc vào chính ngực của cha mẹ, anh em, đồng bào cùng chung bọc trứng Âu Cơ của mình?!
Chỉ chờ khoảnh khắc quân phòng thủ Làng Bàn chùn tay hạ nỏ, tên đại tướng nhà Hán nở nụ cười man rợ, phất mạnh lá cờ lệnh màu đen. Lập tức, hàng trăm cỗ máy bắn đá khổng lồ đã được chúng lén lắp đặt từ đêm qua đồng loạt giương cánh tay gỗ lên trời. Thay vì bắn đá tảng, chúng đặt lên đó hàng ngàn vò đất nung chứa đầy dầu thông trộn lưu huỳnh và nhựa ráy đang bốc lửa ngùn ngụt!
"Vù... vù... Ầm!!!"
Hàng ngàn vò lửa bay vút qua đầu đám đông dân lành, xé toạc bầu trời rồi rơi sầm sập vào bên trong lũy tre Làng Bàn!Vò đất nung vỡ tan, dầu thông bắn tung tóe khắp nơi, gặp gió thu hanh khô liền bùng lên thành một biển lửa khổng lồ.Ngọn lửa quái ác bén nhanh như chớp lên những mái nhà sàn lợp lá cọ, quấn chặt lấy những lũy tre xanh, thiêu rụi các kho thóc gạo dự trữ. Thứ lửa dầu thông của giặc không thể dập tắt bằng nước thường; dân làng càng tạt nước, dầu nổi lên mặt nước càng làm ngọn lửa lan rộng dữ dội hơn, đỏ rực như máu nhuộm cả bầu trời.
Ốc đảo Làng Bàn thanh bình phút chốc hóa thành biển lửa ngút trời! Tiếng gào khóc xé lòng của người già và trẻ nhỏ bị kẹt trong đám cháy vang thấu tầng mây. Các chiến binh Lạc Việt sau ba ngày đêm tử chiến không chợp mắt, nay bị khói độc hun mù mắt, lồng ngực bỏng rát. Đúng lúc ấy, hàng chục vạn bộ binh giáp sắt của nhà Hán đạp lên xác những người dân vô tội phía trước, ồ ạt tràn qua những đoạn lũy tre đã cháy sập, đánh thốc vào trung tâm làng!
Giữa sân đình mù mịt khói lửa, vị Bồ Chính già cùng đội quân quyết tử tả xung hữu đột giữa vòng vây của hàng trăm tên lính Hán. Thanh kiếm đồng gia truyền trong tay ông đã sứt mẻ, nhuốm đặc máu giặc. Nhưng rồi, một mũi tên sắt từ trong đám khói bắn lén tới, cắm phập vào bả vai ông. Ngay lập tức, ba ngọn giáo dài của quân Hán từ ba phía đâm xuyên qua tấm ngực trần xăm hình Rồng thiêng của vị thủ lĩnh!
Vị Bồ Chính Làng Bàn khuỵu một chân xuống nền đất quê hương. Một ngụm máu đỏ tươi trào ra nơi khóe miệng, nhưng đôi mắt hổ của ông vẫn mở trừng trừng, sáng quắc niềm kiêu hãnh tột cùng của dòng dõi Bách Việt. Không cho phép mình ngã rạp dưới chân lũ cướp nước, ông dồn chút sinh lực cuối cùng, hai tay nắm chặt đốc kiếm, cắm phập lưỡi kiếm đồng xuống nền đá sân đình làm trụ đỡ! Vị thủ lĩnh già trút hơi thở cuối cùng trong tư thế đứng sừng sững hiên ngang giữa vòng vây quân thù, hóa thành một bức tượng đài bất tử giữa khói lửa điêu tàn của đất Tổ.
Ngay khoảnh khắc ấy, trên nóc mái đình đang cháy rực, lá cờ thêu hình chim Lạc sải cánh quanh Mặt Trời bị ngọn lửa tàn nhẫn nuốt chửng, gãy gập rồi rơi xuống giữa đống tro tàn.
Nước mắt nuốt vào trong, bi kịch bắt đầu
Thành đất vỡ nát! Lũy tre cháy rụi! Làng Bàn đã thất thủ!
Quân Hán tràn vào khắp các ngõ xóm Làng Bàn như bầy thú dữ sổ lồng. Để trả thù cho sự thiệt hại nặng nề ngoài bãi lầy sông Thao, chúng điên cuồng vung đao tàn sát người già trẻ nhỏ, đốt sạch đền miếu, lục soát cướp bóc mọi kho tàng.Đau đớn hơn cả, những chiếc trống đồng thiêng liêng – báu vật kết tinh trí tuệ và linh hồn của đất nước Văn Lang – Âu Lạc – bị lũ giặc dùng búa tạ bằng sắt đập vỡ nát, tiếng đồng vỡ ngân lên những âm thanh bi thương như tiếng nấc nghẹn của non sông!
Giữa biển lửa ngút trời, Bôn Lang toàn thân bê bết máu thù và bùn đen, trên người chằng chịt hàng chục vết đao chém, vẫn như một con mãnh hổ điên cuồng chiến đấu để mở đường về phía trạm cứu thương. Khi thanh kiếm đồng trong tay gãy đôi, anh gầm lên dữ dội, lao vào dùng đôi tay trần rắn như thép bẻ gãy cổ hai tên lính Hán cao lớn!
Nhưng sức người có hạn trước biển quân thù đông như kiến. Từ phía sau làn khói đặc, một toán lính Hán bất ngờ quăng chụp xuống người anh một tấm lưới lớn bện bằng gân trâu tẩm dầu và gai sắt! Hàng chục tên giặc lập tức ùa tới, dùng cán giáo dài đâm thúc và đè nghiến tấm thân vạm vỡ của chàng dũng sĩ xuống mặt đất.
Bôn Lang gầm lên như rồng mắc cạn, vùng vẫy dữ dội làm những chiếc gai sắt trên lưới xé toạc da thịt, máu tuôn đầm đìa. Đôi mắt anh hằn lên những tia máu đỏ rực, phẫn uất đến tột cùng khi nhìn qua màn khói, thấy lũ giặc Hán vừa đạp tung cánh cửa gỗ lim của khu nhà cứu thương bên cạnh nhà vị Bồ Chính!
Từ trong đám cháy mù mịt, Thị Chanh bị hai tên lính Hán to lớn nắm tóc lôi xềnh xệch ra ngoài sân đất. Tấm áo vải nâu mộc mạc trên người cô đã bị xé rách tươm, gương mặt thanh tú lấm lem tro bụi và rớm máu vì những vết cào xước. Thế nhưng, trước mũi đao kề cổ, người con gái Làng Bàn ấy tuyệt nhiên không rơi một giọt nước mắt yếu đuối, không hề thốt ra nửa lời van xin! Cô ngẩng cao đầu, đôi mắt sáng quắc nhìn thẳng vào mặt lũ giặc cướp nước bằng ánh nhìn sắc lẹm, khinh bỉ và ngời ngời khí phách của người con gái dòng dõi Tiên Rồng – thà làm ngọc nát chứ quyết không chịu làm ngói lành!
"Em Chanh!!!"
Bôn Lang gào lên tên người thương, tiếng gọi uất nghẹn xé toạc cả cuống họng, đau đớn như có vạn mũi dao đâm nát lồng ngực! Nhìn về phía Bôn Lang đang bị đè dưới lưới sắt, đôi mắt kiên cường của Thị Chanh chợt ánh lên một tia xót thương vô hạn, đôi môi rớm máu của cô mấp máy gọi khẽ: "Anh Bôn... Phải sống..."
Bôn Lang nghiến răng đến bật máu, dồn toàn bộ sức lực bình sinh gồng mình trườn về phía Thị Chanh, bất chấp hàng trăm mũi gai sắt đang cày xé thịt da. Nhưng ngay lúc ấy, hàng loạt cán giáo bọc sắt nặng nề của lũ giặc đã giáng xuống đầu và lưng anh như mưa búa! Chàng dũng sĩ sông Thao hộc ra một ngụm máu tươi đỏ thẫm, trước mắt tối sầm lại, chỉ còn kịp nhìn thấy bóng dáng người con gái mình yêu thương nhất bị lũ quỷ dữ lôi khuất vào màn khói đen đặc trước khi lịm đi trong nỗi đau đớn tột cùng...
Mặt trời chiều hôm ấy từ từ chìm xuống sau dãy núi Tản Viên xa xăm, nhuộm cả bầu trời vùng đất Lạc Việt và mặt nước sông Thao thành một màu đỏ ối bi thương và u uất. Vầng mặt trời chiều đỏ quạch ấy chẳng khác nào con mắt của trời xanh đang ứa lệ máu, xót thương cho số phận bi thảm của Làng Bàn, và khóc cho mối tình tuyệt đẹp vừa chớm nở của đôi trai tài gái sắc đã phải chịu cảnh chia lìa sống chết giữa lúc nước mất nhà tan!
Làng Bàn – thành lũy tinh hoa cuối cùng trên đất Tổ Phong Châu – đã sụp đổ trong biển lửa. Những ánh hào quang rực rỡ còn sót lại của thời đại Văn Lang – Âu Lạc chính thức bị bóng đêm dày đặc của ách đô hộ phương Bắc nuốt chửng.Tiếng trống đồng oai hùng đã tạm thời im bặt, nhường chỗ cho tiếng xiềng xích loảng xoảng và tiếng khóc than ai oán của một dân tộc đang bước vào đêm trường thử thách khốc liệt nhất lịch sử.
Thế nhưng, đứng trên đống tro tàn của sự bạo ngược, lũ giặc Hán kiêu ngạo kia không bao giờ hiểu được một chân lý vĩnh hằng trên lãnh thổ phương Nam của người Việt: Gươm đao của chúng có thể chém ngã những thân người, lửa độc của chúng có thể thiêu rụi những lũy tre, nhưng hạt giống bất khuất của nòi giống Rồng Tiên đã kịp thời cắm rễ sâu vào từng tấc đất, từng mạch nước ngầm và hòa vào máu thịt của những người còn sống sót! Đại tộc Việt không hề chết; họ chỉ đang nén chặt tiếng nấc vào lòng, âm thầm thu mình lại để giữ gìn tiếng nói, phong tục và huyết thống, chờ đợi ngày thổi bùng lên ngọn lửa quật khởi vĩ đại, thiêu rụi toàn bộ dã tâm đồng hóa của phương Bắc sau ngàn năm nô lệ !
 
Từ khóa Từ khóa
âu lạc chu đức thuận hùng vương tình sử trống đồng van hoa văn lang
5
0
0
Trả lời

Đang có mặt

Không có thành viên trực tuyến.