Thiên tình sử của chàng Bôn Lang và nàng Thị Chanh - Phần 5

Thiên tình sử của chàng Bôn Lang và nàng Thị Chanh - Phần 5

C
chuducthuan
CHƯƠNG 5: MÁU NHUỘM BẾN SÔNG THAO – KHÚC ĐOẠN TRƯỜNG CỦA NHỮNG CÁNH CHIM LẠC BẠT GIÓ
Bức rèm lịch sử và hồi chuông báo tử của nhà nước Nam Việt

Để thấu tận cùng nỗi đau đứt từng khúc ruột của ngày chia ly trên bến sông Thao, cần phải lật giở lại những trang sử trên vùng đất phương Nam của người Việt trước khi thảm họa từ triều đình nhà Hán thực sự giáng xuống.
Thuở trước, khi nhà nước Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương rơi vào cảnh cơ đồ đắm biển sâu vì mưu hiểm của giặc, dải non sông này đã trải qua một cuộc đổi ngôi thay chủ. Bấy giờ, Triệu Đà – viên tướng cai quản vùng Nam Hải – đã đem quân thôn tính Âu Lạc, gom vạn dặm núi sông từ phía Nam dãy Ngũ Lĩnh lại mà lập nên nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung.
Triệu Đà dẫu xuất thân từ phương Bắc, nhưng tổ tiên sâu xa vốn cũng là dòng dõi cư ngụ trên mảnh đất cổ của đại tộc Bách Việt thuở vua Đế Minh đi tuần thú phương Nam. Bởi thế, khi lên ngôi xưng là Vũ Đế làm chủ nước Nam Việt, ông không hề đập phá hay xóa bỏ nếp sống của người Việt; trái lại, ông coi sự chuyển giao này chỉ như việc thay ngôi đổi chủ trong cùng một nhà. Tại kinh đô Phiên Ngung, nhà vua cởi bỏ mũ áo rườm rà phương Bắc, búi tóc củ hành, đi chân đất, đóng khố, ngồi bệt ăn trầu theo đúng phong tục truyền thống của người Bách Việt. Triệu Vũ Đế cùng triều đình vẫn thành kính giữ nguyên miếu thờ các đời Vua Hùng, Vua Thục, trọng dụng các Lạc Tướng người Việt cai quản dân lành, giữ gìn trọn vẹn lề thói cũ. Dưới thời nhà Triệu, tiếng trống đồng vẫn ngân vang mỗi mùa hội, con cháu Tiên Rồng vẫn yên ổn cày ruộng đúc đồng, giữ trọn khí phách tổ tiên.
Thế nhưng, cơn ác mộng thực sự chỉ ập xuống khi vương triều nhà Hán ở Trường An cậy thế binh hùng tướng mạnh, bộc lộ dã tâm nuốt chửng đất đai và xóa sổ tận gốc nền văn minh phương Nam. Chúng xua hàng chục vạn đại quân giáp sắt, dùng đủ mưu hèn kế bẩn đánh sập nước Nam Việt. Triều đại họ Triệu sụp đổ cũng là lúc bức tường thành che chắn cuối cùng nơi biên ải bị đập vỡ. Giặc Hán tràn vào lãnh thổ Âu Lạc cũ không phải để thay triều đổi đại, mà rắp tâm thực hiện một cuộc đồng hóa đẫm máu, xóa tên đại tộc Bách Việt khỏi mặt đất! Và Làng Bàn – thành lũy tinh hoa kiên cường nhất bên bờ sông Thao quyết không chịu cúi đầu – đã trở thành nạn nhân bi tráng nhất cho chính sách tuyệt diệt ấy.

Buổi sáng tắ nắng bên bờ sông Thao

Trời Làng Bàn sáng hôm ấy không có ánh mặt trời. Ông Trời dường như cũng không nỡ vạch mây nhìn xuống cảnh nước mất nhà tan nơi trần thế, đành giấu mình sau những lớp mây chì đặc quánh, tang tóc. Gió bấc từ phương Bắc thổi về từng cơn rít gào qua những lũy tre cháy xém, nghe như tiếng khóc than ai oán của hàng ngàn oan hồn chưa kịp siêu thoát ngoài bãi lầy sông Thao.
Keng... Keng... Keng...
Tiếng thanh la đồng vỡ nát do quân giặc gõ xuống vang lên lanh lảnh, chói tai, xé toạc bầu không khí u uất. Đó là hiệu lệnh xuất phát của chuyến đò lưu đày oan nghiệt!
Từ trong khu trại giam dã chiến lợp lá cọ tơi tả, đoàn người tinh hoa của đất Lạc Việt bị roi da lùa ra, lê từng bước chân trĩu nặng. Hơn năm ngàn con người – những bộ óc thông tuệ nhất, những huyết mạch quý tộc cao quý nhất của đại tộc Bách Việt hội tụ về đây – nay phải chịu cảnh cá chậu chim lồng, cổ đeo gông gỗ, chân vướng xiềng sắt. Họ nối nhau đi thành một hàng dài lê thê không thấy điểm cuối. Dây xích sắt lạnh buốt xâu chuỗi người này vào người kia, kéo lê trên mặt đất lầy lội. Tiếng xích sắt va vào nhau loảng xoảng, cọ xát tàn nhẫn vào những mảng da thịt đã tứa máu tươi.
Những bậc già làng thông tỏ chữ nghĩa, những vị Lạc Hầu, Bồ Chính cả đời giữ gìn lễ nhạc và phép nước, nay đôi bàn chân trần phải giẫm lên đá dăm sỏi nhọn, máu tươm ra nhuộm đỏ cả con đường đất. Những bậc mệnh phụ phu nhân, những cô gái khuê các từng chỉ quen ươm tơ dệt gấm, vấn tóc cài trâm, nay phải oằn lưng, cắn chặt môi đến bật máu để gánh trên vai chiếc gông gỗ lim nặng trịch.
Đau đớn thay, có một người mẹ trẻ vì kiệt sức ngã khuỵu, liền bị tên lính Hán hung tợn giằng lấy đứa con thơ còn đang khát sữa trên tay, nhẫn tâm quăng vào bụi cỏ lau ven đường vì sợ tiếng trẻ khóc làm chậm bước hành quân! Người mẹ trẻ như đứt từng khúc ruột, điên cuồng vùng dậy lao vào cắn nát bàn tay tên giặc để giành lại núm ruột của mình. Lập tức, một mũi giáo sắt lạnh lùng đâm xuyên qua lồng ngực chị! Máu người mẹ trẻ trào ra thấm đẫm vạt cỏ úa, đôi mắt mở trừng trừng nhìn về phía tiếng khóc ngặt nghẽo của đứa con thơ; cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng, bàn tay đẫm máu ấy vẫn cố rướn lên, vươn về phía mảnh đất quê hương.
Đất trời như thắt lại! Gió bấc bỗng nghẹn ngào ngừng thổi. Mưa bụi bay lất phất giăng kín lối đi như hàng vạn giọt nước mắt của trời xanh nhỏ xuống thương xót cho kiếp người đọa đày.

Dáng ngọc giữa bùn nhơ

Giữa đoàn người đẫm máu và nước mắt ấy, em Chanh lặng lẽ bước đi. Tấm áo vải nâu mộc mạc trên người cô đã rách bươm, loang lổ những vệt máu khô sau những đêm dài bị tra khảo. Mái tóc đen dài mượt mà như suối, từng ướp hương bưởi hương nhu làm say đắm cả bến sông Thao, nay bết lại vì bùn đất và sương lạnh. Chiếc gông gỗ lim thô ráp nghiến chặt lấy chiếc cổ cao thanh tú; vết thương rách nát trên bả vai vẫn không ngừng rỉ ra những giọt máu đỏ thẫm, nhỏ từng giọt xuống dấu chân trên bùn.
Thế nhưng, lạ lùng thay, giữa chốn bùn nhơ và rừng gươm giáo sáng lòa của giặc, cốt cách thanh cao của người con gái dòng dõi Bồ Chính Làng Bàn lại tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết! Đúng như câu tục ngữ ông cha truyền lại: Giấy rách phải giữ lấy lề, đói cho sạch rách cho thơm. Tấm lưng mảnh mai của em Chanh vẫn giữ thẳng tắp như cây trúc, cây mai trên đỉnh núi Tản. Cô không một lời than khóc, không run rẩy khuỵu ngã, cũng chẳng hề cúi đầu né tránh những ánh mắt soi mói, tục tĩu của lũ lính Hán. Đôi mắt cô mở to, trong vắt và phẳng lặng như nước hồ thu, nhìn thẳng về phía trước.Vẻ kiêu hãnh lẫm liệt ấy uy nghiêm đến mức khiến lũ cai ngục phương Bắc dẫu tay lăm lăm roi da cũng phải chột dạ, không dám thẳng tay quất xuống bờ vai gầy guộc ấy.
Thị Chanh hiểu rằng, dọc hai bên đường làng, sau những rặng tre cháy dở và những lùm cây rậm rạp, hàng ngàn bà con dân làng đang lén lút nuốt nước mắt nhìn theo đoàn người lưu đày. Cô tuyệt đối không được phép yếu mềm! Cô phải bước đi thật hiên ngang để bà con thấy rằng: Giặc Bắc có thể dùng gông cùm trói buộc thể xác, nhưng vạn kiếp ngàn đời không bao giờ khuất phục được linh hồn của con cháu Tiên Rồng!
Từ phía xa, nấp sau gốc đa cổ thụ đã cháy sém một nửa, Bôn Lang hai tay bấu chặt vào lớp vỏ cây xù xì đến bật máu móng tay. Anh phải cắn chặt hàm răng đến mức máu tươi trào ra khóe miệng để kìm nén tiếng gào đang chực nổ tung trong lồng ngực. Đêm qua, anh đã liều mạng trốn khỏi trại chăn ngựa, luồn rừng lội suối chạy về đây chỉ để được nhìn thấy bóng dáng em Chanh lần cuối cùng.
Mỗi bước chân rớm máu của Thị Chanh trên đường đất như hàng vạn mũi kim đâm nát buồng tim Bôn Lang. Anh nhớ lại đôi bàn tay mềm mại ấy từng thả nhành hoa sim tím xuống mạn thuyền độc mộc dưới ánh trăng rằm; nhớ lại đôi mắt sáng ngời, e ấp của cô khi nghe anh thổi tiếng khèn bầu giao duyên đêm hội giã cốm. Vậy mà giờ đây, đôi vai gầy nhỏ bé ấy lại đang phải oằn mình gánh lấy nỗi ô nhục của cả một dân tộc mất nước! "Trời cao đất dày ơi! Thần Sông Thần Núi ơi! Nếu trên cao có mắt, xin hãy giáng vạn lưỡi tầm sét xuống đầu Bôn Lang này, hãy băm vằm thân xác tôi ra làm trăm mảnh để đổi lấy một ngày bình yên cho em Chanh!" – Bôn Lang gầm lên u uất trong cổ họng, máu từ môi hòa lẫn với dòng nước mắt mặn chát của người tráng sĩ đang bất lực tột cùng trước cơn binh lửa.

Bến nước chia ly, nghìn thu đứt ruột

Bến sông Thao rộng lớn dần hiện ra trước mắt đoàn người. Bến nước thân thương mới mùa thu trước còn rợp bóng cờ hội, rộn rã tiếng hát Xoan, tiếng hò chèo thuyền giăng lưới, nay đã bị che kín bởi hàng chục chiếc thuyền chiến nhiều tầng khổng lồ của thủy quân nhà Hán. Những con thuyền gỗ đen sì, cắm đầy cờ quạt vẽ hình thú dữ, nằm chắn ngang dòng sông như những con thủy quái đang há rộng cái miệng đen ngòm chờ nuốt chửng những người con ưu tú nhất của đất Lạc Việt.
Tiếng tù và sừng trâu lại rúc lên từng hồi giục giã. Roi da quất vun vút xé gió. Lũ lính Hán hò hét đẩy đoàn người mang gông bước lên cầu tàu như lùa đàn cừu vào chỗ chết.
Khi Thị Chanh khó nhọc đặt chân lên tấm ván gỗ chông chênh bắc từ bờ đất lên mạn thuyền lớn, một cơn gió bấc lạnh buốt từ giữa dòng sông Thao bất ngờ thốc mạnh tới, làm tấm thân mảnh mai của người con gái chao đảo. Sức nặng của chiếc gông lim cùng đôi chân đã tê cóng vì xiềng sắt khiến em Chanh trượt chân, ngã khuỵu xuống mặt ván gỗ! Một tên lính Hán mặt mũi hung tợn đi ngay phía sau liền vung ngọn giáo sắt nhọn hoắt lên, tàn nhẫn định đâm thẳng vào bắp chân cô để thúc đi tiếp.
"Dừng tay lại!!!” Một tiếng thét nổ vang như sấm rền xé toạc mặt sóng sông Thao! Bôn Lang không thể nhẫn nhịn thêm được nửa khắc nào nữa. Quên đi mọi hiểm nguy, chàng dũng sĩ lao vút ra khỏi gốc đa. Dẫu thân hình tiều tụy sau những ngày bị đòn roi hành hạ, trên người chỉ đóng độc chiếc khố vải rách tươm, nhưng luồng sát khí ngùn ngụt tỏa ra từ tấm ngực xăm hình Rồng thiêng và đôi mắt đỏ ngầu của Bôn Lang khiến toán lính Hán mặc giáp sắt đứng gần đó phải giật mình kinh hãi, bất giác lùi lại nửa bước. Anh gồng mình định lao tới, thề dùng đôi tay trần bẻ gãy cổ tên giặc kia, dẫu có phải thịt nát xương tan dưới vạn mũi giáo ngay tại bến sông này cũng quyết che chở cho người thương!
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc hàng chục mũi giáo của quân thù đồng loạt chĩa về phía ngực Bôn Lang, Thị Chanh trên cầu ván đột ngột ngoảnh mặt lại!
Đất trời như ngừng quay. Gió sông Thao như lặng hẳn. Giữa tiếng gào khóc dậy đất của hàng ngàn con người, giữa rừng gươm giáo sáng lòa sát khí, ánh mắt của anh Bôn và em Chanh chạm vào nhau!
Bôn Lang khựng sững lại như trời trồng. Trong đôi mắt đẫm lệ nhưng sáng quắc của em Chanh, anh đọc được một lời van xin thống thiết, và hơn thế nữa, một mệnh lệnh đanh thép không thể làm trái: "Anh Bôn! Đừng quên lời thề đêm qua! Anh phải sống! Phải sống để giữ lấy tiếng nói và hồn cốt của tổ tiên!"
Sợ quân giặc nhận ra Bôn Lang là người thương của mình mà hạ sát, Thị Chanh cắn chặt môi đến ứa máu, dồn chút sức lực cuối cùng chống tay tự đứng thẳng dậy trên tấm ván trơn trượt. Cô ngoảnh lại, nhìn thật sâu vào gương mặt hốc hác, đầm đìa nước mắt của Bôn Lang lần cuối cùng trong cõi đời này. Và rồi, ngay trên đôi môi nhợt nhạt vì mất máu của người con gái Làng Bàn ấy, bỗng hé nở một nụ cười!
Trời đất ông cha ơi! Nụ cười trên bến sông Thao ấy mới bi thương, lẫm liệt và rực rỡ làm sao! Đó không phải là nụ cười cam chịu của kẻ yếu hèn, mà là đóa sen trắng tinh khôi vươn lên kiêu hãnh giữa bùn lầy nước đọng: Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn! Nụ cười ấy là lời nhắn nhủ dịu dàng bảo người ở lại hãy nén đau thương mà giữ vững chí lớn; là lời từ biệt thiêng liêng gửi lại cho núi Tản sông Thao; là ánh trăng rằm đẹp đẽ nhất của vùng đất Lạc Việt trước khi bị mây đen phương Bắc nuốt chửng.
Nụ cười của em Chanh như một lưỡi dao sắc lẹm khắc sâu vào tim Bôn Lang một vết thương ngàn năm không thể khép miệng, nhưng đồng thời cũng truyền vào lồng ngực anh sức nóng của một ngọn lửa vĩnh cửu.
Thị Chanh dứt khoát quay người, ngẩng cao đầu bước thẳng vào trong khoang thuyền tối tăm mù mịt. Bóng dáng mảnh mai, kiên trung của cô gái Làng Bàn khuất hẳn sau cánh cửa gỗ nặng nề của chiếc thuyền giặc.

Tiếng khóc dậy đất trời và hạt giống bất diệt của lời ru

"Nhổ neo! Căng buồm!” Tiếng tên tướng giặc vang lên lạnh lùng trên đài chỉ huy. Tiếng dây xích sắt kéo mỏ neo cọ vào mạn gỗ rít lên ken két nghe lạnh buốt sống lưng. Hàng chục chiếc thuyền lớn nặng nề từ từ xoay mũi, rẽ sóng sông Thao xuôi dòng rồi hướng thẳng về phương Bắc sương mù mịt mùng, mang theo biết bao máu thịt và trí tuệ tinh hoa của giống nòi Lạc Việt.
Khi những cánh buồm đen bắt đầu rời xa bến nước, từ trong các lùm cây, bụi cỏ dọc hai bên triền đê, hàng vạn người dân Việt mặc áo tơi, đầu đội nón lá không ai bảo ai, đồng loạt bước ra quỳ rạp xuống mặt đất lầy lội! Tiếng nấc nghẹn ngào kìm nén bấy lâu từ hàng vạn lồng ngực bỗng vỡ òa thành một tiếng gào khóc long trời lở đất, át cả tiếng gió bấc đang gầm rít trên sông: "Trời cao ơi! Tổ tiên ơi! Ruột gan người Việt ta đứt làm đôi mất rồi!” "Sông Thao ơi! Bao giờ con thuyền kia mới chở máu mủ của chúng ta trở về?!"
Dòng sông Thao đỏ nặng phù sa dường như cũng nghẹn ngào chẳng muốn chảy xuôi, sóng nước cuộn trào đập ầm ầm vào bờ đất như muốn níu giữ mạn thuyền. Rừng cọ đồi chè đôi bờ rũ lá xơ xác, gió thu hú lên từng hồi thê thiết. Người dân Lạc Việt đang phải trơ mắt tiễn đưa những người con ưu tú nhất của mình đi vào chỗ chết nơi đất khách quê người.Mất đi tầng lớp dẫn dắt ấy, dân tộc chẳng khác nào rồng thiêng bị rút gân, chim Lạc bị bẻ gãy đôi cánh!
Bôn Lang quỳ gục bên mép nước. Sóng sông Thao đánh ập vào bờ làm ướt đẫm nửa thân người vạm vỡ. Anh vươn đôi bàn tay chằng chịt vết sẹo xuống lớp bùn non, đúng nơi vừa in dấu bàn chân nhỏ bé có vương giọt máu đào của em Chanh trước lúc lên thuyền. Anh bốc một nắm đất bùn thấm đẫm máu và nước mắt ấy, nắm chặt lại rồi ép sát vào lồng ngực trái của mình, như muốn đem cả mảnh đất quê hương và hình bóng người con gái yêu thương nhất khảm sâu vào tận tim gan.
Anh không khóc nữa! Nước mắt của người tráng sĩ sông Thao đã cạn khô, hay đúng hơn, từng giọt lệ đã chảy ngược vào trong, nung nấu trái tim anh thành một khối gang thép rắn chắc không búa rìu nào đập vỡ nổi.
Đôi mắt Bôn Lang đỏ rực nhìn theo chấm đen của đoàn thuyền giặc dần khuất hẳn sau khúc quanh của dòng sông Thao.Giữa nỗi đau đớn tột cùng của cảnh chia lìa sống chết, tâm trí anh bỗng bừng sáng một chân lý vĩnh hằng của dân tộc: Lũ giặc phương Bắc kia có thể đày ải thân xác của em Chanh và hàng ngàn bậc tinh hoa lên miền tuyết lạnh xa xôi; chúng có thể chém đầu người cầm giáo, đốt sạch thẻ tre chữ viết, đập vỡ nát hàng vạn chiếc trống đồng. Nhưng chúng vĩnh viễn không bao giờ cướp đi được Cội nguồn và Tiếng nói! Đó là ký ức thiêng liêng về bọc trăm trứng của Cha Rồng Mẹ Tiên; là nghĩa tình Bầu ơi thương lấy bí cùng của anh em một nhà; và trên hết, là tiếng nói Lạc Việt trầm bổng, mượt mà như nước chảy mây trôi mà Mẹ Âu Cơ đã mớm lời cho con cháu từ thuở mới khai thiên lập địa
"Em Chanh ơi... Ở phương Bắc xa xôi ngàn dặm, em hãy vững lòng giữ trọn khí tiết của người con gái sông Thao!" – Bôn Lang thầm thì với sóng nước mênh mông, giọng nói trầm hùng mà sắc lạnh như khắc vào đá núi, mang sức nặng của lời thề xuyên qua ngàn năm. "Giặc Hán muốn dùng gươm đao và sắc lệnh để xóa sổ gốc tích, bắt dân ta câm miệng quên nguồn. Anh Bôn ở lại đây, xin lấy chính nỗi đau đứt ruột hôm nay để rèn nên một thứ vũ khí vô hình! Một vạn năm sau, dẫu ngựa xe của giặc Bắc có hóa thành tro bụi, dẫu cột đồng của chúng có mục nát dưới bùn đen, thì thứ vũ khí ấy vẫn sẽ trường tồn bất diệt!"
Chàng trai Làng Bàn từ từ đứng thẳng dậy giữa bến sông lộng gió. Mưa bụi vẫn giăng mờ mặt nước sông Thao, nhưng từ trong bóng dáng cô độc, mình trần đóng khố lấm lem bùn đất ấy, một sức mạnh vĩ đại đang âm thầm thức giấc. Nỗi đau mất nước, tan nhà và chia lìa đôi lứa đã trui rèn người thanh niên dũng mãnh ấy thành một người gánh sứ mệnh thiêng liêng: Người giữ lửa cho linh hồn dân tộc!
Từ đêm nay, Bôn Lang sẽ nuốt hận vào lòng, ẩn mình trong lốt áo vải nâu của người dân cày, người thợ săn, lặn lội đi khắp mọi bản làng, ngõ xóm trên dải đất Lạc Việt. Anh sẽ đem trí tuệ của tổ tiên, đem lịch sử Hồng Bàng – Văn Lang – Âu Lạc và cả mối tình đẫm máu với em Chanh gửi gắm vào từng câu ca dao, tục ngữ, từng điệu hát Xoan, hát Ghẹo; truyền vào lời ru ầu ơ của mỗi người mẹ, người chị bên cánh võng đêm khuya:
Con ơi nhớ lấy câu này,
Sông Thao còn chảy, đất này còn ta!
Ngàn năm giặc đốt quê nhà,
Còn nói tiếng Việt, còn là Rồng Tiên!

Cuộc kháng chiến trường kỳ chống đồng hóa vĩ đại nhất lịch sử nhân loại, trận huyết chiến bảo vệ linh hồn dân tộc kéo dài suốt một thiên niên kỷ của người Việt, không bắt đầu từ những lò rèn đúc gươm giáo, mà đã chính thức khởi nguồn từ bến nước sông Thao đẫm máu và nước mắt chia ly này!
 
0
0
0
Trả lời

Đang có mặt