Ngày 16 tháng 9 năm 2025 buổi hội đàm diện mạo văn học đã được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh. Tại buổi hội nghị, chủ tịch hội nhà văn Việt Nam trăn trở rằng vật cản lớn nhất đối với nhà văn là chính ngọ. Người nghệ sĩ luôn không dám giấc ngủ mê và sự đui điếc để giao tiếp, đối thoại với chính mình và kẻ khác, dù cho đó là căn nguyên để thờ ca vĩ đại ra đời. Bởi vậy, thơ ca sẽ chỉ thực sự ra đời khi con người chạm tới chiều sâu của mình và ở đó chúng ta gặp một người khác.
Thôi là kết quả của sự hồi đáp giữa chính mình và tương tác với thế giới. Thơ ca. Đó là loại hình sáng tạo nghệ thuật phản ánh đời sống, diễn tả cảm xúc cá nhân bằng ngôn từ hàm súc, giàu hình ảnh. Từ ra đời từ sự chạm tới chiều sâu của chính mình, tức là khi con người thành thật, đi đến tận cùng vào lòng mình, khai phá đến cạn kiệt cảm quan cá nhân. Đây là nguồn gốc để thực ca ra đời. Khi tư tưởng rung động đòi hỏi được biểu hiện cũng là lúc nhà thơ khao khát được sáng tạo. Gặp mọi người khác, nghĩa là kết nối với những kẻ lạ, bắt gặp tiếng nói đồng điệu tri âm. Như vậy, nguồn gốc cốt lõi của thi ca chính là sự giao tiếp với chính mình và đối thoại với thế giới.
Khởi nguyên của thơ là khi con người biết giao tiếp với thế giới bên trong mình, từ sự va chạm, đối diện với phần sâu thẳm bên trong cuộc đời. Con người có khát khao cảm xúc và bắt đầu có xu hướng thể hiện nó. Với nhà văn, sự giao tiếp thể hiện trong việc sáng tác tác phẩm là ngôn ngữ của sự giao tiếp. Quá trình đối thoại với chính mình không hề đơn giản, đôi khi ép nhà thơ phải trực diện với bản ngã của bản thân. Con người là một thế giới tinh thần đầy phức tạp, nhưng nhà thơ cần phải vỗ về nó, xoa dịu nó, nắm bắt cảm xúc ở khoảng cách gần nhất để thấu hiểu. Từ sự thấu hiểu đó mà khao khát được sáng tạo ra đời.
Khi nhà văn đi đến tận cùng của lòng mình, họ sẽ gặp người khác. Hành trình đối thoại với bản thân đòi hỏi nhà thơ phải mở rộng góc nhìn để đối thoại với thế giới. Nhà thơ luôn khao khát nắm bắt được thế giới bên trong nhân loại để tiến gần hơn với họ. Có thể xem đó là hành động của đội cô đơn, nhưng nó cũng đồng thời là nỗi cô đơn mà nếu không có nó thì sẽ không có tác phẩm.
Chính sự giằng co giữa những biến động của thực tại và khát vọng tự do của bản ngã mới tạo ra xung đột nghệ thuật. Xung đột nội tâm xuất hiện khi nhà thơ tự vấn về phẩm giá, về sự vô nghĩa của kiếp sống hay những vết xước chưa lành trong tâm thức. Xung đột ngoại tâm nảy sinh khi cá nhân đứng trước những bất công, sự tha hóa hay sự im lặng của lịch sử.
Thơ ca luôn cần đến những tiếng nói cả bên trong và bên ngoài, cả những xung đột nội tâm và ngoại tâm đã đẩy nhà văn đến cùng đường phải sáng tác. Khởi nguyên của thơ ca luôn gắn liền với áp lực dồn nén từ hai phía, những va đập của thế giới khách quan bên ngoài và sự lên tiếng của những chuyển động tinh thần bên trong.
Để sáng tác nên những trang viết ở khoảng giao giữa bản thân mình và thế giới, nhà văn cần phải lắng nghe tiếng nói nội tâm và tiếng nói của những kẻ khác. Quá trình dịch chuyển từ cái "tôi" sang cái "chúng ta" này giúp ngôn từ thơ ca thoát khỏi tính chật hẹp của trải nghiệm cá nhân để mang sức chứa của đời sống cộng đồng. Bàn về bản chất của thi ca, nhà nghiên cứu văn học M. Bakhtin từng nhấn mạnh tính đối thoại của ngôn từ. Thơ ca không phải là một âm thanh đơn độc cất lên cho riêng nhà thơ, mà là nơi diễn ra sự va chạm, hồi đáp giữa nhiều giọng điệu khác nhau. Khi nhà thơ dám bước ra khỏi cái tôi để đối thoại với tiếng nói của người khác, tác phẩm mới có thể vượt qua ranh giới thời gian để sống trong tâm trí của nhiều thế hệ độc giả.
Thôi là kết quả của sự hồi đáp giữa chính mình và tương tác với thế giới. Thơ ca. Đó là loại hình sáng tạo nghệ thuật phản ánh đời sống, diễn tả cảm xúc cá nhân bằng ngôn từ hàm súc, giàu hình ảnh. Từ ra đời từ sự chạm tới chiều sâu của chính mình, tức là khi con người thành thật, đi đến tận cùng vào lòng mình, khai phá đến cạn kiệt cảm quan cá nhân. Đây là nguồn gốc để thực ca ra đời. Khi tư tưởng rung động đòi hỏi được biểu hiện cũng là lúc nhà thơ khao khát được sáng tạo. Gặp mọi người khác, nghĩa là kết nối với những kẻ lạ, bắt gặp tiếng nói đồng điệu tri âm. Như vậy, nguồn gốc cốt lõi của thi ca chính là sự giao tiếp với chính mình và đối thoại với thế giới.
Khởi nguyên của thơ là khi con người biết giao tiếp với thế giới bên trong mình, từ sự va chạm, đối diện với phần sâu thẳm bên trong cuộc đời. Con người có khát khao cảm xúc và bắt đầu có xu hướng thể hiện nó. Với nhà văn, sự giao tiếp thể hiện trong việc sáng tác tác phẩm là ngôn ngữ của sự giao tiếp. Quá trình đối thoại với chính mình không hề đơn giản, đôi khi ép nhà thơ phải trực diện với bản ngã của bản thân. Con người là một thế giới tinh thần đầy phức tạp, nhưng nhà thơ cần phải vỗ về nó, xoa dịu nó, nắm bắt cảm xúc ở khoảng cách gần nhất để thấu hiểu. Từ sự thấu hiểu đó mà khao khát được sáng tạo ra đời.
Khi nhà văn đi đến tận cùng của lòng mình, họ sẽ gặp người khác. Hành trình đối thoại với bản thân đòi hỏi nhà thơ phải mở rộng góc nhìn để đối thoại với thế giới. Nhà thơ luôn khao khát nắm bắt được thế giới bên trong nhân loại để tiến gần hơn với họ. Có thể xem đó là hành động của đội cô đơn, nhưng nó cũng đồng thời là nỗi cô đơn mà nếu không có nó thì sẽ không có tác phẩm.
Chính sự giằng co giữa những biến động của thực tại và khát vọng tự do của bản ngã mới tạo ra xung đột nghệ thuật. Xung đột nội tâm xuất hiện khi nhà thơ tự vấn về phẩm giá, về sự vô nghĩa của kiếp sống hay những vết xước chưa lành trong tâm thức. Xung đột ngoại tâm nảy sinh khi cá nhân đứng trước những bất công, sự tha hóa hay sự im lặng của lịch sử.
Thơ ca luôn cần đến những tiếng nói cả bên trong và bên ngoài, cả những xung đột nội tâm và ngoại tâm đã đẩy nhà văn đến cùng đường phải sáng tác. Khởi nguyên của thơ ca luôn gắn liền với áp lực dồn nén từ hai phía, những va đập của thế giới khách quan bên ngoài và sự lên tiếng của những chuyển động tinh thần bên trong.
Để sáng tác nên những trang viết ở khoảng giao giữa bản thân mình và thế giới, nhà văn cần phải lắng nghe tiếng nói nội tâm và tiếng nói của những kẻ khác. Quá trình dịch chuyển từ cái "tôi" sang cái "chúng ta" này giúp ngôn từ thơ ca thoát khỏi tính chật hẹp của trải nghiệm cá nhân để mang sức chứa của đời sống cộng đồng. Bàn về bản chất của thi ca, nhà nghiên cứu văn học M. Bakhtin từng nhấn mạnh tính đối thoại của ngôn từ. Thơ ca không phải là một âm thanh đơn độc cất lên cho riêng nhà thơ, mà là nơi diễn ra sự va chạm, hồi đáp giữa nhiều giọng điệu khác nhau. Khi nhà thơ dám bước ra khỏi cái tôi để đối thoại với tiếng nói của người khác, tác phẩm mới có thể vượt qua ranh giới thời gian để sống trong tâm trí của nhiều thế hệ độc giả.