Thiên tình sử của chàng Bôn Lang và nàng Thị Chanh - Phần 4

Thiên tình sử của chàng Bôn Lang và nàng Thị Chanh - Phần 4

C
chuducthuan
CHƯƠNG 4: ĐÊM TRƯỜNG TĂM TỐI VÀ BẢN SẮC LỆNH LƯU ĐÀY – NHÁT GƯƠM CHÉM ĐỨT HUYẾT MẠCH RỒNG TIÊN

Khói lạnh xương tàn, non sông rỏ máu


Khi vệt tà dương đỏ quạch như bát máu đọng lịm dần sau rặng Tản Viên mờ mịt, Làng Bàn cũng trút tiếng thở hắt nghẹn ngào cuối cùng. Hòn ngọc trù phú bậc nhất của đất Phong Châu thuở nào, nơi hội tụ tinh hoa ngàn năm của giống nòi Tiên Rồng, nay chỉ còn lại bãi tro tàn lạnh ngắt, câm lặng dưới vòm trời thăm thẳm.
Cảnh tượng điêu tàn bày ra trước mắt, đúng là nước mất nhà tan, bãi bể nương dâu. Gió thu lạnh buốt thổi qua những rặng tre xơ xác, tiếng chim cú vọ rúc lên từng hồi thê lương rợn gáy từ hốc cây cổ thụ cháy dở. Mùi khét lẹt của thịt xém, mùi tanh nồng của máu đọng quyện với lớp bùn non bị vó ngựa giặc cày xới nát nhừ, xộc lên nồng nặc đến nghẹt thở.
Trên khắp dải đất ven bờ sông Thao, dọc theo các gò bãi châu thổ sông Hồng, thi thể của bà con làng xóm nằm la liệt, máu chảy thành sông, xương chất thành núi. Những tráng sĩ mình xăm vằn Rồng thiêng mới hôm qua còn vỗ ngực thề sống mái giữ đất giữ làng, nay thân xác đã dập nát dưới mũi giáo giáp sắt. Mắt họ vẫn mở trừng trừng nhìn trời xanh như muốn hỏi lẽ công bằng, nhưng bàn tay gân guốc vĩnh viễn không còn cầm lại được ngọn giáo đồng thêm một lần nào nữa.
Bôn Lang từ từ cựa mình tỉnh lại giữa đống xác người. Toàn thân anh đau nhức như bị bẻ gãy từng khúc xương, tủy buốt tận tim gan. Anh đưa bàn tay rách nát đầy bùn máu gạt lớp đất nhão trên mặt, lảo đảo gượng dậy. Nhìn quanh quất bốn bề, cổ họng người dũng sĩ nghẹn ứ lại như có tảng đá chặn ngang, không thốt ra được nửa lời dù hai dòng lệ nóng đã tuôn trào ròng ròng.
Từ ngôi đình làng cổ kính đến nếp nhà sàn gỗ lim của vị Bồ Chính – nơi từng lưu giữ những thẻ tre thiêng liêng và in dấu gót chân thoăn thoắt của em Chanh mỗi độ trăng lên – giờ chỉ còn là những gốc cột cháy đen nham nhở, khói xám bốc lên nghi ngút như nấm mồ không người hương khói.


Lửa giận bùng lên ngùn ngụt trong lồng ngực, nhưng Bôn Lang phải cắn chặt môi đến ứa máu tươi để kìm nén tiếng thét.Xung quanh làng, hàng ngàn ngọn đuốc của quân Hán vẫn sáng rực như ban ngày. Lũ giặc lăm lăm gươm giáo, sục sạo từng bụi bờ đâm chết những người còn thoi thóp, cướp từng hạt ngọc thỏi đồng. Làng Bàn tan hoang rồi! Đất nước ngàn năm của tổ tiên đã rơi vào tay giặc! Bôn Lang gục xuống, hai bàn tay gân guốc cào rách mặt đất phù sa, nuốt tiếng gầm u uất ngược vào buồng phổi: "Trời cao đất dày hỡi! Cớ sao lại đày đọa nòi giống ta vào cảnh lầm than nhục nhã nhường này? Mắt Trời ở đâu? Mắt Trời ở đâu?!"

Đập trống thiêu thư: Âm mưu tuyệt diệt gốc tích giống nòi

Sáng hôm sau, tên đại tướng giặc phương Bắc – kẻ vừa giẫm chân lên máu xương người Việt để lập chiến công – ngự giữa một khu trướng lớn chăng gấm vàng, dựng ngay trên nền đất miếu thờ Đức Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ. Hắn ngồi vắt vẻo trên chiếc sập gỗ bọc da hổ, đôi mắt sắc lẹm như mắt rắn, lạnh lùng nhìn đám dân làng Lạc Việt đang bị trói thành từng xâu bằng thừng vỏ gai, quỳ rạp rên xiết dưới sân đình.
Tên tướng giặc này mang trọn bản tính thâm hiểm của loài lang sói. Hắn hiểu rất rõ: Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc! Dùng gươm giáo cướp đất, lập nên các quận Giao Chỉ, Cửu Chân chỉ là đốn hạ phần ngọn. Muốn bắt dân tộc này muôn đời quỳ gối làm trâu làm ngựa, đòn hiểm độc nhất là phải chặt đứt ngọn nguồn gốc gác, xóa sạch tiếng nói và linh hồn văn hiến của người Việt!
Giữa trưa hôm ấy, một cảnh tượng kinh hoàng và bi phẫn tột độ đã diễn ra ngay trên nền đình Làng Bàn.
Theo lệnh giặc, hàng trăm chiếc trống đồng thau gom từ khắp các làng bản – báu vật thiêng liêng kết tinh hồn vía non sông, từng gầm vang khúc ca trừ giặc, từng nhịp nhàng gọi mưa thuận gió hòa – nay bị quăng thành một đống ngổn ngang giữa sân gạch. Tên tướng giặc vung roi ngựa, thét lớn: "Đập nát! Đập cho kỳ vụn rồi nấu chảy hết cho ta!"
Hàng trăm tên lính giáp sắt vung búa tạ giáng xuống như mưa.
Choang! Rầm! Xoảng!
Tiếng đồng vỡ xé toạc không gian, nghe như tiếng gãy nát xương sườn của đất Mẹ! Những hình khắc chim Lạc bay quanh Mặt Trời, những cảnh giã gạo, bơi thuyền – linh hồn bất tử của nền văn minh Lạc Việt – bị lưỡi búa sắt cày nát thành từng mảnh vụn vô hồn. Chúng gom hết mảnh đồng vỡ đổ vào lò than rực lửa, nấu chảy để đúc thành một chiếc cột đồng khổng lồ cắm sâu vào lòng đất, khắc lên những dòng chữ Hán ngạo mạn nhằm yểm bùa, hòng triệt phá long mạch và vượng khí của vùng đất phương Nam.
Tội ác chưa dừng lại ở đó. Lửa dữ lại tiếp tục bùng lên ở góc đình. Hàng ngạn bó thẻ tre, mai rùa ghi chép lịch sử, kinh nghiệm làm ruộng, y thuật thảo mộc và chữ viết của tổ tiên từ thuở Động Đình mang về, đều bị lũ giặc dồn lại làm mồi cho ngọn lửa hung tàn.
Khói đen cuồn cuộn bốc lên che khuất cả mặt trời. Những cụ già, những bậc trí giả Lạc Việt đứt từng khúc ruột, ứa nước mắt máu gào khóc lao mình vào lửa đỏ để cứu lấy từng thanh thẻ tre, nhưng liền bị mũi giáo nhọn hoắt của quân thù đâm xuyên qua ngực, hất tung xác vào đống than đỏ rực. Cùng lúc ấy, quân Hán ban lệnh cấm ngặt: Cấm người Việt nói tiếng mẹ đẻ nơi đông người, cấm mặc váy khố truyền thống, cấm tục ăn trầu nhuộm răng đen và cấm xăm hình Rồng thiêng lên ngực. Hễ ai làm trái, lập tức bị chém đầu bêu cọc! Chúng muốn ép người Việt phải quên đi cội nguồn, bắt con cháu Tiên Rồng phải rập khuôn theo lề thói phương Bắc, tự biến mình thành bầy nô lệ mất gốc.

Độc kế nham hiểm: Bẻ gãy sống lưng, rút củi đáy nồi

Dẫu dùng đến đủ ngón đòn tàn độc, tên tướng giặc phương Bắc vẫn không khỏi rùng mình lo sợ mỗi khi đêm xuống.
Dưới những manh áo vải nâu chắp vá, dưới vẻ ngoài nhẫn nhục cúi đầu, trong mắt người dân Lạc Việt vẫn cháy ngầm một ngọn lửa bất khuất. Họ vẫn thì thầm kể cho con cháu nghe chuyện bọc trăm trứng, chuyện giã cốm mài gươm; họ dùng ánh mắt, bàn tay để truyền tin; và rợn ngợp nhất là tiếng mẹ ru con bằng tiếng Lạc Việt trầm bổng, ngọt ngào vẫn len lỏi qua từng vách nứa. Gươm đao chặt sao đứt nước, búa rìu chém sao nổi tiếng ru!
Tên tướng giặc tức tối đi lại trong trướng, đập bàn hỏi tên quân sư giảo hoạt: "Ta đã giết kẻ cầm giáo, đập nát trống thiêng, thiêu sạch sách vở, cớ sao cái hồn vía của lũ người này vẫn trơ ra như đá tảng? Giết mãi thì lấy ai cày ruộng, đãi vàng cống nạp?"
Tên quân sư vuốt chòm râu dê, nheo đôi mắt chuột cười nham hiểm: "Bẩm đại tướng! Ngài chém kẻ cầm gươm mới chỉ vặt cành bẻ ngọn, chưa đụng đến 'cái đầu' của chúng. Dân xứ này gắn kết bền chặt là nhờ tầng lớp tinh hoa thông tuệ kế thừa ngàn năm. Nay nếu chém hết ở đây, chúng sẽ tôn làm thần thánh mà nuôi chí phục thù. Chi bằng dùng kế 'rút củi đáy nồi', bẻ gãy sống lưng của giống nòi này!"
"Kế thế nào, nói mau!"
"Xin ngài hạ lệnh: Toàn bộ các bậc già làng thông thạo chữ nghĩa, dòng dõi Bồ Chính, Lạc Hầu, Lạc Tướng và người tài giỏi ở Làng Bàn cùng khắp cõi Văn Lang cũ, phải đóng gông sắt, đày ải biệt xứ lên tận miền biên ải cực Bắc của nước ta! Đất phương Bắc gió tuyết quanh năm, đường xa vạn dặm, kẻ yếu thì vùi xác dọc đường, kẻ sống thì bắt làm phu phen xây thành, con gái thì bắt làm nô tì. Ở chốn giá rét xa xôi, tiếng nói của chúng sẽ bị bão tuyết thổi bay, chữ nghĩa mai một, dòng máu phai tàn rồi chết mòn trong câm lặng.
Còn đám dân đen ở lại vùng này, mất đi người dẫn đường chỉ lối chẳng khác nào rắn mất đầu, ong vỡ tổ. Khi ấy ta tha hồ nhào nặn, ép học chữ Hán, theo thói Hán. Đó mới là kế diệt quốc, đồng hóa tận gốc rễ!"
Tên tướng giặc vỗ đùi cười lớn, lập tức sai thảo ngay sắc lệnh lưu đày tàn độc.

Sắc lệnh đẫm máu và chiếc gông lim nơi cửa ải

Chỉ vài ngày sau, một đạo sắc lệnh viết bằng chữ Hán đỏ quạch như máu được dán khắp các gốc đa, bến nước. Lũ lính giặc hung hãn mang theo gông lim, xích sắt xộc vào từng nếp nhà, lôi đi những bậc trưởng tộc, những phu nhân, tiểu thư dòng dõi quyền quý của vùng đất Lạc Việt.
Tiếng búa sắt nện gông chang chát hòa cùng tiếng gào khóc xé ruột của mẹ lạc con, vợ mất chồng. Và nghiệt ngã thay, trong danh sách chịu án lưu đày ấy có tên Thị Chanh – giọt máu tinh hoa duy nhất còn lại của người thủ lĩnh Làng Bàn vừa hi sinh vì nước!
Bởi là con gái vị Bồ Chính đầu sỏ kháng cự, Thị Chanh bị lũ giặc đối xử vô cùng tàn nhẫn. Chúng bắt người con gái mảnh mai ấy phải mang chiếc gông gỗ lim nặng trịch trên cổ, chân mang xiềng sắt nặng nề. Manh áo vải nâu rách tươm dính bết vào da thịt lấm lem bùn đất, nhưng đôi mắt em Chanh vẫn sáng trong vắt, phẳng lặng như mặt gương sông Thao. Cô ngẩng cao đầu bước đi, giữ trọn cốt cách thanh tao của đóa hoa rừng giữa chốn bùn nhơ, thà chịu ngọc nát còn hơn ngói lành, quyết không rơi nửa giọt nước mắt van xin lũ cướp nước!
Trong khi đó, số phận lại đẩy Bôn Lang sang một ngả rẽ đầy cay đắng. Mang trong mình dòng máu Lạc Tướng anh hùng, nhưng vì sớm mồ côi cha mẹ trong loạn lạc, giấy tờ gia phả đã cháy thành tro, lại ăn mặc mộc mạc như phường săn bắn, Bôn Lang bị quân giặc xếp vào hạng phu phen cùng đinh. Anh bị giữ lại đất Lạc Việt làm thân nô lệ chăn ngựa, đốn gỗ lim dưới lằn roi vọt.
Đúng là người tính không bằng trời tính, mũi tên oan nghiệt của số phận đã tàn nhẫn giáng xuống, chực xé rách lời hẹn ước dưới trăng của đôi lứa vừa mới chớm nở!

Gông xích chia lìa: Lời thề sinh tử trong đêm mưa sông Thao

Đêm trước ngày đoàn người lưu đày bị giải đi về phương Bắc, trời đất cõi Lạc Việt đổ cơn mưa rào tầm tã như trút nước mắt khóc thương cho nỗi oan khiên.
Lợi dụng lúc lũ lính giặc uống rượu say mèm ngủ say như chết, Bôn Lang trườn mình qua bùn lầy cống rãnh, bất chấp gai góc cào rách da thịt, liều mạng lẻn vào góc ngục giam dã chiến. Khi một tia chớp rạch ngang trời đêm, trái tim anh như bị bóp nghẹt thành trăm mảnh:
Dưới mái lều rách nát, em Chanh đang ngồi thu lu nơi góc tối. Chiếc gông lim nặng nề đè gập đôi vai gầy guộc của người con gái. Những vệt máu rỉ ra từ vết thương trên vai hòa vào nước mưa làm ướt đẫm manh áo nâu sờn.
"Em Chanh... Em Chanh ơi!..."
Tiếng gọi của Bôn Lang nghẹn ngào, khàn đặc như tiếng chim lạc đàn xé ruột giữa đêm giông. Anh lao tới, đôi bàn tay trần bám chặt lấy hàng song gỗ lim dày cộp, mặc cho dằm nhọn đâm tứa máu lòng bàn tay.
Thị Chanh giật mình ngẩng lên. Nhận ra bóng dáng người thương dù đã tiều tụy, bê bết bùn đất, đôi mắt kiên cường của cô rốt cuộc cũng vỡ òa hai dòng lệ nóng. Cô lê đôi chân mang xiềng sắt nặng nề, khó nhọc vươn đôi bàn tay lạnh buốt qua kẽ song gỗ, run rẩy áp lên gò má gầy guộc của anh:
"Anh Bôn... Sao anh lại liều mình đến đây? Giặc mà bắt được, chúng chém đầu anh mất!" Giọng cô nghẹn ngào trong tiếng nấc, nhưng bàn tay vẫn tha thiết vuốt ve gương mặt anh như muốn khắc sâu từng nét hình hài vào tận đáy lòng trước phút biệt ly.
Bôn Lang gục đầu vào song gỗ, những giọt nước mắt nóng hổi của người tráng sĩ hòa cùng làn mưa lạnh buốt: "Anh phải đến chứ! Làm sao anh nỡ giương mắt nhìn em Chanh bị đày lên chốn băng tuyết nghìn trùng? Để anh... để anh dùng sức bẻ gãy mấy thanh gỗ này, rồi chúng mình cùng nhảy xuống sông Thao trốn đi! Dẫu có chết dưới mũi tên giặc, được làm đôi chim liền cánh dưới lòng đất mẹ, còn hơn phải sống kiếp chia lìa vạn dặm!"
Nói rồi, Bôn Lang gồng mình, bắp tay cuộn lên những đường gân xanh thẫm, nghiến răng định dùng sức bẻ gãy then gỗ.
Nhưng Thị Chanh hốt hoảng níu chặt lấy tay anh, lắc đầu quầy quậy. Ánh mắt cô chợt ráo hoảnh, bừng lên ngọn lửa kiên nghị lạ thường của một người con gái mang dòng máu thủ lĩnh:
"Không được! Anh Bôn, dừng lại đi! Anh không được hành động như một kẻ nóng nảy nông nổi! Chết vì tình thì dễ lắm, một nhát gươm là xong nợ đời. Nhưng anh nghĩ xem, cha em, cùng hàng ngàn anh em Làng Bàn nằm xuống ngoài bãi lầy sông Thao kia, họ đổ máu để đổi lấy điều gì? Giặc Hán đày đọa lớp người hiểu biết đi xa là để giết chết cái đầu, chặt đứt linh hồn của giống nòi ta! Nếu anh cũng liều chết một cách vô ích lúc này, thì ai sẽ ở lại giữ lấy hương hỏa tổ tiên? Ai sẽ che chở cho bà con dân làng?"
Bôn Lang bàng hoàng buông lơi hai bàn tay ứa máu, sững sờ nhìn người con gái nhỏ bé mà can trường trước mặt.
Thị Chanh ghé sát gương mặt nhợt nhạt qua kẽ gỗ, từng lời từng chữ của cô rành rọt, đanh thép như rót lửa vào tâm can anh: "Em đi chuyến này, dẫu thân xác có vùi nơi tuyết lạnh phương Bắc không ngày trở về, dẫu có phải ngậm đắng nuốt cay, em thề với đất trời giữ trọn tấm lòng trong sạch, giữ vững khí tiết của người con gái Lạc Việt, quyết không để giặc làm nhục!
Còn anh... Anh Bôn ơi, anh mang trong mình dòng máu anh hùng của dòng dõi Lạc Tướng. Anh phải sống! Dẫu nếm mật nằm gai, dẫu phải chịu nhục nhằn làm thân tôi tớ, anh cũng phải sống để làm chỗ dựa cho cội rễ xứ này! Giặc có thể đốt sạch thẻ tre, đập nát trống đồng, cấm chữ viết, nhưng chúng không thể nào bịt miệng từng bà mẹ, người chị Lạc Việt cấm họ cất tiếng ru con!
Hãy hứa với em đi, anh Bôn! Hãy đem tiếng nói của ông cha, đem những câu chuyện cội nguồn giấu vào trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, giấu vào từng câu ca dao, từng điệu hát dân gian, câu vè câu ví! Hãy để tiếng mẹ đẻ của dân ta chảy âm thầm như mạch nước ngầm dưới lòng đất. Còn tiếng nói là còn bờ cõi, mất tiếng nói mới thật mất nước! Anh làm được việc lớn ấy, dẫu em có chết rục xương nơi đất khách quê người, dưới suối vàng cũng mỉm cười nhắm mắt!"*
Lời dặn dò gan ruột của Thị Chanh như tiếng sấm rền đánh thức tâm can Bôn Lang! Chàng trai sông Thao bừng tỉnh giữa nỗi đau xé lòng. Anh hiểu rằng, gánh nặng trên vai mình giờ đây không chỉ là mối tình duyên đôi lứa, mà là cả vận mệnh sống còn của một nền văn hóa ngàn năm.
Bôn Lang nuốt ngược dòng lệ vào trong, cắn môi gật đầu thật mạnh. Anh quỳ một gối xuống nền bùn lầy, giơ ba ngón tay hướng lên trời cao tăm tối, cất lời thề trầm hùng hòa vào tiếng sấm: "Có trời cao đất dày vùng đất phương Nam chứng giám! Bôn Lang ta hôm nay dẫu thân phải chịu kiếp tôi đòi chăn ngựa dọn phân, nhưng linh hồn quyết không bao giờ quỳ gối! Nửa đời còn lại, ta thề sẽ gieo từng tiếng nói Lạc Việt vào gió, vào trăng, vào máu thịt của muôn đời con cháu!
“Em Chanh đi về phương Bắc tuyết phủ mịt mùng, hãy nhìn theo sao Bắc Đẩu mà giữ lòng kiên trung. Anh ở lại mảnh đất phương Nam này, thề sẽ dệt nên vạn câu ca dao lục bát, gói trọn hồn nước để đón linh hồn em trở về với đất mẹ sông Thao!"
Tiếng tù và báo canh ba từ chòi canh giặc bỗng rú lên từng hồi the thé. Tiếng lính Hán quát tháo, tiếng đuốc khua rầm rập báo hiệu giờ tuần tra.
Bôn Lang đành phải nén đau thương, giấu mình lùi dần vào bóng đêm dày đặc. Qua làn mưa giông mịt mùng, anh chỉ kịp nhìn thấy nụ cười rạng rỡ, kiêu hãnh của Thị Chanh hé nở sau chiếc gông lim nặng trịch thay cho lời từ biệt nghìn thu.
Sáng hôm sau, bến sông Thao sẽ phải chứng kiến một cuộc chia ly đẫm máu và nước mắt. Những đoàn thuyền giặc áp giải hàng ngàn người con ưu tú của đất Lạc Việt mang gông xiềng lê bước về phương Bắc xa xôi không hẹn ngày về.
Thế nhưng, lũ giặc cướp nước kia đâu thể ngờ rằng: Chính từ trong tột cùng của đau thương và chia rẽ ấy, một thứ vũ khí trường tồn chống đồng hóa đã bắt đầu nảy mầm từ lời thề sinh tử của đôi lứa Làng Bàn – ngọn lửa giữ gìn tiếng nói mẹ đẻ sẽ âm ỉ cháy suốt ngàn năm đêm trường, chờ ngày bùng lên thành bão lửa quét sạch bóng thù!
 
Từ khóa Từ khóa
bôn lang chu đức thuận lạc việt thị chanh văn hóa việt
4
0
0
Trả lời

Đang có mặt

Không có thành viên trực tuyến.