Giữa thế giới biến động và rất nhiều xoay chuyển, thơ là một tiếng nói khác, một tiếng nói không trùng lặp và chưa bao giờ được tìm thấy. Thơ là giọng nói khác, bởi lẽ đó là giọng nói của trí tưởng tượng và lòng nhiệt thành. Đó là giọng nói đến từ một thế giới khác, một cõi giới nơi mà nhà văn không thể ngăn mình rơi vào sự tưởng tượng và cảm niệm đối với thế giới bên ngoài kia. Đó cũng đồng thời là tiếng nói của chính ngày hôm nay, của một khoảng thời gian không ngày tháng. Thơ có thể đứng giữa rất nhiều ranh giới sự ranh giới của ngây thơ và đồi trụy, trong trẻo và âm u, rực rỡ và lụi tàn, lơ lửng trên không và chìm sâu dưới đất. Giữa các trạng thái này không hề có một vách ngăn phân cách. Giữa những ranh giới thường là điểm loang màu cho phép những nét bản chất này được giao thoa, hòa tụ với nhau.
Thơ không phải là giọng nói của ai khác, là giọng nói của tất cả chúng ta. Thơ cần có một âm vang chung, một giọng điệu chung cho tất cả những buồn vui, sướng khổ của nhân loại. Nhà thơ không chỉ là nhà thơ. Nhà thơ còn là người đàn ông hay người đàn bà, là người xấu hay kẻ tốt, là người cất tiếng cho bản thân mình hay cho xã hội? Những nguyên nhân khiến cho một sáng tác ra đời không nhằm thuộc về mục đích cá nhân mà còn là tiếng nói của toàn thể xã hội, là tiếng nói của một thời đại. Viết thơ là sự sở sở hữu những quyền năng lạ kỳ, cho phép nhà thơ vừa là chính mình vừa là kẻ khác. Ở đó, nhà thơ không chỉ khám phá bản thân mình, khai phóng những tiền sinh bên trong mà còn nhìn nhận mình như một kẻ xa lạ, ngoại cuộc với tất cả mọi buồn vui của thời thế.
Thơ ca luôn là hình thức tổ chức ngôn từ một cách đặc biệt trong trạng thái vừa đầy vừa rỗng, vừa đạm, vừa nồng đứng rõ rất nhiều ranh giới nhưng cuối cùng thì lại chỉ đứng trước một ranh giới, chính là loài người. Một bài thơ có thể mang phẩm chất hiện đại ở chủ đề ngôn ngữ, hình thức của nó, nhưng bởi bản chất sâu xa của nó, giọng nói của thơ đã là một giọng nói phản hiện tại một giọng nói đương đại, một giọng nói thuộc về hậu hiện đại, có nghĩa là truy tìm, khai quật những nét tính cách độc đáo mới lạ, sáng tạo, thậm chí lệch chuẩn, dị biệt.
Thơ ca không dễ dàng bị ràng buộc trong những quy chuẩn. Bất kỳ một thể chế nào có tham vọng bao trùm lên thơ ca để đòi hỏi nó phải đi theo một quy phạm đều là bất khả. Thơ ca vượt ra khỏi mọi quy luật, nói ra những điều cần nói mà không ngại bất kỳ một chướng ngại nào. Nó luôn mở về một phía xa hơn, xuyên lịch sử, phản không gian, ngược thời thế để cất lên những tiếng nói chung cho một thời đại để biểu hiện tính vô cùng vô tận của nó.
Thời thế đổi thay làm cho chúng ta mong đợi nhiều và sự thay đổi. Chúng ta băn khoăn rằng giữa cái thời đại này, giữa cái thời đại mà có quá nhiều điều dị biệt tồn tại, thơ ca với những dị biệt của nó, liệu có cần cần thiết? Chức năng của nó trong thời điểm này là gì? Và liệu những năng lực cứu rỗi con người, bảo vệ con người, nâng cao nhân tính cho con người trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất có phải là một niềm tin cổ tích về những giá trị của văn chương hay không?
Kỳ thực, tôi tin rằng những giá trị của văn chương chưa bao giờ là vô nghĩa. Nếu như nó bị xem là vô dụng trong thế kỷ hôm nay thì những giá trị trước đây, những khả năng đóng góp trước đây của thơ ca vẫn có giá trị tham chiếu. Thơ ca chưa bao giờ bất lực và vô dụng. Nếu như nó còn tồn tại, nghĩa là nó vẫn còn giá trị đối với con người. Người ta không thể phủi bỏ đi những giá trị của thơ ca chỉ bởi vì người ta có thêm những phương thức giải trí tinh thần khác.
Câu hỏi mà chúng ta cần được đặt ra trong thế kỷ hôm nay có lẽ là làm thế nào để chúng ta có thể bảo đảm cho sự tồn tại của nhân tính đối mặt với thực tại này. Thơ ca đối với tôi không hề bất lực và vô dụng. Thô ca bằng những tiếng nói khác của nó vẫn có khả năng nói cho chúng ta về những điều mà ta chưa biết, khai mở cho ta thế giới về. Những kẻ ngoại cuộc, những kẻ bên lề của sự thật, những kẻ bị khước từ quyền được định đoạt thân phận. ở đó chúng ta có thêm nhiều hơn một cơ hội để thấu hiểu. Trong hoàn cảnh khủng hoảng, biến động, thậm chí là diệt vong, con người ta vẫn cần đến tình yêu thương và sự đối thoại. Khi đó, thơ ca có thể không trở thành bữa cơm hay giọt nước, nhưng nó có thể trở thành phương thức hỗ trợ tinh thần cho con người.
Thơ không phải là giọng nói của ai khác, là giọng nói của tất cả chúng ta. Thơ cần có một âm vang chung, một giọng điệu chung cho tất cả những buồn vui, sướng khổ của nhân loại. Nhà thơ không chỉ là nhà thơ. Nhà thơ còn là người đàn ông hay người đàn bà, là người xấu hay kẻ tốt, là người cất tiếng cho bản thân mình hay cho xã hội? Những nguyên nhân khiến cho một sáng tác ra đời không nhằm thuộc về mục đích cá nhân mà còn là tiếng nói của toàn thể xã hội, là tiếng nói của một thời đại. Viết thơ là sự sở sở hữu những quyền năng lạ kỳ, cho phép nhà thơ vừa là chính mình vừa là kẻ khác. Ở đó, nhà thơ không chỉ khám phá bản thân mình, khai phóng những tiền sinh bên trong mà còn nhìn nhận mình như một kẻ xa lạ, ngoại cuộc với tất cả mọi buồn vui của thời thế.
Thơ ca luôn là hình thức tổ chức ngôn từ một cách đặc biệt trong trạng thái vừa đầy vừa rỗng, vừa đạm, vừa nồng đứng rõ rất nhiều ranh giới nhưng cuối cùng thì lại chỉ đứng trước một ranh giới, chính là loài người. Một bài thơ có thể mang phẩm chất hiện đại ở chủ đề ngôn ngữ, hình thức của nó, nhưng bởi bản chất sâu xa của nó, giọng nói của thơ đã là một giọng nói phản hiện tại một giọng nói đương đại, một giọng nói thuộc về hậu hiện đại, có nghĩa là truy tìm, khai quật những nét tính cách độc đáo mới lạ, sáng tạo, thậm chí lệch chuẩn, dị biệt.
Thơ ca không dễ dàng bị ràng buộc trong những quy chuẩn. Bất kỳ một thể chế nào có tham vọng bao trùm lên thơ ca để đòi hỏi nó phải đi theo một quy phạm đều là bất khả. Thơ ca vượt ra khỏi mọi quy luật, nói ra những điều cần nói mà không ngại bất kỳ một chướng ngại nào. Nó luôn mở về một phía xa hơn, xuyên lịch sử, phản không gian, ngược thời thế để cất lên những tiếng nói chung cho một thời đại để biểu hiện tính vô cùng vô tận của nó.
Thời thế đổi thay làm cho chúng ta mong đợi nhiều và sự thay đổi. Chúng ta băn khoăn rằng giữa cái thời đại này, giữa cái thời đại mà có quá nhiều điều dị biệt tồn tại, thơ ca với những dị biệt của nó, liệu có cần cần thiết? Chức năng của nó trong thời điểm này là gì? Và liệu những năng lực cứu rỗi con người, bảo vệ con người, nâng cao nhân tính cho con người trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất có phải là một niềm tin cổ tích về những giá trị của văn chương hay không?
Kỳ thực, tôi tin rằng những giá trị của văn chương chưa bao giờ là vô nghĩa. Nếu như nó bị xem là vô dụng trong thế kỷ hôm nay thì những giá trị trước đây, những khả năng đóng góp trước đây của thơ ca vẫn có giá trị tham chiếu. Thơ ca chưa bao giờ bất lực và vô dụng. Nếu như nó còn tồn tại, nghĩa là nó vẫn còn giá trị đối với con người. Người ta không thể phủi bỏ đi những giá trị của thơ ca chỉ bởi vì người ta có thêm những phương thức giải trí tinh thần khác.
Câu hỏi mà chúng ta cần được đặt ra trong thế kỷ hôm nay có lẽ là làm thế nào để chúng ta có thể bảo đảm cho sự tồn tại của nhân tính đối mặt với thực tại này. Thơ ca đối với tôi không hề bất lực và vô dụng. Thô ca bằng những tiếng nói khác của nó vẫn có khả năng nói cho chúng ta về những điều mà ta chưa biết, khai mở cho ta thế giới về. Những kẻ ngoại cuộc, những kẻ bên lề của sự thật, những kẻ bị khước từ quyền được định đoạt thân phận. ở đó chúng ta có thêm nhiều hơn một cơ hội để thấu hiểu. Trong hoàn cảnh khủng hoảng, biến động, thậm chí là diệt vong, con người ta vẫn cần đến tình yêu thương và sự đối thoại. Khi đó, thơ ca có thể không trở thành bữa cơm hay giọt nước, nhưng nó có thể trở thành phương thức hỗ trợ tinh thần cho con người.