Alice Munro từng chân thành thú nhận trong diễn ngôn Nobel: “Theo nhiều cách khác nhau, tôi đã viết những câu chuyện cá nhân trong suốt cuộc đời mình”. Bà đưa vào tác phẩm mình những chi tiết về đời sống chật vật của tuổi ấu thơ, căn nhà gia đình nằm cuối con đường, gánh nặng căn bệnh Parkinson lên mẹ bà những năm 40 (thế kỉ XX), cuộc hôn nhân đầu tiên với một người say mê sách vở, quãng thời gian làm bà mẹ trẻ và li hôn... Hóa ra văn chương như một cách tự thú nhận, tự truyện và tự làm đầy lên cuộc đời mình, cũng là một cách trốn chạy cho văn nhân.
Nếu như không có văn chương, câu chuyện của Alice Munro hay Charles Dicken, Anton Chekhov cũng đều chỉ là những câu chuyện của cá nhân. Ngay cả khi cuộc đời của họ mang tính đại diện (cho một lớp người, cộng đồng..) thì nó cũng chỉ được phản ánh qua lối sống của họ – một cách biểu hiện mang tính văn hóa. Có lẽ, chính văn chương, bằng cách đơn giản nhát, đã cho phép người nghệ sĩ biến câu chuyện cá nhân thành tác phẩm một cách nghệ thuật. Munro thường xuyên viết về sự trốn chạy, sự che giấu và ngụy trang. Bà đã tìm được cho mình hình thức đầu tiên của sự trốn thoát, là đọc và viết, dù chỉ mới dừng ở sự trốn chạy trong tâm tưởng. Cuộc trốn chạy vật lí của thân xác được chính tác giả miêu tả vắn tắt: “Sống ở một nơi như Wingham, bạn chỉ có một cơ hội rất nhỏ để vượt thoát ra bên ngoài nó. Nếu đợi tới năm ba mươi tuổi, bạn đã quá nhu nhược và mù tịt về thế giới, khi ấy, ham muốn trốn chạy đã trở thành không tưởng”. Chính trong những tình thế này, văn chương hiện diện như một sự cứu chuộc, một hướng tìm đường thoát, một cách vượt khỏi đường biên quy thuộc của không gian cộng đồng và những bổn phận được mặc nhiên gán cho người phụ nữ. Truyện ngắn, bởi vậy, với Munro như một khả thể của cuộc trốn chạy khỏi cái thường nhật tầm thường, một cách tự kiến tạo cho mình chiều kích tồn tại khác, không dàn trải miên man như tiểu thuyết mà gói gọn trong nó sự tĩnh lặng của chiêm nghiệm hay sự bùng nổ bất ngờ của ý thức vụt hiện. Nó không đánh mất đi đặc trưng của văn học mà tự tìm đường làm giàu lên chính mình.
Văn chương, như vậy chính là con đường thoát cho riêng nhà văn, đó là không gian tinh thần của riêng nhà văn. Đó là nơi họ tìm lại chính mình, tìm lại những tàn dư của niềm tin trong mình và an ủi thế giới. Nói cách khác, văn chương như một cuộc hành hương tinh thần mà người nghệ sĩ hướng tới. Nghệ thuật tự sự, không gì khác, là sự mô phỏng nghiêm ngặt; nhưng cái nó nhắm tới mô phỏng là “chuỗi tự sự hư cấu rối rắm của vùng biên” (Harold Bloom), không ngừng lệch ra bên ngoài chiều hướng vận động trung tâm và lí tính, đứt quãng, phi tuyến tính và đầy lỗ hổng.
Chẳng gì có thể đưa lại khả năng xoa dịu khi ngoái đầu viếng thăm quá khứ. Tôi nhớ đến câu chuyện về Han Kang khi bà thú nhận rằng những tàn dư của niềm tin bên trong bà vào con người, vốn đã rạn nứt giờ đây vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh. Khi dự định viết một cuốn tiểu thuyết ca ngợi cuộc đời, tô sáng những khoảng đen, bà một lần nữa đối diện với mối quan ngại này. Chính trong thời gian khủng hoảng ấy, cuốn nhật ký của một giáo viên đã chết để bảo vệ tự do đã khiến bà tìm được ánh sáng soi đường cho chữ nghĩa. Đó là lúc bà biết mình đã tìm lại được niềm tin, nhưng không phải vào người sống mà là người chết. Trên hành trình tìm về ánh sáng, bà cần đến bàn tay dẫn dắt của cõi mộng mị.
Nếu như không có văn chương, câu chuyện của Alice Munro hay Charles Dicken, Anton Chekhov cũng đều chỉ là những câu chuyện của cá nhân. Ngay cả khi cuộc đời của họ mang tính đại diện (cho một lớp người, cộng đồng..) thì nó cũng chỉ được phản ánh qua lối sống của họ – một cách biểu hiện mang tính văn hóa. Có lẽ, chính văn chương, bằng cách đơn giản nhát, đã cho phép người nghệ sĩ biến câu chuyện cá nhân thành tác phẩm một cách nghệ thuật. Munro thường xuyên viết về sự trốn chạy, sự che giấu và ngụy trang. Bà đã tìm được cho mình hình thức đầu tiên của sự trốn thoát, là đọc và viết, dù chỉ mới dừng ở sự trốn chạy trong tâm tưởng. Cuộc trốn chạy vật lí của thân xác được chính tác giả miêu tả vắn tắt: “Sống ở một nơi như Wingham, bạn chỉ có một cơ hội rất nhỏ để vượt thoát ra bên ngoài nó. Nếu đợi tới năm ba mươi tuổi, bạn đã quá nhu nhược và mù tịt về thế giới, khi ấy, ham muốn trốn chạy đã trở thành không tưởng”. Chính trong những tình thế này, văn chương hiện diện như một sự cứu chuộc, một hướng tìm đường thoát, một cách vượt khỏi đường biên quy thuộc của không gian cộng đồng và những bổn phận được mặc nhiên gán cho người phụ nữ. Truyện ngắn, bởi vậy, với Munro như một khả thể của cuộc trốn chạy khỏi cái thường nhật tầm thường, một cách tự kiến tạo cho mình chiều kích tồn tại khác, không dàn trải miên man như tiểu thuyết mà gói gọn trong nó sự tĩnh lặng của chiêm nghiệm hay sự bùng nổ bất ngờ của ý thức vụt hiện. Nó không đánh mất đi đặc trưng của văn học mà tự tìm đường làm giàu lên chính mình.
Văn chương, như vậy chính là con đường thoát cho riêng nhà văn, đó là không gian tinh thần của riêng nhà văn. Đó là nơi họ tìm lại chính mình, tìm lại những tàn dư của niềm tin trong mình và an ủi thế giới. Nói cách khác, văn chương như một cuộc hành hương tinh thần mà người nghệ sĩ hướng tới. Nghệ thuật tự sự, không gì khác, là sự mô phỏng nghiêm ngặt; nhưng cái nó nhắm tới mô phỏng là “chuỗi tự sự hư cấu rối rắm của vùng biên” (Harold Bloom), không ngừng lệch ra bên ngoài chiều hướng vận động trung tâm và lí tính, đứt quãng, phi tuyến tính và đầy lỗ hổng.
Chẳng gì có thể đưa lại khả năng xoa dịu khi ngoái đầu viếng thăm quá khứ. Tôi nhớ đến câu chuyện về Han Kang khi bà thú nhận rằng những tàn dư của niềm tin bên trong bà vào con người, vốn đã rạn nứt giờ đây vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh. Khi dự định viết một cuốn tiểu thuyết ca ngợi cuộc đời, tô sáng những khoảng đen, bà một lần nữa đối diện với mối quan ngại này. Chính trong thời gian khủng hoảng ấy, cuốn nhật ký của một giáo viên đã chết để bảo vệ tự do đã khiến bà tìm được ánh sáng soi đường cho chữ nghĩa. Đó là lúc bà biết mình đã tìm lại được niềm tin, nhưng không phải vào người sống mà là người chết. Trên hành trình tìm về ánh sáng, bà cần đến bàn tay dẫn dắt của cõi mộng mị.