Nhà văn viết truyện ngắn Alice Munro từng thú nhận rằng: “Tôi không nghĩ mình có thể viết thêm gì nữa. Hai hay ba năm tới, tôi đã quá già, tôi sẽ quá mệt mỏi. Tôi không nhớ nổi đã cống hiến bao lâu trong suốt cuộc đời mình để dấn thân vào con đường cầm bút, bao nhiêu năng lượng đã dành trọn cho công việc ấy, tôi có thể làm gì khác nữa đây? Nghe khá kì khôi… nhưng tôi cảm thấy mình mới chỉ sống một phần của cuộc đời này, vẫn còn một phần đời khác tôi chưa từng được trải qua”. Thú nhận của nhà văn người Canada như một cách thể hiện đặc trưng của truyện ngắn và sức tác động ba chiều của nó đến cuộc đời – nhà văn – độc giả.
Người viết truyện ngắn, ngay cả người viết nhiều và chuyên viết truyện ngắn như Alice Munro cũng luôn cảm thấy rằng mình “mới chỉ sống một phần của cuộc đời này”. Viết truyện ngắn đồng nghĩa với việc sống một khúc, một khoảnh khắc, một “lát cắt” (chữ dùng của Nguyễn Minh Châu) của cuộc đời này. Niềm nuối tiếc vương vấn trong những tâm sự của Munro là gì, nếu không phải một nỗ lực tuyệt vọng khi không nguôi chiêm nghiệm về khả năng đặt chân vào địa hạt tiểu thuyết. Bà đã từng nỗ lực và cuối cùng tuyệt vọng trước khao khát được viết tiểu thuyết, được sống dài hơn với cuộc đời và tác phẩm của mình, thể nghiệm trong những trang văn mình viết. Truyện ngắn, cũng tương tự như vậy, chỉ là một góc nhỏ của cuộc đời mà trong đó ba phần nổi, bảy phần chìm. Độc giả muốn hiểu được toàn bộ phần của cuộc đời này thì bắt buộc phải sống sâu sắc với đời, với tác phẩm. Trong một truyện ngắn đôi khi người ta khó nói hết được những tầng nghĩa sâu xa của nó.
Suốt cuộc đời, Alice Munro đã không chỉ trung thành với thể loại truyện ngắn. Bà là cây bút đặc biệt của Nobel Văn học khi là người duy nhất viết duy nhất một thể loại. Và giải thưởng Nobel danh giá không chỉ có ý nghĩa như sự công nhận năng lực văn chương tuyệt vời của cá nhân Munro, mà còn là sự công nhận giá trị và sức sống của chính thể loại truyện ngắn. Như phát biểu của Jonathan Franzen: “Chúng ta đã phải đợi hơn một thế kỉ, và cuối cùng cũng đã có một giải Nobel văn chương cho một nhà văn thuần túy của thể loại truyện ngắn”.
Munro, khi đáp lời ban tổ chức giải Nobel, cũng thừa nhận: “Đây là điều tuyệt vời đối với tôi, cũng là điều tuyệt vời đối với thể loại truyện ngắn. Truyện ngắn thường bị gạt đi, xem nhẹ như một hình thức thử nghiệm trước khi người ta bắt tay vào viết tiểu thuyết. Tôi muốn đặt thể loại này lên trước, không với bất kì một điều kiện ràng buộc nào”. Truyện ngắn khi được đặt với thể loại văn học dài hơi khác không hề kém cạnh hay mất đi sức cạnh tranh. Nếu tiểu thuyết là cuốn nhật ký, là chiếc máy phim rong tuổi suốt một đời người thì truyện ngắn là một cú lia máy ngang qua một đời người. Ở đó, những giá trị thường không dễ dàng biến đổi. Một sự kiện điển hình trong truyện ngắn thường đại diện cho một lớp người, một thế hệ, một cuộc đời, đến những vấn đề nghìn năm muôn thuở. Và do đó, nội dung của nó mang tính ổn định trong nội bộ tác phẩm. Từ một cảnh huống, hình ảnh của một khúc đời sống, người ta bắt đầu nghĩ suy về nhân sinh và số phận con người. Những vấn đề trong truyện ngắn chưa bao giờ dừng lại, vẫn còn đồng hành cùng con người trên hành trình làm bạn cùng văn chương giữa những ngày sống vội.
Người viết truyện ngắn, ngay cả người viết nhiều và chuyên viết truyện ngắn như Alice Munro cũng luôn cảm thấy rằng mình “mới chỉ sống một phần của cuộc đời này”. Viết truyện ngắn đồng nghĩa với việc sống một khúc, một khoảnh khắc, một “lát cắt” (chữ dùng của Nguyễn Minh Châu) của cuộc đời này. Niềm nuối tiếc vương vấn trong những tâm sự của Munro là gì, nếu không phải một nỗ lực tuyệt vọng khi không nguôi chiêm nghiệm về khả năng đặt chân vào địa hạt tiểu thuyết. Bà đã từng nỗ lực và cuối cùng tuyệt vọng trước khao khát được viết tiểu thuyết, được sống dài hơn với cuộc đời và tác phẩm của mình, thể nghiệm trong những trang văn mình viết. Truyện ngắn, cũng tương tự như vậy, chỉ là một góc nhỏ của cuộc đời mà trong đó ba phần nổi, bảy phần chìm. Độc giả muốn hiểu được toàn bộ phần của cuộc đời này thì bắt buộc phải sống sâu sắc với đời, với tác phẩm. Trong một truyện ngắn đôi khi người ta khó nói hết được những tầng nghĩa sâu xa của nó.
Suốt cuộc đời, Alice Munro đã không chỉ trung thành với thể loại truyện ngắn. Bà là cây bút đặc biệt của Nobel Văn học khi là người duy nhất viết duy nhất một thể loại. Và giải thưởng Nobel danh giá không chỉ có ý nghĩa như sự công nhận năng lực văn chương tuyệt vời của cá nhân Munro, mà còn là sự công nhận giá trị và sức sống của chính thể loại truyện ngắn. Như phát biểu của Jonathan Franzen: “Chúng ta đã phải đợi hơn một thế kỉ, và cuối cùng cũng đã có một giải Nobel văn chương cho một nhà văn thuần túy của thể loại truyện ngắn”.
Munro, khi đáp lời ban tổ chức giải Nobel, cũng thừa nhận: “Đây là điều tuyệt vời đối với tôi, cũng là điều tuyệt vời đối với thể loại truyện ngắn. Truyện ngắn thường bị gạt đi, xem nhẹ như một hình thức thử nghiệm trước khi người ta bắt tay vào viết tiểu thuyết. Tôi muốn đặt thể loại này lên trước, không với bất kì một điều kiện ràng buộc nào”. Truyện ngắn khi được đặt với thể loại văn học dài hơi khác không hề kém cạnh hay mất đi sức cạnh tranh. Nếu tiểu thuyết là cuốn nhật ký, là chiếc máy phim rong tuổi suốt một đời người thì truyện ngắn là một cú lia máy ngang qua một đời người. Ở đó, những giá trị thường không dễ dàng biến đổi. Một sự kiện điển hình trong truyện ngắn thường đại diện cho một lớp người, một thế hệ, một cuộc đời, đến những vấn đề nghìn năm muôn thuở. Và do đó, nội dung của nó mang tính ổn định trong nội bộ tác phẩm. Từ một cảnh huống, hình ảnh của một khúc đời sống, người ta bắt đầu nghĩ suy về nhân sinh và số phận con người. Những vấn đề trong truyện ngắn chưa bao giờ dừng lại, vẫn còn đồng hành cùng con người trên hành trình làm bạn cùng văn chương giữa những ngày sống vội.