Nghệ thuật trong thời đại số phải làm gì để tạo nên những điểm chạm cảm xúc cho con người? Đây là câu hỏi khiến tôi thực sự băn khoăn. Bởi lẽ, nghệ thuật giờ đây đang bị nghi ngờ về giá trị cốt lõi của nó. Người ta trăn trở rằng liệu nó có thể bị thay thế bởi AI hay không. Các thiết bị công nghệ AI, bằng cách thuật toán của nó, đang tạo nên những sản phẩm đẹp hơn, công phu hơn, sáng tạo hơn và “gần người” hơn. Điều duy nhất thiếu trong đó là hồn người, nhưng nó lại được sử dụng rộng rãi, phổ biến hơn là nghệ thuật tự nhân. Tôi còn nhớ câu chuyện về “Hồn hoa”, khi người nông dân ngày ngày gắn bó với đồng quê thấy trong bức tranh của một họa sĩ vẽ hoa “thiếu đi cái vòng mờ ảo tỏa xung quanh” mỗi bông hoa. Cái mà bức vẽ của người nghệ sĩ ấy thiếu, còn gì khác ngoài “hồn hoa”. Nghệ thuật AI trong thời đại này cũng thiếu đi cái vòng mờ ảo đó, chỉ là chúng ta chưa thể khắc phục được vấn đề này để đem nghệ thuật quay về vị trí vốn có.
AI có thể hỗ trợ hoàn toàn công việc sáng tạo nghệ thuật, hoặc thậm chí thay phần con người trong công việc đó. Con người sử dụng AI như một công cụ đắc lực. Việc tạo nên nghệ thuật bằng AI dễ dàng, đa dạng, không tốn nhiều thời gian và tiền bạc, công sức. Nhiều sản phẩm AI giờ đây được đón nhận ngang với sản phẩm do con người sáng tạo, thậm chí còn hot hơn. Tiêu biểu là các sản phẩm âm nhạc được remix và phối lại bằng AI. Các nghệ sĩ tác giả của những bài hát này đã lên tiếng về việc nhạc AI tràn lan khắp nơi, sử dụng trí tuệ của họ mà chưa được sự cho phép. Thế nhưng, chúng ta vẫn đón nhận những sản phẩm này nồng nhiệt, hoặc có thể nói là không thể dứt ra được sức lôi cuốn của nó.
Khi đó, bất kỳ ai cũng có thể trở thành người nghệ sĩ. Chỉ cần khả năng viết lời mà không cần chứa đựng chiều sâu suy tư bên trong cùng một thiết bị điện tử để sử dụng AI, như vậy là một sản phẩm nghệ thuật ra đời. Sản phẩm này phần nhiều gây ra những phản ứng trái chiều. Nhưng nó vẫn được ưa chuộng khi được giới trẻ sử dụng làm trò đùa, trở thành những câu hát đặc trưng riêng của giới trẻ. Bước vào thế giới mạng xã hội, thật sự rất khó để phân biệt được đâu là sản phẩm của con người, đâu là sản phẩm AI. Giới trẻ thì nghiễm nhiên là rất hưởng thụ với những sản phẩm này. Một phần khác, các tác phẩm dùng AI làm giảm nhẹ đi trí tuệ con người, gây ra sự nhập nhằng giữa nhân tạo và AI tạo. Các bài hát, bài thơ đó phần nhiều chưa được kiểm duyệt, chiêm nghiệm bởi giới nghiên cứu. Đôi lúc, nó thiếu đi giá trị, chỉ mang ý nghĩa như một văn hóa phẩm gây cười. Điều này chẳng khác gì thuật ngữ 67 và “rage bait”, là mồi giận dữ gây tức giận cho cộng đồng khán giả.
Vì truyền thông, người nghệ sĩ bắt đầu trở thành đối tượng mổ xẻ. Họ bị nghi vấn “hết thời”, bị chê bai rằng “nhạc còn không hay bằng nhạc AI”. Họ bị buộc bước vào tháp ngà của những định kiến, những truy vấn từ xã hội. Còn AI, kẻ chưa từng lên tiếng trong những cuộc đối thoại thì đứng yên cười nham hiểm khi nó đã thay đổi cách chúng ta nhìn về người nghệ sĩ.
Nghệ thuật giờ đây, nên được đưa về đúng với định nghĩa của nó. Nghệ thuật chưa bao giờ cần là sự hoàn hảo. Nó cần có những điểm chạm, khoảng hẫng và khoảng lên cao để người đọc được đi sâu. Tác phẩm nghệ thuật thực sự phải gây nên những đối thoại, trăn trở, thậm chí là tranh biện. Càng có những ý kiến trái chiều xung quanh càng cho thấy nghệ thuật đã đạt được mục tiêu của nó: gây nên sự đối thoại, va chạm và giao thoa giữa những nền văn hóa cá nhân. Nghệ thuật, nên được trả về nguyên bản như thế.
AI có thể hỗ trợ hoàn toàn công việc sáng tạo nghệ thuật, hoặc thậm chí thay phần con người trong công việc đó. Con người sử dụng AI như một công cụ đắc lực. Việc tạo nên nghệ thuật bằng AI dễ dàng, đa dạng, không tốn nhiều thời gian và tiền bạc, công sức. Nhiều sản phẩm AI giờ đây được đón nhận ngang với sản phẩm do con người sáng tạo, thậm chí còn hot hơn. Tiêu biểu là các sản phẩm âm nhạc được remix và phối lại bằng AI. Các nghệ sĩ tác giả của những bài hát này đã lên tiếng về việc nhạc AI tràn lan khắp nơi, sử dụng trí tuệ của họ mà chưa được sự cho phép. Thế nhưng, chúng ta vẫn đón nhận những sản phẩm này nồng nhiệt, hoặc có thể nói là không thể dứt ra được sức lôi cuốn của nó.
Khi đó, bất kỳ ai cũng có thể trở thành người nghệ sĩ. Chỉ cần khả năng viết lời mà không cần chứa đựng chiều sâu suy tư bên trong cùng một thiết bị điện tử để sử dụng AI, như vậy là một sản phẩm nghệ thuật ra đời. Sản phẩm này phần nhiều gây ra những phản ứng trái chiều. Nhưng nó vẫn được ưa chuộng khi được giới trẻ sử dụng làm trò đùa, trở thành những câu hát đặc trưng riêng của giới trẻ. Bước vào thế giới mạng xã hội, thật sự rất khó để phân biệt được đâu là sản phẩm của con người, đâu là sản phẩm AI. Giới trẻ thì nghiễm nhiên là rất hưởng thụ với những sản phẩm này. Một phần khác, các tác phẩm dùng AI làm giảm nhẹ đi trí tuệ con người, gây ra sự nhập nhằng giữa nhân tạo và AI tạo. Các bài hát, bài thơ đó phần nhiều chưa được kiểm duyệt, chiêm nghiệm bởi giới nghiên cứu. Đôi lúc, nó thiếu đi giá trị, chỉ mang ý nghĩa như một văn hóa phẩm gây cười. Điều này chẳng khác gì thuật ngữ 67 và “rage bait”, là mồi giận dữ gây tức giận cho cộng đồng khán giả.
Vì truyền thông, người nghệ sĩ bắt đầu trở thành đối tượng mổ xẻ. Họ bị nghi vấn “hết thời”, bị chê bai rằng “nhạc còn không hay bằng nhạc AI”. Họ bị buộc bước vào tháp ngà của những định kiến, những truy vấn từ xã hội. Còn AI, kẻ chưa từng lên tiếng trong những cuộc đối thoại thì đứng yên cười nham hiểm khi nó đã thay đổi cách chúng ta nhìn về người nghệ sĩ.
Nghệ thuật giờ đây, nên được đưa về đúng với định nghĩa của nó. Nghệ thuật chưa bao giờ cần là sự hoàn hảo. Nó cần có những điểm chạm, khoảng hẫng và khoảng lên cao để người đọc được đi sâu. Tác phẩm nghệ thuật thực sự phải gây nên những đối thoại, trăn trở, thậm chí là tranh biện. Càng có những ý kiến trái chiều xung quanh càng cho thấy nghệ thuật đã đạt được mục tiêu của nó: gây nên sự đối thoại, va chạm và giao thoa giữa những nền văn hóa cá nhân. Nghệ thuật, nên được trả về nguyên bản như thế.