Cái đẹp mang tính tự thân

Cái đẹp mang tính tự thân

D
Dieu Hoee
“Hoa huệ chẳng đoái tâm đến xiêm y của mình, chính vì thế, xiêm y của chúng là hoàn hảo. Núi đẹp chẳng vì ai đắp đựng, rừng đẹp không vì ai trồng, bông tuyết đẹp cũng không vì người thợ bạc từng chạm búa, mài dũa... Bởi công trình của Ngài đã là sự đảm bảo đầy đủ cho sự hoàn hảo”. Lời luận giải ấy không chỉ là một phản tư về nghệ thuật vị nhân sinh hay vị nghệ thuật thông thường, mà nó chạm đến bản thể luận sâu xa của cái đẹp thuộc về lẽ tự nhiên. (Triết học nghệ thuật).

Cái đẹp của sông hồ núi non, của vẻ đẹp tình yêu và nhan sắc người con gái vốn dĩ là những hiện thể tự sinh, tự mãn. Nó tồn tại như thực thể khách quan, không cần đến bất kỳ một sự công nhận, một thang đo hay một định chế văn hóa nào của con người để trở nên có nghĩa. Trong thế giới của tự nhiên, cái đẹp vốn không có sự đối lập giữa cái đẹp và cái xấu. Toàn thể sự hiện diện của tự nhiên đã là cái đẹp được thống nhất cao độ bởi mong ý của Thượng đế, một sự sắp đặt hoàn hảo mà ở đó mọi yếu tố đều đứng đúng vị trí của nó trong một chỉnh thể hài hòa tuyệt đối.

Cái đẹp tồn tại dưới hai dạng thức nhìn thấy được hoặc không nhìn thấy được. Những gì nhìn thấy được như đóa hoa huệ tinh khôi, ngọn núi hùng vĩ hay làn da của người thiếu nữ thường dễ khiến con người sa vào lầm tưởng rằng có thể chiếm dụng và sở hữu. Ngược lại, những cái đẹp không thể nhìn thấy như nhịp điệu của gió, năng lượng của sự sinh nở hay dòng chảy ngầm của thời gian lại dễ rơi vào tình trạng bị lãng quên hoặc bị đẩy vào những đối tượng bên lề thẩm mỹ của kẻ phàm trần.

Tuy nhiên, dù ở dạng thức nào, nói như triết gia Plotinus: “Cái đẹp tự nhiên không có sự phân tách nhị nguyên về hình thức và ý niệm”. Hình thức của bông tuyết chính là ý niệm của bông tuyết, sắc hương của đóa hoa chính là bản chất của đóa hoa. Không có một khoảng cách nào giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong công trình của tạo hóa, vì mọi sự hiện diện đều là một khối thống nhất toàn vẹn, nguyên sơ và thuần khiết.

Khi thấu hiểu cái đẹp tự nhiên như một khối phi nhị nguyên, ta buộc phải chấp nhận rằng cái đẹp chứa đựng trong nó tính tự sinh và tự diệt. Con người, với tất cả sự tự phụ về nền văn minh kỹ nghệ, tuyệt nhiên không có khả năng để làm cho trương nở những chất đẹp thuần túy, lại cũng không cách nào ngăn được sự trào trạt của tiềm năng sinh nở nơi chất nguồn cái đẹp. Ta không thể ra lệnh cho một đóa hoa quỳnh phải nở nhanh hơn hay ép một thung lũng phải giữ mãi sắc xuân khi mùa đông đã gõ cửa. Sức sống của cái đẹp tự nhiên là một dòng thác lũ tự phát, nó trào dâng từ lòng đất, từ những bí mật của vũ trụ mà con người chưa từng và sẽ không bao giờ giải mã được.

Nghịch lý thay, chính tính tự hủy của vẻ đẹp lại là điều kiện tiên quyết để bảo toàn tính thiêng liêng của nó. Cách cái đẹp biến mất cũng tương tự như cách nó xuất hiện, mang trong mình quyền năng biến mất theo dự đồ của những nhịp điệu thẩm mỹ. Một bông hoa không thể bất tử, một giọt sương không thể tồn tại vĩnh hằng dưới ánh mặt trời, và một vệt hoàng hôn không thể đứng yên trên bầu trời để chờ đợi người họa sĩ chép lại.

Cái đẹp phải chết đi để bảo vệ tính nguyên bản của chính nó, để không bị tha hóa thành một thứ vật chất tầm thường bị mài mòn bởi thời gian và sự can thiệp của con người. Sự tự hủy không phải là sự diệt vong, mà là một hành động rút lui đầy kiêu hãnh của tự nhiên để bảo toàn chất nguồn thuần túy trước những thế lực muốn giam cầm nó. Lịch sử của văn minh con người, xét đến cùng, là một chuỗi những nỗ lực áp đặt quyền lực lên tự nhiên. Các chủ thể sở hữu quyền lực đã gieo rắc vào nhận thức của đồng loại nó về quyền chiếm dụng cái đẹp, biến những thực thể tự do thành tài sản và chiến lợi phẩm. Các cuộc phát kiến địa lý, những trận chiến tranh giành đất đai và thuộc địa hóa kẻ khác thực chất đều bắt nguồn từ lòng tham muốn thâu tóm nhịp điệu vũ trụ, muốn biến những cánh rừng nguyên sinh, những mỏ khoáng sản lấp lánh và cả những con người bản địa thành sở hữu độc quyền của một vương triều hay một thể chế.

Để khỏa lấp sự bất lực trước tính tự hủy của cái đẹp, con người đã thuần thục cách tạo ra các bản sao, hòng sao chép và mô phỏng cái đẹp ở mọi chiều kích, biên độ. Cái tài “mimic” (mô phỏng) này đã đẩy con người đến một sự ngộ nhận sâu sắc về khả năng sở hữu và sao bản những vẻ đẹp của vũ trụ. Người ta nghĩ rằng bằng nhiếp ảnh, họ đã đóng băng được cái nhìn của một sinh vật, bằng hội họa, họ đã tóm gọn được linh hồn của một ngọn núi, bằng những khu bảo tồn sinh thái và luật pháp, họ có thể quản lý được sự sống và cái chết của muôn loài.

Những nguyên mẫu thẩm mỹ vẫn vận hành theo cách của riêng chúng, như cách hoa nở và băng tan, như cách chim chóc sinh sôi và vượn hươu tuyệt chủng theo những chu kỳ vĩ mô của trái đất. Mọi nỗ lực cứu vãn hay duy trì của các nhà sinh thái đều trở nên bé mọn, bất lực trước sự vận động tự thân khổng lồ của tự nhiên. Con người đã tự đặt mình tại một thế đứng quá cao so với thứ năng lực hữu hạn mà nó có, tưởng rằng mình là chủ nhân của khu vườn địa đàng trong khi thực chất chỉ là một kẻ lữ hành nhất thời cư ngụ dưới mái nhà của tạo hóa.

Cái đẹp sinh ra và tồn tại tự thân, đó là một chân lý. Những vẻ đẹp được hoài sinh bởi những kết tinh tự nhiên là thứ tuyệt nhiên không thể sao chép. Chính vì vậy, cái đẹp tự nhiên tuyệt nhiên không thể bị giam cầm. Cái đẹp chân chính phải được trả về cho hoang dã, nơi nó có quyền được sinh ra trong lặng lẽ và biến mất trong kiêu hãnh mà không cần bất kỳ một nhân chứng nào. Nó đứng ngoài mọi nỗ lực định giá, bảo tồn hay chiếm đoạt của nhân loại, bởi vì công trình của tạo hóa đã tự chứa đựng một sự đảm bảo đầy đủ cho sự hoàn hảo của chính mình từ thuở hồng hoang cho đến ngàn đời sau.
 
5
0
0
Trả lời

Đang có mặt

Không có thành viên trực tuyến.