Chúng ta, cuối cùng rồi sẽ đứng vững trên mảnh đất của mình để vươn tầm ra thế giới, tự tin đối thoại bình đẳng với các nền văn minh khác.

Chúng ta, cuối cùng rồi sẽ đứng vững trên mảnh đất của mình để vươn tầm ra thế giới, tự tin đối thoại bình đẳng với các nền văn minh khác.

D
Dieu Hoee
Từ trước đến nay, Nho giáo thường bị xem là tác nhân gây cản trở sự phát triển của xã hội Đông Á, gò gẫm con người trong những định kiến, quy tắc và bổn phận, làm xóa mờ đi ý thức phản kháng và sự sáng tạo của họ. Điều này đã khiến cho các quốc gia Á Đông bị lu mờ trước sự bứt phá của phương Tây. Tuy nhiên, nhìn đi cũng cần nhìn lại, đó đã trở thành cội nguồn và nền tảng phát triển văn hóa đất nước ta suốt hàng nghìn năm qua.

Nho giáo đã gián tiếp gây hại đến sự phát triển của văn hóa truyền thống Việt Nam. Sau hàng nghìn năm Bắc thuộc, dân ta bị đồng hóa, bị ép buộc phải sống theo những lề thói của Nho giáo, khiến chúng ta đánh mất đi bản sắc truyền thống. Đây là phương cách “nồi nấu chảy”, giúp phương Bắc thuộc địa hóa các quốc gia như Việt Nam. Đây cũng là lý do mà thời kỳ đầu, chúng ta mất đi sự vững vàng khi tự xây dựng vị thế cá nhân. Hệ thống giáo lý Tam cương (Vua - Tôi, Cha - Con, Chồng - Vợ) và Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) ban đầu có thể là những quy phạm đạo đức để ổn định xã hội, nhưng khi bị biến tướng thành công cụ cai trị, nó đã ép buộc người dân bản địa phải tuân phục tuyệt đối vào một trật tự ngoại bang. Sự áp đặt này hoạt động theo cơ chế của một "nồi nấu chảy” văn hóa, nơi mà các giá trị bản địa cốt lõi của người Việt cổ bị xóa bỏ và thay thế hoàn toàn. Sự tổn hại lớn nhất mà Nho giáo gián tiếp gây ra chính là việc bào mòn tư duy phản biện và triệt tiêu cá tính sáng tạo của con người.

Nó ép con người phải sống theo những bổn phận và phải thực hiện những bổn phận đó. Trong bài “Thuật hoài”, Phạm Ngũ Lão đã nói về những bổn phận của thân trai dưới góc nhìn Nho giáo: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”. Trong khi phương Tây bước vào cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất (cuối thế kỷ 18) và lần thứ hai (cuối thế kỷ 19) nhờ khả năng bứt phá, thì xã hội Việt Nam thời Nguyễn vẫn loay hoay với những câu hỏi về văn minh và đi tìm văn minh.

Tuy nhiên, Nho giáo cũng đã trở thành một nền tảng giúp chúng ta xây dựng đất nước, củng cố các kĩ thuật quản lí nhà nước, là cơ sở hình thành giáo dục chính thống ở Việt Nam. Dù thời Lý - Trần, Phật giáo và Đạo giáo chiếm ưu thế lớn trong đời sống tinh thần, nhưng vai trò của Nho giáo trong quản lý hành chính đã bắt đầu được khẳng định một cách chính thức từ năm 1070, khi vua Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu tại Thăng Long. Sự kiện này đã đánh dấu bước phát triển quan trọng của văn học chữ Hán dưới thời Tam giáo đồng nguyên. Đến năm 1075, khoa thi Nho học đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được tổ chức nhằm tuyển chọn những người có tài đức thực sự vào bộ máy chính quyền, thay thế cho hệ thống quan liêu dựa trên huyết thống hay đặc quyền dòng tộc của tầng lớp quý tộc cũ. Chính nhờ hệ thống tư tưởng này, ua Lê Thánh Tông đã thực hiện cuộc cải cách hành chính toàn diện nhất trong lịch sử phong kiến, bãi bỏ các chức danh trung gian như Tể tướng, chia đất nước thành 13 đạo thừa tuyên và thiết lập hệ thống Lục bộ. ộ luật này không chỉ bảo vệ quyền lực tuyệt đối của nhà vua để giữ vững kỷ cương quốc gia, mà còn chứa đựng những điều khoản tiến bộ vượt bậc so với luật pháp nhà Minh, nhà Thanh đương thời, như việc thừa nhận vai trò của người phụ nữ. Như vậy, Nho giáo hoàn toàn không phải lý do triệt tiêu sự sáng tạo của người Việt. Sự củng cố về mặt thể chế và giáo dục của Nho giáo đã tạo ra một bộ khung có tính bền vững, giúp đất nước ta giữ vững được sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ qua nhiều thế kỷ biến động, đồng thời tích lũy nội lực để tiến hành các cuộc kháng chiến bảo vệ chủ quyền thành công trước các thế lực ngoại bang lớn mạnh.

Chúng ta đang sống trong thời kỳ giao thoa giữa các nền văn hóa. Rất nhiều ý kiến tranh luận được đặt ra cho rằng chúng ta cần “thoát Mỹ”, “thoát Tàu” để xây dựng một nền văn hóa cho riêng mình. Tuy nhiên, tôi tin vào quan điểm của tác giả Đặng Hoàng Giang trong cuốn sách “Bức xúc không làm ta vô can”: “Tôi muốn nhìn thấy người dân Việt Nam có đủ hiểu biết và sự dẻo dai về văn hóa để chèo lái trên biển toàn cầu hóa, để trở nên những công dân toàn cầu mà không bị tha hương về văn hóa, bơ vơ về bản sắc. Họ không cần phải thoát đi đâu cả”. Trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế toàn diện của thế kỷ 21, câu hỏi về bản sắc và định vị văn hóa quốc gia lại một lần nữa trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, việc cố gắng tạo ra một thí nghiệm văn hóa hoàn toàn tách biệt khỏi các dòng chảy văn minh lớn của nhân loại là một thí nghiệm khó có kết quả.Văn hóa chưa bao giờ là một thực thể bất biến, mà nó là một hệ thống liên tục tiến hóa thông qua quá trình tiếp xúc, va chạm và tiếp biến. Sự phát triển vượt bậc mà Việt Nam chúng ta có được hôm nay là hệ quả của quá trình tiếp biến văn hóa có chọn lọc. Giới trẻ Việt Nam hiện nay cần được trang bị một nền tảng tri thức sâu sắc để nhận diện rõ ràng: cái gì là hủ lậu, lạc hậu của Nho giáo phong kiến (như tư duy trọng nam khinh nữ, lối sống gia trưởng, tâm lý sùng bái quyền lực) để kiên quyết bài trừ, và cái gì là tinh hoa bền vững (như truyền thống hiếu học, tinh thần tôn sư trọng đạo, lối sống coi trọng gia đình, coi trọng đạo đức nghĩa tình) để tiếp tục kế thừa và phát huy. Chúng ta, cuối cùng rồi sẽ đứng vững trên mảnh đất của mình để vươn tầm ra thế giới, tự tin đối thoại bình đẳng với các nền văn minh khác bằng tư thế của một dân tộc tự chủ, dẻo dai và đầy sức sống sáng tạo.
 
9
0
0
Trả lời

Đang có mặt

Không có thành viên trực tuyến.