Văn học dân gian

Văn học dân gian

D
Dieu Hoee
Văn học dân gian là một hình thái ý thức xã hội. Nhiều tác giả cho rằng, văn học dân gian ra đời từ thời kì công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại ngày nay.

Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, chỉ sau khi có nhà nước, mới có hai dòng văn học: văn học dân gian và văn học viết. Trước đó, chỉ có văn học cộng đồng. Theo quan niệm này, người Ê Đê, Mơ Nông… không có văn học dân gian vì chưa phát triển đến trình độ tổ chức xã hội có nhà nước.

Giáo sư Nguyễn Tấn Đắc viết: “Trong một xã hội cộng đồng như vậy, văn hoá mang tính cộng đồng và cũng chưa nhiễm tính chính trị - đẳng cấp. Chưa có sự phân biệt giữa cái chính thống, quan phương với cái dân gian, thôn dã. Tất cả chỉ là một. Không có hiện tượng hai bộ phận văn hoá. Tính cộng đồng là đặc điểm bao trùm toàn bộ đời sống của xã hội đó. Khi nói dân gian là mặc nhiên thừa nhận có cái đối lập với nó. Nhưng ở trong những xã hội này, văn hoá nói riêng cũng như xã hội nói chung chưa có sự tách đôi thành hai bộ phận “đối lập” nhau”. Ý kiến trên là đáng chú ý. Tuy nhiên, nếu chia văn học thành ba loại hình (văn học cộng đồng, văn học dân gian, văn học viết) thì chúng ta thấy, xét về phương thức sáng tác, phương thức lưu truyền và tiếp nhận, xét về mặt thi pháp, văn học cộng đồng vẫn rất gần gũi với văn học dân gian.

Nếu xét kĩ, văn học cộng đồng có điểm khác so với văn học dân gian (chẳng hạn không có sự tác động qua lại giữa hai dòng văn học khi đã ra đời nhà nước, chữ viết); nhưng nếu ta đem so sánh nó với văn học viết thì sự khác biệt còn nhiều hơn, sâu sắc hơn và dễ nhận thấy hơn. Ở cả văn học cộng đồng và văn học dân gian, dấu ấn cái tôi tác giả, dấu ấn cá tính sáng tạo không có hoặc rất mờ nhạt, phong cách tác giả hầu như không có. Ở văn học viết, dấu ấn cá tính sáng tạo, phong cách tác giả lại là một yêu cầu không thể thiếu. Văn học dân gian nhiều khi gắn liền với sinh hoạt mọi mặt của người dân và tham gia vào những sinh hoạt đó với tư cách là một thành phần, một nhân tố cấu thành. Ở các bài ca tế thần, bài hát đám cưới, hát đối đáp nam nữ, hát ru em, mối quan hệ đó biểu hiện thành mối quan hệ giữa văn học dân gian với nghi lễ, hội hè, phong tục tập quán trong sinh hoạt gia đình và sinh hoạt xã hội. Dân ca lao động nảy sinh trực tiếp từ trong quá trình lao động, được hát lên khi người ta kéo thuyền, kéo gỗ, có tác dụng làm giảm nhẹ sự mệt nhọc, bằng cách tăng cường cảm giác nhịp điệu trong công việc, góp phần tổ chức, phối hợp động tác lao động tập thể, gây sự phấn khích trong lao động bằng sự nhận thức thẩm mỹ về quá trình lao động đó5 . Nếu trong văn học viết, người sáng tác và người thưởng thức là hai đối tượng khác nhau, thì ở văn học dân gian, mối quan hệ giữa người sáng tác và người thưởng thức cũng như môi trường sáng tạo, thưởng thức có nhiều điểm khác biệt.

Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên đã viết: “Điều mà chúng ta có thể nhận thấy trước tiên là môi trường sinh hoạt văn học dân gian hay những hình thức sinh hoạt văn học dân gian khác nhau (thường là những sinh hoạt tập thể) tạo nên một thứ “không khí” riêng cho việc tiếp thu tác phẩm văn học dân gian, chỉ trong “không khí” đó, tác phẩm văn học dân gian mới bộc lộ được hết giá trị thẩm mĩ của nó và những tác động thẩm mĩ do nó gây ra mới toàn diện, mới đa dạng.
 
4
0
0
Trả lời

Đang có mặt

Không có thành viên trực tuyến.