Thạch Lam là gương mặt tiêu biểu của văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945. Những tác phẩm của ông là thứ “hương hoàng lan được chưng cất từ những nỗi đời”, nhẹ nhàng mà day dứt. Thạch Lam không có tham vọng xây dựng những tình huống éo le, đầy bi kịch và những thủ pháp công phu. Chính những tình huống vốn rất nhẹ nhàng, lãng mạn, giàu chiều sâu của ông lại khiến cho người đọc day dứt, để lại những suy tư về nỗi đời, nỗi người. Văn phong Thạch Lam là văn phong trong sáng, cất lên từ đời thường, bắt nguồn từ những cảm xúc sâu xa nhất bên trong con người. Nếu được chọn một tác phẩm tiêu biểu nhất của ông, có lẽ người ta sẽ nhớ ngay đến “Hai đứa trẻ”. Để nhìn được thấy màn kịch éo le ẩn đằng sau câu chuyện về hai đứa trẻ nơi phố huyện nghèo, có lẽ phải tiếp cận từu góc độ tình huống truyện.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã coi tình huống là “lát cắt” của đời sống mà qua đó có thể thấy được cả trăm năm của đời thảo mộc, là “một khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc’’. Cũng bàn về tình huống trong truyện ngắn, ông cho rằng:” Tình huống là một loại sự kiện đặc biệt của đời sống, được sáng tạo theo hướng lạ hóa. Tại đó vẻ đẹp nhân vật hiện ra sắc nét, ý nghĩa tư tưởng phát lộ toàn diện’’. Tình huống truyện trong “Hai đứa trẻ” không được đẩy lên thành bi kịch hay xung đột, không có những cao độ trong cảm xúc. Chính sự miên man như những dòng tản mản về cuộc sống người dâ trong phố huyện nghèo lại khiến người ta thêm day dứt, bận lòng. Qua tình huống, Thạch Lam làm nổi hình nổi sắc lên những phận người nhỏ bé, leo lét như ngọn đèn trước gió, với một cái tương lai mịt mờ như chính bóng tối xung quanh họ.
Trong ‘’Hai đứa trẻ’’, Thạch Lam đã xây dựng tình huống bao trùm toàn bộ tác phẩm là cuộc đợi tàu của hai đứa trẻ trên phố huyện nghèo. Đây là cuộc đợi tàu lạ lùng. Từ sau ngày rời Hà Nội xa xăm, Hà Nội “sáng rực và lấp lánh”, hai chị em Liên và An vẫn hy vọng về một đốm sáng xuất hiện trên dải đất ngehfo u tối này. Chuyến tàu đêm từ Hà Nội về mang theo giấc mơ về một vùng kí ức ngập trời, đẹp đẽ và rực rỡ, gắn với một quãng tuổi thơ mà hai đứa trẻ đã được sống trong đủ đầy. Bởi vậy, chúng đợi tàu về như đợi “sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya”. Lạ vì chúng đợi tàu chẳng phải vì một mục đích nào thiết thực, chẳng phải đợi khách đến mua cho vài bao thuốc hay cái bánh xà phòng. Chúng đợi tàu vì chúng là những con người duy nhất còn giữ lại lòng tin và khát khao sống giữa phố huyện này.
Và Thạch Lam không chỉ mô tả hiện thực bằng mẫn cảm nghệ thuật, mà còn bằng cả cảm thức triết học. Nhìn vào tâm lí thuần tuý, tâm trạng của Liên là một tâm trạng lãng mạn khá điển hình. Bất hoà với thực tại, cái tôi lãng mạn thường thoát vào trong mơ ước để tìm kiếm một thực tại khác thay thế. Hà Nội xuất hiện như một biểu tượng cho ánh sáng, cho hy vọng và khát khao. Nó đối lập hoàn toàn với cái thực tại mà chỉ có bóng đêm, cái bóng đêm cố hữu đã nuốt chửng sự vực dậy của bác phở Siêu, bác Xấm, mẹ con chị Tý,.. Hằng ngày Liên chờ đợi đoàn tàu và gửi vào đoàn tàu ấy cái mơ tưởng của mình. Đoàn tàu này chạy đến từ Hà nội, nơi Liên từng được sống một tuổi thơ vui tươi sung sướng. Tuy xa xăm, nhưng với Liên, Hà nội là có thật. "Liên lặng theo mơ tưởng. Hà nội xa xăm, Hà nội sáng rực vui vẻ và huyên náo.". Chờ đợi và nhìn đoàn tàu là một nhu cầu tâm lí rất tự nhiên và thiết yếu của chị em Liên. Thạch Lam đã mô tả những diễn biến ấy của tâm trạng Liên bằng ngòi bút tinh vi của một nghệ sĩ có khả năng làm sống dậy cả những gì vốn mong manh hư thoảng nhất của hồn người.
Những người dân nơi phố thị nghèo có một cuộc sống rệu rã, tàn tạ nhưng họ tưởng rằng mình đang sống. Đây là một bi kịch rệu rã của con người khi cả vật chất và tinh thần của họ đều thiếu thốn, đói khổ. Cuộc sống của họ là một cuộc sống nghèo nàn, kham khổ. “Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, hay bất cứ cái gì có thể dùng được của người bán hàng để lại… Chị Tý chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm…”. Và tinh thần của họ cũng rệu rã khi họ đã quá quen với cuộc sống cầm cự này, chẳng còn hy vọng gì về khả năng vượt thoát hoàn cảnh này. Điều này khiến tôi nhớ đến bi kịch của Trương Ba trong vở kịch “Hồn Trương Ba – da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ.
Chị em Liên vốn đã quen với Hà Nội, đã được tiếp cận với những ánh sáng xa xôi nơi những phố huyện huyên náo. Bởi vậy, khi về với vùng đất tăm tối này, chúng vẫn hy vọng và đợi chờ. Đó là sức mạnh của kí ức, có thể nâng đỡ người ta những lúc cùng cực. Những người dân kia, ta vốn không nên trách họ. Họ không hy vọng, không chờ đợi, không khát khao điều gì chỉ vì họ đã quá quen với nó. Cái tư duy nghèo đã cố hữu bên trong họ từ đời này sang đời khác mà không ai có đủ khả năng dừng nó lại. Bởi vậy, họ đáng thương là phần nhiều. Đây cũng chính là thông điệp mà Thạch Lam truyền tải qua tác phẩm. Cần phải thay đổi hoàn cảnh, thay đổi cái nền sống nghèo khổ đương thời chứ không phải là trách người dân sao không cứu lấy chính mình.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã coi tình huống là “lát cắt” của đời sống mà qua đó có thể thấy được cả trăm năm của đời thảo mộc, là “một khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc’’. Cũng bàn về tình huống trong truyện ngắn, ông cho rằng:” Tình huống là một loại sự kiện đặc biệt của đời sống, được sáng tạo theo hướng lạ hóa. Tại đó vẻ đẹp nhân vật hiện ra sắc nét, ý nghĩa tư tưởng phát lộ toàn diện’’. Tình huống truyện trong “Hai đứa trẻ” không được đẩy lên thành bi kịch hay xung đột, không có những cao độ trong cảm xúc. Chính sự miên man như những dòng tản mản về cuộc sống người dâ trong phố huyện nghèo lại khiến người ta thêm day dứt, bận lòng. Qua tình huống, Thạch Lam làm nổi hình nổi sắc lên những phận người nhỏ bé, leo lét như ngọn đèn trước gió, với một cái tương lai mịt mờ như chính bóng tối xung quanh họ.
Trong ‘’Hai đứa trẻ’’, Thạch Lam đã xây dựng tình huống bao trùm toàn bộ tác phẩm là cuộc đợi tàu của hai đứa trẻ trên phố huyện nghèo. Đây là cuộc đợi tàu lạ lùng. Từ sau ngày rời Hà Nội xa xăm, Hà Nội “sáng rực và lấp lánh”, hai chị em Liên và An vẫn hy vọng về một đốm sáng xuất hiện trên dải đất ngehfo u tối này. Chuyến tàu đêm từ Hà Nội về mang theo giấc mơ về một vùng kí ức ngập trời, đẹp đẽ và rực rỡ, gắn với một quãng tuổi thơ mà hai đứa trẻ đã được sống trong đủ đầy. Bởi vậy, chúng đợi tàu về như đợi “sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya”. Lạ vì chúng đợi tàu chẳng phải vì một mục đích nào thiết thực, chẳng phải đợi khách đến mua cho vài bao thuốc hay cái bánh xà phòng. Chúng đợi tàu vì chúng là những con người duy nhất còn giữ lại lòng tin và khát khao sống giữa phố huyện này.
Và Thạch Lam không chỉ mô tả hiện thực bằng mẫn cảm nghệ thuật, mà còn bằng cả cảm thức triết học. Nhìn vào tâm lí thuần tuý, tâm trạng của Liên là một tâm trạng lãng mạn khá điển hình. Bất hoà với thực tại, cái tôi lãng mạn thường thoát vào trong mơ ước để tìm kiếm một thực tại khác thay thế. Hà Nội xuất hiện như một biểu tượng cho ánh sáng, cho hy vọng và khát khao. Nó đối lập hoàn toàn với cái thực tại mà chỉ có bóng đêm, cái bóng đêm cố hữu đã nuốt chửng sự vực dậy của bác phở Siêu, bác Xấm, mẹ con chị Tý,.. Hằng ngày Liên chờ đợi đoàn tàu và gửi vào đoàn tàu ấy cái mơ tưởng của mình. Đoàn tàu này chạy đến từ Hà nội, nơi Liên từng được sống một tuổi thơ vui tươi sung sướng. Tuy xa xăm, nhưng với Liên, Hà nội là có thật. "Liên lặng theo mơ tưởng. Hà nội xa xăm, Hà nội sáng rực vui vẻ và huyên náo.". Chờ đợi và nhìn đoàn tàu là một nhu cầu tâm lí rất tự nhiên và thiết yếu của chị em Liên. Thạch Lam đã mô tả những diễn biến ấy của tâm trạng Liên bằng ngòi bút tinh vi của một nghệ sĩ có khả năng làm sống dậy cả những gì vốn mong manh hư thoảng nhất của hồn người.
Những người dân nơi phố thị nghèo có một cuộc sống rệu rã, tàn tạ nhưng họ tưởng rằng mình đang sống. Đây là một bi kịch rệu rã của con người khi cả vật chất và tinh thần của họ đều thiếu thốn, đói khổ. Cuộc sống của họ là một cuộc sống nghèo nàn, kham khổ. “Mấy đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi. Chúng nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre, hay bất cứ cái gì có thể dùng được của người bán hàng để lại… Chị Tý chả kiếm được bao nhiêu, nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, từ chập tối cho đến đêm…”. Và tinh thần của họ cũng rệu rã khi họ đã quá quen với cuộc sống cầm cự này, chẳng còn hy vọng gì về khả năng vượt thoát hoàn cảnh này. Điều này khiến tôi nhớ đến bi kịch của Trương Ba trong vở kịch “Hồn Trương Ba – da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ.
Chị em Liên vốn đã quen với Hà Nội, đã được tiếp cận với những ánh sáng xa xôi nơi những phố huyện huyên náo. Bởi vậy, khi về với vùng đất tăm tối này, chúng vẫn hy vọng và đợi chờ. Đó là sức mạnh của kí ức, có thể nâng đỡ người ta những lúc cùng cực. Những người dân kia, ta vốn không nên trách họ. Họ không hy vọng, không chờ đợi, không khát khao điều gì chỉ vì họ đã quá quen với nó. Cái tư duy nghèo đã cố hữu bên trong họ từ đời này sang đời khác mà không ai có đủ khả năng dừng nó lại. Bởi vậy, họ đáng thương là phần nhiều. Đây cũng chính là thông điệp mà Thạch Lam truyền tải qua tác phẩm. Cần phải thay đổi hoàn cảnh, thay đổi cái nền sống nghèo khổ đương thời chứ không phải là trách người dân sao không cứu lấy chính mình.