Phá vỡ giới hạn để tạo nên văn chương lớn

Phá vỡ giới hạn để tạo nên văn chương lớn

D
Dieu Hoee
Con người, từ trong bản chất, đã luôn phải gắng gượng đối diện với những giới hạn ngăn cản mình đạt đến chân lý. Những giới hạn luôn lộ diện dưới bất kỳ hình thức nào. Trong tiểu luận đăng trên Tạp chí sông Hương, tác giả Thanh Tâm từng đề cập đến hai loại giới hạn: “Câu chuyện này có thể được hình dung từ hai bình diện: chủ quan và khách quan. Những giới hạn khách quan tạo nên bối cảnh mà bất kỳ nhà văn nào cũng buộc phải chấp nhận. Giới hạn này hàm chứa các diễn biến của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, thời đại, lịch sử, văn hóa, chính trị,… Giới hạn chủ quan thuộc về từng tác giả gắn với các điều kiện về sinh thành, học vấn, tư tưởng, tài năng,…”. Đó là những đường biên mà người nghệ sĩ phải đối diện trong hành trình đi tìm bản chất của sự viết. Nhưng bản chất của sáng tạo văn học không chỉ là chấp nhận những vách ngăn mà còn là vượt qua những vách ngăn ấy để dấn than, để cả gan, điên rồ, để văn chương Việt Nam trở thành văn chương của thế giới.

Những giới hạn mà nhà văn luôn phải đối diện xuất phát phần nhiều từ hiện thực, từ những nhu cầu rất đáng chấp nhận của văn chương và độc giả. Những giới hạn đó cho họ đường biên và những thế giới bí mật mà họ không được phép xâm phạm. Đó là hiện thực của tác phẩm. Nhà văn không thể đi ra ngoài cái đời sống thực tại ấy để nói về những điều mà nhân loại chưa biết. Chẳng hạn, văn học giai đoạn 1945 - 1975 của Việt Nam mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, đó là một giới hạn mang tính lịch sử bắt buộc khi cả dân tộc đang đặt nhiệm vụ giải phóng lên hàng đầu. Nhà văn thời kỳ đó không thể viết bằng cái tôi cá nhân vị kỷ hay những u uất riêng tư tách rời vận mệnh chung. Đó là một đường biên mang tính định hình, giúp văn chương mang hơi thở của một thời đại hào hùng. Độc giả ở mỗi thời kỳ cũng có một tầm đón nhận riêng, được xây dựng trên nền tảng văn hóa, tri thức và tâm lý xã hội đương thời. Một tác phẩm vượt quá xa tầm đón nhận ấy, cắt đứt hoàn toàn mối dây liên hệ với những trải nghiệm phổ quát của con người, sẽ dễ rơi vào trạng thái cô độc, bất khả thông hiểu.

Nhà văn cần có bản lĩnh vượt qua những giới hạn để tạo nên văn chương lớn, văn chương cho mọi thời và muôn người. Trong buổi hội đàm của Hội nhà văn Việt Nam, để nhìn lại tiến trình 50 năm của văn học Việt sau thống nhất đất nước, Chủ tịch Hội nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã đề cập đến giới hạn lớn nhất của nhà văn là chính họ. Nhà văn Việt có thói quen sống với cái “vòng an toàn vô lý” của mình, không dám sống khác, không dám nói khác đi những gì mình đang thấy. Sự an toàn vô nghĩa đó cùng với cái hiện thực nhạt nhẽo chưa được khai thác chính là lý do chúng ta chưa được thấy một tác phẩm lớn kể từ khi độc lập. Hiện thực đời sống Việt Nam sau năm 1975 vô cùng phong phú, chứa đựng biết bao chuyển biến dữ dội về cả kinh tế, xã hội lẫn tâm lý con người. Đó là sự va đập giữa các hệ giá trị cũ và mới, là nỗi đau của những vết thương hậu chiến chưa lành, là sự tha hóa đạo đức trong cơn lốc thị trường. Hiện thực ấy không nhạt nhẽo, nó chỉ trở nên nhạt nhẽo dưới những ngòi bút thiếu dũng khí. Để có được một "tác phẩm lớn" - thứ văn chương có thể đối thoại với nhân loại, có khả năng tồn tại qua mọi thời gian, không gian, nhà văn buộc phải phá vỡ cái vùng an toàn của mình. Họ phải dám nhìn vào những vùng tối, dám đối diện với những sự thật trần trụi và đau đớn nhất, để từ đó cất lên tiếng nói chân thực, sâu sắc nhất.



“Cất lời cho chúng ta sự táo bạo để sống một cách khác” (Lê Đạt). Chỉ khi dám cất lời để nói về những điều chưa nói, nhà văn mới đủ sức vượt qua những giới hạn đã định của văn chương. Trong văn học, "cất lời" không đơn thuần là việc phát ngôn, mà là một hành vi kiến tạo bản sắc và khai phóng tư duy. Giới hạn của ngôn ngữ chính là giới hạn của tư duy. Sự táo bạo trong cách cất lời chính là việc người viết dám khai phá những vùng mờ của ngôn ngữ, dám phơi bày những ẩn ức thầm kín nhất của con người trong thời đại mình. Chúng ta từng chứng kiến những bước ngoặt vĩ đại của văn học thế giới lẫn Việt Nam đều bắt đầu từ những tiếng nói "cả gan" như thế. Đó là khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trong thời kỳ Đổi mới với những truyện ngắn như “Tướng về hưu”, “Vàng lửa”, đập tan lối viết sử thi một chiều để đưa văn học trở về với hiện thực đa đoan, phức tạp. Đó là khi Bảo Ninh trong “Nỗi buồn chiến tranh” đã dám cất lời nói về góc khuất của người lính sau cuộc chiến — một góc nhìn đầy nhân bản, vượt qua những giới hạn định kiến lúc bấy giờ để chạm đến trái tim của độc giả toàn cầu. Chỉ khi dám cất lời để nói về những điều chưa ai dám nói, hoặc nói theo cách chưa ai từng nói, nhà văn mới có thể giải phóng văn chương khỏi những lối mòn trói buộc, biến hành động viết thành một cuộc cách mạng tư tưởng thực sự.

Văn học cần thiết được sinh ra bởi nó cổ vũ con người sống khác đi, làm mới cuộc sống, thay đổi những nếp thường mòn cũ để sống như những gì họ mơ ước. Văn học chỉ hay khi “chất vấn những lẽ thường”. Đọc là một cách phiêu du vào bên trong một thế giới mới để ở đó, ta thoát khỏi sự hữu hạn của cuộc đời. Văn học xuất hiện như một nghệ thuật phản tỉnh, đặt ra những câu hỏi nghi vấn trước những điều tưởng chừng như hiển nhiên. Nhờ vậy, nó cổ vũ con người rũ bỏ sự đơn điệu, nhàm chán của đời sống thường nhật để vươn tới những giá trị cao đẹp, tự do hơn. Ta có thể cùng đau khổ với nàng Kiều dưới ngòi bút Nguyễn Du, cùng trăn trở về lẽ sống với Hamlet của Shakespeare, hay đắm chìm trong không gian hiện thực huyền ảo của Gabriel García Márquez. Qua sự đồng điệu ấy, người đọc thoát khỏi sự hữu hạn của đời sống vật chất, mở rộng biên độ của tâm hồn, đạt đến sự vô hạn trong thế giới tinh thần.
 
8
0
0
Trả lời

Đang có mặt

Không có thành viên trực tuyến.