Thơ ca chưa bao giờ bị ngoại biên hóa

Thơ ca chưa bao giờ bị ngoại biên hóa

D
Dieu Hoee
Bác Nguyễn Quang Thiều từng có những chia se xúc động về câu chuyện thời chiến. Ngay khi ý thức được mình đang đứng giữa lằn ranh sinh tử, những người lính cắm chốt ở đồi không khát cầu những phương thức tự vệ, những món ăn vật chất, mà lại dõng dạc tuyên bố họ chỉ cần những dòng thơ được viết bởi con chim lửa Trường Sơn Phạm Tiến Duật. Trong ký ức của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, có một câu chuyện về thời chiến cứ ám ảnh ông mãi không thôi, một câu chuyện mà khi nghe xong, ta bỗng thấy lồng ngực mình rung lên. Đó là chuyện về những người lính cắm chốt trên một ngọn đồi ác liệt, nơi cái chết chỉ cách một hơi thở và sự sống mỏng manh như sương khói. Giữa lằn ranh sinh tử ấy, khi người ta tưởng rằng bản năng con người sẽ gào thét đòi hỏi những phương thức tự vệ tối tân hay những bữa ăn no lòng để cầm cự, thì những người lính ấy lại dõng dạc tuyên bố điều họ khát khao nhất chỉ là những dòng thơ của Phạm Tiến Duật - "con chim lửa" của đại ngàn Trường Sơn. Giữa tiếng bom gào đạn rú, thơ ca không còn là những con chữ nằm im lìm trên giấy, nó trở thành hơi thở, thành dòng máu nóng, thành đức tin duy nhất để con người bám víu vào mà đứng vững. Câu chuyện ấy như một minh chứng hùng hồn nhất cho thấy trong suốt hành trình thăng trầm của dân tộc, văn chương chưa bao giờ bị đẩy ra ngoại biên của đời sống, mà trái lại, nó luôn là nguồn suối thanh khiết nhất tưới mát tâm hồn, là ngọn lửa sưởi ấm nhân tính trong lịch sử.

Từ hình ảnh những người lính khát thơ, ta chợt nhận ra rằng văn chương chính là nhu cầu tự thân của tâm hồn. Khi đối diện với cái chết, mọi giá trị vật chất đều trở nên vô nghĩa, chỉ có vẻ đẹp của tinh thần mới đủ sức làm nên một tấm áo giáp vô hình bảo vệ con người trước sự tàn độc của hoàn cảnh. Thơ Phạm Tiến Duật với cái phơi phới, trẻ trung và tràn đầy sức sống đã trở thành một "thực thể sống" cùng hành quân với người lính. Phải chăng, văn chương chính là điểm tựa cuối cùng để con người không bị tha hóa, để cái "người" trong họ không bị vùi lấp bởi cái khắc nghiệt của thực tại?

Nhìn lại chiều dài lịch sử, văn học Việt Nam luôn song hành cùng vận mệnh đất nước. Nó không đứng ngoài cuộc để quan sát hay tô vẽ, mà nó dấn thân vào giữa bùn lầy và máu lửa. Văn chương luôn đóng vai trò là lương tâm của thời đại. Nó không bị ngoại biên hóa bởi vì nó chứa đựng cái lõi cốt của bản sắc văn hóa và khát vọng sống của một dân tộc. Khi một dân tộc biết đau nỗi đau trong thơ, biết vui niềm vui của các nhân vật văn học, thì dân tộc đó sẽ không bao giờ chết. Văn chương chính là sợi dây vô hình kết nối triệu trái tim, tạo nên một sức mạnh cộng hưởng xuyên thế hệ, giúp một đất nước tạo thành một khối đoàn kết mạnh mẽ.

Cuộc sống với những toan tính đời thường, những áp lực cơm áo và cả những biến động vô thường dễ làm lòng người trở nên chai sạn. Lúc ấy, văn chương xuất hiện như một sự xoa dịu những vết thương lòng. Văn chương dạy ta biết cách yêu thương, biết đau lòng trước một kiếp người cơ cực, và biết trân trọng những vẻ đẹp khuất lấp mà mắt thường đôi khi bỏ lỡ. Nó mở ra những chiều kích mới của cảm xúc, giúp ta sống thêm nhiều cuộc đời khác, từ đó mà tâm hồn trở nên giàu có và thâm trầm hơn. Đồng thời, thi ca cũng trao cho người ta lòng can đảm khi đứng giữa lằn ranh thực tế.

Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, khi công nghệ và trí tuệ nhân tạo đang dần xâm chiếm đời sống, người ta lo ngại về một viễn cảnh nơi cảm xúc bị cơ giới hóa và văn chương sẽ mất đi vị thế của mình. Nhưng không, càng đứng trước những cỗ máy vô hồn, con người lại càng khao khát được trở về với những gì chân thật nhất, bản ngã nhất. Văn chương, với khả năng chạm đến những tầng sâu kín nhất của tiềm thức, vẫn đứng đó như một pháo đài cuối cùng của nhân tính.

Sứ mệnh của người nghệ sĩ, vì thế, chưa bao giờ nhẹ nhàng. Để văn chương mãi là nguồn suối tưới mát tâm hồn, người cầm bút phải là người biết "đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có". Mỗi tác phẩm ra đời phải là kết quả của một quá trình lao động chữ nghĩa nghiêm túc và một trái tim luôn yêu thương. Người lính trên đồi không cần những dòng thơ sáo rỗng, họ cần thơ Phạm Tiến Duật vì ở đó có hơi thở thực của đời sống, có cái "tôi" chiến sĩ hòa quyện với cái "tôi" thi sĩ một cách thành thật nhất. Văn chương chỉ thực sự có sức mạnh khi nó bắt nguồn từ sự thật và hướng tới cái Đẹp.
 
1
0
0
Trả lời

Đang có mặt

Không có thành viên trực tuyến.