Thơ ca là một thế giới nghệ thuật mà không thể nào lí giải, bởi nó được đặt trong tương quan của quá nhiều các quan điểm nghệ thuật. Mỗi nhà phê bình có một cách nhìn nhận, đánh giá và cảm nhận theo góc nhìn riêng. Mỗi cách phê bình đều cho thấy được một góc độ riêng về thơ ca. thế nhưng, đôi khi người ta lại phải trăn trở về giá trị và phẩm giá đích thực của thơ ca, khi mà nó đang bị thiêng liêng hóa. Thơ ca đã và đang bị đồng hóa với tôn giáo, với một thứ tôn chỉ cần được tôn thờ. Các nhà thơ xuất hiện như một vị thần tạo ra thế giới thiêng, đem đến khả năng đưa con người thoát khỏi buồn thương và thống khổ trên đời. Tôi cho rằng, đã đến lúc chúng ta cần giải thiêng cho thơ ca.
Từ "ngôi đền thiêng", đã đến lúc thơ trở về với bản thể đời thường, hồn nhiên nhất của nó. Trong tâm thức của nhiều thế hệ, thơ ca luôn được đặt trên một bệ thờ trang trọng. Người ta coi thơ là "nghi lễ" của ngôn từ, có vạn năng để thay đổi cuộc sống, còn thi sĩ là những vị tư tế tạo ra một thế giới huyền hoặc. Người ta coi “thơ là một tôn giáo không kỳ vọng” (Jean Cocteau), là “thần hứng” (Platon). Tuy nhiên, khi thơ ca bị đẩy lên mức độ "tôn giáo hóa", nó vô tình tạo ra một khoảng cách dặm trường với cuộc sống vốn dĩ là rất nhiều thống khổ. Đã đến lúc chúng ta cần thực hiện một cuộc "giải thiêng" - không phải để hạ thấp giá trị của thơ, mà để đưa thơ trở về đúng với phẩm giá đích thực của nó: một hình thái nghệ thuật vị nhân sinh.
Khi thơ bị thiêng liêng hóa, nó đẩy cao lên hình tượng người nghệ sĩ vạn năng có khả năng thay đổi thế giới. Nhà thơ khi ấy như một vị thượng đế trên những tác phẩm nghệ thuật của mình, nắm cả “tạo hóa nằm trong tay anh” (Hữu Thỉnh). Khi đó, vị trí của người đọc trở nên bị nhòe mờ, vô tác dụng, mang thế bị động trong việc tiếp nhận thơ. Có lẽ, chính sự sùng bái này đã khiến thơ trở nên xa lạ. Độc giả tiếp cận thơ với tâm thế của một tín đồ chiêm bái hơn là một người tìm kiếm sự đồng điệu. Khi ấy, giá trị của thơ dần xa lạ với những tiếng thét khổ đau phát ra từ cuộc sống lầm than kia.
Nỗ lực “giải thiêng” là nỗ lực cởi bỏ lớp áo choàng hư ảo để nhìn thẳng vào bản chất của sáng tạo. Giải thiêng giúp thơ trở về đúng với nguyên bản của nó, không cần nói về những điều vĩ mô, xa lạ. Thơ cần có mặt ở nơi có giọt nước mắt, có nụ cười, có những bữa cơm thân thuộc. Đó là khi thơ ca thực sự cất tiếng thay cho hồn người và cả một thế hệ. Khi thơ ca không còn là ngôi đền chân lý, người nghệ sĩ được tự do sáng tạo theo phong cách riêng của mình. Họ không phải hóa thân thành ai khác, chỉ cần là chính họ, một người bộ hành cô độc, một kẻ suy tư đầy khiếm khuyết.
Khi huyền thoại về sự thần thánh mất đi, thơ ca không hề nghèo nàn đi mà trái lại, nó trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Phẩm giá của thơ không nằm ở việc nó có thể đưa con người "thoát ly" thế giới, mà ở việc nó giúp con người "thấu hiểu" và "chấp nhận" thế giới này một cách sâu sắc hơn. Thơ ca, sau cùng, là một hình thái ngôn ngữ đặc biệt để diễn tả những rung động tinh vi nhất của tâm hồn. Việc "hóa giải huyền thoại" cho thơ ca là một tất yếu của tiến trình phát triển nghệ thuật. Khi cánh cửa ngôi đền thiêng mở ra, thơ sẽ ùa ra phố thị, len lỏi vào từng ngõ ngách của tâm hồn con người. Thơ ca vẫn sẽ đẹp, nhưng đó là vẻ đẹp của sự chân thực, của sự thấu thị thế giới bằng cảm quan nghệ thuật. Nếu thơ mãi mãi ngồi trên bệ thờ, nó sẽ xa lạ với những con người “bị cái ác dồn đến chân tường”, sống nhẫn nhục, vô minh, vô đạo lắm.
Từ "ngôi đền thiêng", đã đến lúc thơ trở về với bản thể đời thường, hồn nhiên nhất của nó. Trong tâm thức của nhiều thế hệ, thơ ca luôn được đặt trên một bệ thờ trang trọng. Người ta coi thơ là "nghi lễ" của ngôn từ, có vạn năng để thay đổi cuộc sống, còn thi sĩ là những vị tư tế tạo ra một thế giới huyền hoặc. Người ta coi “thơ là một tôn giáo không kỳ vọng” (Jean Cocteau), là “thần hứng” (Platon). Tuy nhiên, khi thơ ca bị đẩy lên mức độ "tôn giáo hóa", nó vô tình tạo ra một khoảng cách dặm trường với cuộc sống vốn dĩ là rất nhiều thống khổ. Đã đến lúc chúng ta cần thực hiện một cuộc "giải thiêng" - không phải để hạ thấp giá trị của thơ, mà để đưa thơ trở về đúng với phẩm giá đích thực của nó: một hình thái nghệ thuật vị nhân sinh.
Khi thơ bị thiêng liêng hóa, nó đẩy cao lên hình tượng người nghệ sĩ vạn năng có khả năng thay đổi thế giới. Nhà thơ khi ấy như một vị thượng đế trên những tác phẩm nghệ thuật của mình, nắm cả “tạo hóa nằm trong tay anh” (Hữu Thỉnh). Khi đó, vị trí của người đọc trở nên bị nhòe mờ, vô tác dụng, mang thế bị động trong việc tiếp nhận thơ. Có lẽ, chính sự sùng bái này đã khiến thơ trở nên xa lạ. Độc giả tiếp cận thơ với tâm thế của một tín đồ chiêm bái hơn là một người tìm kiếm sự đồng điệu. Khi ấy, giá trị của thơ dần xa lạ với những tiếng thét khổ đau phát ra từ cuộc sống lầm than kia.
Nỗ lực “giải thiêng” là nỗ lực cởi bỏ lớp áo choàng hư ảo để nhìn thẳng vào bản chất của sáng tạo. Giải thiêng giúp thơ trở về đúng với nguyên bản của nó, không cần nói về những điều vĩ mô, xa lạ. Thơ cần có mặt ở nơi có giọt nước mắt, có nụ cười, có những bữa cơm thân thuộc. Đó là khi thơ ca thực sự cất tiếng thay cho hồn người và cả một thế hệ. Khi thơ ca không còn là ngôi đền chân lý, người nghệ sĩ được tự do sáng tạo theo phong cách riêng của mình. Họ không phải hóa thân thành ai khác, chỉ cần là chính họ, một người bộ hành cô độc, một kẻ suy tư đầy khiếm khuyết.
Khi huyền thoại về sự thần thánh mất đi, thơ ca không hề nghèo nàn đi mà trái lại, nó trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Phẩm giá của thơ không nằm ở việc nó có thể đưa con người "thoát ly" thế giới, mà ở việc nó giúp con người "thấu hiểu" và "chấp nhận" thế giới này một cách sâu sắc hơn. Thơ ca, sau cùng, là một hình thái ngôn ngữ đặc biệt để diễn tả những rung động tinh vi nhất của tâm hồn. Việc "hóa giải huyền thoại" cho thơ ca là một tất yếu của tiến trình phát triển nghệ thuật. Khi cánh cửa ngôi đền thiêng mở ra, thơ sẽ ùa ra phố thị, len lỏi vào từng ngõ ngách của tâm hồn con người. Thơ ca vẫn sẽ đẹp, nhưng đó là vẻ đẹp của sự chân thực, của sự thấu thị thế giới bằng cảm quan nghệ thuật. Nếu thơ mãi mãi ngồi trên bệ thờ, nó sẽ xa lạ với những con người “bị cái ác dồn đến chân tường”, sống nhẫn nhục, vô minh, vô đạo lắm.