Văn chương và sự phù phiếm

Văn chương và sự phù phiếm

D
Dieu Hoee
“Đến cuối cùng, nghề viết lại trở thành một nghề hiểm nguy. Hiểm nguy chẳng bởi những vết thương hữu hình, mà hiểm nguy bởi sự nhập nhằng nơi bản chất của văn chương. Những lát cắt của hiện thực đặt trong mối tương quan với những bình diện của văn chương, đến cuối ngày, lại trở thành con dao hai lưỡi bị chi phối bởi một xã hội ngày một phức tạp bởi những lật nhào trong định nghĩa về cộng đồng. Tại sao nhà văn lại cần và phải viết? Liệu văn chương từ cổ chí kim có giản đơn là sự tự phát của tiếng nói cá nhân, hay sự mạo hiểm của người nghệ sĩ?” – Diễn từ Nobel Văn chương 2000.

Văn chương, cuối cùng lại là những con chữ được viết từ “một nghề hiểm nguy”, hơn thế nữa, nó còn là một danh phù phiếm. Thế nhưng, Cao Hành Kiện – chủ nhân giải Nobel Văn chương 2000, đã cất lên lời phát biểu cho những bản chất vốn dĩ rất “nhập nhằng” nơi văn chương. Nếu như văn học trở thành “con dó hai lưỡi bị chi phối bởi một xã hội ngày một phức tạp bởi những lật nhào trong định nghĩa về cộng đồng”, nó sẽ không còn là văn học nữa. Từ đó, bản chất của văn chương một lần nữa cần được tái vấn. Nó là sự tự phát từ cảm xúc cá nhân hay là sự mạo hiểm khám phá thế giới của nhà văn?

Người nghệ sĩ, do vậy là một chức danh “phù phiếm” (cách nói của Nguyễn Huy Thiệp). Họ đứng giữa ranh giới nhập nhằng của cảm xúc cá nhân, đôi khi đối diện với câu hỏi nói hay không nói. Nói ra những cảm xúc cá nhân đồng nghĩa với việc nói ra những ung nhọt, rệu rã, bệ rạc của thời đại mình, nhân loại mình. Đôi khi, nó khiến nhà văn đứng giữa những mũi rìu một cách oan khiên. Sự "phù phiếm" ở đây chính là việc nhà văn dám khước từ những đại lộ thênh thang của tụng ca để rẽ vào những lối mòn u tối, trong tâm hồn con người. Họ viết về nỗi cô độc, về sự hèn nhát, về những ham muốn tầm thường hay những giấc mơ tan vỡ. Nhà văn là người đứng giữa đại lộ của những giấc mơ con người, phơi bày gương mặt nhân loại mà anh ta đang sống.

Tuy nhiên, khẳng định văn học là tiếng nói cá nhân không đồng nghĩa với việc cổ xúy cho một lối văn chương vị kỷ, thoát ly thực tại. Cao Hành Kiện rất tỉnh táo khi cho rằng văn học không nhất thiết phải thoát ly hay can dự chính trị. Bản thân việc giữ gìn tiếng nói cá nhân đã là một hành động chính trị cao cả nhất. Trong một thế giới luôn tìm cách đồng hóa con người thành những con số, những đám đông vô tính, thì việc một cá nhân cất lên tiếng nói riêng biệt, khẳng định cái tôi duy nhất của mình chính là một sự phản kháng âm thầm nhưng mãnh liệt đối với mọi hình thức áp chế. Nhà văn "can dự" vào đời sống không phải bằng cách cầm biểu ngữ, mà bằng cách khơi gợi sự thức tỉnh của từng cá thể độc giả, khiến họ nhận ra bản ngã của mình.

Tiếng nói của nhà văn là tiếng nói duy nhất không thể bị chiếm đoạt. Đó là tiếng nói hướng về sự ca tụng nhân bản, tố cáo những thế lực chà đạp lên quyền sống của con người. Khi đó, ngòi bút của nhà văn trở thành bút chiến mà không chịu bất kì sự chi phối của chính trị. Văn chương, một khi không phục vụ hay phục tùng một đảng phái nào, nó đã thực sự trở thành tiếng nói chung của loài người, dù ở bất kì nơi nào. Viết về chiến tranh, nhiều nhà văn không còn đứng ở bình diện người bên kia hay bên này: họ đứng ở vị trí loài người. Khi văn học quay về với bản thể cá nhân, nó tìm thấy lý do tồn tại vĩnh cửu của mình, nó không phục vụ ai cả, nó chỉ hiện diện để chứng minh rằng con người là một thực thể tự do và duy nhất.

Văn chương sau cùng vẫn sẽ ở lại nếu như con người còn khát khao tìm về nhân bản. Nó có thể nhỏ bé, có thể phù phiếm, có thể tàn lụi, nhưng nó mang lại vẻ đẹp đích thực. Nhà văn, với sự chênh vênh giữa việc nói hay không nói, đôi khi lại quyết định sự tồn tại của những nỗi hiểm nguy. “Nhà văn muốn tránh tự sát và buộc câm, lại muốn nói lên tiếng nói cá nhân của mình thì không có cách nào khác hơn là đào thoát” – Cao Hành Kiện.
 
8
0
0
Trả lời

Đang có mặt

Không có thành viên trực tuyến.