Khao khát nữ quyền trong "Lễ cầu phúc" của Lỗ Tấn

Khao khát nữ quyền trong "Lễ cầu phúc" của Lỗ Tấn

D
Dieu Hoee
Trong dòng chảy của văn học hiện thực Trung Quốc đầu thế kỷ XX, truyện ngắn "Lễ cầu phúc" của Lỗ Tấnhiện lên không chỉ như là một bức tranh phong tục về vùng Lỗ Trấn những ngày cuối năm, mà còn là một bản cáo trạng về sự mê muội của đạo đức phong kiến và nỗi đau tột cùng của thân phận người phụ nữ. Hình tượng thím Tường Lâm hiện lên như một chứng tích cho những lề thói cổ hủ, định kiến xã hội và sự vô cảm của lòng người, từ đó đặt ra những vấn đề nhức nhối về nữ quyền và thiên chức của văn chương trong việc trao tiếng nói cho người phụ nữ.

Nhan đề "Lễ cầu phúc" tạo nên sự đối lập với tình cảnh của nhân vật. Trong khi những gia đình như nhà chú Tư hân hoan sửa soạn lễ vật, cầu chúc cho một năm mới an lành, thịnh vượng, thì thím Tường Lâm lại bị gạt ra lề của sự thiêng liêng ấy. Cái "phúc" của người này lại được xây dựng trên sự "họa" và nỗi nhục nhã của người kia. Một xã hội mà việc cầu an cho bản thân lại đồng nghĩa với việc ruồng rẫy những kẻ khốn cùng nhất, chính là một xã hội đang đứng bên bờ vực của sự tha hóa. Thím Tường Lâm, với những nỗ lực tuyệt vọng để được "làm lễ", để được công nhận là một con người có quyền cầu nguyện, đã chết trong sự phủ nhận phũ phàng của thế giới thực tại và cả thế giới tâm linh mà thím hằng tin tưởng. Chị bị đẩy ra khỏi cái xã hội người chị đang sống, bị xem là thiếu đi sự sạch sẽ mà một người phụ nữ cần có trong lễ giáo phong kiến.

Vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Lỗ Tấn được soi chiếu qua "căn cước phương Đông" khắc nghiệt – Khổng giáo. Người phụ nữ trong xã hội Trung Quốc bấy giờ bị trói buộc bởi vô vàn tầng nấc áp bức: quyền làm vợ, quyền làm mẹ và cả quyền được sống một cách bình thường sau những mất mát. Thím Tường Lâm bị gia đình chồng cũ bán đi như một món hàng, bị xã hội kỳ thị vì tội "tái giá", và bị thần quyền đe dọa bằng nỗi sợ hãi về việc bị xẻ làm đôi dưới âm phủ. Những quan niệm về tiết hạnh, về sự "không trung dung" trong cách đối xử với phụ nữ, từ tục bó chân cho đến việc cấm cửa người góa phụ chạm vào đồ tế lễ, đã biến cuộc đời họ thành một chuỗi những sự cầm tù. Mức độ giải phóng phụ nữ chính là thước đo sự văn minh của một dân tộc, và qua hình tượng thím Tường Lâm, Lỗ Tấn đã chỉ ra rằng xã hội Trung Quốc đương thời vẫn là một xã hội "ăn thịt người" núp bóng dưới những lễ nghi rạng rỡ.

Văn học, trong bối cảnh ấy, thực hiện thiên chức cao cả nhất của nó là "đứng về phe nước mắt". Văn chương không chỉ phản ánh hiện thực mà còn phải là tiếng thét đòi quyền sống, là nỗ lực bảo tồn nhân tính trước sự xâm thực của sự vô cảm. Lỗ Tấn đã ngụp lặn trong bể đời Lỗ Trấn để thấu hiểu nỗi đau của một người đàn bà mất con, mất chồng, và quan trọng hơn cả là mất đi niềm tin vào phẩm giá của chính mình. Sự thương xót trong văn chương không phải là sự ban ơn, mà là sự đồng cảm sâu sắc giữa những sinh mệnh phàm trần. Khi Lỗ Tấn đặt ra những câu hỏi day dứt của thím Tường Lâm về linh hồn và địa ngục, ông đã buộc độc giả phải chất vấn lại chính lương tri của họ: Chúng ta là ai khi để mặc một con người lương thiện phải chết đi trong sự khinh rẻ và hoang mang tột độ?

Văn học chân chính luôn mang sức nặng của sự chất vấn và dự báo. Qua cái chết của thím Tường Lâm giữa tiếng pháo nổ rộn ràng của lễ cầu phúc, Lỗ Tấn đã tạo ra một cách nhìn khác bắt ta phải sống khác đi. Ông chứng minh rằng nếu phụ nữ không được giải phóng khỏi những xiềng xích tư tưởng cổ hủ, thì mọi sự tiến bộ vật chất hay những lời cầu chúc an lành đều trở nên trống rỗng và dối trá. Vai trò của người nghệ sĩ là phải thâm nhập vào đời sống để bóc trần những bất công, nâng đỡ những kiếp người nhỏ bé và giữ cho nhân tính không bao giờ tiêu biến.

Khép lại trang văn của Lỗ Tấn, ta không chỉ thấy một thím Tường Lâm khốn khổ, mà thấy cả một xã hội phong kiến với những tư tưởng truyền thống cần được thay đổi. Sự thương xót người phụ nữ trong văn chương chính là điểm khởi đầu cho cuộc cách mạng về quyền con người. Chỉ khi xã hội thôi không còn tạo ra những định kiến chà đạp trên sự hy sinh phẩm giá của người khác, khi người phụ nữ được quyền kiêu hãnh khẳng định tôn nghiêm, thì lúc đó văn minh mới thực sự hiện hữu. Văn chương, với huyết lệ và lòng trắc ẩn, sẽ mãi là ánh sáng soi đường, là điểm tựa để con người vượt qua bể khổ của định kiến và vươn tới sự tự do đích thực.
 
4
0
0
Trả lời

Đang có mặt

Không có thành viên trực tuyến.