Tháng 6 vừa qua, các tỉnh trên cả nước đồng loạt tổ chức kì thi tuyển sinh vào 10. Đề thi Ngữ văn ở mỗi tỉnh đều rất đa dạng, đưa ra nhiều phần, nhiều ngữ liệu có khả năng thách thức tư duy thí sinh. Đề thi cũng đồng thời cho thấy được những điều người ra đề mong muốn ở học sinh, đó là sự sáng tạo, bứt phá và khả năng kết nối vấn đề với đời sống. Với mỗi đề thi ở mỗi địa phương lại gây ra những dư luận khác nhau. Đọc đề của một số tỉnh thành, tôi nhận ra rằng có rất nhiều tỉnh thành ra đề rất hay và mới, đòi hỏi học sinh phải gắn nó với thực tế và có những suy nghĩ riêng. Song song với đó, nhiều tỉnh chỉ ra đề dựa trên những yêu cầu cơ bản như biết cách phân tích văn bản, đầy đủ bố cục. Từ sự đa dạng trong kho đề tuyển sinh vào 10, tôi bắt đầu suy nghĩ về những thách thức đối với học sinh ở môn Ngữ văn.
Nội dung học và yêu cầu mà mỗi đề thi hướng đến đều là giúp học sinh có khả năng thể hiện cảm xúc, biết cách bày tỏ tư tưởng và gắn vấn đề với đời sống. Đây cũng là điều mà các học sinh rất hy vọng, khi các em đã quá chán với việc phải viết theo bất kỳ đáp án và góc nhìn riêng của ai. Bởi vậy, đề thi mở được ra trong rất nhiều cuộc thi lớn nhỏ trong những năm gần đây dự định sẽ trở thành một sân chơi rất bổ ích, sáng tạo cho học sinh. ãy nhìn vào đề thi lớp 10 của TP.HCM, nơi thường xuyên dẫn đầu về xu hướng ra đề đổi mới. Đề thi không còn trích dẫn những văn bản hành chính khô khan, mà đưa vào những câu chuyện về sự thấu hiểu, về "áp lực đồng trang lứa" (peer pressure) hay những khoảng lặng trong kỷ nguyên số — những vấn đề mà bất kỳ một đứa trẻ 15 tuổi nào cũng đang phải đối mặt hàng ngày. Hoặc như đề thi tại Hà Nội, phần nghị luận xã hội đã khéo léo lồng ghép những thông điệp về lòng trắc ẩn, tinh thần trách nhiệm cá nhân trước cộng đồng. Thay vì áp đặt một barem có sẵn, đề thi mở đóng vai trò kích hoạt toàn bộ hệ thống tư duy phản biện, óc quan sát và trải nghiệm sống của một đứa trẻ mười lăm tuổi. Đó là độ tuổi mà thế giới quan bắt đầu định hình, cái tôi cá nhân bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ và khao khát được khẳng định mình lớn hơn bao giờ hết.
Khi người ra đề dũng cảm trả lại cho học sinh quyền được cất tiếng, học sinh lập tức có cơ hội được nói bằng giọng của chính mình. Khảo sát nhanh tại một số hội đồng thi cho thấy, hơn 70% học sinh bày tỏ sự hứng thú với các dạng đề mở vì các em không còn phải học thuộc lòng những bài văn mẫu dài dằng dặc, được giải phóng khỏi lối mòn tư duy để tự do bay bổng và khẳng định cái tôi cá nhân. Nhiều năm liền, môn văn là môn học thuộc theo những nguyên mẫu được thầy cô “xào nấu” từ rất nhiều nguồn, ép học sinh phải học thuộc, và 100 bài văn đều có 100 gương mặt giống nhau. Giờ đây, cuối cùng thì nỗi lo của các em đã được gỡ bỏ.
Tuy nhiên, song song với đó, không phải tất cả sự sáng tạo của các em đều được chấp nhận. Một số học sinh từng phản hồi rằng em thể hiện những suy tư của mình, em nói về những điều bất cập nhưng không được lắng nghe. Các thầy cô hầu như đều chỉ chấm bài thi cho học sinh theo barem điểm. Đây không chỉ là thách thức đối với học sinh mà còn là câu hỏi đối với giáo viên và cả ngành giáo dục. Thách thức lớn nhất của các em lúc này không phải là làm sao để viết thật hay, thật sâu sắc, mà là phải làm sao để "đoán ý người chấm", làm sao để "nhốt" những ý tưởng bay bổng của mình vào vừa vặn cái khuôn chữ nhật của barem điểm. Câu hỏi này nhức nhối này được đặt ra cho cả ngành giáo dục: Chúng ta thực sự muốn gì? Chúng ta muốn những robot biết viết văn theo lập trình, hay muốn những học sinh có tư duy độc lập? Nếu đội ngũ giáo viên không được cởi trói về mặt tư duy, nếu quy chế chấm thi không chấp nhận những khoảng xê dịch cho sự khác biệt, thì mọi khẩu hiệu về "đổi mới giáo dục" hay "đề thi mở" suy cho cùng cũng chỉ là một khẩu hiệu, và người chịu thiệt thòi nhất luôn là những học sinh dám nghĩ dám làm.
Khi rất nhiều môn học mang tính ứng dụng cao như toán, Tin học, tiếng Anh được ưa chuộng, nhu cầu học văn càng cần phải được nâng cao chứ không phải là bị bỏ qua. Bởi lẽ, học văn là hình thức giáo dục nhân văn, bồi đắp tư tưởng và cách sống cho học sinh mọi lứa tuổi. Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nơi công nghệ trí tuệ nhân tạo AI và các ngành khoa học dữ liệu đang lên ngôi thống trị. Phụ huynh và học sinh đổ xô vào những môn học như Toán, Tin học, tiếng Anh với niềm tin rằng đó là tấm vé thông hành duy nhất dẫn đến thành công và sự ổn định nghề nghiệp. Thế nhưng, Toán học dạy chúng ta cách tư duy logic, Tin học cung cấp cho chúng ta công cụ để kết nối thế giới, Tiếng Anh giúp chúng ta hội nhập toàn cầu, nhưng chính Ngữ văn mới là thứ giữ cho chúng ta tính người, là chiếc neo níu giữ ta lại giữa một thời buổi cạnh tranh và vô cảm.
Nhu cầu học văn cần phải được nâng cao hơn bao giờ hết vì nó chính là lá chắn bảo vệ con người trước sự xói mòn về đạo đức trong xã hội hiện đại. Làm thế nào để bảo vệ môn Ngữ Văn và tư duy độc lập của học sinh, đó là cả một câu hỏi khó mà chúng ta cần giải quyết.
Nội dung học và yêu cầu mà mỗi đề thi hướng đến đều là giúp học sinh có khả năng thể hiện cảm xúc, biết cách bày tỏ tư tưởng và gắn vấn đề với đời sống. Đây cũng là điều mà các học sinh rất hy vọng, khi các em đã quá chán với việc phải viết theo bất kỳ đáp án và góc nhìn riêng của ai. Bởi vậy, đề thi mở được ra trong rất nhiều cuộc thi lớn nhỏ trong những năm gần đây dự định sẽ trở thành một sân chơi rất bổ ích, sáng tạo cho học sinh. ãy nhìn vào đề thi lớp 10 của TP.HCM, nơi thường xuyên dẫn đầu về xu hướng ra đề đổi mới. Đề thi không còn trích dẫn những văn bản hành chính khô khan, mà đưa vào những câu chuyện về sự thấu hiểu, về "áp lực đồng trang lứa" (peer pressure) hay những khoảng lặng trong kỷ nguyên số — những vấn đề mà bất kỳ một đứa trẻ 15 tuổi nào cũng đang phải đối mặt hàng ngày. Hoặc như đề thi tại Hà Nội, phần nghị luận xã hội đã khéo léo lồng ghép những thông điệp về lòng trắc ẩn, tinh thần trách nhiệm cá nhân trước cộng đồng. Thay vì áp đặt một barem có sẵn, đề thi mở đóng vai trò kích hoạt toàn bộ hệ thống tư duy phản biện, óc quan sát và trải nghiệm sống của một đứa trẻ mười lăm tuổi. Đó là độ tuổi mà thế giới quan bắt đầu định hình, cái tôi cá nhân bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ và khao khát được khẳng định mình lớn hơn bao giờ hết.
Khi người ra đề dũng cảm trả lại cho học sinh quyền được cất tiếng, học sinh lập tức có cơ hội được nói bằng giọng của chính mình. Khảo sát nhanh tại một số hội đồng thi cho thấy, hơn 70% học sinh bày tỏ sự hứng thú với các dạng đề mở vì các em không còn phải học thuộc lòng những bài văn mẫu dài dằng dặc, được giải phóng khỏi lối mòn tư duy để tự do bay bổng và khẳng định cái tôi cá nhân. Nhiều năm liền, môn văn là môn học thuộc theo những nguyên mẫu được thầy cô “xào nấu” từ rất nhiều nguồn, ép học sinh phải học thuộc, và 100 bài văn đều có 100 gương mặt giống nhau. Giờ đây, cuối cùng thì nỗi lo của các em đã được gỡ bỏ.
Tuy nhiên, song song với đó, không phải tất cả sự sáng tạo của các em đều được chấp nhận. Một số học sinh từng phản hồi rằng em thể hiện những suy tư của mình, em nói về những điều bất cập nhưng không được lắng nghe. Các thầy cô hầu như đều chỉ chấm bài thi cho học sinh theo barem điểm. Đây không chỉ là thách thức đối với học sinh mà còn là câu hỏi đối với giáo viên và cả ngành giáo dục. Thách thức lớn nhất của các em lúc này không phải là làm sao để viết thật hay, thật sâu sắc, mà là phải làm sao để "đoán ý người chấm", làm sao để "nhốt" những ý tưởng bay bổng của mình vào vừa vặn cái khuôn chữ nhật của barem điểm. Câu hỏi này nhức nhối này được đặt ra cho cả ngành giáo dục: Chúng ta thực sự muốn gì? Chúng ta muốn những robot biết viết văn theo lập trình, hay muốn những học sinh có tư duy độc lập? Nếu đội ngũ giáo viên không được cởi trói về mặt tư duy, nếu quy chế chấm thi không chấp nhận những khoảng xê dịch cho sự khác biệt, thì mọi khẩu hiệu về "đổi mới giáo dục" hay "đề thi mở" suy cho cùng cũng chỉ là một khẩu hiệu, và người chịu thiệt thòi nhất luôn là những học sinh dám nghĩ dám làm.
Khi rất nhiều môn học mang tính ứng dụng cao như toán, Tin học, tiếng Anh được ưa chuộng, nhu cầu học văn càng cần phải được nâng cao chứ không phải là bị bỏ qua. Bởi lẽ, học văn là hình thức giáo dục nhân văn, bồi đắp tư tưởng và cách sống cho học sinh mọi lứa tuổi. Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nơi công nghệ trí tuệ nhân tạo AI và các ngành khoa học dữ liệu đang lên ngôi thống trị. Phụ huynh và học sinh đổ xô vào những môn học như Toán, Tin học, tiếng Anh với niềm tin rằng đó là tấm vé thông hành duy nhất dẫn đến thành công và sự ổn định nghề nghiệp. Thế nhưng, Toán học dạy chúng ta cách tư duy logic, Tin học cung cấp cho chúng ta công cụ để kết nối thế giới, Tiếng Anh giúp chúng ta hội nhập toàn cầu, nhưng chính Ngữ văn mới là thứ giữ cho chúng ta tính người, là chiếc neo níu giữ ta lại giữa một thời buổi cạnh tranh và vô cảm.
Nhu cầu học văn cần phải được nâng cao hơn bao giờ hết vì nó chính là lá chắn bảo vệ con người trước sự xói mòn về đạo đức trong xã hội hiện đại. Làm thế nào để bảo vệ môn Ngữ Văn và tư duy độc lập của học sinh, đó là cả một câu hỏi khó mà chúng ta cần giải quyết.